Ngôi nhà Hà Nội như thư viện nổi bật trên báo Mỹ

Ngôi nhà Hà Nội như thư viện nổi bật trên báo Mỹ

Ngôi nhà với diện tích sử dụng 180 m2 do NH Village Architects thiết kế tại Long Biên, Hà Nội cho gia đình trẻ với 2 con nhỏ.

NGÔI NHÀ TẠI LONG BIÊN, HÀ NỘI CHAN HÒA ÁNH SÁNG, CÂY CỐI VÀ CÓ KIẾN TRÚC NHƯ MỘT THƯ VIỆN ĐƯỢC ĐĂNG TẢI TRÊN BÁO KIẾN TRÚC CỦA MỸ.
Ngôi nhà Hà Nội như thư viện nổi bật trên báo Mỹ - Ảnh 1.

Thiết kế này dành cho gia đình gồm bố mẹ và hai con. Không gian thoáng, nhiều ánh sáng, vừa có nơi nghỉ ngơi, vừa có nơi chăm sóc, vui cho cho con cái. Kiến trúc ngôi nhà được đăng tải trên ArchDaily.

Ngôi nhà Hà Nội như thư viện nổi bật trên báo Mỹ - Ảnh 2.

Nhà có nhiều mảng xanh, nhiều cửa sổ.

Ngôi nhà Hà Nội như thư viện nổi bật trên báo Mỹ - Ảnh 3.

Ngôi nhà 3 tầng được bố trí không gian chung tại tầng 2. Thiết kế thông thoáng giúp mọi người trong gia đình dễ di chuyển và tiếp cận với nhau.

Ngôi nhà Hà Nội như thư viện nổi bật trên báo Mỹ - Ảnh 4.

Giếng trời, nơi đón ánh nắng, gió vào nhà. Bên trong, những chiếc tủ đựng sách, đồ đạc… được xếp đặt trông giống như trong thư viện.

Ngôi nhà Hà Nội như thư viện nổi bật trên báo Mỹ - Ảnh 5.

Trong căn nhà này, nhiều mảng xanh được bố trí xen kẽ giúp cho các thành viên trong gia đình gần gũi với thiên nhiên.

Ngôi nhà Hà Nội như thư viện nổi bật trên báo Mỹ - Ảnh 6.

Ánh nắng chiếu xuống cầu thang.

Ngôi nhà Hà Nội như thư viện nổi bật trên báo Mỹ - Ảnh 7.

Ngôi nhà “nhiều ngăn” nhưng thông thiên.

Ngôi nhà Hà Nội như thư viện nổi bật trên báo Mỹ - Ảnh 8.

Tầng trên và tầng dưới của ngôi nhà.

Đỗ Lan / Báo Dân Sinh

‘SỬ LIỆU VÔ GIÁ VỀ CHA ÔNG TA’

Theo giới phê bình, dịch thuật, những mô tả chi tiết, ảnh chụp chân thực trong “Một chiến dịch ở Bắc Kỳ” giờ đây là sử liệu vô giá, cho phép ta biết về đời sống cha ông.

Suốt nửa năm nay, làng xuất bản trở nên sôi động bởi câu chuyện ba nhà sách có tiếng đều làm cuốn Một chiến dịch ở Bắc Kỳ. Ấn bản đầu tiên ra mắt là của công ty sách Omega Plus qua bản dịch Thanh Thư; kế đến là công ty Đông A với bản dịch của Đinh Khắc Phách; cuối cùng là sách của Nhã Nam qua bản dịch Trương Quốc Toàn.

“Vậy Một chiến dịch ở Bắc Kỳ có gì đặc biệt khiến nhiều nhà sách cùng làm, có tới ba bản dịch và nhiều độc giả quan tâm như vậy?”, câu hỏi của nhà phê bình Mai Anh Tuấn đặt ra trong tọa đàm tối 18/10 tại Hà Nội như lời gợi mở để giới nghiên cứu, dịch thuật tìm về những giá trị của tác phẩm.

GHI LẠI PHONG CẢNH, CON NGƯỜI VIỆT VỚI TÂM THẾ KHÁM PHÁ

Để hiểu về tác phẩm, không thể không nhắc tới tác giả cũng như bối cảnh ra đời của cuốn sách. Ông Emmanuel Cerise – đại diện vùng Ile-de-France, Pháp tại Hà Nội – cho biết Charles-Édouard Hocquard (1853-1911) là một bác sĩ. Ông tình nguyện nhập ngũ và tới Việt Nam năm 1884, phục vụ trong quân đội viễn chinh.

Tuy vậy, ông luôn coi mình là một bác sĩ, không phải một người lính. Điều này thể hiện trong nhiều cuốn sách ông đã viết. Đó cũng là lý do trên một số sách của ông, các nhà xuất bản thường đề tên tác giả là “Bác sĩ Hocquard”.

Ông Emmenuel nói về con người tác giả Hocquard: “Là người theo chủ nghĩa nhân văn, rất quan tâm tới con người, điều kiện sống của người xung quanh, đời sống, trang phục, đồ ăn thức uống”.

Bên cạnh đó, Hocquard còn là người đam mê nhiếp ảnh. Ông mang theo máy ảnh và chụp con người, phong cảnh, sinh hoạt tại mỗi nơi mình đến.

Tinh thần phiêu lưu, ưa khám phá, khả năng chụp ảnh đã giúp Hocquard thực hiện một “chiến dịch” khác. Đó là chiến dịch ghi chép, chụp lại cảnh quan, con người, đời sống người dân Việt.

