Nét đẹp phụ nữ Việt dọc miền đất nước

Theo chân nhiếp ảnh gia Cao Kỳ Nhân săn tìm những hình ảnh khắc họa vẻ đẹp bình dị, chịu khó của người phụ nữ Việt Nam.

Nhân dịp ngày phụ nữ Việt Nam 20/10, nhiếp ảnh gia Cao Kỳ Nhân (TP HCM) chia sẻ bộ ảnh “Sắc màu nhịp sống phụ nữ Việt Nam” được anh ghi lại trong các chuyến sáng tác ảnh trên khắp vùng miền.

Trên hình là khoảnh khắc những phụ nữ Mông đang sàng lọc hạt ngô và địu bé trên lưng ngủ ngon lành ở Mù Cang Chải, Yên Bái. Ngô là cây lương thực quan trọng trong đời sống và phát triển kinh tế của đồng bào Mông. Cứ sau mỗi mùa thu hoạch, ngô được phơi trên hiên nhà, chờ thật khô mới đem đi tách hạt, chế biến các món ăn khác nhau.

Trong một chuyến đi Mù Cang Chải, tác giả bắt gặp hình ảnh cụ bà nở nụ cười với phông nền hoa tam giác mạch đang khoe sắc. Mù Cang Chải không chỉ nổi tiếng với ruộng bậc thang vào mùa lúa chín tháng 9 – 10, còn có các vườn hoa tam giác mạch nở rộ trên các sườn đồi. Hoa này đẹp nhất khi gần tàn, chuyển từ màu trắng sang phớt hồng.

Cảnh một thợ cắt tóc là phụ nữ đứng tuổi vui vẻ hành nghề trên vỉa hè Hà Nội.

Cô gái check-in tại bến thuyền Tam Cốc, nơi du khách được đưa đi tham quan khu Tam Cốc – Bích Động và ngắm cảnh hai bên dòng Ngô Đồng ở Ninh Bình.

Thiếu nữ Huế trong tà áo dài trắng với bối cảnh nhà xưa. Ngoài sông Hương, cầu Trường Tiền, nhắc đến Huế du khách còn ấn tượng bởi những cô gái diện áo dài mộng mơ khi chụp ảnh ngoại cảnh hay đi dự các sự kiện, dịp lễ quan trọng.

Qua góc chụp từ trên cao, hai mẹ con tranh thủ nghỉ ngơi trên cánh đồng cỏ năng xanh mướt ở Quảng Nam mang đến bức tranh vùng quê thật yên bình.

Những phụ nữ dân tộc giã gạo ở trong nắng sớm là hình ảnh đặc trưng du khách có thể bắt gặp khi du lịch ở các buôn làng Kon Tum.

Ngoài thắng cảnh thành phố biển Quy Nhơn nổi tiếng, du khách có thể về vùng quê trải nghiệm, chụp ảnh làng nghề làm bún, bánh An Thái ở Hoài Nhơn, Bình Định.

Để làm một mẻ bún phải qua nhiều công đoạn. Tuy nhiên, các công đoạn này không quá cầu kỳ, mỗi cơ sở, mỗi hộ đều có cách làm riêng. Thông thường, bún hoặc bánh sẽ khô sau 4 – 5 tiếng nếu nắng đẹp. Gần dịp Tết Nguyên Đán, không khí làm việc của họ trở nên nhộn nhịp hơn, kịp thời đáp ứng nhu cầu thị trường.

Nu cười tươi của cô gái trong lúc thu hoạch cỏ làm thức ăn cho gia súc tại Phan Thiết, Bình Thuận.

“Cùng với đam mê nhiếp ảnh, tôi thường dành thời gian du lịch, đặc biệt là chụp nhịp sống miền quê từ Bắc vào Nam. Các khoảnh khắc nhịp sống lao động của người phụ nữ đang diễn ra hàng ngày tuy quen thuộc nhưng chân thực, gần gũi và đọng lại cảm xúc mỗi khi tôi tác nghiệp”, anh Nhân nói.

Cảnh phụ nữ thu hoạch và rửa bông súng tựa như bức họa thiên nhiên trên đồng lũ ở Long An. Bông súng được trồng hầu hết ở sông nước miền Tây. Súng trồng trong ao nhà thường có cọng mập. Còn súng dại (hay súng ma), chỉ mọc ở những bưng đồng, đầm nước lâu năm, thường có cọng dài 2 – 5 m và có bông màu tím, trắng.

Cảnh người phụ nữ hái bông súng là hình ảnh đời thường trên đồng lũ. Nhưng qua góc ảnh nghệ thuật từ trên cao, hình ảnh này trở nên sống động và từng đem lại nhiều giải thưởng cho các nhiếp ảnh gia Việt Nam.

Một phụ nữ phơi gạch ở làng gạch Mang Thít, Vĩnh Long. Làng gạch này có tuổi đời trên 100 năm, là nơi sản xuất gạch, gốm đỏ nổi tiếng, lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nơi đây còn khoảng 1.300 lò gạch, trải dài trên diện tích 3.000 ha, trong đó tập trung nhiều nhất ở ven con rạch Thầy Cai đến đoạn giáp sông Cổ Chiên – một nhánh sông Cửu Long.

