Khách sạn ‘nhà kính’ ở Đà Lạt

LÂM ĐỒNG

Công trình mang phong cách nhà kính cách trung tâm Đà Lạt 4 km, cung cấp dịch vụ lưu trú và quán cà phê cho mọi du khách.

Tổ hợp khách sạn và quán cà phê The LOOP tọa lạc ở đường An Sơn, phường 4, TP. Đà Lạt. Công trình có khuôn viên hình tròn, bao quanh bởi những tấm che trong suốt, mang màu trắng chủ đạo, tựa những nhà vườn trồng cây ở địa phương.

Khách đến đây sẽ được nhân viên quầy lễ tân tại lối vào hướng dẫn, theo nhu cầu lưu trú hoặc uống cà phê.

Khu vực khách sạn của The LOOP có hai tầng. Giữa hai dãy nhà là không gian mở không mái che, tạo sự thoáng đãng. Công trình do vợ chồng kiến trúc sư Đoàn Bằng Giang thiết kế và sở hữu. Cả hai đều rất yêu Đà Lạt, và mong muốn kiến tạo một không gian mới trẻ trung, hiện đại nhưng vẫn đảm bảo thân thiện với môi trường và thiên nhiên.

Khu lưu trú có 12 phòng. Các phòng ở được thiết kế đa dạng, diện tích từ 16m2 đến 48m2, cho 2 – 4 người lớn. Mỗi phòng đều có góc nhìn ra sân vườn bên trong, tùy phòng nhìn ra thung lũng. Giá phòng từ 1 triệu đồng đến 2,1 triệu đồng, bao gồm bữa sáng và một phần thức uống.

Ngoài khách sạn, nơi đây còn có khu glamping gồm 3 lều, nằm ở tầng đất dưới cùng, nhìn thẳng xuống khu nhà vườn. Glamping là tên gọi hình thức cắm trại theo phong cách tiện nghi, cao cấp, lãng mạn.

Mỗi lều có hai giường ngủ, sức chứa tối đa là 4 khách. Giá thuê 1 triệu đồng một đêm dành cho hai khách.

Quán cà phê có hơn 50 chỗ ngồi, tầng trên không mái che. Quán phục vụ cả khách lưu trú và khách đến uống cà phê. Thức uống gồm cà phê, trà thảo mộc, nước trái cây, bia tươi, bánh ngọt kiểu Âu tự làm, giá khoảng 29.000 – 65.000 đồng.Click để lật ảnh

Không gian trong nhà của khu vực quán cà phê có hướng nhìn nhà vườn dưới thung lũng, mở cửa kính đón ánh sáng và gió mát. Quán mở cửa từ 7h đến 21h hàng ngày.

Khúc nhạc bi thảm của Lev Tolstoy

“Bản sonata Kreutzer” được viết vào giai đoạn sau trong cuộc đời Tolstoy, khi ông đã trải qua những sóng gió của cuộc sống gia đình và luôn bị ám ảnh bởi cái chết.

Đây cũng là khi ông viết những tác phẩm dữ dội và đau đớn, với nhiều tự vấn cay đắng về cuộc đời, như Cái chết của Ivan lllich, Đức cha Sergei, Phục sinh.

Pozdnyshev là một tay ăn chơi khét tiếng. Vợ anh là một cô gái xinh đẹp và lãng mạn. Họ gặp nhau, yêu nhau, và cùng nhau bước vào hôn nhân, để rồi thực hiện những nghĩa vụ mà một cuộc hôn nhân cần phải có.

Pozdnyshev từ bỏ những cuộc ăn chơi trác táng, vợ anh từ bỏ đam mê âm nhạc. Họ sống yên ổn với việc xây dựng gia đình và sinh con đẻ cái. Nhưng những điều kìm nén sâu thẳm bên trong, giống như một con thú dữ, chỉ đợi đến khi có cơ hội sổ lồng.

Hai vợ chồng họ, một người bị quyến rũ bởi mối tình lãng mạn với chàng nghệ sĩ, đã khơi dậy lòng ghen tuông chết chóc quỷ dữ trong lòng người kia. Và cái kết cục bi thảm trong đêm đen ấy, kỳ thực chẳng có gì lạ.

Cuốn tiểu thuyết chặt chẽ, ít sự kiện nhưng ngôn ngữ vô cùng sắc bén, quyết liệt, đã diễn tả được những phức tạp trong suy nghĩ của mỗi nhân vật.

ban sonata kreutzer anh 1
Bản sonata Kreutzer của Lev Tolstoy.

Tolstoy là nhà văn rất quan tâm đến vấn đề gia đình. Trước đây khi viết Anna Karenina, ông đã miêu tả hai thái cực của tình yêu thông qua hai cặp tình nhân khiến người đọc được trải nghiệm những cung bậc của tình yêu và hôn nhân. Trong khi đó chỉ với dung lượng cực ngắn trong Bản sonata Kreutzer, Tolstoy đã đưa độc giả vào trạng thái cực đoan khi phơi bày mặt trái của hôn nhân, với một kết thúc cay đắng, như lời kết luận cuối cùng đầy tuyệt vọng và phản kháng.

Vấn đề hôn nhân mà Tolstoy đặt ra trong tác phẩm này cho đến ngày hôm nay vẫn là một vấn đề đầy nhức nhối. Hôn nhân có thực là một  nấm mồ chôn cất tình yêu hay không? Có lẽ cuốn sách của Tolstoy đã phần nào trả lời được câu hỏi ấy.

Tuy nhiên, điều mà cuốn sách đặt ra không chỉ là hôn nhân, ấy còn là dục vọng của con người. Thứ dục vọng mà ngay cả tình yêu cũng khó kìm chế. Dục vọng khiến con người phát điên, và hành động một cách rồ dại bỏ qua mọi quy ước đạo đức, lý trí đạo đức mà con người vốn luôn hướng đến.

Pozdnyshev hiểu được sự tồn tại của vợ mình, nhưng hành động bạo lực khủng khiếp của anh ta đã làm mất đi khả năng được nhận ra là con người của chính mình. Đáp lại lời cầu xin “tha thứ cho anh”, trên khuôn mặt người vợ trước khi chết chỉ còn biểu hiện lạnh lùng của lòng hận thù. Cuối tác phẩm, khi chia tay với người bạn đồng hành trên chuyến tàu, người đã được anh ta kể cho câu chuyện của mình, thay cho lời “xin từ biệt”, anh ta nói “hãy tha thứ”.  

Được viết dựa trên nền nhạc sonata vừa êm dịu vừa dữ dội của bản nhạc cùng tên, do Beethoven sáng tác, tác phẩm mang lại âm vang vô cùng đẹp đẽ, nhưng ấy là cái đẹp đẽ của sự bạo liệt, sự hủy diệt. Một tác phẩm hoàn hảo của Tolstoy.

Ngay từ khi ra đời, cuốn tiểu thuyết đã bị kiểm duyệt cấm xuất bản năm 1890, song lệnh cấm sau đó được đích thân Nga hoàng Alexandr III hủy bỏ. Trước khi được chính thức xuất bản ở Nga năm 1891, nó đã được lưu hành hàng ngàn bản dưới dạng in thạch bản và được dịch ra một số tiếng nước ngoài.

Bản sonata Kreutzer gây xôn xao dư luận vì đã đưa ra những vấn đề mà trước đó chưa bao giờ được nói đến một cách công khai. Nhiều nhà nghiên cứu Tolstoy nhận định rằng đây là cuốn tiểu thuyết ngắn bi thảm nhất của ông.  Ivan Bunin sau khi đọc tác phẩm cũng đã viết thư cho Tolstoy ca ngợi và xin phép được đến gặp văn hào.

