Ảnh chùa Báo Ân được chụp từ 100 năm trước

Chùa Báo Ân được bác sĩ Hocquard chụp từ hơn 100 năm trước. Đến nay, ngôi chùa chỉ còn lại vết tích là tháp Hòa Phong bên hồ Gươm.

Chua Bao An anh 1
Một chiến dịch ở Bắc Kỳ là cuốn sách do bác sĩ Hocquard (người Pháp) thực hiện. Sách ghi chép, mô tả về phong cảnh, địa chí, phong tục tập quán, con người nước ta khoảng 130 năm trước. Trong ảnh là các sứ giả triều đình Huế cùng tùy tùng.
Chua Bao An anh 2
Sách cũng có nhiều tranh khắc, là những bức tranh thực hiện theo ảnh chụp của Hocquard khi ông tới Đông Dương 135 năm trước. Trong ảnh là các nho sĩ và thông ngôn ở tòa Công sứ Hà Nội, lính tập Bắc Kỳ và lính lệ.Chua Bao An anh 3Mới đây, khi xuất bản tiếng Việt tác phẩm (qua bản dịch của Trương Quốc Toàn), công ty sách Nhã Nam đã mua bản quyền nhiều bức ảnh để in trong phần phụ lục. Ảnh trên chụp tháp và hồ nước trong thành Sơn Tây.
Chua Bao An anh 4
Việc mua bản quyền những bức ảnh này giúp bạn đọc có thể xem hình ảnh chân thực về cha ông ta, những phong cảnh, địa danh… nước ta hơn một thế kỷ trước. Trong ảnh là một ban nhạc với các nhạc công chơi: Đàn nguyệt, phách, thanh la, sáo, trống con, nhị, mõ, chiêng…
Chua Bao An anh 5
Trong các địa danh, công trình mà bác sĩ Hocquard chụp, một số công trình nổi tiếng ở thời đó đến nay đã không còn. Chùa Báo Ân bên hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội là một điển hình. Bức ảnh chụp cửa vào chùa Báo Ân cho phép người xem hình dung quy mô, vẻ đẹp kiến trúc của công trình. Chùa Báo Ân đã bị Pháp phá hủy năm 1888, đến nay di tích còn sót lại là tháp Hòa Phong.
Chua Bao An anh 6
Các bức ảnh chụp nhiều chủ đề, nhân vật, sinh hoạt của người xưa. Trong ảnh là một phiên xử kẻ cướp ở tòa Công sứ Hà Nội.
Chua Bao An anh 7
Tri phủ Đoan Hùng (sông Lô) và đoàn tùy tùng gồm lính mang lọng, lính mang ống điếu và nho sĩ.
Chua Bao An anh 8
Voi của quan tổng đốc Bắc Ninh.
Chua Bao An anh 9
Người làm cỏ cho chè.
Y Nguyên Nguồn ảnh: Nhã Nam

Cuốn sách tiết lộ nguồn gốc xuất thân của kịch gia Stoppard

Tom Stoppard (sinh năm 1937) là một nhà viết kịch và biên kịch tài năng người Anh gốc Séc. Ông viết kịch bản cho truyền hình, đài phát thanh, điện ảnh và sân khấu với các vở kịch nổi tiếng như: Arcadia, The Coast of Utopia, Every Good Boy Deserves Favor , Professional Foul, The Real Thing, Travesties, The Invention of Love… Mới đây, tác giả Hermione Lee, với cuốn sách về cuộc đời Tom Stoppard đã tiết lộ nhiều bí mật về ông. Nổi bật nhất là việc ông vốn không phải con đẻ của người cha hiện tại và là người gốc Anh như ông vốn nghĩ. Đến tận 60 tuổi, bà Marta – mẹ ông mới kể, ông chính là người Do Thái, con của một bác sĩ

Tom Stoppard chụp năm 1976.

Stoppard cũng viết kịch bản cho các bộ phim điện ảnh: Brazil, The Russia House hay Shakespeare in Love. Ông đã nhận được một giải Oscar và bốn giải Tony. Tác phẩm của ông chủ yếu viết về nhân quyền và tự do chính trị, đi sâu vào các chủ đề triết học hơn các vấn đề xã hội. Stoppard là nhà viết kịch của Nhà hát Quốc gia và là một trong những nhà viết kịch quốc tế được trình diễn nhiều nhất trong thế hệ của mình. Năm 2008, tờ The Daily Telegraph xếp ông vào vị trí thứ 11 trong danh sách “100 người quyền lực nhất trong văn hóa Anh”.

Tom Stoppard – A life của Hermione Lee là một nghiên cứu có chiều sâu về Tom Stoppard gồm nhiều chi tiết mô tả các bữa tiệc và những người bạn danh tiếng của ông, đồng thời cũng chỉ rõ các nguồn cảm hứng sáng tác tạo nên các sáng tác của kịch gia lỗi lạc này.

Trong vở kịch The Invention of Love, Tom Stoppard đã mô tả nhân vật Oscar Wilde một cách rất cô đọng là “một mớ hỗn tạp mà từ đó đời sống thực của chúng ta phát lộ ra ngoài”. Thật là một cú chạm đầy rung cảm đến nỗi dòng trích dẫn đó được lặp lại tới hai lần trong hồi kí về nhà văn ấy. Gần như cả 1.000 trang hồi kí đều viết rất nhiều về “mớ hỗn tạp” này, bởi vậy có lẽ tốt nhất là độc giả không nên cố gắng tìm hiểu ngụ ý “đời sống thực của chúng ta” trong các vở kịch của ông, bởi câu nói như vậy sẽ dẫn đến những bài thuyết giáo dài dòng về lí thuyết hỗn mang.