Huỳnh Phương / VNExpress

Chuyện một nhà ba ông Trạng Toán, Trạng Chằm, Trạng Ăn

Gia đình này có liên tiếp ba ông “Trạng”, nhưng chính thức đậu trạng nguyên chỉ có ông sau cùng, mà lại là rể. Hai ông đời trước tuy đỗ hoàng giáp, tiến sĩ, nhưng nhờ tài năng và công lao to lớn mà được người dân yêu mến và phong làm “Trạng”.

Trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, có những dòng họ nổi tiếng bởi nhiều người đậu tiến sĩ, trong đó phải kể đến dòng họ Vũ ở Mộ Trạch, Hải Dương với nhiều người trong họ cùng đỗ đạt và làm quan trong Triều. Cuốn “Đăng khoa lục sưu giảng” mô tả rằng:

Họ Vũ làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương. Khoa giáp rất thịnh, thường mỗi khoa hai ba người đỗ cùng khóa, anh em chú cháu làm quan đầy triều. Thời bấy giờ các quan triều nói đùa rằng: Các ông họ Vũ bàn việc họ, việc làng tại triều đình à?

Gia đình ba ông Trạng trong câu chuyện này cũng có hai người thuộc dòng họ Vũ.

Trạng Toán Vũ Hữu

Vào thời vua Lê Nhân Tông có gia đình ông Vũ Bá Khiêm thuộc họ Vũ làng Mộ Trạch sinh hạ được một cậu bé kháu khỉnh đặt tên là Vũ Hữu. Ngay từ thuở nhỏ Vũ Hữu đã nổi tiếng bởi tài năng thiên bẩm về tính toán, trong làng ai có tranh chấp phân chia ruộng đất đều nhờ cậu bé tính toán giúp. Tiếng đồn lan khắp cả vùng Đường An, Trấn Hải Dương.

Năm 1460, vua Lê Thánh Tông lên ngôi, nhà Vua khuyến học và chiêu hiền đãi sĩ. Khoa thi năm 1462, sĩ tử các nơi nô nức đăng ký dự thi. Lúc đó cả nước nổi lên hai thiên tài nức tiếng nhất là Quách Đình Bảo và Lương Thế Vinh. Vũ Hữu cũng được biết đến là thần đồng vào lúc đó, nhưng chỉ ở tài năng tính toán.

Đến kỳ thì Đình năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ Trạng nguyên, Quách Đình Bảo đỗ Thám hoa, còn Vũ Hữu đỗ Hoàng Giáp và được giao giữ chức Lang trung ở Khâm hình viện.

Sách “Công dư tiệp ký” ghi lại câu chuyện Vũ Hữu sửa chữa thành Thăng Long. Năm ấy 3 cửa thành là Đoan Môn, Đại Hưng và Đông Hoa được xây từ thời nhà Lý lâu ngày nên bị đổ. Vua Lê Thánh Tông sai sửa lại, nhưng các quan bộ Công lúng túng không tính ra được khối lượng vật liệu và dự toán kinh phí.

Nghe tin Khâm hình viên lang trung Vũ Hữu có biệt tài đo đạc, tính toán, là thiên tài từ nhỏ, Vua liền triệu ông đến giao nhiệm vụ. Vũ Hữu quan sát các cửa thành, tính toán rồi tâu với Vua rằng: “Thần đã xem kỹ cửa Đông Hoa, thấy hỏng nhiều hơn cả. Cửa đó lại lớn nhất, xây dựng khó hơn, xin bệ hạ cho sửa cửa này trước”.

Vũ Hữu
Vũ Hữu đo đạc xây cửa thành Thăng Long. (Ảnh: WikiToan.com)

Vua đồng ý và nhấn mạnh rằng không được kéo dài như những đại thần trước. Tối hôm đó Vũ Hữu thắp đèn suốt đêm đo đạc.

Sáng hôm sau ông vào Triều tâu với Vua cùng bá quan số vật liệu cần thiết để sửa lại các cửa thành. Các quan trước đó tính không ra số vật liệu cần xây dựng bẽ mặt liền tâu với Vua rằng: “Xin bệ hạ chớ vội tin lời của quan Lang trung kẻo hỏng việc hệ trọng”.

Một số quan khác tâu rằng cứ để quan Lang Trung làm, nhưng nếu số vật liệu xây dựng bị sai lệch dù một viên gạch cũng phải chịu tội. Vua Lê Thánh Tông nhìn Vũ Hữu hỏi: “Nhà ngươi thấy ý kiến đình thần đề xuất thế nào?”

Giữ thái độ thản nhiên, Vũ Hữu đáp: “Tâu bệ hạ, thần xin lĩnh ý.”

Đúng ngày khởi công, các quan kéo đến cổng thành Đông Hoa, lo sợ Vũ Hữu giành mất công trạng, các quan liền tìm cách giấu đi một viên gạch, để nhân đó vin vào bộ luật Hồng Đức khép Vũ Hữu vào tội lừa dối Vua. Nhưng Vũ Hữu biết chuyện tâu lại với Vua, cuối cùng vụ việc được sáng tỏ.

