Biệt thự đậm nét kiến trúc Việt xưa tại Hà Nội

Căn biệt thự có kiến trúc đơn giản pha chút truyền thống, tạo nên một không gian sống độc đáo giữa khu đô thị tại Long Biên, Hà Nội.

Biet thu phong cach kien truc Viet xua anh 1
Công trình có quy mô 295 m2 gồm 3 tầng và một tầng mái do đội ngũ thiết kế của Kay Architecture JSC mang ý tưởng chủ đạo là không gian ấm cúng, yên bình cho gia đình. Công trình được thiết kế theo phong cách hiện đại đơn giản và pha trộn với các yếu tố truyền thống trong kiến trúc Việt Nam xưa.
Biet thu phong cach kien truc Viet xua anh 2
Tầng một là không gian sinh hoạt chung của gia đình với sân vườn ở trước và sau. Khu vực trung tâm là sự kết hợp của các khu chức năng như phòng khách, bếp, phòng ăn và một nhà vệ sinh nhỏ. Những khu vực này được phân chia rõ ràng thông qua sự khác biệt về độ cao so với sàn nhà, tạo cảm giác thú vị, không gây nhàm chán.
Biet thu phong cach kien truc Viet xua anh 3
Những không gian xanh để thư giãn được bố trí xen kẽ trong ngôi nhà.
Biet thu phong cach kien truc Viet xua anh 4
Màu nội thất tông lạnh thương phản tốt với chất liệu gỗ ấm cúng, tạo nên sự hài hòa trong không gian.

javascript:”<!DOCTYPE html><html><body style=’background:transparent’></body></html>”

Biet thu phong cach kien truc Viet xua anh 5
Chất liệu gạch terrazzo được sử dụng trong thiết kế sàn nhà, hành lang và cầu thang tạo một không khí mát mẻ, dễ chịu.
Biet thu phong cach kien truc Viet xua anh 6
Tầng hai có không khí trong lành và ánh sáng tự nhiên. Phòng ngủ master của bố mẹ có hai tầm nhìn, một ban công nhìn xuống phố và một cửa sổ nhìn xuống vườn sau.
Biet thu phong cach kien truc Viet xua anh 7
Yếu tố truyền thống trong thiết kế được phản ánh trong cách trang trí trên tường, chất liệu gỗ sồi và những đường nét bo tròn của các chi tiết nội thất.
Biet thu phong cach kien truc Viet xua anh 8
Các phòng ngủ ở tầng ba đều có cửa sổ thông gió tự nhiên và phòng thay đồ riêng biệt.

Hà Bùi / Ảnh Lê Lai / zing

Cà phê và giấc mơ Mỹ

Cà phê và giấc mơ Mỹ
Cà phê, trà và chocolate được đưa vào Mỹ gần như đồng thời. Thế nhưng, người Mỹ đã chọn cà phê là thức uống của tinh thần yêu nước, tinh thần thượng tôn tự do đồng thời hiện thực hóa giấc mơ Mỹ.

“Uống cà phê là yêu nước”

Kể từ khi Christopher Columbus (1451-1506) phát hiện ra châu Mỹ, những cuộc di dân đến “Tân thế giới” diễn ra một cách ồ ạt. Làn sóng di dân mang theo văn hóa khắp thế giới đến vùng đất này.

Những quán cà phê đầu tiên ở Mỹ do người Anh thành lập, đậm dấu ấn hàng quán cà phê truyền thống của Anh – một nơi chốn hàn lâm được tôn vinh là “Trường đại học một hào – Penny Universities”. Bên tách cà phê là những cuộc tranh luận về các vấn đề thời đại. Khách hàng đến quán cà phê Mỹ phần lớn là nhà hàng hải, nhà thám hiểm, thương gia và sĩ quan, binh lính… vì vậy, hàng quán cà phê tại Mỹ đã ảnh hưởng đến đời sống xã hội theo cách khác biệt. Nếu ở Anh, quán cà phê khởi sự cho thời đại khai sáng và cuộc cách mạng khoa học, thì ở Mỹ, quán cà phê là nơi trỗi dậy cuộc cách mạng giành quyền tự chủ, tự do cho dân tộc.

Cà phê và giấc mơ Mỹ - Ảnh 2.

Thế kỷ 17, 18, Mỹ là thuộc địa của người Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp và Anh. Quốc gia này là thị trường tiêu thụ sản phẩm của các đế quốc thực dân. Sau khi người Anh bành trướng thế lực tại Mỹ, họ đã áp đặt thuế triệt để vào ngành thương mại, đặc biệt là các mặt hàng nhập khẩu từ mẫu quốc nhằm gia tăng nguồn thu. Người Mỹ nhận ra rằng, nếu mất đi quyền tự chủ về kinh tế, lâu dần sẽ tổn hại tới tất cả các quyền tự do của quốc gia.

Green Dragon Tavern, một quán cà phê mở trong trung tâm thương mại của Boston vào năm 1697 được gọi là Trụ sở của Cách mạng. Đây là nơi những người yêu tự do và tướng lĩnh Cách mạng Mỹ bàn về thiết chế của một nền dân chủ, độc lập. Những tổ chức chính trị quan trọng như Freestyleons, Sons of Liberty, Boston Caucus, Ủy ban thư tín (Committees of Correspondence) kết nối tại quán cà phê Green Dragon Tavern và đưa ra kế hoạch Bữa tiệc trà – Boston Tea Party vào năm 1773.

Khi công dân Boston ném hàng tấn trà xuống biển để phản đối các chính sách chuyên chế của Anh, họ cũng đồng thời kêu gọi người Mỹ sử dụng cà phê như thức uống đại diện cho tinh thần yêu tự do, khẳng định tính chủ quyền của người Mỹ.

