Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ?

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ?
Một cây xanh đơn độc chính là điểm nhấn cho ngôi nhà, với thiết kế cầu thang xoắn ốc ôm trọn cây.
Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 1.

Tại trung tâm thành phố Vinh, nơi chịu ảnh hưởng của gió Lào (gió Tây khô nóng) và nắng như thiêu như đốt, chúng tôi xuất phát từ một con đường sầm uất và đông đúc nhất của thành phố Vinh, đầy khói bụi xe cộ và rẽ vào một con hẻm nhỏ.

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 2.

Con hẻn nhỏ này trông như bao con phố khác được bê tông hóa, với những ngôi nhà cao tầng, với những khung cửa sắt im lìm, bất chợt, ta bắt gặp một không gian trong lành, xanh mát, nhẹ nhàng, mộc mạc mở ra trước mắt. Và bức tranh yên bình, hình như lâu lắm rồi, ở một vùng quê nào đó hiện lên giữa phố phường chật hẹp.

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 3.

Nằm sâu trong con hẻm nhỏ chỉ rộng 3m, xung quanh là những ngôi nhà cao tầng kiên cố, mặt bằng chật hẹp với diện tích 7,1x19m trở thành một thử thách khó khăn nhưng vô cùng hấp dẫn với các kiến trúc sư.about:blankhttps://imasdk.googleapis.com/js/core/bridge3.421.0_en.html#goog_1950603907about:blank

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 4.

Công trình này được mang tên “Coong’s Garden” thể hiện tư duy khác biệt, không giống với những căn nhà khác trong khu vực.

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 5.

Thay vì xây dựng một ngôi nhà ống điển hình, những người sống trong đó có cuộc sống chật hẹp trong 4 bức tường thì các kiến trúc sư đã tạo ra một ngôi nhà với không gian xanh xen kẽ bên trong nó, “vườn trong nhà “- “nhà trong vườn “.

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 7.

Vì vậy không chỉ là nơi để ở mà còn là chốn bình yên, mộc mạc, nơi ta có thể tìm thấy hồn quê giữa trung tâm thành phố nhộn nhịp.

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 8.

Ngôi nhà được thiết kế cho một cậu con trai nhỏ sống với mẹ. Chúng tôi lên ý tưởng với cấu trúc không gian hình chữ U vô cùng đơn giản với 3 khu vực sân chính: Sân trước, sân sau và sân mái.

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 9.

Không gian xanh được tạo nên bởi vườn cây xanh tươi ở khu vực sân trước tuy không lớn nhưng cũng đủ để những bước chân lướt qua và chậm lại một phút để hít thở bầu không khí trong lành đến bất ngờ.

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 10.

Đây cũng là nơi để trẻ em thành phố có thể tìm lại những trải nghiệm nho nhỏ với cây cỏ, chơi trò chơi mà không qua màn hình điện thoại.

Trong quá trình khảo sát xây dựng, các kiến trúc sư đã cố gắng thuyết phục chủ nhà giữ lại 1 cây xanh. Cây xanh này chính là điểm nhấn cho ngôi nhà mới với thiết kế cầu thang xoắn ốc ôm trọn cây.

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 12.

Việc sử dụng hệ thống mái ngói đỏ truyền thống, dốc 2 chiều vừa tạo gió bẫy vừa giúp tầm nhìn không gian trở nên đa dạng hơn. Độ phủ của mái che tạo ra những khoảng đệm chuyển tiếp giữa bên trong và bên ngoài, sân trước – sân trong – sân mái.

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 13.

Đồng thời, hệ thống mái ngói còn làm tăng tính bền vững cho công trình trước tác động của khí hậu khắc nghiệt của miền Trung.

Có gì trong ngôi nhà mặt bằng chật hẹp, nằm sâu trong hẻm vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 14.

Không gian sống và nội thất được tối giản hoàn toàn giúp con người có thể cảm nhận thiên nhiên một cách trọn vẹn nhất.

Pha Lê / Shoha

Sự tuyệt cùng

Đọc một số tác phẩm của những tác giả như Victor Hugo, một số nhà văn Nhật Bản, Nguyễn Tuân hoặc Nam Cao, tôi thường nghĩ đến sự tuyệt cùng. Đó là cảm giác đi hết, đến tuyệt cùng của những những giới hạn rất cao hoặc không còn điểm nào vượt qua được nữa.

Đọc Victor Hugo hẳn mọi người đều nhớ đến những nhân vật tuyệt cùng kinh điển của ông. Đó là thằng gù Quasimodo trong “Nhà thờ Đức bà Paris”, là người tù khổ sai Giăng Vangiăng, là thanh tra Giave, là cô bé Côdét trong “Những người khốn khổ”… 

Victor Hugo là nhà văn của sự tột cùng, hầu hết các nhân vật chính của ông đều được đẩy đến những giới hạn lớn nhất có thể. Đức hi sinh như thánh thần là của Giăng Vangiăng, kẻ miệt mài mẫn cán với việc công không biết mệt mỏi là thanh tra Giave, tận cùng xấu xí ngoại hình là thằng gù Quasimodo, trác tuyệt tri thức, tuyệt cùng đen tối là phó giám mục Claude Froll, đứa trẻ mồ côi tận cùng đau khổ là bé Côdét… 

Hầu hết các nhân vật lớn của Victor Hugo đều những người quá cỡ, quá khổ, quá khác biệt so với bình thường. Nhà văn có một khoái cảm với những thứ tột cùng và xây dựng tác phẩm, nhân vật của mình trên nền triết lý ấy.