Cổng thành được xây xong vừa khớp số vật liệu tính toán khiến nhà Vua rất hài lòng, tuy nhiên các viên quan đại thần hôm trước tức tối la lên: “Quan Lang trung, ngài tính toán rất tài, thế mà vẫn còn thừa một viên”.

“Xin các ngài hãy thư thả, viên gạch đó tôi đã tính toán trước, dùng để thay thế viên gạch bị vỡ ở tường thành phía Tây cửa Đông Hoa”, Vũ Hữu nói.

Rồi Vũ Hữu cùng Vua và các quan đại thần sang bên kia tường thành, sai thợ trèo lên gỡ viên gạch vỡ ra và đem trám viên gạch mới vào thì vừa khít.

Nhà Vua rất đẹp lòng, khen Vũ Hữu đúng là bậc thần toán, rồi sai tặng ông 100 mẫu ruộng tốt.

Lương thế Vinh được gọi là “Trạng Lường” bởi giỏi đo lường, người dân gọi Vũ Hữu là “Trạng Toán” bởi ông rất giỏi tính toán, viết sách và giúp đỡ được rất nhiều cho dân chúng. Nếu như Trạng Lường Lương Thế Vinh để lại đời sau cuốn “Đại thành toán pháp”, thì Trạng Toán Vũ Hữu để lại đời sau cuốn “Lập thành toán pháp”. Cả hai cuốn sách này trở thành sách giáo khoa về toán học trong suốt nhiều thế kỷ.

Vũ Hữu
Bảng cửu chương trong cuốn sách “Lập thành Toán pháp”. (Ảnh từ báo Đà Nẵng)

Vũ Hữu làm quan lập kỷ lục khi làm Thượng thư đến 6 bộ khác nhau, ông làm quan trải qua 7 đời vua, đến năm 70 tuổi mới nghỉ hưu.

Trạng Chằm

Năm 1453, Trạng toán Vũ Hữu sinh hạ được cậu con trai, đặt tên là Vũ Quỳnh. Nối tiếp truyền thống họ Vũ làng Mộ Trạch, Vũ Quỳnh học giỏi từ thuở nhỏ.

Năm 1478, Vũ Quỳnh thi đỗ tiến sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông. Trong cuộc đời của mình ông làm quan giữ chức Thượng thư (đứng đầu một bộ) nhiều bộ như Công, Binh, Lễ lại kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám và Tổng tài Sử quán.

Thời vua Lê Thánh Tông rất chú trọng đến giáo dục, tìm ra người hiền tài. Vì thế, được trao trọng trách Tư nghiệp Quốc tử giám không phải dễ. Vũ Quỳnh đóng góp lớn cho lĩnh vực giáo dục, tìm người hiền tài cho Giang Sơn Xã Tắc.

Vũ Quỳnh
Nơi thờ quan Vũ Quỳnh ở nhà thờ Quang Trạch, làng Mộ Trạch. (Anh: hovuvo.com)

Vũ Quỳnh là một trong bốn nhà viết sử lớn nhất cùng với Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên. Công trình sử học lớn nhất mà ông cống hiến trong vai trò Tổng tài Sử quán là bộ “Đại Việt thông giám thông khảo” được biên soạn năm 1511 dưới thời vua Lê Tương Dực. Nội dung chép từ thời Hồng Bàng đến năm đầu Lê Thái Tổ, gồm 26 quyển.

Dựa trên bộ “Đại Việt thông giám thông khảo” này, năm 1514 vua Lê Tương Dực sai Lê Tung soạn bộ sử “Đại Việt thông giám tổng luận”.

Vũ Quỳnh cũng tham gia biên soạn bộ sử lớn và nổi tiếng nhất là “Đại Việt Sử ký Toàn thư”, đóng góp rất nhiều cho nền sử học nước nhà.

Dù làm quan lớn trong Triều, Vũ Quỳnh sống rất giản dị, ông thích nhàn du, tiêu khiển với thiên nhiên cảnh vật; có cơ hội là làm làm thơ, viết văn. Ông tập hợp các bài của mình thành “Tố cầm tập văn”, tiếc rằng cuốn sách này đến nay đã thất lạc.

Cảm phục trước tài năng và đức độ của Vũ Quỳnh, người dân quê ông ở làng Mộ Trạch đã gọi ông là “Trạng Chằm”, “Chằm” là tên gọi tiếng Nôm của làng Mộ Trạch.

Trạng Ăn

Trong thời gian làm Tư nghiệp Quốc tử giám, Vũ Quỳnh phát hiện có một học trò cùng làng với mình tên là Lê Nại, dù thông minh nhưng lại rất nghèo, nên khó có thể theo đuổi việc học. Lê Nại là người làng Mộ Trạch, thuở nhỏ đã nức tiếng khắp vùng Hải Dương và được xem là thần đồng bởi học đâu nhớ đấy.

Chuyện một nhà ba ông "Trạng Toán", "Trạng Chằm", "Trạng Ăn"
Cổng làng Mộ Trạch.