Sau sự kiện Boston Tea Party, cà phê được xem là “vua trên bàn ăn Mỹ”. Hàng quán cà phê mở rộng chức năng và trở thành không gian giao dịch kinh doanh, hội nghị chính trị, nhà hát kịch, hòa nhạc, triển lãm và những hoạt động văn hóa xã hội khác. Quán cà phê Exchange Coffee House ở Quảng trường Quốc hội (Congress Square) là sàn giao dịch thương mại quan trọng vào đầu thế kỷ 19 và là biểu tượng tham vọng của ngành thương mại Boston. Quán Tontite Coffee House tại New York là phiên bản đầu tiên của Sàn giao dịch chứng khoán New York. Những quán cà phê ven sông Mississippi thuộc New Orleans như Maspero Coffee House, Café du Monde, Café Au Lait, Royal Blend, CC’s Coffee House… là nơi thực hiện hầu hết giao dịch giữa các doanh nghiệp lớn trong thành phố. Sở giao dịch chứng khoán Philadelphia có nguồn gốc từ hoạt động tài chính tại quán cà phê London Coffee House phố Market Street.

Cà phê và giấc mơ Mỹ - Ảnh 3.

Quán cà phê được lựa chọn là nơi khởi sự kinh doanh không đơn thuần vì thức uống chống lại trà của Anh mà vì khao khát muốn khẳng định mình. Những người di cư đến Mỹ phần lớn thuộc tầng lớp xã hội thấp, họ rũ bỏ quá khứ, khảm sâu vào tâm trí một khát vọng về sự giàu có, quyền lực và sự vĩ đại.

Quan niệm sống thân lập thân – self made man của người Mỹ có hàm ý vận mệnh là kết quả của nỗ lực cá nhân. Vì thế, mỗi người tự khơi dậy tia sáng của sự sáng tạo để đổi mới chính mình. Cà phê và hàng quán cà phê trở thành xúc tác quan trọng để kích hoạt và thăng hoa sáng tạo. Những trao đổi bên ly cà phê mang tính trí tuệ và đa chiều, hỗ trợ cho việc xác định phương hướng nhân sinh phù hợp để hành động mang lại hiệu quả tốt. Cũng chính lẽ đó, quán cà phê không chỉ là nơi gặp gỡ, mà là nơi đại diện cho khát vọng lớn, nơi con người đặt niềm tin và tìm kiếm đường hướng thay đổi cuộc đời.

Cà phê trên hành trình hoàn thiện “tân thế giới”

Sau khi giành được tự do, người Mỹ tiếp tục mưu cầu thiết lập bản sắc riêng để thực sự là một quốc gia. Lớp người định cư đầu tiên ở Đông Mỹ đã hành động và suy nghĩ như người châu Âu. Những nhà lãnh đạo quốc gia nhận thức rằng cần thiết lập tự do bằng cách giải phóng người Mỹ khỏi tư duy châu Âu.

Năm 1893, nhà sử học Frederick Jackson Turner công bố “Luận văn biên cương” nhấn mạnh rằng tính cách Mỹ được tạo thành từ Biên giới Mỹ (bao gồm địa lý, lịch sử, văn hóa Mỹ). Phải chinh phục những vùng đất chưa phát triển, xác lập “Tân thế giới”. Ý tưởng của Turner truyền cảm hứng khởi xướng cuộc đại khai phá nhiều biên giới như sông Mississippi, Đại Bình nguyên Bắc Mỹ (Great Plains), Dãy Rocky, Tây Nam Mỹ, Tây duyên hải, Hawaii… đặc biệt tập trung vào “Miền viễn Tây hoang dã”.

Những người tiên phong đến miền Tây mang theo hạt cà phê bên mình để duy trì sức mạnh tinh thần vượt mọi thử thách. Họ đi từng đoàn. Giữa những quãng dừng tái tạo năng lượng và những lúc thay nhau canh gác vào buổi tối, họ cho cà phê trực tiếp vào ấm và đun sôi trên bếp lửa. Họ ngồi bên nhau, kể chuyện hoặc chia sẻ những ý tưởng mới. Cách thưởng thức cà phê này cho đến nay vẫn được gìn giữ như truyền thống văn hóa cà phê kiểu Mỹ và được gọi là Cowboy Coffee.

Theo đoàn viễn chinh, hàng quán cà phê cũng được hình thành trên những vùng đất mới. Mang phong cách phóng khoáng, đa văn hóa, quán cà phê là nơi những người xa lạ đang đi tìm giấc mơ cuộc đời quần tụ lại. Để cảm thấy mình thuộc về cộng đồng, chung chí hướng và giúp đỡ nhau để cùng tồn tại, phát triển.

Các quán cà phê trên đường State Street (Chicago) phát triển âm nhạc jazz, blues, rock… Quán cà phê Mountain Moving Coffeehouse (Chicago) đại diện cho tư duy bình đẳng giới. Các tổ chức Studio Watts, Hội Nhà văn Watts, Hiệp hội Westminster trình diễn tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc, sân khấu, phim ảnh tại quán cà phê Watts Coffee House và Watts Happening Coffee House (Los Angeles). Môi trường sáng tạo này là tiền đề thành lập Học viện văn hóa và nghệ thuật Mafundi – trung tâm giáo dục ý thức cộng đồng thông qua kịch và phim ảnh.

Cà phê và giấc mơ Mỹ - Ảnh 4.

Quán cà phê từ trung tâm sinh hoạt cộng đồng trở thành trung tâm giáo dục, nơi gặp gỡ của các chuyên gia. Những ý tưởng được đưa vào kế hoạch kinh doanh, những chính sách và lý tưởng mới được phổ biến. Những phát minh mới dẫn đến việc tạo ra các ngành công nghiệp mới và tăng trưởng kinh tế. Năm 1968, Công ty Texas Coffee sản xuất thành công cà phê đóng gói trong bao bì chân không, khởi đầu cuộc cách mạng ngành cà phê công nghiệp tại Mỹ. Ngành công nghiệp điện ảnh Hollywood, thung lũng Silicon, ngành công nghiệp hàng không vũ trụ dần hình thành trên miền đất từng là nơi hoang dã. Và nước Mỹ thực sự tách khỏi tư duy châu Âu, từ quốc gia thuộc địa vươn lên siêu cường trong nhiều lĩnh vực.