Những cảm nhận và chiêm nghiệm của chúng ta khi xem các vở kịch của Stoppard liên quan ra sao đến đời sống của chúng ta ngoài đời là một câu hỏi chưa có câu trả lời, khơi dậy các cuộc thảo luận để xác định lập trường viết kịch của Stoppard. Nghệ thuật kịch đột phá của ông đánh đố trí tuệ và nhận thức về thời gian của chúng ta nhưng chúng ta say mê thử thách đó, để rồi khi về tới nhà, chúng ta cứ nghĩ mãi về nó, đến thao thức mãi và dễ dậy trễ giờ đi làm sáng hôm sau. Điều đó chứng tỏ các vở kịch của ông ấy chỉ là một “màn trình diễn ngôn từ” dí dỏm, thông minh nhưng vô nghĩa, hay chúng đề cập đến các chủ đề sâu sắc về trải nghiệm cuộc sống của con người? Ít nhất các tác phẩm của ông đã chứng tỏ một nỗ lực không ngừng nghỉ để giải mã các bí ẩn về sự tồn tại của con người. Như Hannah, một nhân vật trong một vở kịch thuộc hàng được yêu thích nhất của ông tên là Arcadia, đã từng nói: “Chính cái khao khát được hiểu biết khiến chúng ta trở nên khác biệt. Nếu không, chúng ta cũng sẽ đi ra không hơn gì cái lúc chúng ta đã đi vào”.

Có một số nhận xét cho rằng các vở kịch của Tom Stoppard thuộc thể loại kịch mà người ta chỉ xem một lần. Song nhiều người nghĩ rằng, kịch của ông hấp dẫn hơn một số thể loại hư cấu về chủ đề tội phạm, khi xem đến lần thứ hai khán giả sẽ cảm thấy kém thu hút vì đã tỏ tưởng đường đi nước bước của tác giả. Để tránh hiện tượng này, nhiều chuyên gia muốn hồi sinh các vở kịch hay nhất của ông, tùy theo tác phẩm và lượt biểu diễn, các nhà phê bình đã tán thưởng hết lời và khích lệ người xem nên chú ý để thấy được chiều sâu tác phẩm mà ở lượt xem đầu họ có thể đã bỏ lỡ. Thật ấn tượng khi một kịch gia nổi tiếng, đã được tôn vinh ở các giải thưởng điện ảnh và nghệ thuật lớn nhất như Oscar đến Huân chương công trạng (Order of Merit) vẫn thu hút mọi đối tượng của mọi tầng lớp, thuận chiều và trái chiều.

Bìa cuốn hồi kí về Tom Stoppard.

Thực tế là, kịch của Stoppard quá nổi bật, vì thế chính các tác phẩm đặc trưng chất Stoppard đã xây dựng danh tiếng cho ông trên cả hai phương diện. Thứ nhất, mạch truyện trong các vở kịch Stoppard viết được mô tả “ngang tầm Beckett và tác phẩm hài kịch phát thanh The Goon Show”, vừa “bắt kịp Pinter và kịch hài sân khấu Beyond the Fringe”. Stoppard đã học từ Beckett và Pinter và sáng tạo thủ thuật nén và ẩn giấu thông tin. Khán giả bị thách thức trong mê cung trận của tư duy, họ hoang mang suy nghĩ và bị cuốn hút như thôi miên. “Tôi thích người xem phải chú ý đến từng diễn biến kịch trong bóng tối và chỉ mãi về sau mới biết mình bị dẫn dắt tới đâu”. Thứ hai, những vở kịch làm nên tên tuổi kịch gia tài hoa điêu luyện đó, thường hàm chứa một khoảng lặng đáng kinh ngạc. Tất cả đều khiến khán giả phải tập trung chú ý, đôi khi bị cuốn hút tới mức chìm đắm trong suy tư. John Wood, một diễn viên dường như được cõi trên phái xuống trần gian để nhập và hóa thân thành một vài nhân vật thông minh, hóm hỉnh nhất của Stoppard, nổi tiếng là đã từng khiến cho các khán giả đang gà gật trong buổi xem kịch ban chiều chuyển sang phấn khích khi đang biểu diễn vở Travesties và cáu kỉnh yêu cầu: “Ồ, cứ diễn tiếp như thế đi chứ!”. Khán giả hứng thú tận hưởng một buổi tối xem kịch của Stoppard, là một niềm vui, sự khích lệ lớn lao, đáng để chúc mừng.