Nguoi Viet cuoi the ky 19 anh 2

Dịch giả Trương Quốc Toàn nói khi dịch cuốn sách, anh cảm nhận ở Hocquard có tới vài con người khác nhau: Ông là bác sĩ quân y, nhưng khi đọc sách, ta dễ nghĩ ông sinh ra để làm nhà nghiên cứu văn hóa. Khi xem tranh, nhìn ảnh, ta có thể nghĩ ông là nghệ sĩ nhiếp ảnh. Ông là nhà nghiên cứu văn hóa có tâm hồn nghệ sĩ.

Trong 24 tháng ở Bắc Kỳ và một thời gian ngắn ở Trung Kỳ, Hocquard không ở lại điểm nào quá lâu, mà di chuyển liên tục. Điều đó tạo cho ông cơ hội khám phá nhiều vùng miền khác nhau ở Bắc Kỳ.

Lượng thông tin, kiến thức ông tích lũy dầy lên từng ngày. “Kiến thức ông làm giàu được qua hàng ngày giống hiệu ứng hòn tuyết lăn, sau mỗi ngày kiến thức về Đông Dương thu nhập vào đầu ông tăng lên rõ rệt”, Trương Quốc Toàn nói.

Tố chất khám phá nổi trội trong con người Hocquard. Khi tới thành Bắc Ninh vào ban đêm, trời tối mịt, người mệt lử, ông chỉ biết vào nơi ngủ. Nhưng sớm hôm sau, khi ngủ dậy, ông lập tức đi khám phá ngay nơi mình nghỉ đêm qua.

“Quá trình dịch sách, tôi không còn nhận ra tác giả là bác sĩ quân y. Mỗi chương sách diễn ra đều cuốn hút như trang viết của một người khám phá, một nhà nghiên cứu văn hóa. Đọc sách ta thấy nhịp điệu chiến dịch ông tham gia dồn dập, hối hả. Có những lần ông tham gia chiến dịch, vừa quay về Hà Nội được 15 phút thì lại phải tham gia một chiến dịch tiếp theo”, dịch giả Trương Quốc Toàn chia sẻ.

Nguoi Viet cuoi the ky 19 anh 3
TÁC PHẨM BẢN LỀ TRONG TƯ LIỆU VỀ ĐÔNG DƯƠNG CUỐI THẾ KỶ 19

Theo nhà phê bình Mai Anh Tuấn, hiện nay chúng ta đang xuất bản, làm lại nhiều sách tác giả Pháp viết về Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, ví dụ: Bắc Kỳ tạp lục, Nghệ thuật xứ An Nam, Lễ tang của người An Nam, Tâm lý người An Nam, Đông Dương xinh đẹp và kỳ vĩ… Các cuốn này có thể gọi chung là “dòng sách Đông Dương”.

Tư liệu về Đông Dương có thể chia làm ba cấp độ. Cấp độ thứ nhất là sách của các học giả, nhà nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống, với phương pháp khoa học. Cấp độ thứ hai là trang viết của các nhà báo, nhà văn hóa; cấp độ thứ ba là những trang viết của những người ưa khám phá, du khách…

Trong các tư liệu về Đông Dương, Một chiến dịch Bắc Kỳ nằm ở vị trí bản lề, có sự chuyển giao từ mô tả, ghi chép địa lý, phong tục tập quán đi tới nhận xét, khái quát.

Cuốn sách là ký sự, ghi chép, tường trình của tác giả. Ông dùng kỹ năng chụp ảnh khi viết sách. Bởi vậy tác phẩm có cái nhìn toàn cảnh, bao quát, đồng thời có cái nhìn cụ thể, cận cảnh.

Nhà phê bình Mai Anh Tuấn đánh giá những chi tiết, phát hiện nhỏ chính là sức mạnh của cuốn sách. Các mô tả như: Sinh hoạt thường ngày, cảnh quan địa lý, chân dung, tính cách con người được mô tả chi tiết, sống động giờ đây là nguồn tư liệu quý để bạn đọc hình dung về cha ông, cụ kị chúng ta.

Tác giả quan sát những khía cạnh đời thường, ví dụ, ông mô tả nghề lấy ráy tai, nghề tẩm quất phổ biến ở Hà Nội. Ông tả chi tiết trạng thái, dụng cụ… sinh động để ta mường tượng được sinh hoạt thị dân Hà Nội cuối thế kỷ 19.

Đồng quan điểm, dịch giả Trương Quốc Toàn nói: “Đây là sách tập hợp chân dung tương đối sinh động về con người Bắc Kỳ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Ta muốn có câu trả lời cha ông, cụ kị mình như thế nào, có thói quen gì, hãy nhìn và đọc kỹ cuốn sách này”.

Nếu quan tâm tới văn hóa nước ta hơn 100 năm trước, những ghi chép trong sách rất bổ ích với người nghiên cứu.

Dịch giả Trương Quốc Toàn

Những bức ảnh ông chụp cho thấy hàm lượng thông tin lớn về văn hóa, từ nón quai thao, áo tơi của dân phu mặc… đều là tư liệu quý giá về người Bắc Kỳ cuối thế kỷ 19.

So sánh với các tư liệu về Đông Dương, Một chiến dịch ở Bắc Kỳ có lợi thế vượt trội là ngoài trang viết đầy ắp thông tin còn là hình ảnh giàu giá trị.