Thấy tài học của Lê Nại, quan Tư nghiệp Vũ Quỳnh tìm cách giúp đỡ cho học trò nghèo. Sau đó nhận thấy Lê Nại không chỉ thông minh mà tính tình hiền lành chất phác, Vũ Quỳnh liền gả luôn cô con gái yêu, với mong muốn sau này con rể ông sẽ thành người hữu dụng.

Lê Nại sau khi lấy vợ thì ở rể, nhưng quan Thượng thư Vũ Quỳnh thấy con rể mình tối ngày không để ý đến việc đèn sách thì lấy làm lạ lắm, bèn đến gặp ông thông gia để hỏi. Thân phụ Lê Nại hỏi rằng: “Thưa ngài vậy từ khi cháu sang ở bên quý phủ thì sự ẩm thực thể nào?”

Vũ Quỳnh đáp rằng: “Theo lối thanh đạm của nhà nho thì mỗi bữa ăn cũng chẳng mấy! Nên hàng ngày nấu theo lệ thường.”

Ông thông gia giải thích rằng: “Sức ăn của cháu khác với người thường, cho ăn ít ỏi như vậy hoặc giả cháu không vừa lòng đó chăng? “

Thượng thư Vũ Quỳnh về nhà bảo người nhà tăng bữa ăn gấp đôi thì thấy Lê Nại cầm sách đọc vài lượt, tăng bữa ăn gấp ba thì thấy Lê Nại học đến trống tư.

Vũ Quỳnh thấy con rể mình ăn khỏe quá, liền quyết định nấu nồi năm cho cho con rể thì thấy Lê Nại học suốt đêm.

Với sức học như vậy, 3 năm sau Lê Nại thi Hội đỗ đầu tức Hội nguyên, đến thi Đình cũng đỗ đầu tức Trạng nguyên. Đặc biệt trong các kỳ thi, Lê Nại phải qua năm trường và đều đỗ thủ khoa.

Từ đó trong dân gian vùng Hải Dương có lưu truyền mấy câu thơ:

Mộ Trạch tiên sinh
Ăn khoẻ nổi danh!
Mười tám bát cơm
Mười hai bát canh!
Khôi nguyên chiếm bảng
Trên cả quần anh!
Bởi nhiều súc tích
Nên phát tung hoành.

Trong dân gian thường gọi ông “Trạng Ăn” vì tài ăn khỏe của mình.

Đến đây là hết câu chuyện thú vị về gia đình có ba ông Trạng.

Trần Hưng / TrithucVn

Dmitri Mendeleev và bảng tuần hoàn nguyên tố hóa học

Những giấc mơ đôi khi là những gì ta nghĩ quá nhiều vào lúc còn thức, nhưng đôi khi lại đầy bí ẩn và đáng kinh ngạc, có thể chỉ đường dẫn lối đặt nền tàng cho cả một nền khoa học thực chứng sau này.

Nhà hóa học Nga Dmitri Mendeleev (1834–1907) đã phát minh ra bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Trước đó, ông muốn tổ chức 65 nguyên tố đã biết theo một cách nào đó. Ông biết rằng phải có một khuôn mẫu nhất định để làm cho các nguyên tố này có trật tự, và định luật này phải liên quan đến trọng lượng nguyên tử. Tuy nhiên, ông vẫn không tài nào định hình cho đến khi có một giấc mơ kỳ lạ.

Trích dẫn trong tài liệu “Bàn về sự sáng tạo trong khoa học” của nhà hóa học người Nga B.M. Kedrov: “Trong giấc mơ tôi thấy một tấm bảng, nơi tất cả các nguyên tố được đặt vào chỗ theo trật tự. Khi tỉnh dậy, tôi ngay lập tức viết nó lên một mảnh giấy”.

Một con tem ở Nga có in hình Dmitri Mendeleev (1834-1907), kỷ niệm 175 năm ngày sinh của Mendeleev (ảnh: Shutterstock).

Đó là vào tháng 2/1869, Mendeleev 35 tuổi, và đây là cách bảng tuần hoàn ra đời. Linh cảm trong mơ của Mendeleev rất chính xác, tthậm chí nó còn tiết lộ rằng, một vài nguyên tố đã bị đo lường không chuẩn. Đặc biệt hơn, chúng được sắp xếp trong bảng tuần hoàn dựa theo trọng lượng nguyên tử, vốn chưa được biết đến vào thời đó.

Trước đây, người ta vẫn chưa biết khối lượng nguyên tử của nhiều nguyên tố, và bảng của Mendeleev cũng để lại một số ô trống, tương ứng với những nguyên tố chưa được khám phá. Trong những năm tiếp theo, 11 nguyên tố mà ông dự đoán và để trống trên bảng lần lượt được phát hiện, đặc biệt là các khí trơ như heli, neon, argon, krypton, xenon và radon, đã thêm một nhóm mới vào bảng tuần hoàn.

Bảng tuần hoàn giống như một tấm bản đồ lớn, chỉ đường cho những nghiên cứu hóa học sau này.