Bìa tác phẩm “Những người khốn khổ” của Victor Hugo. 

“Chí Phèo” của Nam Cao là một tác phẩm của sự tuyệt cùng dù Nam Cao không chủ trương xây dựng theo triết lý ấy. Chí Phèo là một kẻ lưu manh không biết sợ hay khoan nhượng, hắn đã trở thành một con quỷ đội lốt người ở làng Vũ Đại. Còn Bá Kiến là một tay cáo già lão luyện mà phải trải đời rất nhiều mới tu luyện được đến mức ấy. Thị Nở là một người đàn bà tuyệt xấu mà văn học cùng thời kì và cả sau này khó tìm được một nhân vật tương tự. 

Ba nhân vật tuyệt cùng của Nam Cao tạo ra một ấn tượng mạnh mẽ cho tác phẩm. Và chính ba nhân vật tuyệt cùng này đã trở thành một kiểu biểu tượng của đời sống: “xấu như Thị Nở”, “lưu manh như Chí Phèo”, “lõi đời như Bá Kiến”…

Bìa tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố

“Tắt đèn” của Ngô Tất Tố cũng là một tác phẩm của sự tuyệt cùng. Chị Dậu phải bán chó, bán con để lấy tiền cứu chuộc chồng thì đó là sự tuyệt cùng của nghèo đói và khốn khổ. Nếu trong “Chí Phèo” của Nam Cao sự tuyệt cùng tha hoá là cảm hứng chủ đạo thì ở “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố sự đói nghèo là giới hạn cực điểm. Chị Dậu cũng trở thành một biểu tượng của cuộc sống theo ảnh hưởng của văn học với đời sống: “nghèo như chị Dậu”.

Lùi xa hơn trong lịch sử, văn học Việt Nam cũng có những nhân vật tuyệt cùng rất đáng nhớ. Thuý Kiều là tuyệt cùng của cái đẹp, Sở Khanh là tuyệt cùng của kẻ trăng hoa lừa dối, Từ Hải là tuyệt cùng của người anh hùng khí khái. Những nhân vật tuyệt cùng của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” làm cho tác phẩm có những nét sổ rất đậm và đó cũng là những nhân vật đáng nhớ nhất.

Bìa tác phẩm “Chùa Đàn” của Nguyễn Tuân. 

Có lẽ Nguyễn Tuân là nhà văn Việt điển hình cho khoái thú của tuyệt cùng. Tác phẩm điển hình nhất cho triết lý này của ông có thể kể đến “Tâm sự của nước độc/Chùa Đàn”. Kẻ tuyệt đối trung thành với chủ, làm mọi thứ để người chủ của mình có thể vui lòng, thậm chí không tiếc cái chết là Bá Nhỡ. Người tuyệt đối bi sầu vì cái chết của vợ và tránh xa mọi thứ văn minh hiện đại, máy móc là Lãnh Út. 

Thậm chí, không khí của tác phẩm là một bối cảnh tiến dần đến sự tuyệt cùng toàn diện: tuyệt đối trung thành, tuyệt đối đoạn tuyệt, tuyệt đối ma quái, thậm chí việc ủ rượu, uống rượu, đốt rượu cũng là những hành động phi thường, hiếm thấy.

Nguyễn Tuân còn có những tác phẩm được liệt vào hàng tuyệt kĩ nữa với triết lý tuyệt cùng rất rõ nét như “Xác ngọc lam”, “Rượu bệnh.” “Xác ngọc lam” là tuyệt ma quái, huyền ảo, “Rượu bệnh” là tuyệt say sưa lạc thú. Tôi tin rằng nếu Nguyễn Tuân tiếp nối cái mạch của sự tuyệt cùng ấy mà không chịu tác động bởi những biến cố lịch sử lớn lao thì chắc chắn kho tác phẩm tuyệt cùng của ông sẽ còn giàu có và dữ dội hơn nữa.

Dường như các nhà văn cổ điển ưa thích sự tuyệt cùng. Những người như Victor Hugo hay Nguyễn Du đều thuộc lớp những nhà văn cổ điển. Những người như Nam Cao, Ngô Tất Tố hay Nguyễn Tuân đều là những người sống và có những thành tựu lớn nhất là từ nửa đầu thế kỉ trước, và tôi thấy bất ngờ khi khó tìm được một ví dụ của sự tuyệt cùng trong những gương mặt nhà văn đương đại. Ai có thể coi là người ưa thích triết lý tuyệt cùng và một tác phẩm tiêu biểu của anh ta? Hiện thời tôi chưa nhìn thấy hoặc sự đọc của tôi chưa đủ rộng để bao quát.