Một chiến dịch ở Bắc Kỳ xuất bản lần đầu ở Pháp năm 1892, bao gồm 247 tranh khắc và 2 bản đồ, đã mô tả sắc nét cảnh quan, con người cùng những tập tục của người dân ở vùng đất mà tác giả đã khám phá.

Vào thời điểm xuất bản lần đầu, do bản quyền ảnh thuộc quân đội, cùng kỹ thuật in ấn chưa cho phép in ảnh vào sách, tạp chí nên toàn bộ hình ảnh chuyển sang tranh khắc.

Toàn bộ ảnh (hơn 400 bức) mà bác sĩ Hocquard chụp được lưu trữ ở nhiều đơn vị khác nhau như Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp, Viện Viễn Đông Bác Cổ, Thư viện Quốc gia Pháp…

Ấn bản Một chiến dịch ở Bắc Kỳ của Nhã Nam mới phát hành ngoài tranh khắc còn có phụ bản là một số bức ảnh chọn từ các tác phẩm mà Hocquard đã chụp. Các bức ảnh này được mua bản quyền với chất lượng cao, cung cấp cho bạn đọc hình ảnh chân thực về cha ông ta hơn 100 năm trước.

Tân Tân / Zing

Chuyện nhảy đầm ở Việt Nam thời thuộc địa

Những năm 1930, hàng trăm số báo tranh cãi về đạo đức của người nhảy đầm. Có những người quả quyết lối chơi ấy sẽ sớm bị tiêu diệt.

Chuyện nhảy đầm ở Việt Nam thời thuộc địa

Trích từ cuốn Hà Nội bảo thế là thường của tác giả Nguyễn Trương Quý / Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn.

Đàn ông Việt Nam mang tiếng là không “lịch sự như Tây”, ông nào chiều chuộng phụ nữ chút là lập tức bị nghi ngờ có động cơ không trong sáng hoặc bị gọi là “nịnh đầm” – một cụm từ cũng lại mang dấu ấn Tây.

Thời cổ xưa, quan niệm lịch sự không rõ ràng lắm, người ta hay nói đến những cấm đoán dưới nhãn chữ “Lễ”, chẳng hạn “Nam nữ thụ thụ bất thân”. Hai người nam – nữ đứng gần nhau mà nói chuyện, ấy đã là việc tày trời, sau đó chỉ có thể thẳng tiến hôn nhân.

Đến một ngày, làn sóng Âu hóa ào đến, phép lịch sự kiểu Tây là phải biết nhảy đầm. Cuộc đổi thay giao tế đến ngỡ ngàng: Nam nữ dìu nhau đi mà không nhất thiết đến mục đích nào ngoài thể hiện phép lịch sự.

Đến cuối thế kỷ XIX, tiêu chí đạo vợ chồng vẫn “tương kính như tân”, giao tế là phải nâng khăn ngang mày, tóm lại là ở trong nhà còn giữ kẽ thế thì ra nơi công cộng chớ có ôm ấp nhau.

Tất nhiên có những hành vi vượt ra khỏi khuôn khổ Nho giáo. Văn chương thì ai cũng thuộc Truyện Kiều “Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang” cùng “Ra tuồng trên bộc trong dâu”. Ca dao tục ngữ thì “Yêu nhau cởi áo cho nhau”, nhưng về nhà vẫn phải nói dối cha mẹ rằng “qua cầu gió bay”.

Trai gái đứng gần nhau, thậm chí đụng chạm mà không đi tới hôn nhân dễ xảy ra chuyện bê bối làng xã. Việc nhảy đầm xảy ra giữa hai người nam – nữ có khi không quen biết đã trở thành cú sốc cho xã hội khi được những thanh niên Tây học khởi xướng vào đầu thập niên 1930.

Dễ đến hàng trăm số báo những năm này đã tranh cãi về đạo đức của việc nhảy đầm và có người “dám cam đoan quả quyết cho lối chơi ấy, với ta tuy nay có bồng bột thật, song rồi chẳng bao lâu – trong một thời gian rất ngắn – nó sẽ (bị) tiêu diệt đi hết mà thôi… Nhảy đầm rồi sẽ chết! Chết một cách ngấm ngầm không ai còn muốn nhắc ra nữa làm gì”.

Sở dĩ vậy vì theo họ, cảnh “một cặp trai gái ôm nhau mà nhảy là một sự rất chướng, một lối chơi dâm ô: Phải đả đảo cho tiêu diệt!” (Phụ nữ tân văn, 31/8/1933).

Tuy vậy, lo ngại của các nhà đạo đức trong xã hội khi ấy chủ yếu nhắm vào việc đàn ông đem tiền đi cho vũ nữ hoặc các bà vợ bỏ bê thiên chức tề gia nội trợ, và nhất là lo lắng các cô tân thời mê nhảy sa ngã. Thậm chí, Vũ Trọng Phụng còn liệt “Gái nhẩy ở các tiệm khiêu vũ” là “một trong năm loại đĩ” ở Hà Nội.

Nhiều người Việt có đầu óc nhanh nhạy đã nhận ra nhảy đầm là một tấm giấy thông hành dự phần vào thế giới văn minh của giới cai trị.

Một sinh viên Việt Nam du học ở Pháp đã nói với Phạm Quỳnh rằng học nhảy đầm “để khi về nước, mình là người có chức phận, gặp khi quan trên mời dự tiệc ở Phó soái hay Chánh soái, mình biết ‘nhảy’ cho đúng cách, cho Tây bên ấy họ biết rằng mình đã thạo những cách lịch sự ở Paris” (Pháp du hành trình nhật ký – Phạm Quỳnh, 1922).