American Dream – Giấc mơ Mỹ là giấc mơ về cuộc sống tốt đẹp hơn, giàu có hơn. Là niềm tin về sự tự do, cho phép tất cả các công dân không phân biệt bản địa hay thường trú nhân đều có cơ hội lựa chọn và quyết định cho số phận chính mình, tự khẳng định mình trong nỗ lực và sáng tạo. Từ thời khai quốc mưu cầu cuộc sống tự do, và sau đó là khát vọng tạo nên tầm vóc vĩ đại cho dân tộc, cho quốc gia, cà phê đã luôn được lựa chọn như thức uống của tinh thần Mỹ, biểu đạt khát vọng sống hướng về tương lai hạnh phúc cho tất cả con người.

Theo Pháp luật & Bạn đọc

Ba sai lầm lớn nhất đời người, càng sớm sửa đổi càng mau đổi vận

Ba sai lầm lớn nhất đời người, càng sớm sửa đổi càng mau đổi vận
Tình cảm là một thanh gươm sắc bén để mở đường, nhưng nó cũng là cái kén trói buộc bản thân. Có đôi khi, những suy nghĩ như làm việc với người quen dễ dàng hơn, người quen dễ “nói” hơn, thật sự là một khái niệm sai lầm.

Tagore từng nói: “Nếu không có vật phản chiếu, bạn không thể nào nhìn thấy dáng vẻ chân thật của mình, chỉ có thể nhìn thấy cái bóng.”

Con người chính là như vậy, có đôi lúc bởi vì những thứ mình “thấy” mà nảy sinh ảo giác, dẫn đến những nhận định sai lầm vì phần nhận thức ngây thơ và hạn hẹp.

Rất khó để chúng ta nhìn thấu bản thân, muốn nhìn thấu thế giới lại càng khó hơn.

Cả đời này, có 3 “ảo giác”, tuyệt đối không được phạm. Nếu không muốn nửa đời sau bị 3 sai lầm này làm lỡ vận thì hãy mau thay đổi:

Ba sai lầm lớn nhất đời người, càng sớm sửa đổi càng mau đổi vận - Ảnh 1.

1. Tương lai còn dài, là lời nói dối hoang đường nhất

Cách đây một thời gian, một nhà hàng ở tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc đột ngột sụp đổ. Vụ tai nạn khiến 29 người chết, 7 người bị thương nặng và 21 người bị thương nhẹ.

Tại thời điểm xảy ra vụ việc, một cụ già đang tổ chức tiệc sinh nhật lần thứ 80, mà bạn bè và người thân của cụ thì đang ăn uống rất vui vẻ.

Không ai ngờ rằng một bữa tiệc sinh nhật hạnh phúc lại trở thành bữa ăn cuối cùng với những người thân yêu.

Ông cụ đã thoát nạn vì đang xem kịch ở bãi đất trống phía sau khách sạn.

Chỉ mới quay đầu, người thân và bạn bè đều bị chôn vùi trong bê tông, cốt thép. Gặp lại người vợ già của mình lần nữa, khuôn mặt sạch sẽ của bà ấy đã dính đầy máu và bụi bẩn.

Vốn dĩ sinh nhật của ông cụ vào thứ hai, nhưng vì thấy thứ hai là ngày mấy đứa trẻ đến trường, nên lùi lại một ngày. Nếu như thảm họa không xảy ra, những đứa trẻ sau khi vui vẻ dự tiệc đã có thể đến trường gặp bạn vào hôm sau.

Hầu hết nạn nhân trong danh sách đều là phụ nữ đã có gia đình. Nếu thảm họa không đến, họ đã có thể sinh hoạt theo quỹ đạo cuộc sống hằng ngày…

Ông lão cũng chỉ còn lại một mình, vốn nên hưởng tuổi già sung túc thì nay lại mất cả vợ, con gái, con rể và cháu ngoại.

Chúng ta cứ thường nghĩ tương lai còn dài, nhưng lại quên rằng đời người là vô thường.

Có một số người, cứ nghĩ sẽ liên lạc suốt đời, nhưng vừa quay đầu lại đã không bao giờ gặp lại. Có một số việc, cứ nghĩ trì hoãn thêm năm, sáu hôm sẽ cố gắng, nhưng khi bắt tay thì đã muộn, có làm cũng vô nghĩa…

Bạn đã từng nghe vô số lời nói dối trong cuộc sống, và nay chính bạn cũng đang tự lừa mình bằng 4 chữ: “Tương lai còn dài!”

Nếu bạn không biết trân trọng hiện tại, tương lai sẽ bỏ rơi bạn bất cứ lúc nào.

Ba sai lầm lớn nhất đời người, càng sớm sửa đổi càng mau đổi vận - Ảnh 2.

2. Tiền rất dễ kiếm, là ảo giác của người chưa trải sự đời

Giàu lên nhờ livestream bán hàng, Vi Á dễ dàng kiếm được hàng chục tỷ một năm. Việc này khiến nhiều người lầm tưởng rằng trong thời đại ngày nay, tiền rất dễ kiếm, chỉ cần đẹp, ngồi trước máy quay, nói chuyện là phát tài.

Sự thật thì sao?

Trợ lý của Vi Á cho biết, ngày nào cô ấy cũng phải đến sớm, không có ngày nghỉ cuối tuần. Chỉ được ngủ vài tiếng mỗi ngày, thậm chí phải chuẩn bị sẵn thực phẩm chức năng trong túi để phòng ngừa trường hợp đuối sức.

Cùng nhìn lại thời gian làm việc và nghỉ ngơi của Vi Á được tung lên mạng cách đây không lâu:

15:00 Thức dậy.