Phụng Minh / DKN

Người Việt ích kỷ và lời cảnh báo vẫn còn đó từ 100 năm trước

Người Việt ích kỷ và lời cảnh báo vẫn còn nóng bỏng từ 100 năm trước

Người ta cho rằng ngày nay truyền thông phát triển, nên nhiều gương xấu của người Việt mới bị bóc mẽ trên báo đài, mạng xã hội, chứ ngày xưa cũng chẳng thiếu. Nhưng với vốn hiểu biết hẹp hòi, tôi chỉ so sánh từ trong nhà, ra chợ nhỏ, trên đường lớn của ta ngày nay, đã có nhiều chuyện khác xưa rồi.

Thời tôi còn trẻ, trong xã hội cũng có những người máu nóng che mất trí khôn khi tham gia giao thông trên đường nhưng đàn bà con gái, người già trẻ nhỏ vẫn được nhường đôi ba phần.

Giờ đây, chỉ vì tranh chấp khi tắc đường, đàn ông trai tráng nhổ thẳng vào mặt phụ nữ, đẩy ngã người mang bầu, chửi người già hơn hát hay mặc dù chỉ bằng tuổi con cháu các cụ.

Ngày xưa khi thực phẩm còn phải lấy theo tem phiếu, ông tôi vẫn xếp hàng từ 4h sáng để nhận đồ.

Ngày nay đồ ăn thừa mứa, cũng chẳng phải đói khát gì nhưng người ta chen nhau mua, chen nhau cướp.

Bà tôi kể chuyện ngày xưa người ta thưa gửi, dạ vâng, hành lễ từ xa và kính cẩn như thế nào. Ngày nay, cả đám trẻ lẫn người trưởng thành đều thích ăn to nói lớn, văng từ không hay này tới chữ xấu xí nọ nơi công cộng.

Ngày xưa, người ta e thẹn chẳng dám khoe cả cái bắp chân của mình trước mặt người khác, thì nay người ta ngang nhiên đi tiểu tiện trong thang máy như chốn không người.

Từ những điều nhỏ nhặt đó nó phóng to ra ở những tệ nạn lớn khác, chắc chắn ảnh hưởng tới phẩm chất và năng lực quốc gia. Bởi đó đều là tự tư tự lợi, là nghĩ đến lợi ích, cảm giác của mình chứ không cần quan tâm tới cái chung, cái đại nghĩa vì người khác, vì cộng đồng.

Từ người kinh doanh thì chặt chém, lừa đảo, luồn lách chạy cửa sau. Người nông dân “gia tăng năng suất” bằng hóa chất, thuốc tăng trọng, tăng trưởng độc hại. Người chăn nuôi vứt lợn chết, vịt gà chết vì dịch xuống sông ngòi.

Các tập đoàn lớn hủy hoại môi trường vì tối đa hóa lợi nhuận. Người có chức quyền thì tham ô, đục khoét, lạm dụng quyền lực làm bừa, làm bậy… Cứ thế, chúng ta có một xã hội tự tư tự lợi mà phần lớn người ta cho rằng mạnh về tiền, về danh là kẻ mạnh thật sự.

Ảnh minh họa: Greetingvietnam.

Nhưng “phàm những kẻ mưu tiện lợi cho mình mà bất tiện cho số đông đều không thể tha thứ được” – (Trích: Quốc dân độc bản, 1907). Cái sự không thể tha thứ được ấy đâu có khó để lý giải. Danh sĩ Phan Bội Châu từ cách đây 111 năm đã viết thế này:

“Nước mất là do rất nhiều tệ, tội nhiều không kể hết, nhưng trong đó có bốn cái tội lớn. Một là ngoại giao hẹp hòi; hai là nội trị hủ bại; ba là dân trí bế tắc; bốn là vua tôi trên dưới tự tư tự lợi.

Vua tôi tự tư tự lợi nên không biết có dân có nước; dân cũng tự tư tự lợi nên cũng không nghĩ gì đến nước đến vua. Ngoại giao nội trị dân trí sở dĩ đồi bại như vậy cũng là do trên dưới đều tự tư tự lợi mà ra cả. Cuối cùng nước bị mất vua bị tù, thần dân đều trở nên giống người mất nước đê tiện. Cái nọc độc tự tư tự lợi nguy hại biết là dường nào” – (Trích: Việt Nam quốc sử khảo, Phan Bội Châu, 1908).

Cái họa mất nước của người Việt lúc nào cũng treo lơ lửng trên đầu từ hàng nghìn năm hình thành nên nước Việt. Muốn tự tin và ngạo nghễ thì nước phải mạnh, mạnh ở đây đâu phải chỉ ở tiềm lực kinh tế riêng của mỗi một người, mà là cái mạnh chung của quốc gia.

Muốn quốc gia mạnh, thì từng người sao có thể chỉ vì cái lợi của mình mà chiếm đoạt lợi ích chung của cộng đồng.

Ai cũng lo kiếm lợi cho mình, thì cái lợi nó chạy từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác mà thôi. Nước vẫn nghèo, vẫn hèn, vẫn có hàng lớp người đi xuất khẩu lao động, làm thuê làm mướn cho người ta, vẫn có tấm hộ chiếu xếp hạng 90/107 trên thế giới (Hãng tư vấn đầu tư và định cư Henley & Partners có trụ sở ở London công bố ngày 1/10). Như thế, cái lợi riêng đã bóp chết cái lợi chung.