Nhưng lịch sự với ai thì các vị này không nói! Chẳng lẽ chỉ lịch sự làm hàng với các quan Tây? Tất nhiên, lý thuyết là lịch sự với phái nữ nhưng thực tế lại để ghi điểm trong mắt giới đàn ông, như thể biết dìu bạn nhảy trong điệu valse cũng có giá trị ngang với biết hút xì gà hay cầm gậy chơi gôn, hoặc để bước chân vào quan trường.

Chỉ hai chục năm, từ chỗ bị coi là trò dâm ô, khiêu vũ đã được khoác lên cái áo văn minh mà mỗi người đàn ông thành thị nên biết. Kèm theo sự biến đổi ấy là cách đàn ông bày tỏ tình cảm với phái nữ.

So sánh không hề khập khiễng thì khiêu vũ cũng như màn hát giao duyên cổ truyền, chỉ khác ở điệu bộ hay quy cách do âm nhạc dẫn lối. Cái nắm tay hay ôm eo của người đàn ông với bạn nhảy nữ vốn dĩ là cách phân biệt nam nữ, khi vào đời sống xã hội Việt Nam lại đem đến một cảm giác khuyến khích người nữ bộc lộ bản ngã nhiều hơn.

Đã có những chị em tân thời cổ vũ việc nhảy đầm bằng cách coi đó là một loại “thể dục” có tính thẩm mỹ. Đương nhiên “phi phụ nữ khiêu vũ bất thành”. Ngoại trừ số vũ nữ ít ỏi ở các tiệm nhảy, sự hưởng ứng của phụ nữ tân học quyết định phần còn lại của câu chuyện khiêu vũ.

Nhưng về phía đàn ông, liệu biết khiêu vũ đã khiến họ biết ứng xử với phụ nữ theo ý nghĩa nghiêm túc của môn giao tế có tính chất phổ quát – mà thực ra là theo chuẩn Tây phương – chưa?

Hay là chẳng cần đợi khiêu vũ, thị dân ở những nơi như Hà thành đã có sẵn khung cảnh thuận lợi để giao lưu nam nữ, việc nhảy đầm có lẽ chỉ như quả cherry trên đỉnh cái bánh ga tô cho đẹp?

Theo TRI THỨC TRỰC TUYẾN

Không tài nguyên, thiên tai thường xuyên, Nhật Bản đã ‘sao chép’ các nước khác để trở thành cường quốc như thế nào?

Không tài nguyên, thiên tai thường xuyên, Nhật Bản đã 'sao chép' các nước khác để trở thành cường quốc như thế nào?
TỪ MỘT QUỐC GIA CHUYÊN ĐI SAO CHÉP THÀNH CÔNG NHƯ NHẬT BẢN, HỌ ĐÃ CHUYỂN MÌNH ĐỂ THÀNH NỀN KINH TẾ BỊ CÁC QUỐC GIA KHÁC ‘ĐẠO NHÁI’.

Nói đến sao chép, hàng giả hàng nhái, mọi người thường nghĩ đến Trung Quốc – công xưởng của thế giới trong nhiều mảng kinh tế. Tuy nhiên trên thực tế, quốc gia đầu tiên trên thế giới thực hiện chiến lược sao chép này lại là Nhật Bản và cũng chính nhờ nó, nước này mới vươn lên trở thành cường quốc.

Vai trò của Thiên hoàng Minh Trị

Năm 1868, Thiên hoàng Minh Trị (1852-1912) của Nhật Bản tiến hành cuộc cải cách toàn diện về kinh tế, xã hội mang tên Minh Trị Duy Tân, qua đó mở ra kỷ nguyên hiện đại hóa đất nước. Mặc dù thời kỳ này vẫn còn nhiều xung đột giữa các phe phái duy trì chế độ cũ và mới nhưng Nhật Bản đã dần cải cách để chuyển mình nhằm tránh nguy cơ bị nước ngoài xâm lược và đô hộ.

Với mục tiêu hiện đại hóa đất nước, chính phủ Nhật Bản thời kỳ này đã nhanh chóng bắt tay vào phát triển công nghiệp bằng hàng loạt các chính sách ưu đãi. Đặc biệt, Nhật Bản đã học hỏi và sao chép những gì tinh túy nhất của các nền kinh tế phát triển trên thế giới, đêm về nghiên cứu, thay đổi và ứng dụng sao cho hợp lý nhất cho quốc gia mình.

Không tài nguyên, thiên tai thường xuyên, Nhật Bản đã sao chép các nước khác để trở thành cường quốc như thế nào? - Ảnh 1.

Thiên hoàng Minh Trị (1852-1912)

Kể từ đây, Nhật Bản có hàng loạt thay đổi theo Phương Tây như thành lập ngân hàng quốc gia, phát hành đồng Yên thay cho đồng tiền cũ, xây dựng những ngành khai khoáng, đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng như đường sắt, đường bộ. Chính phủ cũng khuyến khích người dân kinh doanh, mở cửa thị trường và thúc đẩy phát triển công nghệ kỹ thuật, áp dụng các phương pháp sản xuất mới nhằm nâng cao năng suất.

Trong thập niên 1870, Nhật Bản đã học hỏi đế quốc Phổ (tiền thân của nước Đức) trong tiến trình hiện đại hóa đất nước để trở nên hùng cường. Chính phủ đã thành lập nhiều doanh nghiệp quốc doanh thí điểm trong những ngành công nghiệp cơ bản.