Phong Linh / Sách hay / Zing

Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng

Ảnh minh họa về những chất độc (tự nhiên, nhân tạo) mạnh trong lịch sử.

Khoảnh khắc chết chóc ùa đến, hàng nghìn người không kịp phản ứng. Nét mặt đau khổ tựa hồ lá phổi bị hàng nghìn mũi kim đâm chọc. Họ chết đuối ngay trên cạn!

Khi những người thợ săn thời tiền sử nhúng mũi tên thô sơ của họ vào nọc rắn để đi săn những con thú to lớn –  Lần đầu tiên trong lịch sử, loài người chúng ta biết biến những “món quà cực độc của tự nhiên” phục vụ cho những lợi ích riêng của chính mình. Kể từ đây, rất nhiều câu chuyện đã xảy ra suốt chiều dài lịch sử liên quan đến chất độc

Alfred Swaine Taylor (1806-1880), chuyên gia độc chất học thế kỷ 19, “Cha đẻ của pháp y Anh” từng nói: “Chất độc với liều lượng nhỏ là một loại thuốc, và một loại thuốc với liều lượng lớn lại là chất độc”.

Các chất độc cổ điển như hemlock (độc cần), nightshade (cây cà dược), aconite (ô đầu), foxglove (dương địa hoàng), opium (thuốc phiện) và strychnine (mã tiền) được sử dụng để điều trị một loạt bệnh, từ lạnh đầu đến các bệnh tim, và thậm chí còn được dùng để trang điểm. Các kim loại độc hại như thủy ngân, chì và asen là thành phần trong các loại thuốc đặt trên các kệ hàng dược vào cuối thế kỷ 20.

Chừng nào chúng ta cần chữa trị và phục vụ lợi ích riêng thì chất độc (dù là chiết xuất tự nhiên hay do con người tạo ra) còn cám dỗ con người chừng đó. Lịch sử đã minh chứng điều này…

VUA ĐỘC

Ngay từ đầu, chất độc đã là công cụ ám sát dưới thời của các hoàng đế, pharaoh và vua khắp thế giới thời cổ đại.

Ở Ai Cập

Khoảng năm 1550 trước Công nguyên, người Ai Cập đã lưu lại nhiều công thức chế tạo chất độc bằng chữ tượng hình trong Ebers Papyrus, một trong những tài liệu y học sớm nhất thế giới. 

Người ta tin rằng, Menes – vị pharaoh Ai Cập đầu tiên được biết đến thuộc Thời kỳ Sơ triều đại của Ai Cập cổ đại, đã bị đầu độc bởi một chất độc chết người – Và người cai trị cuối cùng của vương triều cuối cùng thời Ai Cập cổ đại, là Nữ hoàng Cleopatra, cũng được cho là đã tự kết liễu đời mình bằng nọc rắn độc.

Ở Trung Quốc

Việc nghiên cứu và thử nghiệm chất độc đã giết chết “Cha đẻ ngành dược học Trung Quốc” Shen Nung (khoảng năm 2695 trước Công nguyên). 

Ông nổi tiếng vì đã nếm 365 loại thảo mộc và chết vì quá liều độc hại. Trước khi qua đời, ông đã viết chuyên luận “Thí nghiệm chất độc thảo dược học”, đồng thời được dân chúng tôn thờ vì có công mang nông nghiệp đến Trung Quốc cổ đại. 

Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc – Tần Thủy Hoàng – cũng được cho là qua đời ở tuổi 49 vì nuốt thủy ngân (cực độc) với mong muốn được trường sinh bất tử.

Các nơi khác

Các nền văn minh cổ đại của Ấn Độ, Ba Tư và Hy Lạp đã sử dụng chất độc để ám sát các đối thủ vì lợi ích chính trị (những người cai trị Mughal của Ấn Độ sẽ “tặng” kẻ thù của họ những chiếc áo choàng có tẩm thuốc độc), để xử tử tội phạm (triết gia Hy Lạp cổ đại Socrates bị kết án uống chất độc của độc cần); và thậm chí thuốc độc còn được sử dụng để mang đến một “liều nhân đạo” cho người bệnh và người già được hưởng cái chết êm ái thời đó.

Vào thời La Mã, tình trạng nhiễm độc đã lan tràn đến mức “Lex Cornelia”, một luật cổ của La Mã, đã ra đời để cấm người dân sử dụng các loại rượu độc để ám sát, hãm hại người khác. Tuy nhiên, câu chuyện chưa bao giờ được giải quyết.

Sáu vị hoàng đế La Mã đã bị kết liễu đời vì thuốc độc, bao gồm cả Hoàng đế Claudius, người đã bị chính vợ mình, Agrippina, giết hại để nâng cao vị thế của con trai bà là Nero, người sau đó đã quay lại và đầu độc người anh kế của mình để lên ngôi.

“Vua Độc”

Nhưng không có vị vua nào bị ám ảnh bởi chất độc nhiều như Vua Mithridates VI, người trị vì Pontos (Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại) hơn 2.000 năm trước. Sợ hãi vì bị ám sát bằng thuốc độc (nỗi ám ảnh hình thành khi thấy mẹ mình đầu độc cha), Mithridates VI điên cuồng tìm kiếm mọi loại thuốc giải độc đến nỗi lịch sử ghi nhớ ông là “Vua độc – Poison King”.

Cực chẳng đã, Mithridates VI còn cố gắng tăng khả năng chịu đựng của mình bằng cách tiêu thụ một lượng nhỏ chất độc khác nhau cùng với nhiều loại thuốc giải độc thử nghiệm. Cuối cùng, ông đã nghĩ ra một công thức tuyệt mật được gọi là “Mithridatum”. 

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng - Ảnh 1.

Tác phẩm “Lọ thuốc Mithridate” này được tạo ra bởi nhà điêu khắc người Ý Annibale Fontana vào cuối những năm 1500, mô tả những cảnh trong cuộc đời của vua Mithridates VI, bao gồm cả cái chết khủng khiếp của ông ta dưới bàn tay của chính người lính của mình. Nguồn: SEPIA TIMES / GETTY IMAGES

Mithridatum được công chúng thèm muốn và được giữ kín cho đến khi tướng La Mã Pompey xâm lược Pontos và mang theo phương thuốc quý trở về Rome. Thất bại cay đắng, Mithridates VI đã cố gắng dùng thuốc độc để tự sát nhưng vì ‘miễn nhiễm’ với thuốc độc nên cuối cùng “Vua thuốc độc” phải nhờ đến cận thần ra tay. 

“Vua chất độc”

‘Tua nhanh’ đến thế kỷ thứ 8 sau Công nguyên, câu chuyện về chất độc đã thay đổi cách nhìn của thế giới mãi mãi. 

Một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của Thời đại hoàng kim của Hồi giáo (kéo dài từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 14), nhà giả kim thuật Jabir ibn Hayyan (721-813), đã tạo ra một loại bột màu trắng chết người không mùi, không vị và hoàn toàn không thể phát hiện được trong cơ thể con người. Nó là một hợp chất gây chết người của asen, một nguyên tố tự nhiên và phổ biến, trở nên độc hại khi chuyển đổi thành asen trioxit (As2O3) hoặc asen trắng – Thời đó, asen là chất độc mạnh nhất, đáng sợ nhất.