Chúng ta đã quá quen thuộc với những cuộc phỏng vấn của báo chí về Tom Stoppard cùng tiểu sử sơ lược về ông. Tuy vậy, tác giả Hermione Lee lại có dịp tiếp cận ông ở hậu trường của các vở kịch, được biết thêm những chi tiết hiếm có. Từ đó, cô có thể kể các câu chuyện với các tình tiết đặc sắc không thể tìm thấy bất cứ nơi đâu. Đặc biệt nhất là câu chuyện về nguồn gốc xuất thân của kịch gia Stoppard. Ông vốn không phải con đẻ của người cha hiện tại và là người gốc Anh như ông vốn nghĩ. Đến tận 60 tuổi, bà Marta – mẹ ông mới kể, ông chính là người Do Thái, con của Tomáš Sträussler (một bác sĩ) quê tại Zlín, nơi mà sau đó trở thành Tiệp Khắc rồi chịu sự xâm lược của Hitler; Nhật Bản. Gia đình họ đã phải bỏ xứ tìm đến mảnh đất mới. Ba mẹ con đến Bombay trước, còn người cha theo sau không may mắn đã chết trên con tàu mà quân Nhật đánh chìm. Sau này, gia đình ông dừng chân tại Darjeeling, mẹ ông gặp gỡ và tái hôn với một sĩ quan người Anh tên Kenneth Stoppard. Người cha dượng này đã đưa cả gia đình trở lại nước Anh năm 1946. Hai anh em ông được sống tại một đất nước mới, lớn lên như những người Anh, biết chơi cricket và diễn kịch…

Cuốn sách cũng tiết lộ những bí mật thú vị của Stoppard. Đó là, nhiều vở kịch của ông sau này trở thành các tác phẩm cần đọc ở nhiều trường đại học, song chính nhà viết kịch này lại chưa từng học đại học. Năm 17 tuổi, ông bắt đầu làm phóng viên cho một tờ báo địa phương ở Bristol. Thiếu sót kinh nghiệm của ông được bù trừ bằng sự liều lĩnh, táo bạo: trở thành phóng viên chuyên mục đua xe thể thao của một tờ báo mà không để lộ sự thật là ông không biết lái xe. Càng về sau, ông càng viết nhiều bài đánh giá cảm nhận về kịch nghệ sân khấu và rồi theo tiếng gọi của ước mơ, ông bỏ việc và chuyển tới London để theo nghiệp sáng tác kịch.

Một cảnh trong vở kịch Arcadia của Tom Stoppard tại Nhà hát Hoàng gia tại Brighton, năm 2015.

Ảnh: Tristram Kenton/ The Guardian.

Cuốn hồi kí không quên kể sơ lược về quá trình phát triển sự nghiệp của Tom Stoppard, từ các tác phẩm ban đầu. Ví dụ như vở kịch ngắn Tom Stoppard: The Years of Struggle (tạm dịch: Tom Stoppard : Một năm tranh đấu) kể về chuyện khi kịch gia chưa tròn 28 tuổi, Đoàn kịch Hoàng gia Shakepeare đến thu nhận ý tưởng của ông vào vở kịch về Rosencrantz và Guildenstern, hai nhân vật phụ trong Hamlet. Những đạo diễn tại Nhà hát Quốc gia đã liều mình đánh cược cho Stoppard thời còn vô danh. Kết quả là, vào tối thứ ba, ngày 11/4/1967 tại Old Vic vở kịch thành công mĩ mãn và “những ngọn đèn đã dừng lại và chiếu thẳng vào hai người đàn ông mặc trang phục thời Elizabeth, hai con người đã tung đồng xu đặt cược khi đó”.

Vở kịch Rosencrantz và Guildenstern Are Dead (tạm dịch: Cái chết của Rosencrantz và Guildenstern) của Stoppard sau này được trình diễn liên tiếp ba năm từ khi ra mắt; sau đó được diễn lại, biên dịch và chuyển thể vô số lần. Faber đã tái bản tác phẩm này 23 lần trong vòng 30 năm sau đó, và rồi tiếp tục bán được nửa triệu bản sao chỉ từ năm 2001 đến năm 2008. Một khán giả nữ xem lần trình diễn tác phẩm đầu tiên ở New York đã tình cờ gặp tác giả của vở kịch và hỏi ông: “Vở kịch này nói lên điều gì?”. Theo như giai thoại tương truyền, nhà viết kịch đã trả lời: “Vở kịch nói lên rằng tôi sắp được phát tài nhờ nó”.

Việc viết các vở kịch tiếp theo: từ Jumpers (1972), Travesties (1974), The Real Thing (1982), Arcadia (1993), The Invention of Love (1997), The Coast of Utopia (2002), Rock’n’Roll (2006)… cho đến vở kịch mới nhất Leopoldstadt; công việc viết kịch bản cho bộ phim Shakespeare in Love, kịch bản phim cho nhiều bộ phim điện ảnh và phim chuyển thể khác cùng nhiều giải thưởng lớn mang về cho Stoppard số tiền ngoài sức tưởng tượng; giúp ông có thể duy trì một cuộc sống sung túc; những chuyến bay xa, những lần kết hôn và cả cuộc sống không hôn nhân, vô vàn các bữa tiệc và cả một kho thuốc lá tệ hại…

Hình tượng Stoppard từ cuốn hồi kí dưới góc nhìn đầy trìu mến và đồng cảm là một con người nhút nhát tìm cách thể hiện mình; một con người gần như không tin vào vận may của mình nhưng cũng gần như không có niềm tin đối với bất kì điều gì khác nữa. Simon Grey đã nắm bắt được điều này một cách trọn vẹn khi ông viết: “Đó thực sự là một trong những thành tựu của Tom, một điểm mà không ai ghen tị với ông ấy chút nào hết, không giống như ghen tị với diện mạo, tài năng, tiền bạc và sự may mắn của ông ấy. Trở nên thật đáng để ghen tị nhưng không bị ghen tị thật là một điều mà con người ta mơ tưởng tới”.