Mặc dù nhiều công ty trong ngành phải chịu thua lỗ nhưng chính phủ Nhật vẫn hỗ trợ nhằm tạo tiền đề tiên phong phát triển công nghiệp. Thời kỳ này các nhà tư bản cá nhân chưa dám đầu tư vào những mảng kinh doanh công nghiệp mới do sợ lỗ và chính phủ sẽ phải là người đi tiên phong.

Không chỉ sao chép con đường cải cách kinh tế của Phương Tây, Nhật Bản còn mua và học hỏi các máy móc của người Anh. Chính phủ Nhật thậm chí thuê hay có những chính sách ưu đãi nhằm thuyết phục các kỹ sư nước ngoài ở lại làm việc cho họ. Mặc dù chính phủ Anh cùng nhiều nước Phương Tây ngăn cấm nhưng Nhật Bản vẫn tìm cách đưa các kỹ sư giỏi của nước ngoài về làm việc cho họ.

Năm 1843, khi đế quốc Anh bãi bỏ những hạn chế trong xuất khẩu máy móc với Nhật Bản thì các nước Phương Tây cũng gây áp lực để nước này ký các thỏa thuận về bản quyền. Dẫu vậy Nhật Bản phớt lờ các quy định này. Trong khi nước ngoài lên án gay gắt nạn sao chép các kỹ thuật thì người Nhật lại gọi đó là “sự tiếp thu” các công nghệ mới, một đặc trưng của tinh thần học hỏi.

Không tài nguyên, thiên tai thường xuyên, Nhật Bản đã sao chép các nước khác để trở thành cường quốc như thế nào? - Ảnh 2.

Xưởng làm bông tại Nhật

Đọc đến đây chắc có lẽ nhiều người cũng đã nhận ra có sự tương đồng đáng kể trong quá trình hiện đại hóa nhờ sao chép giữa Nhật Bản và Trung Quốc.

Những tư liệu lịch sử của Phương Tây cho thấy những hàng giả hàng nhái thời kỳ này của Nhật Bản thường có công nghệ thấp, rẻ tiền và bị các nước coi thường. Tuy nhiên chính những hàng nhái này lại đáp ứng được nhu cầu của người dân vùng quê Nhật Bản do nhắm đến những nhu cầu đời thường cấp thiết của thị trường trong nước. Nhờ đó, thị trường hàng nhái vẫn sống tốt và dần phát triển, qua đó giúp nền công nghệ Nhật Bản từng bước đi lên.

Thành cường quốc nhờ sao chép

Bước sang thập niên 1880, nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu trỗi dậy nhờ mảng dệt may, một ngành kinh doanh không đòi hỏi nhiều vốn hay công nghệ cao nhưng luôn có sẵn thị trường. Ban đầu chính phủ Nhật nâng thuế nhập khẩu bông thô để bảo hộ ngành trồng bông trong nước, sau đó chuyển dần các chính sách bảo hộ sang những nhà máy sản xuất bông vải rồi lan dần ra các mảng kinh tế quan trọng khác theo đúng những gì nền kinh tế Đức-Phổ đã từng cải cách.

Năm 1914, mảng dệt may đã chiếm tới 60% tỷ lệ xuất khẩu của Nhật Bản. May mắn hơn, Thế chiến I bùng nổ khiến công nghiệp tại Châu Âu gián đoạn, giúp các nhà máy Nhật Bản tiếp cận được nhiều thị trường hơn với hàng loạt mặt hàng như dệt may, thực phẩm, đồ hộp, xe đạp…

Bước sang thập niên 1920, nền công nghiệp Nhật Bản dần vững mạnh và chuyển dần từ nhập khẩu nguyên liệu thô sang các sản phẩm đầu vào thứ cấp. Vào thời kỳ này, chủ nghĩa tư bản nhà nước phát triển mạnh tại Nhật và dù mở cửa thị trường nhưng chính phủ vẫn can thiệp mạnh mẽ để định hướng cho nền kinh tế.

Trong những năm tiếp theo, Nhật Bản tiếp tục tăng cường bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước, trợ cấp và phát triển các công nghệ tiên tiến. Đến giai đoạn này, Nhật Bản bắt đầu chú trọng đến công nghiệp nặng và hóa chất. Nhằm tạo lợi thế cho xuất khẩu, mô hình các tập đoàn tài phiệt (Zaibatsu) được phát triển.

Không tài nguyên, thiên tai thường xuyên, Nhật Bản đã sao chép các nước khác để trở thành cường quốc như thế nào? - Ảnh 3.

Nhật Bản đã sao chép các ý tưởng thành công của nước khác để tự phát triển

Theo đó, một công ty thành công trong mảng chính sẽ phân nhánh kiểm soát các doanh nghiệp nhỏ hơn ở những mảng khác, tạo thành mạng lưới kinh doanh đồ sộ. Với vốn và tiềm lực của ngành kinh doanh chính, những Zaibatsu này dễ dàng mở rộng mạng lưới của mình hơn. Điều này cũng tương tự như khi các tập đoàn lớn như Samsung của Hàn Quốc ngày nay mở rộng từ mảng chính điện tử của mình sang các phân nhánh khác.

Ngoài ra, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã giúp năng suất tại Nhật tăng đáng kể, tạo tiền đề cho nền kinh tế bứt tốc. Ngay trước Thế chiến II, ngành công nghiệp nặng đã thu hút tới 40% tổng số lao động và đóng góp 50% tổng sản lượng toàn ngành cho Nhật Bản.