16:00 – 19:00 Đến công ty chọn sản phẩm và dùng thử hàng nghìn sản phẩm.

19:00 – 19:30 Học kịch bản, chuẩn bị dụng cụ livestream.

19:30 – 20:00 Trang điểm.

20:00 – 00:00 Livestream.

00:00 – 06:00 Phát sóng lại, lựa chọn sản phẩm kết hợp kinh doanh.

06:00 – 10:00 Về nhà, ăn cơm.

Bạn nhận ra chưa? Dù là thành công hay kiếm tiền, hai việc này chưa bao giờ là dễ dàng.

Để nói rõ về trường hợp trên, có người đã đưa ra “Định luật vịt” thế này:

“Chúng ta thường thấy những chú vịt thong dong, thoải mái trên mặt nước mà lại không thấy được những cái chân vịt đang liều mạng bơi dưới mặt nước.”

Cuộc sống cũng như vịt trong nước, đằng sau mỗi ánh hào quang là sự bền bỉ, chăm chỉ mà bạn không thể tưởng tượng được.

Nếu bạn không nỗ lực, tương lai chỉ có thể là giấc mơ.

Là những người bình thường, chúng ta chỉ có thể rèn luyện khả năng kiếm tiền của mình từng bước trên con đường đời còn lại.

Ba sai lầm lớn nhất đời người, càng sớm sửa đổi càng mau đổi vận - Ảnh 3.

3. Người quen dễ “nói”, là sai lầm không đáng có nhất

Ở phương Tây, con cái được tập ngủ riêng từ khi còn trong nôi. Đến 18 tuổi, nếu không tự lập sống riêng sẽ bị người khác chê bai. 

Ngược lại, nền văn hóa Việt Nam lại thích sống cùng gia đình nhiều hơn; có người 30, 40 tuổi vẫn sống cùng ba mẹ.

Vì vậy, khi gặp sự cố, suy nghĩ đầu tiên của nhiều người sẽ là: tìm người thân, bạn bè giúp đỡ, vừa tiết kiệm được thời gian, vừa tiết kiệm được công sức và tiền bạc.

Trong phim “People I know” có một câu thế này:

“Tình cảm là một thanh gươm sắc bén để mở đường, nhưng nó cũng là cái kén trói buộc bản thân.”

Nói cách khác, khi bạn cầu người quen làm giúp, cũng có nghĩa là bạn đã bỏ qua cơ hội rèn luyện chính mình. Sau khi việc được giải quyết xong, lại nợ người ta thêm một ân tình.

Sau này, người quen đó có dựa vào ân nghĩa này để tổn thương bạn, đối xử quá đáng với bạn. Bạn vì từng mắc nợ người ta, trong lòng áy náy, nên lúc nào cũng nhường nhịn, không dám cãi lại. 

Đây chính là chi phí phải trả khi nhận được sự giúp đỡ từ người quen.

Có đôi khi, những suy nghĩ như làm việc với người quen dễ dàng hơn, người quen dễ “nói” hơn, thật sự là một khái niệm sai lầm.

Chìa khóa để dành chiến thắng trong mọi tình huống chỉ có chính mình, bạn muốn giỏi, thì bạn phải trau dồi khả năng mình trong mọi lúc.

Suy cho cùng, những lúc bạn yếu đuối, lại càng dễ gặp người xấu, việc xấu. Nên hãy cố gắng mạnh mẽ hơn từng ngày, vì chỉ khi bạn thực sự mạnh mẽ, cả thế giới mới đối xử hòa nhã với bạn.

Pháp luật & Bạn đọc

Bí mật tình báo của Thung lũng Silicon

Nằm ẩn mình ngay một góc của Khu vực vịnh San Francisco (Bắc California), thung lũng Silicon không đơn thuần là một vị trí địa lý, nó là một ý tưởng. Khu vực này là một biểu hiện của sự thôi thúc số hóa mọi thông tin trên thế giới, cùng cơ sở dữ liệu, theo dõi và lưu trữ thông tin.

Kết quả của số hóa là một thế giới không có sự riêng tư. Và các cuộc tranh luận công khai chịu sự chi phối của các tỷ phú công nghệ. Một điều ít người biết là Thung lũng Silicon có một lịch sử rất đặc biệt. Các tỷ phú công nghệ nơi đây đang giám sát và kiểm soát cuộc sống của hàng tỷ người.

Bên trong thung lũng Silicon

Từng nổi tiếng với tên gọi “Thung lũng Tâm Ái”, thung lũng Santa Clara là một khu vực nông nghiệp thuần túy với kiểu khí hậu ôn hòa và cây trái sum suê trĩu quả. Cho đến thập niên 1960, Santa Clara vẫn là vùng sản xuất và đóng gói trái cây lớn nhất thế giới.

Frederick Terman (1900-1982), giáo sư về quản lý học thuật Mỹ, được tôn vinh là “Cha đẻ của Thung lũng Silicon”. Ảnh nguồn: The Guardian.

Hôm nay vùng cây trái được khoác cái tên mới “Thung lũng Silicon”: Ngôi nhà của nhiều hãng truyền thông xã hội và công nghệ hùng mạnh nhất thế giới: Google, Facebook, Apple, Oracle, Netflix, Cisco Systems, PayPal và Hewlett-Packard. Làm thế nào mà từ vùng nông nghiệp lại có bước chuyển đổi thần tốc đến thế? Và tại sao Thung lũng Silicon lại là tâm điểm của sự chuyển đổi này?

Câu trả lời dễ ợt: Đại chiến thế giới thứ hai (ĐCTGII). Dòng nghiên cứu công nghệ cao và công nghiệp đổ đến vùng này là nhờ công lao của Frederick Terman. Ông là con trai của Lewis Terman (người tiên phong về giáo dục tâm lý tại Trường đại học Sư phạm Stanford).