Dù sự đọc của tôi hữu hạn đến thế nào thì tôi vẫn tin rằng ở thời điểm hiện tại sẽ rất khó tìm ra sự tuyệt cùng ở các nhà văn đương đại và những nhân vật của họ. Dường như những tác phẩm của sự tuyệt cùng và những nhân vật tuyệt cùng đã không còn phù hợp ở bối cảnh hiện thời và chúng ta sẽ đi tìm hiểu lí do.

Điều đơn giản dễ thấy nhất là các tác giả văn học và nhân vật của họ đã không còn sống trong bầu không khí thuần nhất hoặc tư tưởng thuần nhất như xưa nữa. Ngày trước ta dễ dàng tìm ra được những nhân vật tuyệt đối xấu hoặc tuyệt đối tốt, tuyệt đối anh hùng hoặc cực điểm đê hèn. Nhưng con người hiện đại thì phức tạp và đa dạng hơn nhiều. 

Ở thời điểm này ai dám nhận mình là tuyệt đối tốt hoặc đủ tự tin để kết luận một người khác là tuyệt đối xấu? Cái xấu, cái tốt đan xen hoặc thỏa hiệp với nhau và thực tế thì bất cứ cá nhân nào cũng khó tồn tại nếu sống trong bầu không khí tuyệt đối vô trùng hoặc tuyệt đối dơ bẩn. 

Hơn nữa, với một sự nhìn nhận đa chiều của tâm thế hiện đại thì ngay cả các vị thánh vẫn có những tì vết ở những góc nhìn khác nhau và một kẻ tội phạm ghê tởm thì chưa chắc hắn đã cấu tạo một trăm phần trăm từ những điều tồi tệ.

Cuộc sống đã đa chiều và phức tạp như vậy thì văn học cũng chịu những ảnh hưởng không tránh khỏi. Nói chung, độc giả hiện đại sẽ rất khó chấp nhận một nhân vật tuyệt đối trong trắng như nữ thần hoặc một kẻ xấu xa toàn diện như quỷ dữ. Điều đó rất kịch và khiên cưỡng và thực tế khó tồn tại một nhân vật lí tưởng như vậy. 

Con người có đầy đủ các cung bậc, ấy mới là con người bình thường, sát với thực tế và văn học hiện đại cũng thích những nhân vật phức tạp, đa chiều. Điều này giải thích cho việc bây giờ sẽ rất hiếm gặp những mẫu người tuyệt đối lí tưởng hoặc những bối cảnh đơn chiều duy nhất, hoặc nếu có cố tình viết như vậy thì người đọc cũng rất hoài nghi.

Nhưng nói như thế không phải sự tuyệt cùng không còn chỗ để tồn tại. Sự tận cùng hay giới hạn cao nhất có thể hữu dụng ở những khía cạnh nhỏ hoặc những chi tiết cụ thể như lòng hi sinh của mẹ với đứa con, sự thèm khát quyền lực, danh vọng đến điên cuồng… Các nhà văn Nhật Bản là những người điển hình cho sự ưa thích sự tuyệt cùng và không hiếm gặp những nhân vật tuyệt cùng trong các tác phẩm của họ. 

Một truyện ngắn của Yukio Mishima là “Ưu quốc” tôi mới đọc gần đây và tìm thấy một nhân vật của sự tuyệt cùng. Đó là Trung uý Takeyama Shinji. Nhân vật này khi biết mình sẽ buộc phải tham gia một cuộc tấn công “nồi da xáo thịt”, anh đã tự sát để tỏ lòng trung thành với Nhật hoàng và không phản lại các đồng đội của mình. 

Cái chết của Takeyama Shinji đã được chuẩn bị rất lâu hay nói cách khác, không phải lúc rơi vào tình huống lưỡng nan, anh mới chọn cái chết mà trước đó Takeyama Shinji đã biết chắc chắn sẽ có ngày phải chết vì lòng trung và tinh thần võ sĩ đạo của mình. Takeyama Shinji mổ bụng tự sát và chuẩn bị tâm lí ấy cho ngươi vợ trẻ của mình từ rất sớm. Rốt cuộc, cả hai người cùng tự ải trong một bầu không khí tuyệt đối long trọng, bi tráng và tuyệt đẹp.

Không hiếm để tìm thấy những nhà văn theo lí tưởng tuyệt cùng ở Nhật,  đó là Kawabata, là Tanizaki, là Dazai Osamu… Và có thể nói ưa thích sự tột cùng đôi khi là tâm tính của một dân tộc chứ không nhất thiết là tâm thế thời đại khi đến giờ nước Nhật vẫn là một trong những quốc gia có tỉ lệ tự sát cao nhất.

Những tác phẩm có khuynh hướng tột cùng hoặc các nhân vật tột cùng thường tạo ra những ấn tượng rất mạnh trong lòng  người đọc. Những hình mẫu tột cùng sẽ nhanh chóng trở thành biểu tượng hoặc mẫu mực trong một khía cạnh nào đấy. Bởi theo quy luật thông thường thì người ta sẽ lưu nhớ lâu nhất những gì tượng nhất. 

Và những nhà văn cổ điển, có thể họ không quan tâm hoặc không biết đến những lí thuyết văn học nhưng đấy là những người nắm bắt tâm lý độc giả rất tốt và có xu hướng thích tạo ra những nhân vật tuyệt đỉnh cùng  những bối cảnh phi thường.