Khôi phục kinh tế bằng bắt chước

Trong thời kỳ bứt tốc kinh tế trước Thế chiến II và hồi phục hậu chiến tranh, Nhật Bản đều tích cực sao chép các sản phẩm Phương Tây mà chẳng thấy ngại ngùng gì. Thậm chí trong Thế chiến II, nước này cũng nhanh chóng đạo nhái các vũ khí của nước ngoài và thay đổi để thích nghi với quân đội nước mình.

Từ năm 1952, sản lượng sản xuất và khai mỏ của Nhật Bản tăng hơn 10 lần trong hai thập kỷ, qua đó trở thành quốc gia đầu tiên đạt được tăng trưởng kinh tế hai chữ số một cách bền vững. Rất nhiều người nghĩ rằng quốc gia này đã khám phá ra một hình thức quản trị kinh tế mới và không thể đánh bại. Thực tế, Nhật Bản chỉ làm lại những ý tưởng cũ và phát triển từ người Đức trước đó.

Không tài nguyên, thiên tai thường xuyên, Nhật Bản đã sao chép các nước khác để trở thành cường quốc như thế nào? - Ảnh 4.

Hàng loạt sản phẩm đạo nhái của Nhật với những mặt hàng gốc của nước ngoài

Con đường đạo nhái của Nhật Bản kéo dài tới tận thập niên 1970 và trở thành một phương pháp chính giúp nền kinh tế phục hồi nhanh chóng hậu Thế chiến II. Từ sản phẩm gia dụng, thực phẩm, truyện tranh cho đến những thứ đơn giản như thiết kế thời trang đều có sự sao chép tại Nhật.

Những câu chuyện về các nhà sáng lập xe máy, đồ điện tử hay nhiều sản phẩm nổi tiếng khác của Nhật đều có chung đặc điểm là phải học nghề, tiếp thu kinh nghiệm lan truyền từ Phương Tây trước. Hầu hết các sản phẩm này mang tính bắt chước có cải tiến rồi mới dần tự nghiên cứu được công nghệ cho riêng mình.

Sau Thế chiến II, Nhật Bản bắt đầu nghiên cứu mô hình kinh tế Mỹ và đạo nhái các sản phẩm bình dân. Ban đầu họ chưa chú trọng vào chất lượng mà chỉ mang tính học hỏi, thế rồi dần dần người Nhật cải tiến sản phẩm và đặt các tiêu chuẩn khắt khe lên hàng đầu làm lợi thế cạnh tranh.

Nhờ tận dụng sự bắt chước mà vào thập niên 1990, nền kinh tế Nhật trỗi dậy trở lại thành công với thu nhập GDP bình quân đầu người cao tới 23.796 USD, đứng thứ 2 thế giới sau Thụy Sĩ. Đây cũng là thời kỳ mà thương hiệu “Made in Japan” trở thành biểu tượng cho chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh đó, tinh thần dân tộc trọng chữ tín của người Nhật cũng thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng dù chúng đẩy giá thành lên cao.

Trớ trêu thay, sự thành công của nền kinh tế Nhật cùng chất lượng sản phẩm đã khiến nhiều nước phải học hỏi. Nếu nhìn qua Hàn Quốc và Trung Quốc, chúng ta có thể thấy đâu đó những dấu vết học hỏi từ con đường làm giàu của người Nhật. Không những thế, các sản phẩm của Nhật cũng bị làm nhái rất nhiều.

Ngày nay, từ vị thế phải đi mời chào chuyên gia hay đạo nhái sản phẩm, người Nhật đã có quyền tự hào khi nhiều nước phải học hỏi họ, sản phẩm của Nhật “được” làm nhái còn nền kinh tế trở thành tấm gương cho nhiều quốc gia noi theo.

AB Theo Tổ Quốc

Bầu cử Mỹ 2020: Một cuộc bầu cử không giống cuộc bầu cử nào khác

Cử tri Mỹ đi đầu phiếu sớm ở Atlanta, bang Georgia, Hoa Kỳ, ngày 12/10/2020. REUTERS/Chris Aluka Berry
Cử tri Mỹ đi đầu phiếu sớm ở Atlanta, bang Georgia, Hoa Kỳ, ngày 12/10/2020. REUTERS/Chris Aluka Berry

Tại thời điểm còn một tuần nữa là tới ngày bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2020, giữa lúc hai ứng cử viên Tổng thống còn đang ráo riết vận động, thì hàng chục triệu cử tri đã đi bỏ phiếu sớm, báo hiệu cuộc bầu cử có tính cách quyết định này sẽ đạt tỷ lệ cử tri đi đầu phiếu cao kỷ lục.

Theo Dự án Bầu cử Mỹ, môt cơ sở dữ liệu chuyên thu thập thông tin về tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu do Giáo sư Michael McDonald /Đại học Florida điều hành, số phiếu bầu sớm năm nay vượt xa số phiếu bầu sớm năm 2016.

Giáo sư McDonald nói:

“Chúng ta tiếp tục chứng kiến số phiếu bầu sớm tăng nhanh chưa từng thấy. Chưa gì số liệu này đã vượt qua số phiếu bầu sớm của bất cứ cuộc bầu cử nào trong lịch sử.”

Ông nêu lên quan tâm rằng những phiếu bầu gửi qua đường bưu điện có thể được gửi đi hàng loạt vào lúc sắp kết thúc giai đoạn bầu cử sớm, làm các quan chức bị quá tải. Vì vậy việc cử tri chọn đi bầu trực tiếp nhưng sớm hơn giúp trải dài công việc của các giới chức bầu cử, giảm bớt gánh nặng khi công việc bị dồn lại trong cùng một lúc.