Asen giết chết người bằng cách làm gián đoạn quá trình truyền năng lượng đến các tế bào khiến chúng bắt đầu chết đi và làm cho các chức năng cơ thể cơ bản bị phá vỡ. Với một liều lượng đủ cao, hoặc nếu tiêu thụ dần dần theo thời gian, các cơ quan quan trọng sẽ bắt đầu bị hỏng. Tác động của chất độc quái ác này trông rất giống bệnh tự nhiên, đặc biệt là vì các triệu chứng thông thường như nôn mửa và tiêu chảy, rất dễ bị nhầm với bệnh tả, bệnh kiết lỵ và các bệnh thông thường khác thời bấy giờ.

Trong hàng thiên niên kỷ tiếp theo, asen đã khiến cho việc phạm tội hoàn hảo, thậm chí dễ dàng diễn ra. Bột asen có thể được trộn vào ly rượu hoặc thức ăn mà không một ai biết vì phải mất hàng giờ, vài ngày hoặc thậm chí hàng tháng để bất kỳ triệu chứng nhiễm độc nào xuất hiện trong cơ thể nạn nhân. Ngay cả khi nghi ngờ có chất độc, cho đến thế kỷ 19 vẫn chưa có cách nào để phát hiện ra asen trong cơ thể sau khi chết.

Nhưng điều khiến asen – “Vua chất độc” trở nên chết người đó là nó rất gần gũi với con người. Trong nhiều thế kỷ, các nền văn minh đã sử dụng các hợp chất của nó trong y học. Nó đã được sử dụng trong y học Trung Quốc, được dùng bởi bác sĩ Hy Lạp Hippocrates, bởi các nhà giả kim thuật thời Trung Cổ để tìm kiếm thuốc trường sinh, và bởi các bác sĩ thế kỷ 18, những người đã chuyển sang một giải pháp dựa trên asen để điều trị mọi thứ từ bệnh suyễn đến bệnh giang mai.

PHÉP THUẬT THỜI TRUNG CỔ

Châu Âu trong thời Trung Cổ được đánh dấu bằng sự mê tín. 

Sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã, kiến ​​thức tiến bộ rất ít được phổ biến trong dân chúng trong vài thế kỷ tiếp theo, và văn hóa dân gian, tín ngưỡng tôn giáo và ma thuật đã thay thế nó. 

Điều tương tự không diễn ra ở trong thế giới Ả Rập, nơi khoa học và toán học phát triển mạnh mẽ. Dựa trên các văn bản của các triết gia Hy Lạp, nhiều nhà khoa học và bác sĩ Hồi giáo đã thử nghiệm các chất độc và thuốc giải độc, viết ra những văn bản có ảnh hưởng giúp nâng cao hiểu biết về lĩnh vực độc chất học.

Sự giàu có về kiến ​​thức này không đến được với phương Tây cho đến thế kỷ 13, nhưng các tu sĩ Cơ đốc giáo đã làm được nhiều hơn là sao chép những văn bản cổ này một cách có phương pháp. Vì vậy, châu Âu thời Trung Cổ không có phương pháp nào tốt hơn phương thuốc “Mithridatum” của “Vua độc” Mithridates VI – nhưng phương thuốc này được nhà vua gìn giữ như con ngươi.

Không còn biện pháp khoa học nào để sử dụng, nông dân, thương nhân và vua chúa đã chuyển sang những giải pháp kỳ diệu hơn.

Sỏi Bezoar (Dị vật dạ dày) là khối rắn của thức ăn hoặc chất xơ không tiêu được tìm thấy trong dạ dày của động vật – chỉ là thứ mà con người (một cách sai lầm) nghĩ rằng, thả vào đồ uống để vô hiệu hóa tác dụng của bất kỳ chất độc nào. Sỏi Bezoar phổ biến ở Ba Tư và các khu vực khác của châu Á và cuối cùng được buôn bán sang châu Âu.

Những “phương pháp chữa trị” khác bao gồm bùa hộ mệnh; cốc “chống độc” được lót bằng khoáng chất để gây nôn. Trong các triều đình của triều đại Trung Quốc và các vương quốc Hàn Quốc, người ta sử dụng đũa bạc để kiểm tra chất độc trong thức ăn và đồ uống của họ.

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng - Ảnh 2.

Tác phẩm mô tả cái chết của Socrates. Người Athen (Hy Lạp) đã kết án tử hình nhà triết học nổi tiếng bằng cách cho ông uống một cốc độc cần. Nguồn: UNIVERSALIMAGESGROUP / GETTY IMAGES

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng - Ảnh 3.

Bức tranh “A Glass of Wine with Caesar Borgia”, 1893 của họa sĩ Anh John Collier. Nguồn: PRINT COLLECTOR / GETTY IMAGES

Nhưng đỉnh cao của tất cả các loại thuốc giải độc thời đó là chiếc sừng “kỳ lân” được đánh giá cao. Người ta mê tín nghĩ rằng những chiếc sừng dài của con thú thần thoại (thực ra là ngà của kỳ lân biển, sinh vật có thật) được cho là vừa có khả năng phát hiện chất độc vừa chống lại chất độc. Sừng kỳ lân cực kỳ được thèm muốn và có giá của một gia tài nhỏ, gấp 10 lần vàng. Những chiếc sừng quý giá này được tìm thấy trong các cung điện hoàng gia trên khắp châu Âu. Ở Đan Mạch, nhiều thế hệ thống trị thậm chí còn được đăng quang trên ngai làm bằng sừng thần thoại.

Khi châu Âu thoát khỏi Thời kỳ Tăm tối (Dark Ages), việc pha chế các loại độc dược ngày càng mạnh, thậm chí đã trở thành một nghệ thuật, và cũng giống như các loại hình nghệ thuật thời Phục Hưng khác, nghề thủ công này đã được làm chủ yếu ở Ý.

Nhiều thế kỷ sau khi phát minh ra asen trioxit (As2O3), các bác sĩ vẫn chưa biết cách điều trị – hoặc thậm chí phát hiện người bị nhiễm độc asen. 

Vào thế kỷ 19, các bác sĩ đã cố gắng xác định trong vô vọng xem nạn nhân có bị đầu độc asen hay không bằng cách ném những thứ trong dạ dày của họ vào lửa để xem chúng có mùi như tỏi hay không.

Cuối cùng, vào năm 1836, một nhà hóa học người Anh tên là James Marsh (1794-1846) đã đưa ra một phương pháp hóa học để phát hiện dấu vết nhỏ của asen trong mô người. Nó đã được đưa ra thử nghiệm trong phiên tòa xét xử vụ giết người một phụ nữ Pháp bị buộc tội cho chồng mình ăn bánh có asen. Cuối cùng, người phụ nữ này đã được chứng minh là có tội.

Nhiễm độc asen đã giảm đáng kể với sự phát triển của Thử nghiệm Marsh (lấy theo tên của nhà hóa học Anh James Marsh). Về sau, phương pháp này được các nhà khoa học cải tiến và sử dụng làm bằng chứng pháp y về nhiễm độc asen trong thế kỷ tới, mở ra kỷ nguyên độc chất học hiện đại.

VỤ ÁM SÁT CHẤN ĐỘNG THỜI THẾ CHIẾN I

Con người bắt đầu sử dụng chất độc trong chiến tranh từ hàng ngàn năm trước. 

Người bản địa Nam Mỹ đã sử dụng chất chiết xuất từ ​​thực vật và những con ếch có nọc độc để tạo ra phi tiêu độc. Người Scythia, bộ tộc du mục ở thảo nguyên Trung Á, nổi tiếng với những đầu mũi tên độc của họ, cũng như những người da đỏ đã sử dụng chúng để chống lại quân đội của Alexander Đại đế.