Cuốn hồi kí của Hermione Lee viết rất dày dặn, phong cách, chứa đựng nhiều kiến thức song vẫn khiến người đọc dễ tiếp nhận. Độc giả sẽ hình dung rõ hơn về cuộc sống thời nổi tiếng Stoppard: ông có nhiều người bạn nổi tiếng ra sao, các bữa tiệc được tổ chức linh đình thế nào?. Tuy vậy, hồi kí có nhiều đoạn hơi lan man về đời sống sinh hoạt của nhà viết kịch.

Tom Stoppard – A life được đánh giá cao nhất ở chỗ, Hermione Lee là một tác giả tài năng, sáng tạo khi viết về Stoppard. Cô có kiến thức phong phú, đầy am hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của nhà viết kịch lỗi lạc, đặc biệt trân trọng tài năng, sự nghiệp của kịch gia cũng như đề cao vai trò của các nhà hát. Phần kiến giải sắc sảo và rõ ràng của tác giả về những sáng tạo tinh vi của Stoppard là một trong các điểm mạnh lớn của cuốn hồi kí. Bài phê bình tận tâm của tác giả về các chủ đề và cốt truyện phức tạp của vở kịch Arcadia rất xứng đáng để người đọc bỏ số tiền lớn mua vé vào cửa xem kịch. Kịch gia Stoppard thường bị chỉ trích là “lãnh cảm – vô tình” hoặc quá thuần túy “trí óc – lí trí”, nhưng đó là một trong những thành tựu phê bình văn học của Hermione Lee khi cô chỉ ra được dòng cảm xúc đã trở thành nguồn cảm hứng thúc đẩy rất nhiều tác phẩm của ông, đặc biệt là các kiệt tác thời kì trung đại như vở kịch Arcadia và The Invention of Love.

Stoppard đã duyệt sửa và lược bỏ thẳng thừng các chi tiết khi vở kịch của ông đang được diễn tập và ngay cả đang được biểu diễn, để đem lại phiên bản sát sao, tốt nhất của vở kịch – sự kiện. Thật thú vị khi là một bậc thầy về cô đọng văn bản, ông luôn cắt đi, gọt giữa các kịch bản của mình, sửa tới cả phần kết của màn trình diễn phút áp chót; nhưng ông lại quyết định đặt niềm tin vào “cái mớ hỗn tạp” cuộc đời và sự nghiệp của mình, để người viết hồi kí của ông hoàn toàn tự do phóng tác.

Thật khó để biết lịch sử văn học sẽ đánh giá như thế nào về Stoppard. Giáo sư, tác giả Hermione Lee nhận định rằng “mọi người cảm thấy” ông ấy “đã khiến nền văn hóa của chúng ta trở nên khác biệt” nhưng thật không dễ để chỉ rõ đó là sự khác biệt nào. Wilde đã biến chuyển cả một phong trào văn hóa trở nên tuyệt vời khi viết nhiều vở kịch có tiềm năng trình diễn thành công tại các nhà thờ địa phương. Pinter đã mở mang ý thức của chúng ta về khái niệm vĩnh cửu của một vở kịch. Stoppard lại mang đến cho chúng ta những đêm tuyệt vời trong nhà hát, những dịp khiến chúng ta đôi khi suy tư, đôi khi cười phá lên, đôi khi khóc òa. Có lẽ như vậy là quá đủ: một nhà viết kịch còn có thể ao ước lời khen ngợi nào cao hơn thế nữa?

KIỀU HÒA theo The Guardian

Cuộc gặp gỡ chấn động lịch sử của ba vị vua Việt Nam

Cuộc gặp gỡ của vua Chiêu Thống, Thái Đức và Nguyễn Huệ (vua Quang Trung sau này) đã diễn ra tại kinh thành Thăng Long một ngày mùa thu năm 1786.

Cuộc gặp gỡ chấn động lịch sử của ba vị vua Việt Nam

Đó là cuộc gặp gỡ giữa vua cuối cùng của nhà Lê là Lê Mẫn Đế (thường gọi là vua Chiêu Thống), vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc (Thái Đức) và em ông, Nguyễn Huệ, người sẽ trở thành vua Quang Trung chỉ mấy năm sau. Cuộc hội kiến dùng lễ “hai vua gặp nhau”, hai bên không ai phải lạy ai.

Cuộc gặp đặc biệt

Sự kiện diễn ra sau chuyến ra Bắc lần thứ nhất của Nguyễn Huệ. Với danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”, quân Tây Sơn đánh tan quân của chúa Trịnh Khải. Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân và phong làm Nguyên súy Dực chính phù vận Uy quốc công.

Tuy nhiên, khi đó, vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc có lòng nghi kỵ Nguyễn Huệ có ý định chiếm giữ miền Bắc, đã tức tốc dẫn 500 quân từ Tây Sơn (Bình Định) ra Phú Xuân (Huế), rồi điểm thêm 2.000 quân đi gấp ra Thăng Long.

Các sự kiện này đều có chép trong chính sử. Tuy nhiên, đến đời sau, nhà Nguyễn coi nhà Tây Sơn là kẻ thù nên cũng chỉ chép sơ sài. Chỉ có trong tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, tuy không viết theo lối chép sử, thể hiện các sự việc này một cách rất sinh động.