Vốn là người theo thuyết ưu sinh, Lewis Terman đã sáng tạo ra bài kiểm tra trí thông minh (IQ) ở Mỹ, giúp kiểm tra tân binh Mỹ nhập ngũ trong thời kỳ Thế chiến I. Frederick Terman theo học trường Stanford và lấy bằng hóa học, thạc sĩ về kỹ thuật điện trước khi đến Viện công nghệ Massachusetts (MIT) để lấy bằng tiến sĩ về kỹ thuật điện dưới sự dìu dắt của nhà phát minh radar lừng danh Vannevar Bush.

Khi Thế chiến II nổ ra, Vannevar Bush đang là người đứng đầu của Văn phòng nghiên cứu và phát triển Hoa Kỳ (USORD, cơ quan chịu trách nhiệm cho tất cả các nghiên cứu và phát triển của quân đội Mỹ vào thời chiến) đã bổ nhiệm Frederick Terman quản lý Phòng thí nghiệm nghiên cứu vô tuyến (RRL) của Đại học Harvard. Tại RRL, Terman đã chỉ đạo 800 nhà nghiên cứu hàng đầu nước Mỹ trong lĩnh vực chiến tranh điện tử còn non trẻ.

Công việc của RRL bao gồm việc phát triển ra một số thiết bị tình báo điện tử và tình báo tín hiệu như máy dò radar, thiết bị gây nhiễu radar và vỏ nhôm… dùng để đối phó với hệ thống phòng không Đức. Frederick Terman quay lại Stanford giữ chức danh hiệu trưởng Trường kỹ thuật, ngôi trường này được mệnh danh là “MIT của phương Tây”.

Khi ngân sách nghiên cứu quân sự đổ vào khu vực này, Terman đã bắt đầu biến Khu vực vịnh San Francisco thành một trung tâm nghiên cứu công nghệ cao.

Năm 1951, Terman thành lập Công viên công nghệ Stanford (bây giờ là Công viên nghiên cứu Stanford, một liên danh giữa Stanford và thành phố Palo Alto nhằm thu hút các tập đoàn công nghệ “máu mặt” vào khu vực). Công viên đã mời gọi được các tên tuổi nặng ký như Hewlett-Packard, General Electric, Kodak và đặt nền tảng cho Thung lũng Silicon thành điểm hội tụ giữa Stanford, tập đoàn công nghệ và nghiên cứu do chính phủ tài trợ.

Thung lũng Silicon bùng nổ mạnh từ chương trình nghiên cứu của Lầu Năm Góc và các kết nối của Bộ Quốc phòng Mỹ (DoD). Chính DoD có một vai trò quan trọng trong việc định hình sự phát triển của Thung lũng Silicon.

Viện nghiên cứu Stanford (SRI) do Frederick Terman thành lập dưới sự ủy thác của Đại học Stanford vào năm 1946 với tôn chỉ không được dính dáng đến các vấn đề chính trị. Nhưng mới hoạt động 6 tháng, SRI đã theo đuổi các hợp đồng với Văn phòng tình báo hải quân Mỹ. SRI có liên quan đến ARPANET (mạng chuyển mạch gói do Lầu Năm Góc sáng tạo ra) khai sinh ra internet hiện đại.

Hoạt động tình báo của Google

Năm 1973, Robert Kahn được sự trợ giúp của Phó giáo sư Vint Cerf (Đại học Stanford) đã phát triển ra giao thức TCP/IP (Bộ Quốc phòng Mỹ) đưa internet thực hiện dễ dàng hơn.

Hội nghị Bilderberg được tổ chức bí mật hàng năm tại đại khách sạn Interalpen-Tyrol (Áo), nơi hiện diện của những nhân vật quyền lực nhất trên thế giới. Ảnh nguồn: Fpoe.at.

Tuy nhiên, trong khi khoản đầu tư trực tiếp tạo nên cuộc cách mạng công nghệ ở Thung lũng Silicon phù hợp các mục đích của Lầu Năm Góc, thì cộng đồng tình báo Mỹ đã bí mật nhắm khai thác các tiềm năng của khu này theo những hướng khác.

Với diễn tiến của cuộc chiến tranh lạnh cùng sự căng thẳng giữa Mỹ và Nga thì ngân sách chi cho nghiên cứu và phát triển công nghệ hiện đại đã được đặt dưới vỏ bọc “an ninh quốc gia và được phân loại”. Nhờ lớp vỏ bọc tinh vi này mà vai trò của chính phủ trong việc phát triển ra các tập đoàn công nghệ đã bị ỉm đi.

Dấu vết của các cơ quan tình báo vẫn hiển hiện tại gần như mọi công ty lớn tại Thung lũng Silicon. Lấy ví dụ về tập đoàn Oracle. Bản thân cái tên của tập đoàn phần mềm lớn thứ 3 thế giới này lại lấy từ vị khách hàng đầu tiên: CIA.

“Dự án Oracle” là mã danh do CIA đặt ra cho một cơ sở dữ liệu quan hệ khổng lồ đang được xây dựng theo hợp đồng của Ampex (một công ty ở Thung lũng Silicon). Cho đến ngày nay, Oracle vẫn nhận 25% các hợp đồng của chính phủ Mỹ. Chắc chắn một sự thật rằng các cơ quan tình báo và DoD có liên quan đến việc trao ngân sách hoạt động cho “những gã khổng lồ” của Thung lũng Silicon.

Khi dữ liệu khối truyền qua internet đã tạo nên kỷ nguyên Dữ liệu lớn (Big Data), NSA, CIA và các thành viên khác của cộng đồng tình báo Mỹ đã tuyển dụng những ứng viên tươi sáng nhất, tốt nhất trong nước để giúp họ lưu trữ, nghiên cứu và phân tích thông tin này… Và như thường lệ, họ đã quay sang Đại học Stanford và Thung lũng Silicon để nhờ giúp đỡ.