Từ cái lợi riêng, người ta sẽ thoái thác trách nhiệm riêng, khi ấy thì trách nhiệm chung cũng nào còn được tôn trọng.

Từ cái tự tư tự lợi ấy không sớm thì muộn sẽ dẫn tới dân trí bế tắc (khi người làm giáo dục cũng vì lợi riêng), rồi nội trị hủ bại (khi người có quyền sẽ lạm dụng quyền để tư lợi), sau đó sẽ là ngoại giao hẹp hòi (khi ngoại giao là đòi hỏi đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết thảy). Từ đó, vận mệnh quốc gia chẳng phải sẽ rất đáng lo hay sao.

Người Việt quay về với văn hóa truyền thống, biết đặt Nhân Nghĩa lên trên vị kỷ, vị tư (chỉ vì bản thân mình), thì mới có thể tự hào khi nói đến dân tộc mình, nước mình được.

Đừng mãi tự hào rằng chúng tôi đã chiến thắng bao cuộc chiến oanh liệt, mà lại thua chính cuộc chiến gìn giữ nhân cách, gia phong và quốc hồn.

Thuần Dương / DKN

Liệu Việt Nam có thành con hổ châu Á mới?


Một công nhân làm việc ở nhà máy xe hơi Ford ở tỉnh Hải Dương
Một công nhân làm việc ở nhà máy xe hơi Ford ở tỉnh Hải Dương

Với lực lượng lao động rẻ, được đào tạo tốt, cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, nền kinh tế có độ mở cao, chính trị ổn định, khả năng kiểm soát dịch bệnh cùng bối cảnh chiến tranh thương mại, Việt Nam hiện đang có nhiều lợi thế để trở thành con hổ kinh tế mới của châu Á, các chuyên gia nhận định.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng lưu ý gánh nặng các tập đoàn quốc doanh và những cản trở trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam, nhất là vấn đề tham nhũng, sẽ đặt ra những thách thức cho sự phát triển của quốc gia này trong thời gian tới.

Theo báo cáo ‘Triển vọng Kinh tế Thế giới’ vừa được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố, GDP của Việt Nam trong năm 2020 ước tính ở mức 340 tỷ đô la Mỹ, vượt qua Malaysia và Singapore và dự đoán sắp sửa vượt qua cả Philippines (hiện có GDP 367 tỷ đô la) để trở thành nền kinh tế lớn thứ ba trong khu vực, sau Indonesia và Thái Lan.

Mở cửa và xuất khẩu

Trong bài viết có tựa đề ‘Việt Nam sẽ là điều thần kỳ mới ở châu Á?’ đăng trên tờ New York Times, ông Ruchir Sharma, chiến lược gia trưởng toàn cầu tại hãng quản lý đầu tư Morgan Stanley và là tác giả của cuốn ‘Mười nguyêntắc của các quốc gia thành công’, dự đoán Việt Nam sẽ theo chân các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc để làm nên ‘điều thần kỳ kế tiếp’ ở châu Á.

“Sau Đệ nhị Thế chiến, những ‘điều thần kỳ châu Á’ – đầu tiên là Nhật Bản, sau đó là Đài Loan và Hàn Quốc, gần đây nhất là Trung Quốc – đã vươn lên thoát nghèo bằng cách mở cửa cho thương mại-đầu tư và trở thành trung tâm sản xuất, xuất khẩu. Giờ đây, Việt Nam đang theo con đường tương tự, nhưng trong một thời đại hoàn toàn mới,” tác giả này viết.

Ông đưa ra so sánh rằng ‘trong những năm bùng nổ, những điều thần kỳ châu Á đầu tiên đã có mức tăng trưởng xuất khẩu hàng năm đạt gần 20% – gần gấp đôi mức trung bình của các quốc gia có thu nhập thấp hoặc trung bình vào thời điểm đó và Việt Nam đã duy trì tốc độ tương tự trong ba thập kỷ’.

Ngay cả khi thương mại toàn cầu sụt giảm trong những năm 2010, xuất khẩu của Việt Nam đã tăng 16% mỗi năm, tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới và gấp ba lần mức trung bình của các nước mới nổi, ông Ruchir Sharma lưu ý.

Để phục vụ cho nền kinh tế hướng xuất khẩu, Việt Nam đã dành nguồn lực để xây dựng đường sá, bến cảng để đưa hàng hóa ra nước ngoài và xây dựng trường học để đào tạo nhân lực trong khi các nước mới nổi khác chi mạnh tay cho phúc lợi xã hội nhằm lấy lòng cử tri, cũng theo chuyên gia này.

Việt Nam hiện được xếp hạng cao về chất lượng cơ sở hạ tầng so với bất kỳ quốc gia nào trong giai đoạn phát triển tương tự, ông nói.