Hoàng Lê nhất thống chí cho biết khi biết tin Nguyễn Nhạc ra Bắc, Nguyễn Hữu Chỉnh khuyên vua Chiêu Thống sắp ngọc tỷ ra hàng, lại giục quan trong triều thảo gấp tờ biểu xin hàng. Tuy nhiên, triều thần bàn bạc mấy ngày không ai dám hạ bút trước.

Đến khi vua Thái Đức ra đến nơi, vua Lê thân hành ra đón ở cửa Nam. Nhà vua đứng bên trong cửa ô, sai hoàng thân là Thanh Nguyên hầu quỳ ở bên trái đường để chào và nói thay. Vua Thái Đức cứ thế đi qua cửa ô không đáp lễ, giục ngựa đi thẳng và cho một người quay lại nói rằng:

– Quả nhân thấy nhà vua lễ độ quá, sợ rằng nếu xa giá ở lại chậm trễ, hoặc giả làm phiền cho quý thể, phải quỳ lạy mệt nhọc, rồi quả nhân phải mang tiếng là thất lễ. Bởi thế, quả nhân phải vội vã đi ngay. Xin ngự giá hãy cứ về cung, ngày khác thong thả sẽ cùng gặp nhau.

Vua Lê nghe vậy, biết là vua Tây Sơn còn ưu đãi mình, mới không bàn đến việc đầu hàng nữa.

Ngày hôm sau, mùng sáu tháng tám âm lịch, vua Thái Đức sai bày ở phủ đường của Nguyễn Huệ ba chỗ ngồi. Chính giữa kê sập của vua Thái Đức, bên trái là ghế của vua Chiêu Thống, bên phải là ghế của Nguyễn Huệ.

Khi ngự giá của vua Lê đến cửa phủ, vua Tây Sơn sai viên quan hầu ra đón. Vua Lê đi bộ vào thềm, vua Tây Sơn đang ngồi vội bước xuống đất và đứng sang bên cạnh sập để tỏ ý kính lễ, rồi sai Nguyễn Huệ xuống dưới thềm đón tiếp và mời vua Lê ngồi vào ghế. Khi đã yên vị, vua Tây Sơn hỏi thăm:

– Hoàng thượng năm nay xuân thu độ bao nhiêu?

Viên quan đi theo đáp lời thay vua Lê. Năm đó, vua Chiêu Thống 21 tuổi. Nguyễn Huệ khi đó mới 33 tuổi, còn Nguyễn Nhạc khoảng 40 tuổi (sử không ghi chính xác năm sinh của Nguyễn Nhạc).

Sau khi hỏi han xã giao, viên quan hầu của vua Lê ngỏ ý muốn vua Thái Đức thu nhận một vài quận ấp để làm quà khao quân, nhưng Nguyễn Nhạc từ chối, bày tỏ mong muốn “kết nghĩa láng giềng”.

Sau đó, hai vua cùng quốc công Nguyễn Huệ uống trà, rồi vua Chiêu Thống ung dung ra về, vua Thái Đức đứng dậy từ biệt. Nguyễn Huệ tiễn vua Lê xuống thềm, còn vua Thái Đức đi theo một quãng, rồi né mình giật lùi về chỗ, sai viên quan hầu hộ vệ vua Lê ra khỏi phủ, lên kiệu về cung.

Vua Lê về đến cung, sai các quan trong triều tới ra mắt vua Tây Sơn. Vua Thái Đức lần lượt hỏi hết quan chức, họ tên từng người. Các quan ca tụng công đức của vua Thái Đức, xong nói: “Thánh thượng nếu như đã giúp cho nước tôi được còn, xin hãy tạm lưu tại đây, để vua nước chúng tôi nhờ cậy vào oai linh của thánh thượng. Bao giờ bốn phương đều yên, giường mối đã dựng lại, bấy giờ ngự giá hãy về cũng chưa muộn”.

Cuộc chia tay trước thời khắc biến động

Đến canh hai đêm 17 tháng tám, vua Thái Đức cho người vào gõ cửa điện, chào từ biệt vua Lê, rồi sáng sớm hôm sau cùng Nguyễn Huệ bất ngờ rút toàn quân về Nam.

Sau chuyến về Nam này của anh em vua Tây Sơn, lịch sử Việt Nam bước vào một giai đoạn hết sức bất ổn. Trong Nam, vua Thái Đức đánh nhau với Nguyễn Huệ. Ngoài Bắc, thế lực Trịnh Bồng nổi lên, vua Chiêu Thống phải nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra đánh dẹp.

Khi biết tin Nguyễn Hữu Chỉnh lộng quyền ở ngoài Bắc, Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm ra trừng trị, vua Chiêu Thống sợ hãi chạy sang Trung Quốc. Rồi sau đó đến lượt Nhậm cũng theo chân Chỉnh lộng quyền, Nguyễn Huệ lại ra quân giết luôn Vũ Văn Nhậm.

Cuối năm 1788, khi vua Chiêu Thống dẫn quân Thanh về nước, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Quang Trung, xuất quân ra Bắc lần thứ ba đánh tan quân xâm lược nhà Thanh trong trận chiến mùa Xuân Kỷ Dậu. Vua Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc lưu vong đến khi chết, nhà Lê chấm dứt, nhà Thanh chính thức công nhận Nguyễn Huệ là vua của nước ta.