“Đây là một tin vui, bởi vì chúng tôi rất lo lắng về làm thế nào để tổ chức một cuộc bầu cử giữa trận đại dịch.”

Năm 2019, Giáo sư McDonald tiên đoán khoảng 150 triệu người sẽ đi đầu phiếu trong cuộc tổng tuyển cử năm 2020, tượng trưng cho tỷ lệ 65%, con số cao nhất tính từ năm 1908.

Nhưng bây giờ, ông công nhận rằng con số 150 triệu được dự báo có thể là một con số quá thấp và vào cuối tuần này, ông sẽ phải nâng cao số dự báo.

Tỷ lệ cử tri đi bầu có triển vọng phá kỷ lục

Tại Texas chẳng hạn, tính cho tới ngày Chủ nhật 25/10, gần 7,4 triệu phiếu bầu sớm đã được ghi nhận, đánh dấu 82% tổng số phiếu bầu của bang này vào năm 2016.

Giáo sư McDonald đơn cử trường hợp bang Washington là ví dụ cho thấy rõ nhất những thay đổi trong hành vi của cử tri trong cuộc bầu cử năm nay bởi vì bang này tổ chức bầu cử hầu hết qua đường bưu điện trong cả cuộc bầu cử 2016 và 2020. Cho tới nay, tiểu bang Washington báo cáo đã nhận được hơn 2 triệu phiếu bầu qua bưu điện, gấp 3 lần tỷ lệ bỏ phiếu năm 2016.

Tại quận Miami-Dade của bang Florida, một giới chức bầu cử cho biết 42% đã bỏ phiếu, cao gần gấp 3 tỷ lệ đi bầu năm 2016.

Ông Rodriguez nói với đài NPR:

“Thông thường một cuộc bầu cử Tổng thống đạt tỷ lệ từ 68% tới 73%. Năm nay, chúng tôi dự kiến tỷ lệ cử tri đi bầu sẽ đạt 80%, dựa trên con số người đi bầu vừa nhận được.

Trong số các tiểu bang báo cáo số liệu bầu cử, cử tri yêu cầu 87 triệu phiếu bầu qua đường bưu điện, theo Giáo sư McDonald, ước lượng sơ khởi 41 triệu phiếu bầu đã được gửi qua đường bưu điện.

Hiện nay, phe Dân chủ dẫn trước với tỷ lệ 2/1 trên các phiếu bầu gửi qua đường bưu điện. Nhưng Giáo sư McDonald cảnh báo rằng các số liệu ban đầu không vẽ ra một bức tranh toàn cảnh.

“Thông thường câu chuyện về một cuộc bầu cử tiêu biểu trong những năm gần đây là kiểm phiếu giai đoạn đầu thường ngả về Đảng Dân Chủ và các phiếu bầu trong ngày bầu cử ngả về Đảng Cộng hòa,” ông nói, “và mặc dù theo các dâu hiệu bề ngoài, câu chuyện năm nay có thể cũng vậy, nhưng chúng ta phải chờ xem điều gì sẽ xảy ra trong ngày bầu cử trước khi chúng ta có thể đoan chắc điều gì sẽ xảy ra.”

Tỷ lệ cử tri trẻ đi bầu tăng vọt

Giới trẻ từ 18 tới 29 tuổi đi bầu sớm đông đảo chưa từng thấy.

Theo các dữ liệu của một trung tâm nghiên cứu của Đại học Tufts, con số cử tri trẻ tuổi đi bầu sớm tăng vọt, đặc biệt tại các bang thiết yếu đối với ông Biden và ông Trump, như Michigan, Florida và North Carolina.

Tính cho tới ngày 21/10, gần 258.000 cử tri trẻ tuổi ở Florida đã đi bầu, 214.000 người nhiều hơn số cử tri trẻ đi bầu vào cùng thời điểm năm 2016.

Tại Texas, gần 500.000 người từ 18 tới 29 tuổi đã đi bầu. Tuy nhiên tại bang này, không có dữ liệu từ 2016 để có thể so sánh tỷ lệ đi bầu trong giới trẻ.

Giới trẻ có thể nắm trong tay quyền lực chính trị đáng kể. Millenials- sinh từ năm 1980 tới 1995, và một số từ Thế hệ Z –năm 1996 tới 2012/2015, tổng cộng chiếm tới 37% số cử tri hội đủ điều kiện đi bầu, tương đương với thế hệ Baby Boomers (1946-1964) và thể hệ lớn tuổi hơn, Viện Brookings phân tích dựa trên các dữ liệu của cuộc kiểm tra dân số.

Trong nhiều thập niên, giới trẻ tỏ ra lơ là với bầu cử, nhưng năm nay, các nhóm vận động cử tri tham gia bầu cử đã tăng cường nỗ lực để thay đổi con số thống kê này.

Cảnh sát, Vệ binh Quốc gia và Quân đội chuẩn bị cho Ngày Bầu cử

Trong một nền dân chủ tôn trọng lá phiếu của người dân như là “ý trời”, thì cảnh sát mặc quân phục thường không được lảng vảng quanh các địa điểm bỏ phiếu, và Ngũ Giác Đài tuyệt đối không muốn phải dính líu trong ngày bầu cử. Thế mà năm nay, các lực lượng này phải chuẩn bị cho tình huống xấu, phòng hờ tình hình có thể vuột tầm kiểm soát, nguy cơ bạo động xảy ra.