Dự án ít được biết đến mang tựa đề “Các hệ thống dữ liệu số khối” được khởi xướng bởi cộng đồng tình báo Mỹ và được trao ngân sách thông qua các cơ quan được phân loại như Qũy khoa học quốc gia.

Dự án này được tạo ra nhằm giúp các cơ quan tình báo “đóng vai trò chủ động trong việc quản lý hiệu quả cơ sở dữ liệu khối và đảm chắc rằng các yêu cầu của cộng đồng tình báo có thể được tích hợp hoặc thích ứng vào những sản phẩm thương mại”.

Có một sự thật ít người biết là từ khi được thành lập và hoạt động cho đến nay, Google luôn duy trì mối quan hệ chặt chẽ với tình báo Mỹ, các bộ máy quân sự và thực thi pháp luật. Năm 2003, Google đã ký hợp đồng 2,1 triệu USD với Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ (NSA) nhằm thu thập, lưu trữ và phân tích tín hiệu tình báo trong các nhiệm vụ tình báo hải ngoại và phản gián. Công cụ tìm kiếm tùy chỉnh của Google được tạo ra để “tìm kiếm 15 triệu tài liệu thuộc 24 ngôn ngữ khác nhau”.

Vào năm 2005 có tin đồn rằng In-Q-Tel (một cánh tay của CIA và có quan hệ với Thung lũng Silicon) đã bán ra hơn 5000 cổ phiếu của Google, cho đến nay việc này vẫn chìm trong vòng bí mật, nhưng có tin rằng Google đã mua lại Keyhole Inc. (nhà phát triển phần mềm mà sau đó trở thành Google Earth). Keyhole, Inc. làm việc chặt chẽ với cộng đồng tình báo Mỹ và khoe khoang rằng công nghệ của họ đã được Lầu Năm Góc sử dụng để hỗ trợ cho cuộc xâm lược Iraq.

Năm 2010, rò rỉ một báo cáo cho thấy mối quan hệ giữa NSA-Google nhưng cả 2 cơ quan này đều phủ nhận việc này.

Năm 2014, thông tin chi tiết đến từ một yêu cầu chiếu theo Đạo luật tự do thông tin (FOIA) đã hé lộ một sự thật rằng Google là một phần của “một sáng kiến bí mật của chính phủ Mỹ với tên gọi “Khuôn khổ bảo mật lâu dài” và có bao gồm Thung lũng Silicon hợp tác với Lầu Năm Góc và cộng đồng tình báo Mỹ để chia sẻ thông tin “đạt tốc độ mạng”.

Trước đó vào năm 2013 rộ lên thông tin rằng những người tham gia vào chương trình PRISM (chương trình giám sát bất hợp pháp có sự tham gia của NSA nhằm tiếp cận mọi thông tin và dữ liệu người dùng của tất cả các tập đoàn công nghệ) đã hoạt động bằng nguồn ngân sách từ một cánh tay của NSA gọi là “Tác chiến nguồn đặc biệt”.

Hoạt động tình báo của Facebook

Vào tháng 6 năm 2003, thông tin rò rỉ từ Cơ quan chỉ đạo các dự án quốc phòng tiên tiến (DARPA) đã hé lộ một dự án mới đầy tham vọng mang tên là LifeLog chuyên “thu giữ, lưu trữ và bắt kịp dòng trải nghiệm con người và tương tác với thế giới”.

Một góc Thung lũng Silicon thịnh vượng khi đêm về. Ảnh nguồn: Business Insider.

Hiểu nôm na thì người dùng LifeLog sẽ đeo một thiết bị có thể thu giữ và ghi lại tất cả hoạt động giao dịch và tương tác của họ, các chuyển động cơ thể, email và gọi thoại, và nhiều dạng thông tin khác.

Nhưng bí mật bị che giấu ở đây là mọi dữ liệu mà LifeLog thu thập được sẽ giúp cho DARPA tạo ra một lớp mới các hệ thống nhận thức thực sự mà từ đó có thể suy luận theo nhiều cách khác nhau. Khi bị rò rỉ, dự án LifeLog đã ngay lập tức hứng chịu búa rìu dư luận rằng chính phủ đang tạo ra một công cụ đánh cắp quyền riêng tư của công dân và dự án đã bị hủy bỏ.

Dự án LifeLog bị hủy bỏ vào ngày 4 tháng 2 năm 2004, cùng ngày hôm đó một cựu sinh viên của Đại học Harvard là Mark Zuckerberg đã chính thức tung ra “TheFacebook.com”, hóa thân đầu tiên của Facebook, trong đó thu thập dữ liệu khối của người sử dụng, hứa hẹn cung cấp cho họ “một cuốn sổ nhật ký tự động đa truyền thông” nhưng trong những năm gần đây giao diện Facebook có thêm các chương trình bí mật thu thập dữ liệu người dùng nhằm phục vụ cho những động cơ bí ẩn.

Thật là trùng hợp: LifeLog vừa hủy xong là nhảy ra “The Facebook” của một sinh viên Harvard vô danh và rồi nó biến thành một tập đoàn mạng khổng lồ trị giá nhiều tỷ USD.

Năm 2004, Facebook dọn tới Palo Alto (California) với khoản đầu tư ban đầu trị giá 500.000 USD từ Peter Thiel, đồng sáng lập ra PayPal. Và cũng chả khó hiểu khi vào năm 2016, cựu giám đốc của DARPA, Regina Dugan, đã được Facebook thuê để tập trung phát triển các công nghệ thử nghiệm như cảm biến não bộ và trí tuệ nhân tạo.

Có một bí mật ít người biết là nhà đầu tư tài chính Peter Thiel đã phát minh ra Palantir (một công cụ phân tích và đào dữ liệu) đang được sử dụng bởi NSA, FBI, CIA và các cơ quan tình báo, chống khủng bố và cơ quan quân sự.