Nước ta lúc đó chia làm hai vùng cai trị của vua Quang Trung (từ Phú Xuân ra Bắc) và vua Thái Đức (từ Quảng Nam đến hết vùng Nam trung bộ hiện nay). Vùng đất Nam Bộ lúc đó đang là nơi hoạt động của quân chúa Nguyễn Ánh, là người sẽ thống nhất đất nước và lên ngôi với niên hiệu Gia Long chỉ hơn 10 năm sau đó.

Theo LÊ TIÊN LONG / TRI THỨC TRỰC TUYẾN 

Mười khác biệt trong cách bỏ phiếu của người Mỹ so với thế giới

Nguồn: Eric Bjornlund, “10 Problematic Ways in Which U.S. Voting Differs From the World’s”, Foreign Policy, 03/11/2020.

Người dịch: Phan Nguyên

Nhiều người Mỹ không biết quá trình bầu cử của họ kỳ lạ như thế nào so với phần còn lại của thế giới — từ Đại cử tri đoàn cho đến cách xác định phạm vi địa lý các khu vực bỏ phiếu. Nhưng ngay cả bản thân quy trình bỏ phiếu cũng rất khác so với các nền dân chủ khác, khiến việc bỏ phiếu trở nên khó khăn hơn và làm tăng nguy cơ gian lận cũng như tranh chấp giữa các đảng phái. Dưới đây là 10 khác biệt trong cách người Mỹ bỏ phiếu so với thế giới:

  1. Ngày Bầu cử được tổ chức vào ngày làm việc. Hầu hết các nền dân chủ khác đều bỏ phiếu vào cuối tuần hoặc chuyển ngày bầu cử của họ thành ngày nghỉ, có nghĩa là nhiều người hơn có thể bỏ phiếu mà không phải lo lắng về việc bỏ lỡ công việc.
  2. Không có sự thống nhất trong các cuộc bầu cử quốc gia. Hoa Kỳ dường như là nền dân chủ duy nhất trên thế giới không cố gắng đưa ra các quy tắc và thủ tục thống nhất để áp dụng cho tất cả các cuộc bầu cử quốc gia. Bỏ phiếu diễn ra trên hàng nghìn khu vực chính quyền với vô số loại phiếu bầu, tiêu chí xác định tư cách hợp lệ của cử tri, thiết bị bỏ phiếu, phương pháp kiểm phiếu và khung thời gian, thủ tục bỏ phiếu sớm hoặc bỏ phiếu vắng mặt, cũng như các quy tắc giải quyết tranh chấp khác nhau.
  3. Không có cơ quan quản lý bầu cử quốc gia. Không giống như hầu hết các quốc gia khác, Hoa Kỳ thiếu một ủy ban bầu cử quốc gia hoặc một cơ quan nào đó chịu trách nhiệm về quy trình bầu cử. Ngay cả các quốc gia khác có truyền thống liên bang mạnh mẽ như Ấn Độ, Canada và Mexico cũng có ủy ban bầu cử quốc gia điều hành các cuộc bầu cử liên bang với các quy tắc thống nhất trên toàn quốc.
  4. Quản lý bầu cử theo đảng phái. Tại 33 bang của Hoa Kỳ, quan chức giám sát bầu cử chính được bầu trong các cuộc bầu cử đảng phái và có quan hệ liên minh với một đảng chính trị nào đó — Mỹ là nền dân chủ duy nhất trên thế giới lựa chọn các quan chức bầu cử cấp cao của mình theo cách này. Do đó, tính khách quan và công bằng trong việc điều hành bầu cử phụ thuộc quá nhiều vào sự chính trực của các quan chức phụ trách bầu cử của bang và địa phương, những người thường ủng hộ các ứng cử viên hoặc tham gia tranh cử trong chính các cuộc bầu cử mà họ giám sát. Điều này làm tăng nguy cơ tranh chấp và kiện tụng rất nhiều.
  5. Thủ tục đăng ký cử tri phức tạp. Không giống như hầu hết các quốc gia khác, Hoa Kỳ thiếu cơ sở dữ liệu đăng ký cử tri ở cấp quốc gia hoặc mang tính thống nhất. Thay vì đăng ký tự động hoặc diễn ra theo sự chủ động ​​của chính phủ như ở hầu hết các quốc gia khác, thì gánh nặng đăng ký bỏ phiếu thuộc về mỗi cá nhân. Điều này có xu hướng khuyến khích sự không tham gia của cử tri.
  6. Tranh cãi lan rộng về việc xác định danh tính cử tri. Hầu hết các quốc gia có quy định thống nhất về những gì mà cử tri phải cung cấp tại các địa điểm bầu cử để được bỏ phiếu. Nhiều quốc gia có thẻ căn cước quốc gia hoặc thẻ căn cước cử tri mà mọi cử tri đều phải xuất trình.
  7. Gây khó khăn cho cử tri đi bỏ phiếu. Trong lịch sử Hoa Kỳ, thường có ít nhất một đảng lớn cố tình gây khó khăn hơn cho một số nhóm người trong việc đi bỏ phiếu. Hiện tại, một đảng chính trị lớn dường như đang cố gắng ngăn cản sự tham gia của cử tri. Điều này dường như không phổ biến ở những nơi khác trên thế giới. Việc một số bang của Hoa Kỳ tước bỏ quyền bầu cử của những người có tiền án hình sự cũng rất bất thường.
  8. Bộ phận quản lý bầu cử có ít thẩm quyền. Các nhà quản lý bầu cử ở Hoa Kỳ nói chung có ít quyền quyết định hơn so với đồng nghiệp của họ ở các quốc gia khác trong việc điều chỉnh các quy tắc và thủ tục — ví dụ như về cách phản ứng với đại dịch COVID-19.
  9. Không có quy trình bỏ phiếu hoặc đếm phiếu tiêu chuẩn. Ngay cả trong một tiểu bang, các công nghệ và quy trình cũng khác nhau giữa các quận. Các quy tắc về cách tính phiếu bầu vắng mặt rất khác nhau trên cả nước — đây là một nguồn tranh chấp tiềm tàng khác. Một lần nữa, dường như không có quốc gia nào khác làm theo cách này.
  10. Không có cơ chế dành riêng cho việc giải quyết tranh chấp bầu cử. Trên toàn cầu, xu hướng là thiết lập các cơ chế giải quyết tranh chấp bầu cử chuyên biệt. Ngược lại, ở Hoa Kỳ, những ai có khiếu nại về quy trình này thường phải đến tòa án, nơi có xu hướng giải quyết khiếu nại chậm hơn với các thẩm phán ít có chuyên môn về bầu cử hơn.
  11. @ Nghiên cứu Quốc Tế