Người Trung Quốc cổ đại, Hy Lạp, La Mã, Ba Tư và Mông Cổ cũng sử dụng khí độc (thường là lưu huỳnh đốt cháy) để hun độc kẻ thù. 

Vào thế kỷ thứ 7, người Byzantine giới thiệu “Lửa Hy Lạp – Greek Fire”, một chất lỏng cháy đáng sợ thường được gọi là “bom napalm cổ đại”. Hóa chất có thể trôi nổi trên mặt nước và thiêu sống người trên tàu gỗ của họ. Chất độc cũng được thêm vào một vũ khí mới được phát minh ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 9: Thuốc súng.

Nhưng sự phát triển của ngành công nghiệp khiến các quốc gia có thể sản xuất và dự trữ vũ khí hóa học ở quy mô chưa từng có. 

168 tấn khí độc chết chóc

Sự nguy hiểm của khí chết người đã được hiểu một cách bẩm sinh rằng những vũ khí này đã bị cấm trước khi chúng được sử dụng. Nhưng chiếc hộp của Pandora đã được mở ra, và nó giải phóng một đám mây độc hại, chết chóc trên khắp Trái Đất.

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng - Ảnh 4.

Quân đội Pháp đeo mặt nạ phòng độc trong trận Ypres lần thứ hai, tháng 4/1915. Ảnh: HULTON ARCHIVE

Vào lúc hoàng hôn ngày 22/4/1915, quân đội Đức mở 168 tấn khí clo trên trận địa đầy bom ở Ypres, Bỉ. Một sĩ quan Canada sau đó mô tả nó như một “bức tường khí chết chóc” “lan từ từ trên mặt đất, biến những chiếc lá chớm nở của cây cối, những bông hoa mùa Xuân và cỏ cây trở thành một màu trắng bệnh tật”. Gió mang theo làn hơi xanh vàng về phía chiến hào của quân Đồng Minh, nơi quân đội đang đứng chờ bắn. Khoảnh khắc chết chóc ùa đến, quân đội Đồng Minh không kịp phản ứng, họ cảm thấy nóng rát ở mắt và cổ họng. Khí độc gây đau đớn dữ dội, mù mắt và cảm giác như bị bóp cổ. Hơn 5.000 quân đã thiệt mạng do ngạt thở.

Khung cảnh sau đó mà những người sống sót chứng kiến mới đáng sợ: Hàng nghìn người chết trong trạng thái đau đớn, họ xé toạc áo chỉ để muốn được cổ họng dễ thở hơn. Nét mặt đau khổ tựa hồ lá phổi bị hàng nghìn mũi kim đâm chọc. Họ chết đuối ngay trên cạn!

Khí độc khủng khiếp được phát triển bởi nhà hóa học người Đức gốc Do Thái Fritz Haber, một nhà khoa học được xem là “Cha đẻ của vũ khí hóa học”. Fritz Haber đoạt giải Nobel Hóa học năm 1918 vì đã khám phá ra cách tổng hợp amoniac từ nitơ trong không khí, cho phép sản xuất hàng loạt loại phân bón nitơ – đã cách mạng hóa nông nghiệp và giúp nuôi sống hàng tỷ người trên toàn cầu.

Nhưng trong Thế chiến thứ nhất (1914-1918), nhà hóa học này đã nhiệt tình áp dụng tài năng của mình vào thứ mà ông ta gọi là “hình thức giết người cao hơn”. 

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng - Ảnh 5.

Fritz Haber (trái) đã phát minh ra khí clo độc hại trong Thế chiến I. Công việc và phòng thí nghiệm của ông ta đã được Đức Quốc xã sử dụng trong Thế chiến II để tạo ra khí Zyklon B, gây ra cái chết của 1,1 triệu người, trong đó có nhiều người là người Do Thái. Ảnh: ANDREW LICHTENSTEIN / GETTY IMGAES

Fritz Haber đích thân giám sát việc triển khai giải phóng khí clo độc hại tại trận địa Ypres. Gần tối tháng 4, y đứng trước 6.000 chiếc xe tăng kim loại chứa đựng sự sáng tạo của y (khí ngạt). Khi cuộc pháo kích vừa chấm dứt, Fritz Haber hạ lệnh mở van. Gió hôm đó ủng hộ kế hoạch chết chóc của y. 168 tấn khí clo độc hại được thải ra thế giới.

Trong cuộc chạy đua vũ khí hóa học sau đó, ông ta đã dẫn đầu việc phát triển các loại hóa chất thậm chí còn gây chết người hơn khủng khiếp hơn: Khí mù tạt, một chất gây phồng rộp, đau đớn; và Phosgene (COCl2) – một hợp chất hóa học gây nghẹt thở, không chỉ ‘đốt’ cơ thể mà còn gây ra khủng bố tâm lý.

Vào cuối Thế chiến I, ước tính có khoảng 1,2 triệu người thương vong do vũ khí hóa học gây ra. Sau vụ tấn công bằng hơi ngạt tại Ypres, Fritz Haber được ca ngợi như một anh hùng ở Berlin (Đức). Một bữa tiệc được chuẩn bị thịnh soạn để đón tiếp y.

Trái ngược lại, có rất nhiều người ghê sợ khi chứng kiến chất độc đưa vào chiến tranh, trong đó có vợ của Fritz Haber – nhà hóa học nổi tiếng Clara Helene Immerwahr (1870 -1915), bà gọi đó là “dấu hiệu của sự man rợ, phá vỡ kỷ luật đáng lẽ phải mang lại những hiểu biết mới về cuộc sống”. Ngay trong đêm tiệc, Clara Helene Immerwahr tự bắn vào tim mình.

Khi Adolf Hitler lên nắm quyền ở Đức, Fritz Haber bị tấn công vì dòng máu gốc Do Thái của mình. Người này trốn khỏi Đức vào năm 1933 và chết vì đau tim khi sống lưu vong. Không lâu sau, phòng thí nghiệm và công trình nghiên cứu của Fritz Haber đã được Đức Quốc xã sử dụng để phát triển Zyklon B, loại khí độc dùng để giết hàng triệu người Do Thái và những thường dân vô tội khác trong phòng hơi ngạt tại các trại tập trung – bao gồm cả các thành viên trong đại gia đình của Fritz Haber.

Sở dĩ, vụ ám sát chất độc khí clo của Fritz Haber gây chấn động bởi, đây có thể xem là lần đầu tiên chất độc được sử dụng trên quy mô lớn trong chiến tranh hiện đại (khiến 5.000 người tử vong), hơn nữa, nhân vật đứng đằng sau sự kiện này (Fritz Haber) và gia đình của ông ta cũng nhận kết cục tương tự vì khí độc.

KẺ GIẾT NGƯỜI TRONG CHIẾN TRANH LẠNH

Chất độc thời này đóng vai trò như một liều thuốc tự sát.

Là một hợp chất hóa học có thể ở dạng khí hoặc bột tinh thể, xyanua là một trong những chất độc hoạt động nhanh và mạnh nhất đang tồn tại. Xyanua đã được biết đến từ thời cổ đại, một hợp chất hydro xyanua được chưng cất vào thế kỷ 18 đã nhanh chóng gây chú ý vì khả năng giết người hiệu quả. Theo thời gian, nó đã trở thành loại thuốc được lựa chọn để tự sát trong Thế chiến II (1939-1945) và Chiến tranh Lạnh (1946-1991).