Có tin nội bộ cho hay rằng kể từ năm 1954, ông Eric Schmidt (nguyên CEO của Google và cố vấn kỹ thuật của Alphabet (công ty mẹ của Google) hiện đang là chủ tịch của Ủy ban đổi mới quốc phòng của Lầu Năm Góc, thường xuyên nhóm họp bí mật hàng năm với Ủy ban 3 Bên (Tập đoàn Bilderberg) với sự tề tựu của các nhà công nghiệp, nhà tài chính, quan chức cấp cao, chỉ huy quân sự và các thành viên hoàng gia. Và một sự thật nghiệt ngã là internet đã bị lạm dụng vào việc theo dõi, giám sát và kiểm soát dân cư.

Thung lũng Silicon được Bộ Quốc phòng Mỹ và cộng đồng tình báo Mỹ âm thầm gieo hạt trên đất California nhằm mục tiêu chống lại cuộc chiến thông tin của thế kỷ 21. DoD đã “vũ khí hóa” internet cho các dụng tâm riêng của họ.

Lầu Năm Góc còn lợi dụng các lỗ hổng của internet để phát triển nên những vũ khí mạng có sức hủy diệt ghê gớm như Stuxnet vốn do “bộ sậu” Mỹ/Israel sản xuất ra. Cho đến ngày nay các nhà khoa học của DARPA vẫn đang âm mưu sử dụng Internet vạn vật (IoT) nhằm giúp Mỹ đạt được sự thống trị trong thế giới mạng.

Nguyễn Thanh Hải (tổng hợp)

Nội tình 4 năm đảo chính lật đổ Tổng thống Trump

Bốn năm trước, ông Trump thắng cử khiến nhiều quan chức sửng sốt, thật không ngờ rằng một Trump “ngoại đạo” về chính trị, một Trump đầy tai tiếng và một Trump đã từng ghi danh bên Đảng Dân chủ vài năm trước, lại có thể đánh bại người có quyền lực lớn mạnh là Clinton, và giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống của Đảng Cộng hòa. Họ không thể tin được điều đó, không thể chấp nhận sự thật này, thậm chí không muốn coi Trump là “ông chủ”, và cuộc đảo chính 4 năm qua đã bắt đầu. Hôm nay chúng ta sẽ bàn luận về lý do đằng sau việc Chủ tịch Hạ viện Pelosi sử dụng Tu chính án 25 để loại bỏ chức vụ tổng thống vào thứ Sáu tuần trước.

(Bài viết theo bình luận của kênh Đông Phương Tung Hoành, thể hiện quan điểm riêng của cá nhân tác giả)

Chủ tịch Hạ viện Pelosi và Tổng thống Trump (Ảnh ghép của Gage Skidmore và Nhà Trắng/ Flickr)

Chiêu đầu tiên được tung ra sau khi ông Trump tuyên thệ nhậm chức, trong khi các nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia gọi điện chúc mừng, thì ghi chép về các cuộc điện thoại của Tổng thống Mexico Nieto và Thủ tướng Úc Turnbull đã bị rò rỉ. Chỉ trong vòng 125 ngày đầu tiên kể từ khi ông Trump nắm quyền bính, thông tin đã bị rò rỉ 62 lần, đây đều là những nội dung mật liên quan đến an ninh quốc gia, nhưng bằng cách nào đó lại bị lọt ra ngoài. Các Tổng thống tiền nhiệm cũng gặp phải tình trạng tương tự nhưng ở quy mô nhỏ hơn rất nhiều. Trong những ngày đầu của chính quyền Obama, thông tin mật bị lộ 8 lần, chính quyền Bush bị lộ 9 lần. Năm 2019, khi ông Zelensky đắc cử tổng thống Ukraine, ông Trump đã gọi điện chúc mừng, nội dung cuộc điện thoại đã bị rò rỉ. Cuộc điện thoại Ukraine dẫn đến thủ tục luận tội bắt đầu vào tháng 12 năm ngoái, khi mà dịch truyền nhiễm khởi phát lây lan ở Mỹ, thì Quốc hội Mỹ vẫn đang bận rộn với việc luận tội ông Trump.

Bộ trưởng Tư pháp William Barr đang điều tra việc các quan chức trong hệ thống sử dụng bộ máy nhà nước tẩy chay Tổng thống Trump, ban đầu dự tính công bố trước bầu cử. Nhưng diễn biến trước mắt cho thấy, Barr dự định chờ đến sau bầu cử mới đưa ra thông báo. Theo nhận xét của những người trong cuộc, phân lượng sẽ không hề nhẹ, kể cả FBI, những quan chức từ các cơ quan tình báo khác cũng đều dính líu làm mất uy tín của chính quyền Trump với mục đích ngăn cản ông Trump phục vụ trọn 4 năm nhiệm kỳ. Nói trắng ra, đó là một cuộc đảo chính.

Đồng thời, các hãng truyền thông chủ lưu của Mỹ cũng đã không tiếc công sức công kích Tổng thống Trump, thậm chí từ bỏ tính khách quan mà các kênh truyền thông độc lập cần phải có. Họ đã bỏ qua các cơ chế kiểm tra thực tế, bỏ qua việc đánh giá các báo cáo, và mô tả ông Trump là một kẻ nguy hiểm đối với an ninh Hoa Kỳ. Vì vậy, rất nhiều vụ rò rỉ là có liên quan trực tiếp đến sự “thèm thuồng” của giới truyền thông đối với tài liệu bất lợi cho ông Trump. Cho đến nay, uy tín của giới truyền thông Mỹ đã sụt giảm nghiêm trọng cũng chính vì lý do này.