Tới lượt Nguyễn Văn Bình nhưng lẽ nào chỉ như thế đã đủ?

Nguyễn Văn Bình, 2016.

Nguyễn văn Bình

Ủy ban Kiểm tra (UBKT) của Ban Chấp hành Trung ương (BCH TƯ) đảng CSVN vừa đề nghị Bộ Chính trị xem xét, thi hành kỷ luật đối với ông Nguyễn Văn Bình, Trưởng Ban Kinh tế BCH TƯ đảng CSVN (1) vì những vi phạm nghiêm trọng khi còn là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tuy nhiên bất kể hình thức xử lý thế nào, thậm chí có tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự của ông Bình thì câu hỏi thế nào là thích đáng cũng sẽ không có câu trả lời!..

***

Ông Bình trở thành trụ cột của NHNN (Phó Thống đốc) từ năm 2008. Tới 2011 thì trở thành Thống đốc NHNN và sau khi thôi làm Thống đốc NHNN (2016), ông Bình là thành viên Bộ Chính trị, kiêm Trưởng Ban Kinh tế của BCH TƯ đảng.

Theo UBKT của BCH TƯ đảng CSVN thì cần kỷ luật ông Bình vì trong thời gian là Thống đốc NHNN (2011 – 2016) ông đã: Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc. Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong việc ban hành và tổ chức thực hiện một số nghị quyết, quy định, quyết định về hoạt động tín dụng – ngân hàng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, khó khắc phục.

“Cáo trạng” của UBKT BCH TƯ đảng CSVN khiến người ta buồn cười vì lẽ nào… đảng có mặt như mù, tới bây giờ mới thấy sai phạm của ông Bình gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, của NHNNN và cá nhân ông Bình?

***

Khoảng một năm sau khi ông Bình trở thành Thống đốc NHNN, tháng 8 năm 2012, Global Finance đã “bầu” ông là 1/20 Thống đốc NHNN kém cỏi nhất trên thế giới (2). Còn NHNN thì được xếp vào nhóm mười ngân hàng trung ương tệ nhất thế giới (3).

Sau khi trở thành Thống đốc NHNN, ông Bình trở thành người chỉ đạo thực hiện đợt “tái cơ cấu ngân hàng” lần thứ ba (đợt một 2000 – 2003 vì tác động của khủng hoảng tài chính châu Á, đợt hai 2005 – 2008 vì gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO).

Trong đợt “tái cơ cấu ngân hàng” lần thứ ba (2012 – 2015), NHNN xóa sổ một số ngân hàng thương mại (NHTM), cho ngân hàng này mua lại ngân hàng khác, hợp nhất NHTM nông thôn với công ty tài chính cổ phần hay chuyển thành NHTM đô thị, sáp nhập các NHTM vào với nhau. So với hai đợt “tái cơ cấu ngân hàng” trước đó, đợt thứ ba không có gì mới. Chín ngân hàng được xếp vào loại cần “tái cơ cấu” lần này đều đã từng được “tái cơ cấu” trong hai đợt trước chỉ khác ở chỗ quy mô tài sản lớn hơn và phức tạp hơn.

Năm 2012, NHNN dưới thời Thống đốc Nguyễn Văn Bình loan báo, tỉ lệ nợ xấu (nợ không có khả năng thu hồi cả vốn lẫn lãi) lên tới 8,82% chứ không phải chỉ khoảng 4,47% như… NHNN thời tiền nhiệm của ông Bình từng công bố. Ông Bình được xem là người có… công giảm nợ xấu xuống còn 2,46% tính trên tổng số tiền mà hệ thống tín dụng tại Việt Nam đã cho vay. Tuy nhiên, một năm sau khi ông Bình thôi làm Thống đốc, tháng 6 năm 2017, NHNN thú thật, tỉ lệ nợ xấu là… 17,21%.