Cách này đã được giới chóp bu Đức Quốc xã sử dụng vào cuối Thế chiến II. Adolf Hitler và vợ Eva Braun được cho là đã tự đầu độc mình bằng xyanua trong một boongke ở Berlin. Sau đó, Hermann Göring (kẻ được mệnh danh là “Red Baron – Nam tước Đỏ”) đã tự sát để tránh bị hành quyết sau khi hầu Tòa án Nuremberg bằng cách cắn một viên xyanua giấu trong miệng trong đêm trước khi lãnh án.

Cyanide cũng gần như trở thành đồng nghĩa với những viên thuốc tự tử nổi tiếng trong các bộ phim gián điệp. Trong phim, CIA và KGB đã cho các điệp viên uống thuốc L (L có nghĩa là “gây chết người”) giấu trong răng để tự tử trong trường hợp bị bắt và tra tấn – tránh tiết lộ bí mật quốc gia. Thực chất, thuốc độc được giấu trong các ngăn bí mật trong thân kính đeo mắt hoặc trong bút máy, khi nhai những vật này sẽ giải phóng chất độc.

Trong những năm gần đây, chất độc thần kinh, hợp chất cơ phospho (organophosphates) có độc tính cao như khí Sarin, đã trở thành chất độc được lựa chọn. 

Ban đầu được phát triển trong Thế chiến II, những thứ pha chế chết người này đã được sử dụng bởi những kẻ khủng bố, độc tài và độc tài trên khắp thế giới, dẫn đến những âm mưu chính trị nham hiểm khiến “Vua chất độc” Mithridates VI khoảng 2.000 năm trước (nếu sống lại) có thể rơi vào những đêm mất ngủ triền miên…

Bài viết sử dụng nguồn: Popularmechanics, Asmalldoseoftoxicology, Medium

Theo Pháp luật & Bạn đọc

‘Bom hàng’ trước thềm đại hội đảng?

Một cảnh sát làm nhiệm vụ bên cạnh áp phích kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 3/2/2020. Hình minh họa.
Một cảnh sát làm nhiệm vụ bên cạnh áp phích kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 3/2/2020. Hình minh họa.

Hoàng Hoành Sơn


Nhiều tờ báo tại Việt Nam cho biết, thời gian qua: Tuyên Quang dừng chi 2,5 tỉ đồng may trang phục cho đại biểu dự đại hội đảng (1); Quảng Bình dừng việc chi 2,2 tỉ đồng mua cặp da và tiết giảm tối đa các khoản chi không cần thiết tại đại hội đảng (2); Quảng Trị dừng mua ‘bình hút tài lộc’ làm quà tặng đại hội đảng (3); Hải Phòng cũng dừng chi 269 tỉ đồng mua ấm chén làm quà tặng (4); Hòa Bình tháo dỡ chữ, dừng thi công khẩu hiệu 11 từ hơn 10 tỷ đồng (5) v.v… Nói theo thuật ngữ dân buôn trên mạng, đây quả là tình trạng “bom” hàng khủng, vì giá trị đặt hàng đều tiền tỷ trở lên.

“Bom” hàng là tình trạng người mua đặt hàng online trên mạng rồi sau đó không nhận với hàng trăm lý do chính đáng. Điều đáng nói khi nhắc đến việc “bom” hàng do chính quyền địa phương ở các tỉnh thành Việt Nam hiện nay, chỉ có một lý do duy nhất: “nuốt không trôi phải nhả ra”.

Vì thế, muốn giải thích hiện trạng chính quyền địa phương “bom” hàng phải khởi đi từ tình trạng tham nhũng lan tràn trong hệ thống cơ chế nhà nước chỉ toàn đảng viên cộng sản. Bất cứ cán bộ cấp cao ở các bộ, ban, ngành nào cũng thế. Họ luôn nâng khống giá trị hàng hóa hòng thu lợi bất chính. Nếu không tham gia vào hệ thống đó, chỉ có nhảy lầu hoặc thoái đảng.

Đan cử trường hợp gần đây nhất: Bệnh viện Bạch Mai, lẽ ra là nơi thể hiện y đức, tình thương và đồng cảm với bệnh nhân, vậy mà các đảng viên lãnh đạo ở đây nâng khống thiết bị y tế có giá từ 7,4 tỷ đồng lên thành 39 tỷ đồng, nhằm thu lợi bất chính từ các bệnh nhân đang điều trị ở đây (6); vụ 7 đảng viên lãnh đạo Trung tâm kiểm soát bệnh tật, thuộc sở y tế Hà Nội, đã câu kết, gian lận, thông đồng, nâng khống giá trị gói thầu mua sắm Hệ thống Realtime PCR tự động – xét nghiệm Covid-19 gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho Nhà nước (7).

Nguyên ủy là xã hội cũng vừa tạm ổn trên mặt trận đại dịch Covid-19, các địa phương phải tranh thủ tiêu xài các nguồn ngân sách tồn dư để kịp cuối năm tài chính trình kết toán lên trung ương và đại hội đảng bộ là một dịp tốt để viết hóa đơn. Có địa phương mua quà bằng nguồn ngân sách chung, có địa phương mua bằng nguồn xã hội hóa như tỉnh Quảng Nam, chẳng hạn (8).

Nhưng dù có nguồn nào đi chăng nữa thì tựu trung các khoản tiền đó đều từ dân, nơi dân mà ra cả. Tuy nhiên, họp đảng là chuyện riêng của đảng cộng sản, 90 triệu dân có dính líu gì đến? Cho nên, các thành viên đảng phải có bổn phận tự đóng góp quỹ đảng mà sinh hoạt, nhóm họp và tặng quà chứ. Tại sao hội họp đảng cộng sản lại chi bằng ngân sách, bằng tiền thuế do dân đóng góp?

Tất cả thu chi từ tài nguyên, đất đai, trên rừng ngoài biển, cho thuê đặc khu, thuế khóa người dân đều do đảng cộng sản quản lý, tự ý thu chi. Tiếng là người dân làm chủ, nhưng trong thực tế, đảng cộng sản vừa là chủ vừa là quản lý; nó như một trò lừa, vì chẳng có gì mơ hồ, lập lờ chữ nghĩa hơn chuyện “toàn dân làm chủ”! Thực tế chỉ có đảng quản lý thôi, không có chủ. Vì thế, quản lý mà không có chủ thì chính anh quản lý ấy là chủ, chứ còn ai vô đây nữa?

Mọi công cụ sản xuất đảng quản lý tất tần tật, hiến pháp và luật do đảng đặt ra, mọi công cụ đàn áp người dân do đảng nắm, quân đội – công an đều do đảng điều khiển. Vậy ai là chủ nước Việt Nam hiện nay? Bằng chứng ai là chủ hiện rõ qua những vụ bắt bớ vô thiên vô pháp mới đây của nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam:

1. Phạm Đoan Trang mới bị công an bắt tại Sài Gòn, vì dám tham gia ra luật Quốc hội mới, luật bầu cử mới và gần đây nhất là ra một báo cáo song ngữ Anh – Việt (với Will Nguyễn) về sự việc công an tấn công giết người tại Đồng Tâm.

2. Tiến sĩ – võ sư Phạm Đình Quý bị công an Đắk Lắk bắt cũng tại Sài Gòn với lý do đấu tranh chống tiêu cực đạo văn của ông bí thư tỉnh này.