Đó là tài năng, tâm thế thời đại hay cảm quan về nghệ thuật và đời sống?

Và có phải bây giờ chúng ta chỉ có những con người nhạt nhẽo, trung bình và những bối cảnh tầm thường?

Hay là…

Khải Hoàn / VNCA

Xuất hiện lò đào tạo dành riêng cho rich kids của các đại gia Việt Nam

Xuất hiện lò đào tạo dành riêng cho rich kids của các đại gia Việt Nam
Học viện đào tạo doanh nhân kế nghiệp thành lập với sự tham gia của nhiều người con thuộc thế hệ F2 sẽ sở hữu những tập đoàn lớn, trong đó có con gái Chủ tịch Tập đoàn Tân Hoàng Minh, con trai Chủ tịch Tập đoàn Phú Thái hay con gái Chủ tịch Tập đoàn Geleximco….

Khoá đầu tiên của học viện đầu tiên tại Việt Nam chỉ có 20 người trẻ được ghi danh như Mai Ngọc Hảo (con gái Chủ tịch Tập đoàn U&I Mai Hữu Tín), Vũ Thị Thu Quỳnh (con gái Chủ tịch Tập đoàn Geleximco Vũ Văn Tiền), Nguyễn Anh Sa (con gái Chủ tịch Tập đoàn Tân Hoàng Minh Đỗ Anh Dũng), Nguyễn Ngọc Mỹ (con gái Chủ tịch Tập đoàn Alphanam Nguyễn Tuấn Hải), Phạm Nhật Thành (con trai Chủ tịch Tập đoàn Phú Thái Phạm Đình Đoàn), Bùi Quang Minh (con trai ông Bùi Minh Lực, Giám đốc Tổng công ty Hòa Bình Minh).

Theo chia sẻ của ông Bùi Tuấn Minh, Phó tổng giám đốc Deloitte Việt Nam, khóa đào tạo dự kiến kéo dài hai năm theo hình thức EduNext Platform. Giảng viên sẽ là các doanh nhân Sao Đỏ, lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân lớn của Việt Nam và cũng chính là cha, chú của các học viên.

Ông Phạm Đình Đoàn cho biết, học viện sẽ là nơi để các thế hệ F2 vững tin và có sân chơi giao lưu, kết thân, để không chỉ bằng mà vượt cả thế hệ đi trước. Lứa đầu tiên của học viện sẽ là khoá thử nghiệm, là tiền đề để nhân rộng mô hình đào tạo này.

Xuất hiện lò đào tạo dành riêng cho rich kid của các đại gia Việt Nam - Ảnh 1.

“Chúng tôi sẽ cố gắng thiết kế các chương trình để các bạn trẻ được tiếp cận từ nhỏ, để ít nhất là các con có đam mê và năng lượng, tạo môi trường để hai thế hệ gặp gỡ và chia sẻ vì nếu thiếu gặp gỡ thì không thể cùng có chung ngôn ngữ trong phát triển doanh nghiệp”, ông Đoàn cho hay.

Là đồng sáng lập F2 Academy và cũng là người trực tiếp tham gia giảng dạy, ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Tập đoàn FPT nhìn nhận, để có thể phát triển doanh nghiệp thành công đến hôm nay, thế hệ F1 đã phải trải qua rất nhiều gian nan, đã được “rèn luyện qua lửa”.

“Các con không có cơ hội như vậy. Một doanh nghiệp liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, chỉ vài năm nữa thôi sẽ còn lớn hơn nữa. Để phát triển doanh nghiệp lúc đó còn khó hơn bây giờ nhiều, làm thế nào các con làm được”, ông Bình đặt vấn đề.

Xuất hiện lò đào tạo dành riêng cho rich kid của các đại gia Việt Nam - Ảnh 2.

Ông Nguyễn Tuấn Hải, Chủ tịch Tập đoàn Alphanam.

Theo ông Nguyễn Tuấn Hải, Chủ tịch Tập đoàn Alphanam, câu chuyện chuyển giao thế hệ trong doanh nghiệp gia đình là quá trình cần được nhận thức sớm từ thế hệ bố mẹ.

Tuy nhiên, ông cho biết, từ đầu không quyết tâm con cái phải làm đúng nghề của bố mẹ nhưng điều cần được đào tạo đầu tiên theo ông là nền tảng tri thức.

Song song đó phải là nghị lực và khả năng tự ra quyết định. Ông Hải cho rằng, việc tự ra quyết định sẽ rèn luyện được bản lĩnh rất sớm, đưa ra vấn đề và giải quyết nó.

“Và yếu tố thứ ba là phải có ước mơ. Ước mơ gì cũng tốt, phụ thuộc vào sự lựa chọn của mỗi cá nhân, nhưng tôi tôn trọng sở thích tuổi trẻ. Đến năm 14 tuổi là năm định hình quan trọng, quyết định tương lai con sẽ đi về đầu. Ở thời điểm này tôi nói chuyện rất nhiều với các con về định hướng công việc”, ông Hải nói.