Giữa năm 2017, lúc đề nghị Quốc hội Việt Nam thông qua “Nghị quyết về xử lý nợ xấu” (ấn định các giải pháp hỗ trợ hệ thống ngân hàng, kể cả sử dụng công quỹ để bù đắp những khoản từng cho vay, giờ gần như không thể thu hồi), chính phủ Việt Nam mới tiết lộ, tỉ lệ nợ xấu như vừa kể (17,21%) tương đương… 600.000 tỉ đồng và 90% là tiền của dân (4)! Không chỉ có chừng đó. “Tái cơ cấu ngân hàng” dưới sự điều hành của Thống đốc Nguyễn Văn Bình còn tạo ra hàng loạt đại án liên quan tới hệ thống ngân hàng!

Đáng chú ý là đại án ngân hàng nào cũng gây thiệt hại ở mức hàng ngàn tỉ: Đại án Chi nhánh Nam Hà Nội của Agribank thiệt hại 2.500 tỉ. Đại án ACB – Nguyễn Đức Kiên thiệt hại khoảng 3.000 tỉ. Đại án Vietin Bank – Huỳnh Thị Huyền Như thiệt hại 4.911 tỉ. Đại án Ocean Bank – Hà Văn Thắm thiệt hại hơn 5.300 tỉ. Đại án Ngân hàng Phương Nam – Ngân hàng Sài Gòn Thương tín (Sacombank) – Trầm Bê thiệt hại khoảng 15.000 tỉ. Đại án Ngân hàng Xây dựng (VNCB) – Phạm Công Danh thiệt hại 18.000 tỉ,…

Dưới thời Thống đốc Nguyễn Văn Bình, NHNN còn có… sáng kiến mua lại ba NHTM (VNCB, Ocean Bank, Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu – GP Bank) với giá… 0 đồng. Tuy NHNN giải thích, quyết định mua lại ba ngân hàng với giá… 0 đồng nhằm tiếp tục “tái cơ cấu hệ thống ngân hàng”, bảo vệ an ninh kinh tế – tài chính quốc gia nhưng hai năm sau (10/2017), KTNN cảnh báo: Cả ba vẫn thế, tiếp tục thua lỗ lớn, chủ sở hữu tiếp tục phải rót thêm vốn, nếu không có biện pháp hữu hiệu sẽ lỗ thêm nhiều ngàn tỉ đồng (5).

***

Chưa ai tính xem nợ xấu của hệ thống ngân hàng làm bao nhiêu công trình phúc lợi liên quan tới dân sinh bị đình trệ? Nợ xấu tương ứng thế nào với tình trạng tận thu thuế và phí vắt kiệt sức dân? Tại sao hàng trăm triệu người phải chia nhau gánh chịu hậu quả?

Bởi tạo ra nợ xấu, các “đại gia” đã phải trả giá bằng tự do, thậm chí bằng sinh mạng của họ, song còn trách nhiệm của những cá nhân ban hành các chủ trương, phê duyệt các quyết định, biến những cá nhân vốn hết sức bình thường thành “đại gia” tung hoành ngang dọc một thời thì sao? Chẳng lẽ chỉ có ông Bình chịu trách nhiệm? Chẳng lẽ các cá nhân nhất trí đưa ông vào BCH TƯ đảng, qui hoạch ông làm Thống đốc, khi trách nhiệm của ông đã rõ như ban ngày, còn tiếp tục “thổi” ông vào Bộ Chính trị vẫn vô can?

Cứ vài tháng, UBKT của BCH TƯ đảng lại công bố kết quả một đợt… kiểm tra. Hết viên chức này tới viên chức khác hoặc bị UBKT của BCH TƯ đảng trực tiếp xử lý kỷ luật hoặc bị cơ quan này đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét – kỷ luật. Kết quả các đợt kiểm tra ấy chỉ mới cho thấy một điều, tổ chức đảng ở cấp nào, ngành nào cũng gây họa nghiêm trọng, cũng đã từng làm dư luận xôn xao nhưng không ai thèm xem, chẳng nơi nào thèm xét cho tới khi… đột nhiên đảng cảm thấy… hứng thú không rõ lý do!

Kết quả các đợt kiểm tra ấy còn chỉ ra thêm một điều nữa là “tự chỉnh đốn” giống như “bới bèo”. Có thể cứ “bới” thì sẽ ra vô số “bọ” nên đảng chọn cả lúc để “bới” và “điểm” để “bới”.

“Tự chỉnh đốn” là chuyện của đảng, đảng muốn tự “chỉnh”, tự “đốn” thế nào cũng được nhưng đảng nên trả lời cho rõ ràng, sòng phẳng, tại sao khăng khăng giành – giữ quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối mà đảng không đả động gì tới trách nhiệm khi thất thoát công thổ, công sản, công quỹ tính bằng trăm tỉ này, đến ngàn tỉ khác, khi không ngừng vay mượn, không ngừng chi tiêu cho hết dự án này đến công trình khác nhưng cuối cùng chỉ có nợ nần liên tục gia tăng?

Khẳng định “tự chỉnh đốn”, thề chống tham nhũng nhưng không chặn ngay, xử liền, thậm chí đã có đầy đủ dấu hiệu cho thấy các “đồng chí” ấy đang nhũng lạm mà vẫn lựa chọn – sắp đặt làm lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền thì ai tin?

Trần Văn / VOA