3. Nguyễn Anh Tuấn, một nhà tranh đấu thế hệ 9X, có lẽ cũng đã bị công an Đà Nẵng bí mật bắt giữ.

Cứ thế, danh sách người bị bắt vì bất đồng chính kiến hoặc vì đấu tranh cho nhân quyền, tự do, dân chủ mãi thêm dài trong thời gian qua. Kể cả cái chết của cụ Lê Đình Kình ở Đồng Tâm. Ông Bùi Viết Hiểu ngồi chung với cụ Kình cũng bị bắn trọng thương, may mà thoát chết, nay bị án tù 16 năm và hai án tử hình cho hai người con cụ Kình. Nó cho thấy ai mới thực sự có quyền sinh sát, bỏ tù không xét xử, công an bắt bớ không cần lệnh, chẳng cần biết có tội hay không. Nó là hệ quả của một xã hội không có nhân quyền. Đảng cộng sản vốn toàn trị và là ông chủ thực sự tại Việt Nam, và họ đã chứng tỏ mình là những ông chủ khắc nghiệt, tham lam, luôn đày đọa người dân không chút lòng thương xót.

Trở lại công cuộc “bom” hàng của chính quyền địa phương do đảng lãnh đạo

Ở Việt Nam không có đảng thứ hai, thứ ba. Chỉ có duy nhất một đảng cộng sản duy nhất múa gậy vườn hoang mà thôi. Vậy ở một quốc gia độc tài như Việt Nam sẽ có bao nhiêu các cấp chi bộ đảng từ xã lên huyện lên tỉnh để mà tiến lên đại hội đảng cộng sản toàn quốc? Nếu tính từ cấp xã, phường và thị trấn sẽ có 10.732 đơn vị hành chính. Cấp huyện, thành phố thuộc tỉnh sẽ có 659 đơn vị. Rồi cả nước hiện nay có 64 đơn vị hành chính cấp tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương (9). Cứ thế mà tính ra đại hội đảng ở các cấp chi bộ tại VN.

Chi phí cho những đại hội đảng thứ cấp này sẽ là bao nhiêu? Con số không thể dưới trăm tỷ mà phải trên mấy ngàn tỷ nếu cộng hết lại từ địa phương đến trung ương. Một tỉnh nghèo, thiếu ăn như Tuyên Quang còn dám chi 2,5 tỷ đồng may quần áo cho đại biểu thì tổng chi cho đại hội đảng sẽ là bao nhiêu? Huyện Hàm Yên thuộc tỉnh Tuyên Quang thông báo: Từ ngày 04, 05/5/2020, toàn huyện đã cấp 62.955 kg gạo cho 1.197 hộ nghèo với 4.197 nhân khẩu trong dịp cứu đói giáp hạt năm 2020 (10).

Như thế các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Cần Thơ chi phí cho đại hội đảng còn vượt trội gấp nhiều lần. Cứ tính sơ sơ Hải Phòng đã từng dự chi 269 tỷ mua quà tặng 60 vạn hộ dân dịp kỷ niệm thành lập, thì chi cho đại hội đảng năm nay quan trọng hơn (đối với đảng) sẽ rộng tay như thế nào? Hơn 5 triệu đảng viên cộng sản Việt Nam đã tiêu tốn cho kỳ đại hội năm 2020 này một con số không dưới 4 ngàn tỷ. Và 90 triệu dân Việt Nam phải è lưng gánh lấy chi phí sinh hoạt đảng cho hơn 5 triệu “ký sinh trùng” này (ở đây xin lấy lại nguyên văn câu nói của một phát thanh viên VTV1 về người dân bán hàng rong trên đường phố) (11).

5 triệu đảng viên họp với số tiền khủng đã gây lên một hiệu ứng không chỉ “bom” hàng mà còn “bom” tiền của người dân Việt Nam.

Việc “bom” hàng của chính quyền địa phương khiến nhiều doanh nghiệp “gia đình”, “tay trong”, là vợ con, anh em, cháu trai gái các quan nhớn đầu tỉnh ăn theo phải gánh những sản phẩm đã ký thỏa thuận. Tuy nhiên, với các nhóm lợi ích này thì mấy món hàng quèn vài tỷ đồng chưa bõ bèn gì, sẽ có những dự án khác bù lại. Chẳng qua chỉ là đứa nào không trúng thầu dại mồm kể lể khiến sự tình đổ bể ra công luận không như ý các đảng viên lãnh đạo.

Điều đáng nói là nguồn tiền đó không đến từ mồ hôi nước mắt của đảng viên, của nhà nước hay từ ban kinh tài của đảng cộng sản Việt Nam. Nguồn tiền đó đến từ thuế khóa do dân đóng góp; nó đến từ khai thác tài nguyên đất – rừng – biển ở Việt Nam. Xài tiền dân cho đại hội đảng rõ ràng là tình trạng “bom” tiền khiến đất nước ngày một lụn bại. Bởi vì bên cạnh việc hoang phí tiền của đất nước, những nhà lãnh đạo đảng viên do đảng cộng sản đề cử chỉ biết làm lỗ cho nhà nước, làm hại cho nhân dân chứ không hề có hiệu quả kinh tế gì đáng kể.

Xét về kinh tế vi mô, thì có những công trình “bom” tiền theo kiểu: sập trần bệnh viện ngàn tỷ ở Đắk lắk làm bệnh nhân hoảng hốt (12); sập tường trường học khiến học sinh tử vong ở Nam Lộc – Nghệ An (13); đường sắt Cát Linh – Hà Đông trên cao như một vết cứa xấu xa trên bộ mặt thủ đô Hà Nội; và rồi mấy trăm cột điện gãy đổ sau cơn bão số 5 vừa qua ở miền Trung. Hoặc căn nhà 4 tầng hầm của thiếu tướng Lê Công gây xôn xao dư luận cả nước (14).

Riêng về kinh tế vĩ mô, cứ xem phát ngôn của bộ trưởng bộ công thương Trần Tuấn Anh trên báo chí, sẽ biết hiệu quả từ các công ty quốc doanh: “12 dự án thua lỗ nghìn tỷ là bài học kinh nghiệm sâu sắc” (15). Tôi chưa biết kinh nghiệm vị bộ trưởng này nói là kinh nghiệm quản trị những công ty quốc doanh hay kinh nghiệm bòn rút, tham ô của công thành của riêng, của nhân dân thành của đảng viên? Dầu khí khoan từ tự nhiên lên bán cũng lỗ; khai thác mỏ vàng vẫn lỗ, điển hình mỏ vàng Bồng Miêu phải đóng cửa và chi phí cho dự án đóng cửa này lên đến hơn 19 ngàn tỷ đồng; ngành điện bán độc quyền đủ bậc giá vẫn báo cáo lỗ và bắt dân phải bù lỗ (16).

Chỉ có ngành vé số, với lực lượng đông đảo người bán vé số dạo ở các thành phố lớn, nhất là miền Nam, có doanh thu gần bằng ngành dầu khí: Dự toán thu ngân sách từ dầu thô năm 2020 là 34.000 tỉ đồng. Tổng thu từ hoạt động xổ số năm 2019 ước tính là 29.000 tỉ đồng, và dự toán được Quốc hội phê duyệt năm nay là 31.700 tỉ đồng (17).

Dài dòng văn tự về công cuộc gian nan kiếm tiền của cả quốc gia để cho thấy rằng vẫn còn biết bao lãng phí vô cớ và vô ích khi đảng xài tiền của nhân dân. Lẽ ra những nguồn tiền thất thoát từ các tập đoàn quốc doanh, từ những đại hội đảng từ địa phương đến trung ương này được đầu thành những đoàn tàu cao tốc xuyên bắc nam như các nước khác; hoặc được đầu tư hiện đại hóa các bệnh viện, trường học hoặc giúp xây dựng xã hội nhân quyền dân chủ, công bằng. Ở Việt Nam, đảng cộng sản đặt quyền lợi của đảng và đảng viên lên trên quyền lợi người dân.