Về thu hút đầu tư nước ngoài, trong 5 năm qua, ông Sharma cho biết đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đạt trung bình hơn 6% GDP, tỷ lệ cao nhất so với bất kỳ quốc gia mới nổi nào. Phần lớn số tiền đó đổ vào xây dựng các nhà máy chế tạo và cơ sở hạ tầng liên quan, và phần lớn đầu tư đến từ các nước châu Á khác như Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc.

Chuyên gia của Morgan Stanley này chỉ ra rằng Việt Nam đã trở thành điểm đến ưa thích cho các nhà sản xuất rời bỏ Trung Quốc để tìm nhân công rẻ hơn. Thu nhập bình quân đầu người hàng năm ở Việt Nam đã lên gần 3.000 đô la Mỹ, tức tăng gấp 5 lần so với cuối những năm 1980, trong khi chi phí nhân công vẫn chỉ bằng một nửa so với Trung Quốc, và nguồn nhân lực này được đào tạo tốt hơn một cách khác thường so với mức thu nhập của họ.

Kiểm soát dịch tốt

Ông nêu bật việc Việt Nam đang dịch chuyển từ các sản phẩm công nghệ thấp sang trình độ công nghệ cao hơn và khen ngợi độ mở của nền kinh tế Việt Nam với hàng loạt hiệp định thương mại lớn.

“Nguồn lao động có trình độ đó đang giúp Việt Nam ‘leo lên các nấc thang’, có lẽ nhanh hơn bất kỳ đối thủ nào, để sản xuất những mặt hàng ngày càng phức tạp. Sản phẩm công nghệ đã vượt qua may mặc để trở thành mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam vào năm 2015, và chiếm phần lớn thặng dư thương mại kỷ lục của nước này trong năm nay,” tác giả trình bày trong bài báo.

“Trong kỷ nguyên bảo hộ, Việt Nam lại đi ngược chiều hướng và quay sang ủng hộ mở cửa biên giới – chính quyền cộng sản nước này đã ký kết hơn một chục hiệp định thương mại tự do – trong đó có một thỏa thuận trọng đại mới được ký kết với Liên minh châu Âu là EVFTA.”

Việt Nam cũng đã tận dụng cơ hội các nước khác đang lao đao vì dịch bệnh để đối phó tốt với dịch. “Kiểm soát đượcđại dịch đã cho phép Việt Nam nhanh chóng mở cửa nền kinh tế trở lại và hiện nước này đang được dự đoán là nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong năm nay,” ông viết.

Ông đưa ra dẫn chứng là trong khi nhiều nước đang bị sụt giảm tăng trưởng nặng nề và phải tìm đến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) xin giải cứu thì Việt Nam đang tăng trưởng với tốc độ 3%t trong năm nay. Ấn tượng hơn nữa, tăng trưởng đó là nhờ vào thặng dư thương mại kỷ lục, bất chấp giao thương toàn cầu sụp đổ vì dịch bệnh.

Môi trường khó khăn hơn

Tuy nhiên, so với những con rồng châu Á ban đầu, những điều kiện thuận lợi hiện nay không còn nữa, ông Ruchir Sharma lưu ý. Đã qua rồi thời kỳ toàn cầu hóa nhanh chóng, với dòng chảy thương mại và đầu tư ngày càng tăng. Tăng trưởng kinh tế đang chậm lại trên toàn thế giới. Trong môi trường này, các cường quốc không còn bỏ qua các chiến thuật mà các nước châu Á trước đó đã tận dụng để có lợi thế.

Tuần trước, Hoa Kỳ chính thức cáo buộc Việt Nam thao túng tiền tệ và khởi xướng cuộc điều tra tương tự như cuộc điều tra vốn khơi mào chiến tranh thương mại với Trung Quốc, ông cảnh báo.

Sự lãnh đạo của một đảng độc tài gần nửa thế kỷ được kinh tế gia này cho là ‘mối đe dọa thậm chí còn lớn hơn nữa đối với tăng trưởng liên tục của Việt Nam’. “Nếu không có đối lập, đảng độc tài có thể thúc đẩy tăng trưởng rất nhanh, nhưng thường những chính sách tùy hứng không được kiểm soát của họ dẫn đến các chu kỳ bùng nổ và sụp đổ thất thường, cản lại sự phát triển,” ông nhận định.

“Liệu Việt Nam có thể tiếp tục thành công này, bất chấp những thách thức tiềm tàng như dân số sụt giảm, thương mại giảm sút và chính phủ độc tài vẫn tiếp tục nắm quyền? Có thể được,” ông lập luận. “Mặc dù tốc độ tăng dân số trong độ tuổi lao động ở nước này đang chậm lại, phần lớn người Việt Nam vẫn sống ở nông thôn, do đó, nền kinh tế có thể tiếp tục phát triển bằng cách dịch chuyển lao động nông ngiệp sang các nhà máy ở thành thị.”

Theo ông, cho đến nay, chính phủ Việt Nam đã không có sai lầm chính sách nghiêm trọng vốn thường làm chậm tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia chuyên chế khác. Do đó, ông nhận định ‘chủ nghĩa tư bản chuyên chế đang có hiệu quả ở Việt Nam một cách khác thường thông qua các chính sách kinh tế mở và quản lý tài chính khôn ngoan’.