Chủ tịch HĐQT Alphanam cũng cho rằng, quá trình chuyển giao không thể nóng vội. “Sớm nhất 30 tuổi mới ‘đủ giờ bay’ để làm quản lý. Khi bản thân làm bằng 4,5 lần người khác thì mới ngấm dần và trở nên khác biệt”, Chủ tịch Alphanam bày tỏ.

Cùng với suy nghĩ đó, khi mới về nước, con gái được ông Hải giao cho làm ở nhà máy sơn Kansai, phải đi xe buýt của nhà máy đi làm trong suốt một thời gian dài, cuối tuần là lăn lộn đi phát triển mạng lưới phân phối sơn khắp các tỉnh thành.

Ông cũng khẳng định, việc chuyển giao cần sự nỗ lực, quyết tâm của con cái. Còn thế hệ bố, mẹ khi đã chuyển giao thì rất nhanh và giao hết để khuyến khích khả năng tự quyết định của các con.

“Bản thân tôi khi chuyển giao là bàn giao toàn bộ phòng làm việc cho con trai và chấp nhận rủi ro, không cầu toàn. Nhờ đó, tôi có thế hệ F2 tự tin nhận làm việc và nhận chuyển giao thành công”, ông nói.

Xuất hiện lò đào tạo dành riêng cho rich kid của các đại gia Việt Nam - Ảnh 3.

Mai Ngọc Hảo, con gái ông Mai Hữu Tín.

Mai Ngọc Hảo, con gái ông Mai Hữu Tín – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Gỗ Trường Thành hiện làm việc tại một khách sạn thuộc hệ sinh thái doanh nghiệp của gia đình. Ngọc Hảo cho biết đã dành hơn 3 năm học quản trị khách sạn ở Thụy Sĩ và trải qua tất cả công việc từ thấp nhất trong khách sạn, nhà hàng như rửa bồn cầu trong vòng 1 phút, dọn giường trong vòng 2 phút, làm ở bộ phận tiền sảnh và tiếp thị, quản trị doanh thu tại những chuỗi khách sạn rất nhỏ.

Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp cuối năm 2016 và về nước làm việc trong tập đoàn, cô nhận ra bản thân biết nhiều về cách vận hành khách sạn nhưng lại rất thiếu kiến thức về đầu tư, đánh giá hiệu quả của một dự án.

Mai Ngọc Hảo lại xin vào mảng định giá tài sản tại tại công ty phát triển đầu tư dự án có trụ sở ở Singapore. Sau 4 tháng thực tập, cô đã trở thành trợ lý Tổng giám đốc của công ty.

“Tôi đã học hỏi được rất nhiều trong giai đoạn đó, từ các kiến thức, thực tế, đến câu chuyện về cách để quản lý cảm xúc. Về nhà có thể khóc nhưng trước mặt người khác luôn phải giữ bình tĩnh và nhìn nhận mọi vấn đề”, Ngọc Hảo tiết lộ.

Theo Nhịp sống Việt

Thuyết Tinh hoa quyền lực và câu hỏi ‘Ai cai trị nước Mỹ?’

Trả lời câu hỏi Ai cai trị nước Mỹ? có lẽ nhiều người sẽ nói: chính phủ và Tổng thống Mỹ đang cai trị nước này. Câu trả lời ấy không sai nhưng chưa đi vào bản chất vấn đề. Nếu tiếp tục tìm hiểu ta sẽ thấy Ai cai trị nước Mỹ là một vấn đề phức tạp, cho tới nay vẫn chưa có câu trả lời tương đối nhất trí mà tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.

Trong quá trình nghiên cứu vấn đề cấu trúc quyền lực ở Mỹ, xoay quanh chủ đề nước này sau Thế chiến II có tồn tại quyền lực tập trung hay không, một số học giả Mỹ cho rằng nước Mỹ là do một thiểu số tinh hoa quyền lực (power elite) gồm những trùm sò của ba ngành kinh tế, quân sự, chính trị thống trị.

Chế độ phân quyền hai cấp liên bang và bang, nguyên tắc tam quyền phân lập, tập tục hai đảng thay nhau cầm quyền và cơ chế bầu cử dân chủ tạo cảm giác xã hội Mỹ là do dân làm chủ và không có vấn đề quyền lực tập trung; chính phủ Mỹ là “của dân, do dân, vì dân”. Tỷ phú David Rockefeller từng nói: Tôi tin rằng chính phủ Mỹ là đày tớ của nhân dân chứ không phải ông chủ của họ [2]. Sau thắng lợi tiêu diệt các thế lực độc tài phát xít trong Thế chiến II, nước Mỹ ở vào thời kỳ phồn vinh, phần lớn trí thức Mỹ tự hào cho rằng nước họ là đại diện của quốc gia tự do dân chủ; bất kỳ nhóm lợi ích nào cũng bị các nhóm khác cân bằng và kiềm chế; người dân qua lá phiếu bầu của mình thực hiện quyền làm chủ nhà nước, không tồn tại vấn đề quyền lực quá tập trung.