Dĩ nhiên, còn nhiều chi phí sinh hoạt khác mà đảng cộng sản Việt Nam không bao giờ công khai cho người dân biết. Hẳn chúng ta còn nhớ giá cho một ghế đại biểu quốc hội là 1.5 triệu đô la, theo lời cựu đại biểu quốc hội Châu Thị Thu Nga khai trước tòa cách đây ít năm (18). Những chi phí bí mật chạy chức chạy ghế vốn không lạ lẫm gì với người dân cả nước. Đảng cộng sản vốn đề cao văn hóa “phong bì” từ vài triệu đến vài chục triệu đô la cho những chiếc ghế chức quyền đẻ ra vàng cho ai ngồi trên đó. Hàng loạt các quan chức cấp cao, tướng tá, bộ trưởng bị bắt vào tù vì tham nhũng là minh chứng cho những kẻ buôn vua, mua quan bán tước chỉ nhắm mục tiêu “bom” tiền từ người dân, từ những nguồn thu khổng lồ của một quốc gia vốn chỉ chạy vào túi do đảng cộng sản kiểm soát.

Vậy những dịp đại hội đảng như thế này chỉ khiến tài lực trong nước hao tổn; đại hội chỉ giúp những kẻ cơ hội chạy chức quyền và đưa con cháu vào những chiếc ghế có lợi cho nhóm hoặc cá nhân nào đấy. Dân chỉ trơ mắt nhìn và chả hiểu chuyện gì đang xảy ra. Đại hội, các đảng viên có dịp chi thoải mái quà tặng, biếu xén công khai cũng như hối lộ bí mật. Và tất cả chi phí đều do dân gánh chịu.

Ngày xưa, vua và các quan lại thời quân chủ cũng sống theo kiểu như vậy. Tướng Trần Khánh Dư, thời Trần, từng tuyên bố: “quan là chim ưng, dân lính là vịt. Lấy vịt mà nuôi chim ưng có gì là lạ?” (19) Thời nay cũng y như thế, có đảng viên thản nhiên tuyên bố: người ta nói “Thu thuế cũng như “vặt lông vịt”, vặt làm sao càng nhiều lông càng tốt, nhưng đừng để nó kêu toáng lên” (20).

Thế là việc “bom” hàng, “bom”tiền, “bom” chức quyền, “bom” người dân vẫn còn tiếp diễn tại Việt Nam.

Hoàng hoành Sơn / VOA

LS Trần Quốc Thuận: Vài điều muốn nói trước Đại hội đảng

Các lãnh đạo Việt Nam họp Quốc hội ngày 20/5
Chụp lại hình ảnh,Các lãnh đạo Việt Nam họp Quốc hội ngày 20/5

Luật sư Trần Quốc Thuận bình luận về công tác nhân sự, cùng một số diễn biến thời sự tiền Đại hội 13 của đảng Cộng sản Việt Nam.

Công tác điều động, bổ nhiệm nhân sự của đảng tiền Đại hội 13 còn có điểm chưa rõ ràng, công cuộc ‘đốt lò’ chống tham nhũng vẫn có khía cạnh chưa rốt ráo, vẫn còn dấu hiệu về tính địa phương trong nhân sự và tham mưu kỷ luật, trong khi cũng cần lưu ý với quốc tế và nhân dân về vấn đề tôn trọng dân chủ và nhân quyền. Đó là một số điểm mà một nguyên lãnh đạo Văn phòng Quốc hội Việt Nam bình luận với BBC tuần này về đảng Cộng sản Việt Nam.

Hôm 12/10/2020 từ Sài Gòn, Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm thường trực Văn phòng Quốc hội Việt Nam, trước hết bình luận với BBC News Tiếng Việt về điều mà ông gọi là tính “rõ ràng, minh bạch”.

“Kỳ Đại hội lần này, có thể thấy việc điều bố nhân sự chủ chốt ở các tỉnh, thành phố rất là nhiều, chẳng hạn vừa qua là điều người là cán bộ Đoàn về dự kiến ứng cử làm Bí thư của tỉnh Đồng Tháp, rồi tỉnh này, tỉnh kia ở các nơi khác cũng có nhiều điều bố.

“Ví dụ Chủ tịch Hội Phụ nữ được điều bố về tỉnh Ninh Bình làm Bí thư tỉnh ủy, còn nhiều trường hợp khác đã công bố bổ nhậm hay giới thiệu tham gia đảng bộ ở các tỉnh, thành ngay trước đại hội. Đó là một chiều từ Trung ương xuống địa phương mà dư luận cũng đã thấy.

“Còn một chuyện khác cũng đáng chú ý, tức là theo chiều ngược lại, đó là ông Nguyễn Thanh Nghị, Bí thư tỉnh Kiên Giang, con trai của cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, được điều trở lại trung ương. Về Bộ Xây dựng, cái này quyết định nhân sự của trung ương đảng cho biết đến đâu, thì người dân và địa phương biết đến đấy. Trước đây, ông Nghị đã từng làm việc ở Bộ này rồi, ông có học vị Tiến sĩ và có chuyên môn Kiến trúc sư, nay người ta điều ông trở lại chỗ cũ và có tin nói ông sẽ được bố trí hay là ứng cử vào ghế Bộ trưởng Bộ Xây dựng,thông tin là như vậy, chưa thấy thông tin chính thức hơn, chưa thấy ai phát biểu cụ thể.

“Còn nếu phát biểu chính thống như điều ông Nguyễn Văn Nên, tiếng gọi là giới thiệu tham gia đảng bộ thành phố nhiệm kỳ tới, để làm Bí thư, rồi cũng như thông báo ông này, bà kia về tỉnh này, thành kia làm Bí thư, thì nếu ông Nghị mà về lại Bộ Xây dựng làm Thứ trưởng để rồi làm Bộ trưởng thì cần phải công khai tuyên bố.

“Như thế rõ ràng, minh bạch, theo tôi mới đúng, còn nếu chỉ đưa ra như thế thì công luận có thể hiểu mặt này, mặt kia, thế này, thế kia và trên thực tế có người đặt vấn đề đó là thăng, hay giảm hay thế nào khi chưa có phát biểu chính thức nào về việc ông ấy sẽ về Bộ Xây dựng làm Bộ trưởng.

“Cũng có nhiều trường hợp khác được điều từ địa phương về Trung ương và đó cũng là một hướng khác mà công tác quy hoạch, điều động, bổ nhiệm của đảng làm và tiến hành ngay trước Đại hội”.

Có “cả vú lấp miệng em” không?

Về chiến dịch chống tham nhũng mà đảng Cộng sản Việt Nam và người lãnh đạo là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ xướng thời gian qua, luật sư Trần Quốc Thuận bình luận:

“Đài báo Việt Nam tuyên truyền, phổ biến chính thống rằng nếu ai nói rằng đây chỉ là xử lý bè phái, đấu đá nội bộ này kia, thiếu khách quan, cân bằng, thì đó là những ý kiến của phản động, phá rối cả.

“Nhưng tôi cho rằng đó có thể là một lối, một kiểu vu cáo ‘cả vú lấp miệng em’, cho nên cái đó cũng không hay gì. Rõ ràng nếu đặt lên xem xét lại toàn bộ các vụ xử lý, xét xử, thì thấy là có những vấn đề này, vấn đề kia chứ không phải là không.

“Có thể thấy rằng các vụ xử lý, kỷ luật, xét xử đã có một dàn tham mưu và những người tham mưu, đề xuất rất quan trọng.