Tuy nhiên, ông cũng dự báo Việt Nam có thể xảy ra vấn đề ở khu vực kinh tế nhà nước vốn chiếm phần lớn nợ xấutrong hệ thống ngân hàng. Mặc dù sau nhiều đợt cổ phần hóa, nhà nước nắm quyền sở hữu ít tập đoàn hơn, nhưng những công ty mà họ sở hữu vẫn rất lớn và chiếm gần một phần ba sản lượng kinh tế.

“Cần lưu ý rằng các khoản nợ tăng cao cũng dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính đánh dấu sự kết thúc tăng trưởng bền vững ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, và giờ đây là cả Trung Quốc,” ông viết.

‘Điểm son’

Trong khi thế giới khốn đốn vì dịch Covid thì Việt Nam không mấy hề hấn và điều này đã giúp Việt Nam vươn lên rất nhiều, Giáo sư-Tiến sĩ Khương Hữu Lộc giảng dạy chương trình MBA tại Keller Graduate School of Management tại Mỹ nhận định với VOA.

“Dịch Covid-19 đã khiến kinh tế Philippines suy thoái trầm trọng, giảm đến 7-8% trong khi Việt Nam vẫn tăng 3%,” ông chỉ ra và nói ông tin quy mô kinh tế Việt Nam sẽ vượt Philippines ngay trong năm nay.

Ngoài ra chiến tranh thương mại Mỹ-Trung cũng khiến Việt Nam được lợi nhờ tăng cường xuất khẩu vào Mỹ, ông nói thêm.

“Mỹ là nền kinh tế lớn, tiêu thụ nhiều. Một khi Mỹ bớt mua của Trung Quốc và quay sang mua hàng của Việt Nam thì chỉ một phần nhỏ trong số đó cũng giúp gia tăng kinh tế Việt Nam,” ông chỉ ra và dẫn chứng là giao thương của Việt Nam với Mỹ đã tăng 30% so với năm ngoái.

Tiến sĩ Lộc nêu ra những ‘điểm son’ của Việt Nam so với các nền kinh tế láng giềng khác là: có trên 20 hiệp định thương mại tự do trong đó có những hiệp định lớn như RCEP, EVFTA, CPTPP; vị trí địa lý thuận lợi với nhiều hải cảng và đầu tư nhiều vào giáo dục và hạ tầng.

“Điểm son hơn hết là Việt Nam hiện tại dân số gần 100 triệu, trong đó 65-70% là dưới 37 tuổi. Trên 10 năm nay Việt Nam đã đầu tư khoảng 8% GDP vào cơ sở hạ tầng và giáo dục,” ông nói và cho biết tỷ lệ đầu tư này là gấp đôi Philippines.

Do đó, ông nhận định rằng Việt Nam ‘có điều kiện thuận lợi để bỏ qua những ngành công nghệ thấp và đi vào kỹ nghệ cao hoặc ít nhất là kỹ nghệ trung’.

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đang đi về hướng kỹ nghệ cao đó,” ông lưu ý và cho rằng Việt Nam cần xây dựng những tập đoàn lớn thì ‘mới có đủ tiềm lực tài chính, công nghệ để tập trung vào nghiên cứu, phát triển’.

“Việt Nam cần có khả năng sáng chế, chế tạo và tiếp nhận chuyển giao công nghệ,” ông khuyến nghị và cho rằng Việt Nam không thể dựa vào công nghệ nước ngoài mãi.

Thách thức

Tuy nhiên, vị giáo sư này cảnh báo môi trường kinh doanh ở Việt Nam dù có tiến triển nhiều trong những năm qua vẫn còn thua xa các nơi khác như Hong Kong hay Singapore vì những luật lệ, thủ tục và ‘chi phí bôi trơn.’

“Việt Nam hiện giờ tham nhũng có giảm bớt nhưng vẫn nằm trong nhóm tham nhũng nhất thế giới,” ông lưu ý. “Việt Nam chắc chắn cần phải cải thiện.”

Ông cũng chỉ ra bài học từ Nhật Bản là sau hàng chục năm tăng trưởng liên tục, nước này đã chựng lại trong vòng 20 năm qua ‘vì số nợ của các tập đoàn quá lớn’.

Ông cảnh báo số nợ của các tập đoàn nhà nước hiện nay vẫn rất nhiều mặc dù đã được cổ phần hóa. “Nếu không cẩn thận và tư hữu hóa dần dần thì các tập đoàn này sẽ vỡ nợ,” ông Lộc nói.

Về lợi thế xuất khẩu của Việt Nam, chuyên gia này khuyến cáo nên ‘đa dạng hóa’ chứ không nên tập trung vào một số thị trường như Mỹ, châu Âu hay Trung Quốc để giảm thiểu rủi ro.

Dẫn ra việc Việt Nam được xếp vào nhóm ‘tiểu hổ’ châu Á cùng với Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Philippines, Tiến sĩ Lộc dự đoán rằng trong vòng 5-7 năm nữa, nền kinh tế Việt Nam ‘sẽ vượt Thái Lan’ trở thành quốc gia lớn thứ hai trong khu vực.

Theo VOA