Thông thường nhân viên phòng phiếu là tuyến phòng thủ đầu tiên nếu xảy ra xung đột giữa các cử tri, mặc dù họ được sự hậu thuẫn của nhân viên an ninh tư nhân. Quận King ở bang Washington cho biết đã sắp xếp một số nhân viên để canh gác các thùng phiếu mà mọi năm không cần được canh gác.

Một số đơn vị bầu cử không có kế hoạch huy động cảnh sát mặc quân phục tại các phòng phiếu bởi vì truyền thống và luật pháp địa phương không muốn sự hiện diện của cảnh sát hay binh sĩ mặc quân phục có thể được diễn giải như để hăm dọa cử tri.

Xét những căng thẳng đã xảy ra trong năm nay, sau một số trường hợp người dân không vũ trang bị ngược đãi, sự hiện diện của cảnh sát tại các địa điểm bỏ phiếu đã trở thành một vấn đề gây tranh cãi.

Tại Miami, các thành viên Đảng Dân Chủ khiếu nại về vụ một nhân viên cảnh sát mặc quân phục, mang khẩu trang in ảnh ông Trump, xuất hiện tại một địa điểm bầu cử sớm. Họ cho rằng đây là một động thái có tính trấn áp tinh thần cử tri ngay tại phòng phiếu. Nhân viên cảnh sát trong cuộc đang đối mặt với biện pháp kỷ luật từ các cấp chỉ huy.

Sự hiện diện của cảnh sát mặc quân phục cũng là đề tài tranh cãi theo phe phái, tại các bang New Jersey và North Carolina khi Hội đồng Bầu cử ra thông tư nhắc nhở nhân viên cảnh sát mặc quân phục nên tránh xa phòng phiếu, một số thành viên Đảng Cộng hòa đã phản đối.

Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa tại tiểu bang, ông Paul Newton, nói rằng Hội đồng Bầu cử vốn do Đảng Dân Chủ kiểm soát, đã “vượt quá quyền hạn” của mình, ông cho rằng hội đồng này không có quyền ra lệnh cho cảnh sát.

Một vấn đề khác đã được nêu lên tại Michigan, về liệu công dân có quyền công khai mang vũ khí vào phòng phiếu hay quanh địa điểm bỏ phiếu hay không. Luật cho phép tư nhân công khai mang vũ khí được áp dụng tại tiểu bang này, nhưng Tổng thư ký bang Michigan Jocelyn Benson ra chỉ thị cấm mang vũ khí một cách lộ liễu tại các phòng phiếu và các văn phòng bầu cử khác trong năm nay.

Các sở cảnh sát đang có kế hoạch chuẩn bị để tăng cường đội ngũ cảnh sát túc trực trong ngày bầu cử, đặc biệt tại các thành phố nơi đã xảy ra nhiều bất ổn trong năm nay.

Vai trò của quân đội?

Các thành viên của Lực lượng Vệ binh Quốc gia trên khắp nước sẽ tham gia các hoạt động bảo vệ an ninh cho cuộc bầu cử, kể cả an ninh mạng, hỗ trợ các giới chức địa phương chống lại sự can thiệp của các chính quyền nước ngoài toan can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ.

Nhưng quân đội hiện dịch không muốn trực tiếp tham gia công tác bảo vệ an ninh tại các phòng phiếu.

Các quan chức quân sự nói với đài NPR rằng quân đội muốn duy trì lập trường phi đảng phái, không tham gia tranh cãi chính trị phe phái, và rằng binh sĩ mặc quân phục xuất hiện ở các phòng phiếu có thể khiến quân đội bị quy là thiên vị một ứng cử viên, chống lại ứng cử viên nọ.

Nhưng khi được yêu cầu, các binh sĩ thuộc Lực lượng Vệ binh Quốc gia sẽ đến giúp các tiểu bang trong tư cách là nhân viên phòng phiếu- mặc thường phục, và thực hiện các nhiệm vụ bình thường của nhân viên phòng phiếu.

Dịch Covid-19 đã khiến các phòng phiếu thiếu nhân viên làm việc, vì thông thường nhân viên phòng phiếu là những người cao niên, và trong đại dịch, họ không thể tiếp xúc với nhiều người vì sợ bị lây nhiễm.

Các quan chức quân đội không dự kiến sẽ xảy ra xung đột tại các phòng phiếu, nhưng họ nói sau một chiến dịch vận động tranh cử cay đắng, các cuộc biểu tình và sự xuất hiện của các nhóm vũ trang, bạo động có thể xảy ra sau bầu cử, bất chấp ứng cử viên nào đắc cử.

Tổng Thống Trump đã làm tăng lo ngại khi ông nhiều lần ngỏ ý ông có thể không chấp nhận kết quả bầu cử “trừ phi nó công bằng”. Lời phát biểu này dẫn tới đồn đại rằng Tổng Thống Trump có thể cố bám víu lấy quyền hành nếu ông thất cử, và quân đội có thể được huy động.

Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, Đại tướng Mark Milley, mạnh mẽ bác bỏ ý tưởng đó trong cuộc phỏng vấn với đài NPR.

“Nếu bầu cử bị thách thức, vấn đề này sẽ được các tòa án và quốc hội giải quyết theo đúng quy trình. Quân đội không có vai trò nào trong việc xác định kết quả bầu cử. Hoàn toàn không có bất cứ vai trò nào”.

Hoài Hương / VOA