“Bộ phận đề xuất chiến dịch và xử lý có thể có vùng miền, có những vấn đề quan hệ, rồi kể cả quen biết này kia, do đó cũng có thể có những ảnh hưởng tới các đề xuất, tham mưu.

Hình chụp tư liệu
Chụp lại hình ảnh,Hình chụp tư liệu

“Và đó là một chuyện cũng dễ xảy ra ở một đất nước mà chưa được công khai, minh bạch thông tin, chưa được tự do báo chí và do đó thì có thể hiểu vì sao mà dư luận, các giới đặt vấn đề và bàn luận.

“Rồi cũng có ý kiến công luận đặt ra về mức độ, cách thức xử lý, mà tôi lấy ví dụ như trường hợp ở TP Hồ Chí Minh là với ông Tất Thành Cang. Vụ này, dư luận và đặc biệt ý kiến trên mạng xã hội rất nhiều.

“Và kể cả trong cán bộ, những người nghỉ hưu như chúng tôi gặp nhau, cũng nói nhiều. Có thể thấy ở đây có sự không bình thường, khi cách chức, thì cách chức Ủy viên Trung ương đảng, cách chức Phó Bí thư thường trực, nhưng mà còn cái Thành ủy viên thì không cách chức.

“Rồi khi cách chức như thế, lại bố trí ông này làm việc phụ trách soạn lịch sử của Đảng bộ thành phố, điều đó làm cho người ta cảm thấy trái tai, buồn cười, nửa vời, rất không dứt khoát, rõ ràng.

“Bây giờ vẫn còn đó vụ Thủ Thiêm, vụ này cũng có những cán bộ cấp cao của thành phố, nguyên cựu, đương kim, có thể có những dính líu rất dữ, nhưng vẫn thấy chưa xử lý hay xét xử. Tôi cho rằng ở đây có những phức tạp dây mơ, rễ má thế này, thế kia.

“Tôi không nhìn thấy, nhưng có nghe thấy ý kiến trong công luận nói rằng khi mà ông Tất Thành Cang sửa bản đồ quy hoạch của Thủ Thiêm, kể cả ông Nguyễn Văn Đua nữa, thì tất cả những người đó mà tôi nói ở trên đã đồng ý và có nhiều chữ ký còn lưu trên đó.

“Như vậy, nếu xác định có sai trái nghiêm trọng và nếu khui ra hết những chữ ký đó là ai, thì sẽ có nhiều nhân vật.

“Cho nên ở đây về cách làm rất không rõ ràng, dứt điểm, thành ra công luận, cán bộ, nhân dân người ta xầm xì là có lý do, mặt khác người ta không hài lòng về việc ai phải chịu trách nhiệm về việc để dẫn tới quá nhiều cán bộ quan trong, lãnh đạo ở thành phố này bị mắc lỗi, bị kỷ luật đến thế.”

Còn “phe nhóm địa phương” không?

Theo Luật sư Trần Quốc Thuận, công luận và các giới quan tâm cũng đặt vấn đề về một khía cạnh khác trong dịp đảng CSVN đang chuẩn bị đại hội 13 kỳ này, đó là vấn đề mà ông nhấn mạnh là còn có chuyện ‘phe nhóm địa phương’ chủ nghĩa hay không trong các cơ quan, bộ máy quyền lực quan trọng của đảng.

“Bây giờ, nếu nhìn vào xử lý nhân sự của đảng, như tôi nói để mà trình lên và kết luận là có tội, có sai phạm, có khuyết điểm này kia hay không, rõ ràng ở đây có sự hoặc là vô tình hay cố ý mà toàn thấy là nhân sự của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.

“Cụ thể như là ông Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, người mà gần đây bấy nay vẫn đề xuất kỷ luật, thì ông đó là người Hà Tĩnh.

“Rồi người ta cũng thấy là Trưởng Ban Nội Chính là người Nghệ An, rồi ông Tổng Kiểm toán Nhà nước thì cũng là người Nghệ An, chưa kể các nhân sự gốc từ hai địa phương này ở nhiều cơ quan, ủy ban, bộ ngành Trung ương, kể cả ở một số tỉnh, thành quan trọng.

“Trở lại vấn đề xử lý kỷ luật cán bộ mà hết sức quan trọng trước thềm Đại hội 13 này, những cơ quan trực tiếp tham mưu, kết luận, đề xuất lên trên, cơ quan đó gồm những ai, ai có vị trí quan trọng nắm ở đó, thì cái đó chi phối dữ lắm.

“Nhiều khi người trình trình, tham mưu thế nào, thì kết quả cuối cùng được duyệt hay thi hành cũng chịu ảnh hưởng mạnh lắm.

“Mới đây có thông tin là ông Hồ Đức Phớc, bây giờ đang là Tổng Kiểm toán Nhà nước, bây giờ có thể về làm Chủ tịch TP HCM, nếu tin này mà có cơ sở và thành sự thực, thì ông ấy là người Nghệ An.

“Cho nên những người trình phương án, đưa ra đề xuất để kết tội, kỷ luật, xử lý cán bộ, nhân sự này kia thì thấy rằng các vị trí chủ chốt hầu hết toàn là người Nghệ An, Hà Tĩnh, đây là một thực tế công luận thấy và dựa vào đó người ta nói ra, cái đó đảng có cần xem xét không và làm có kịp không?”.

Và tự do hóa và nhân quyền thì sao?

Bình luận một diễn biến liên quan việc nhà cầm quyền và an ninh Việt Nam mới đây bắt giữ bà Phạm Đoan Trang, một nhà hoạt động xã hội dân sự và nhân quyền ở Việt Nam, Luật sư Trần Quốc Thuận nói:

“Vừa rồi có nhiều người dân nói và mong muốn là có tự do ứng cử, tự do đề cử ngay trong nội bộ đảng, nhưng cái đó cũng chưa thực hiện được, đúng hơn là không được thực hiện, huống gì ra ngoài xã hội, ra tới người dân.

“Ra ngoài xã hội, ra ngoài dân, như trường hợp cô Phạm Đoan Trang và nhiều người khác phát biểu, thì người ta xử lý ngay. Thành ra đó là cái mà nhiều người nói là ở Việt Nam thì còn lâu và còn mơ.

“Bây giờ cái mơ gần hơn là làm sao trong đảng có những cuộc bầu cử, ứng cử tự do, có cuộc tranh luận, tranh cử công khai, thực chất, thì cái đó sẽ là từng bước cụ thể, nếu làm được thì tốt.

Phạm Đoan Trang
Chụp lại hình ảnh,Phạm Đoan Trang

“Nhân đây, tôi muốn nói về vụ việc cô Phạm Đoan Trang bị bắt, tôi thấy thông điệp ở đây là ở Việt Nam thì không được nói ngược lại những chủ trương của đảng và nhà nước, ở Việt Nam thì mọi người phải nghe theo.

“Nếu mà làm ngược lại, làm khác ở ngay trong đảng thôi, thì người ta đã xếp vào gọi là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cho nên đảng viên cũng như người dân phải làm đúng theo những gì đảng và nhà nước này yêu cầu, quy định, không được làm khác, không được nói khác.

“Nhưng thời đại này là thời đại nào và vụ việc này, như vụ bắt cô Đoan Trang như thế, lại trong lúc chuẩn bị Đại hội đảng, thì đảng và nhà nước cũng cần phải nghĩ tới việc quốc tế họ sẽ nghĩ thế nào.

“Và tôi nghĩ nếu muốn biết quốc tế họ thực sự nghĩ gì thì cứ hỏi thẳng họ, có thể họ sẽ cho biết ngay điều gì mà họ đang nghĩ trong bụng họ.

@ BBC