Quan điểm trên bị lung lay khi xuất hiện cuốn Cấu trúc quyền lực cộng đồng: Một nghiên cứu về các nhà quyết sách (Community Power Structure: A Study of Decision Makers, 1953) của Floyd Hunter và Tinh hoa quyền lực (The Power Elite, 1956) của C. Wright Mills. Hai tác giả giải thích cấu trúc quyền lực theo cách khác với phái chủ nghĩa đa nguyên (pluralism) và phái Marxist. Đây là bước thăm dò của giới khoa học chính trị về cấu trúc và sự phân phối quyền lực ở Mỹ trên tầng nấc quốc gia, hình thành lĩnh vực nghiên cứu cấu trúc quyền lực trong ngành khoa học xã hội và chính trị.

Mills cho rằng cấu trúc quyền lực ở Mỹ đã có thay đổi bản chất: quyền lực nhà nước quan trọng nhất đã tập trung vào 3 lĩnh vực kinh tế, chính trị và quân sự; 3 lĩnh vực đó hòa quyện với nhau, những người nắm 3 loại quyền lực này là các trùm tập đoàn công ty, chính khách trùm sò và lãnh tụ quân sự. Họ cấu tạo nên tinh hoa quyền lực của nước Mỹ, có lợi ích nhất trí, gắn kết nhau cùng hoạch định các quyết sách trên phạm vi toàn quốc, là một “tập đoàn nhỏ” khống chế quyền lực tập trung.

Mills vạch trần sự thật: phía sau sự phồn vinh, chế độ dân chủ mà người Mỹ tự hào đang bị đe dọa nghiêm trọng; trong thời gian chiến tranh lạnh, quyền lực của đông đảo nhân dân Mỹ đang bị mất dần. Các giám đốc điều hành (CEO) đại công ty đến nhậm chức trong chính phủ Mỹ (như sau này McNamara Chủ tịch công ty Ford Motor làm Bộ trưởng Quốc phòng), tướng lĩnh cấp cao trong quân đội chuyển sang lãnh đạo đại công ty; quyền lực đang tập trung vào tay các nhà lãnh đạo quân đội, công ty và chính khách, tức nhóm tinh hoa thống trị quốc gia. Hơn thế nữa, địa vị của giới lãnh đạo quân đội và đại công ty đang lên cao, địa vị của các nhà chính trị thì đang hạ thấp. Mills và Hunter cho rằng quyền lực thoạt tiên bén rễ trong các tổ chức chứ không phải trong các cá nhân, các hội đoàn, nhóm lợi ích và đảng phái như nhiều nhà chính trị dòng chính quan niệm, cũng không phải là các giai cấp như các nhà Marxist nghĩ.

Mills đồng ý với 3 tiêu chuẩn phân chia các tầng lớp xã hội do Max Weber đề xuất: tiền vốn (tư bản), quyền lực và danh vọng (3 thứ này có thể chuyển hóa lẫn nhau). Ông vạch ra sai lầm của Thuyết cân bằng phổ biến trong nhận thức của người Mỹ. Cơ chế tam quyền phân lập nhằm ngăn chặn sự tập trung quyền lực, nhưng trong thực tế cơ chế đó bị thách thức. Dân chúng chỉ chú ý tới tầng lớp trung lưu mà mơ hồ về cấu trúc quyền lực tổng thể, nhất là tầng lớp trên và tầng lớp dưới. Tầng lớp trên ngày càng nhất thể hóa và đã xuất hiện tinh hoa quyền lực. Ông cho rằng chủ nghĩa tư bản Mỹ là chủ nghĩa tư bản quân sự; mối quan hệ quan trọng nhất giữa đại công ty với nhà nước thì xây dựng trên sự nhất trí về nhu cầu của quân đội và công ty. Sự nhất trí đó tăng cường sức mạnh của mỗi bên và làm suy yếu vai trò của các chính khách. Giới truyền thông đại chúng Mỹ giúp các nhân vật tinh hoa quyền lực có được vinh quang mà tầng lớp trên ở bất cứ nước nào cũng chưa từng được hưởng. Truyền thông đại chúng và cơ chế giáo dục ở Mỹ đã che giấu sự vô đạo đức của tầng lớp trên và việc tầng lớp này tước đoạt quyền lợi của dân chúng.

Wright Mills là nhà phê phán xã hội có ảnh hưởng nhất ở Mỹ thập niên 50. Thuyết Nước Mỹ tồn tại tinh hoa quyền lựccấu tạo bởi nhóm 3 đại gia (The Big Three, gồm các trùm chính quyền, quân đội, công ty độc quyền) của ông được gọi là chủ nghĩa Mills (Millsian). Nó cùng với chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa đa nguyên tạo ra cục diện bộ ba ở Mỹ. Trong hơn 50 năm qua sách Tinh hoa quyền lực được tái bản nhiều lần. Tuy tình hình xã hội Mỹ ngày nay khác ngày ấy, nhưng quan điểm của Mills hiện vẫn có giá trị trong việc giải thích cấu trúc quyền lực ở Mỹ.

Những người theo thuyết cân bằng và theo chủ nghĩa đa nguyên công kích thuyết tinh hoa quyền lực; họ cho rằng trải qua cuộc cách mạng quản lý, chủ nghĩa tư bản gia tộc đã suy yếu, xã hội phương Tây không còn tồn tại tinh hoa đơn nhất và tập trung (tức tinh hoa quyền lực) nữa, mà chỉ còn một quần thể tinh hoa đã phân tán về quyền lực và cạnh tranh lẫn nhau.

Phái Marxist giải thích cấu trúc quyền lực từ điểm xuất phát là sự đối kháng giai cấp và nhấn mạnh đấu tranh giai cấp xảy ra ở mọi nơi mọi lúc; họ cho rằng việc Mills bỏ khái niệm giai cấp thống trị, đưa ra khái niệm tinh hoa quyền lực, nhấn mạnh mối quan hệ giữa tinh hoa quyền lực với thể chế là cách làm không triệt để, dễ đi tới coi nhẹ tác dụng chủ đạo quá trình quyết sách của của giới tinh hoa thương mại, hạ thấp kinh tế xuống ngang hàng với chính trị và quân sự.

Quan điểm Tinh hoa quyền lực của W. Mills có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào phản chiến và phong trào sinh viên ở Mỹ hồi thập niên 60. Đáng tiếc ông mất sớm (1916-1962) nên không thể tiếp tục cống hiến trên lĩnh vực này.

Phái theo chủ nghĩa phê phán (criticism) ca ngợi cách đặt vấn đề có tính phê phán của Mills; tuy không hoàn toàn đồng ý với ông nhưng họ viết khá nhiều sách phát triển học thuyết của ông.

Trong số các tác phẩm ấy, đáng kể nhất là cuốn Ai thống trị nước Mỹ? (Who Rules America?) của G.W.Domhoff xuất bản năm 1967, được xếp thứ 12 trong số 50 bestseller về xã hội học thời gian 1950-1995. Sách này sau đó lại bổ sung và tái bản, đến năm 2010 đã xuất bản lần thứ 6, có những thông tin về Barack Obama.

Tiếp đó là cuốn Ai đang thống trị nước Mỹ? (Who’s Running America?) của Thomas R. Dye, xuất bản năm 1976, mỗi đợt bầu Tổng thống mới lại tái bản có bổ sung, đến nay đã có bản thứ 7 (The Bush Restoration). Bản nào cũng có một chủ đề: nước Mỹ vẫn bị thống trị bởi các nhóm tinh hoa quyền lực chiếm địa vị cao trong các thiết chế quan trọng.

Nhiều năm qua, giới trí thức Mỹ không ngừng tranh luận vấn đề Ai thống trị nước Mỹ. Trên mạng có riêng một website Who Rules America.net dành cho việc này. Hai phái chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa tinh hoa (Elitism) hăng hái tranh cãi với nhau.

Dư luận dường như nhất trí ở một điểm: nước Mỹ không do số đông (masses) lãnh đạo. Vấn đề là nước này có tồn tại tinh hoa quyền lực hay không?

Cuốn Ai thống trị nước MỹSự biến đổi quyền lực, chính trị và xã hội (Who Rules America? Power, Politics and Social Change) của G.W.Domhoff bản in năm 2006 được coi là tác phẩm kinh điển nghiên cứu về tinh hoa quyền lực nước Mỹ. Domhoff khẳng định nước Mỹ bị thống trị bởi tầng lớp tinh hoa đang sở hữu và điều hành những tài sản có thu nhập lớn như ngân hàng và tập đoàn công ty, họ làm chủ cấu trúc quyền lực chính trị và kinh tế của nước Mỹ. Họ là chủ sở hữu hoặc CEO các công ty làm ra khối lượng của cải khổng lồ, là những cố vấn pháp lý của công ty… gọi chung là cộng đồng doanh nhân.

Khái niệm tinh hoa quyền lực do Mills đề ra đã làm rung chuyển giới trí thức Mỹ và gây ra cuộc tranh luận suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cuộc tranh cãi đó động chạm tới nhận thức về các khái niệm tinh hoa, dân chủ, quyền lực, nhận định về cấu trúc quyền lực và xu thế phát triển của nó trong xã hội Mỹ, và dẫn tới các vấn đề thuộc khái niệm rộng hơn – lĩnh vực xã hội học tinh hoa (Sociology of Elites). Các nhà chính trị học nhiều nước, kể cả Trung Quốc, đang vận dụng quan điểm của Mills để xem xét vấn đề tinh hoa quyền lực tại nước mình.

Theo TẠP CHÍ TIA SÁNG

Người gốc Việt đứng đầu lượng cử tri đi bầu sớm tổng thống Mỹ ở hạt lớn nhất của Texas

Người ủng hộ Tổng thống Donald Trump và cựu Phó Tổng thống Joe Biden vẫy cờ và biển bên ngoài một điểm bầu cử sớm tổng thống Mỹ. Số lượng cử tri họ Nguyễn dẫn đầu trong số những người dân Mỹ bỏ phiếu sớm cho kỳ bầu cử này ở hạt Harris lớn nhất của Texas.
Người ủng hộ Tổng thống Donald Trump và cựu Phó Tổng thống Joe Biden vẫy cờ và biển bên ngoài một điểm bầu cử sớm tổng thống Mỹ. Số lượng cử tri họ Nguyễn dẫn đầu trong số những người dân Mỹ bỏ phiếu sớm cho kỳ bầu cử này ở hạt Harris lớn nhất của Texas.

Người gốc Việt họ Nguyễn đứng đầu về số lượng cử tri Mỹ bỏ phiếu sớm trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ tại hạt lớn nhất của tiểu bang Texas.

Theo thống kê của Houston Chronicle, cử tri có tên họ “Nguyễn” đứng đầu về số lượng người bỏ phiếu sớm ở hạt Harris ở Houston, hạt lớn thức 3 trên toàn nước Mỹ với số dân hơn 4 triệu người, vượt qua những cử tri khác có họ “Smith” hay “Williams.” Tính đến ngày 27/10, có 8,848 cử tri họ “Nguyễn” đã đi bầu sớm tại phòng phiếu của hạt Harris, đứng đầu trong số những cử tri được thống kê theo họ của Houston Chronicle. Đứng thứ 2 là số lượng cử tri họ “Smith”, 8.051, và thứ 3 là số lượng cử tri họ Williams, 7,624.

Ngày bầu cử tổng thống Mỹ sẽ diễn ra vào 3/11 nhưng số lượng cử tri Mỹ đi bầu sớm trong năm nay tăng đột biến, dự kiến sẽ đạt 100 triệu vào ngày bầu cử chính thức, một phần do đại dịch COVID-19 và một phần do việc nhiều cử tri Mỹ hơn muốn tham gia đầu phiếu trong cuộc đua của hai ứng cử viên là Tổng thống đương nhiệm Donald Trump, của đảng Cộng hoà, và cựu Phó Tổng thống Joe Biden, của đảng Dân chủ.

Thu Nguyen, một cư dân của Houston hiện là giám đốc tổ chức OCA của người Mỹ gốc Á, nói với Houston Press rằng nhiều người Mỹ gốc Việt bị thu hút đến các điểm bỏ phiếu để bầu cho ông Trump vì nhận thức rằng ông Trump là một doanh nhân thành đạt sẽ mang lại việc làm cho nước Mỹ cũng như tăng tỷ lệ việc làm hơn. Còn theo Victor Nguyen, một trong số những cử tri họ “Nguyễn” đã bỏ phiếu sớm cho kỳ bầu cử tổng thống Mỹ năm nay, động lực của cộng đồng Mỹ gốc Việt, nhóm sắc dân có số lượng người theo đảng Cộng hoà nhiều nhất trong cộng đồng người gốc Á Thái Bình Dương ở Mỹ, đi bỏ phiếu cho kỳ tổng thống này xuất phát từ lòng trung thành của họ.

“Cử tri Mỹ gốc Việt, đặc biệt những thế hệ nhiều tuổi hơn, bỏ phiếu dựa trên lịch sử,” Victor Nguyen nói với Houston Press. “Họ nhìn vào việc ai phải chịu trách nhiệm cho một số hành động cụ thể – như việc Mỹ thất bại ở Việt Nam và ai là người có trách nhiệm chào đón những người tị nạn Việt tới Mỹ.”

Nhiều người Việt tin rằng Đảng Cộng hoà đã chào đón người tị nạn Việt đến Mỹ sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc và rằng ứng cử viên đang tranh chức tổng thống với ông Trump, Joe Biden, là người phản đối việc tiếp nhận người tị nạn Việt đến Mỹ. Để làm sáng tỏ lập trường của mình trước tranh cãi trong cộng đồng gốc Việt, ông Biden hôm 21/10 đã gửi một thông điệp đến 2 triệu người Mỹ gốc Việt, trong đó nói rằng ông “đã ủng hộ 130.000 người tị nạn Việt Nam tới Mỹ.”

Theo Houston Press, có ít nhất 49.500 người Mỹ gốc Á đã bỏ phiếu sớm ở hạt Harris tính đến 2/11, một lượng tăng gần gấp đôi so với con số cử tri Mỹ gốc Á đi bầu sớm trong nămn 2016. Và theo nhận định của Fortune, các khu vực ngoại ô của Texas, giống như nhiều khu vực khác trên toàn nước Mỹ, không còn có đa số sắc dân da trắng nữa.

Một khảo sát của Pew đưa ra hồi tháng 5 vừa qua cho thấy người gốc Á, trong đó có Việt Nam, là nhóm thiểu số phát triển nhanh nhất trong số lượng cử tri hợp pháp ở Mỹ. Số lượng người Mỹ gốc Á được hợp pháp đi bầu tăng hơn 2 lần, với mức tăng 139%, trong 10 năm qua, và khảo sát của Pew dự báo hơn 11 triệu người Mỹ gốc Á sẽ đi bầu trong năm nay. Số lượng cử tri Mỹ bỏ phiếu sớm đã đạt hơn 95 triệu tính đến ngày 2/11 và là con số kỷ lục trong một thập kỷ qua, khi đã vượt mức cử tri đi bầu sớm của năm 2016 và chiếm hơn 2/3 tổng số người đi bầu trong cuộc bầu cử tổng thống cách đây 4 năm.

Theo VOA