Ông Trump thắng cử, phe cánh tả, Đảng Dân chủ và truyền thông cho rằng, chiến thắng này là do Nga đứng sau hậu thuẫn, ông Trump trong nước và Nga ngoài nước hợp lực tạo thành. Sau 2 năm điều tra Nga, họ không tìm thấy bằng chứng nào liên quan đến Nga cả, truyền thông cho đến nay, cũng không có tin tức xác nhận ai là người tố giác việc “đi đêm” giữa ông Trump và Nga

Phải nói, ông Trump không dễ chọc tức, không phải là “trái hồng mềm” hễ bóp liền bẹp nát. Ngoài Bộ trưởng Tư pháp William Barr còn có cựu Chủ tịch Ủy ban Tình báo Hạ viện Devin Nunes, hai vị Giám đốc tình báo kế nhiệm, Ủy ban An ninh Nội địa Thượng viện, Ủy ban Tài chính và Tư pháp đều đang theo dõi cuộc điều tra và từng bước giải mật. Ông Trump cũng thông báo rằng tất cả các tài liệu liên quan đến Nga sẽ được giải mật, nhưng thời gian rất eo hẹp. Nếu ông Biden đắc cử, ông ấy sẽ lập tức ra lệnh giữ bí mật tài liệu.

Sau đây là manh mối thời gian gần đúng:

Vào ngày 5/7/2016, 4 tháng trước thềm tuyển cử, Giám đốc FBI James Comey đã tổ chức một cuộc họp báo, một mặt chỉ trích việc bà Hillary Clinton sử dụng máy chủ email riêng cho các nhiệm vụ chính thức, nhưng đồng thời tuyên bố rằng việc làm đó không vi phạm pháp luật. Cùng ngày tại London, các quan chức FBI đã gặp Christopher Steele – tác giả của bộ sưu tập các tài liệu chống ông Trump.

Vào ngày 26/7/2016, tức 21 ngày sau đó, cơ quan tình báo Hoa Kỳ nhận được một báo cáo cho biết, cơ quan tình báo Nga tin rằng bà Hillary Clinton đã ủy quyền để làm mất uy tín của ông Trump. Cách thức cụ thể là gộp ông Trump vào việc Nga đánh cắp máy chủ email của Ủy ban Dân chủ. Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương vào thời điểm đó là John O. Brennan, đã báo cáo vụ việc với Tổng thống Obama sau đó. Cùng ngày, đại biện thường nhiệm của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Anh nhận được tin nhắn từ một nước đồng minh, cho biết George Papadopoulos tiết lộ rằng, phe ông Trump nhận được một số gợi ý rằng Nga có thể tung ra một số tin tức không tốt cho bà Hillary Clinton. 5 ngày sau, vào ngày 31/7, FBI bí mật bắt đầu một cuộc điều tra giám sát chiến dịch của ông Trump.

Trên thực tế, vào ngày 5/7, FBI đã xem tài liệu chống Trump do Christopher Steele biên soạn, và ngay sau đó họ phát hiện ra rằng tài liệu này thực sự là của nhóm bà Hillary và ủy ban Đảng Dân chủ, Christopher Steele đã được trả tiền để biên dựng lại. Đến tháng 10, FBI biết được, một trong những người cung cấp thông tin ban đầu cho Christopher Steele thực chất là một điệp viên Nga. Đến tháng 12, khi ông Trump thắng cử, FBI phát hiện ra rằng hầu hết thông tin Steele có được là từ một điệp viên Nga mà Mỹ đã từng tiến hành điều tra về điệp viên này tận hồi năm 2009.

Đến tháng 1/2017, Đặc vụ Mỹ tiếp tục có thông tin về ‘tay trong’ kể trên. Theo người này giải thích, các tài liệu mà ông ta cung cấp đều là những mẩu phiếm, bù khú bạn bè. Cùng lúc, FBI nhận được thông tin tình báo, một số tài liệu do Christopher Steele biên soạn là thông tin tình báo giả do Nga tung ra để khuấy nước. Tuy nhiên, đến tháng 3/2018, tức là hơn một năm sau khi biết sự thật, lúc FBI báo cáo lên Ủy ban Tình báo Thượng viện, họ lại tuyên bố rằng mớ tài liệu trên của Christopher Steele là đáng tin cậy.

Thông tin vừa liệt kê trên có vẻ như cũng chỉ là nói một vài lời là xong, nhưng để có được những điều này, Quốc hội và chính quyền Trump đã phải trải qua những nỗ lực đáng kể. Quốc hội và chính quyền Trump đã yêu cầu tổng hợp thông tin từ FBI, Cục Tình báo Trung ương và các cơ quan tình báo khác, đồng thời phỏng vấn những người liên quan để hiểu ra tình huống. Mỗi bước đi đều gặp phải cản trở bởi lý do bảo mật và không tiện tiết lộ. Đó là lý do ông Trump ra lệnh giải mã tất cả tài liệu điều tra “thông đồng Nga”.

Đừng nhìn vào hành động kiên quyết của ông Trump ở bề mặt, trên thực tế là do những trở ngại đã bị loại trừ. Tầng tầng lớp lớp quan chức đều đang ra sức cản trở. Sau khi ông Trump ra lệnh giải mật, ngay lập tức phải đối mặt với cơn lốc chỉ trích, rằng động thái của ông là đang chính trị hóa toàn bộ bộ máy nhà nước, làm tổn hại đến an ninh của Hoa Kỳ, v.v … Sau khi đọc sơ lược lịch sử về những thông tin liên quan đến Nga vừa được trình bày bên trên, hãy thử nghĩ xem, đó là mối đe dọa của Nga đối với Hoa Kỳ, hay các quan chức trong hệ thống hiện tại mới là mối đe dọa lớn đối với Hoa Kỳ? Trong cuộc vận động tranh cử của ông Trump cách đây 4 năm, “tát cạn đầm lầy” (drain the swamp) chính là khẩu hiệu của ông ấy. Bạn nghĩ xem, các quan chức trong hệ thống có thể ưng thuận không?

Bên cạnh đó, hôm thứ Sáu tuần trước, Chủ tịch Hạ viện Pelosi đã đề xuất lập pháp và thành lập một ủy ban chuyên hợp tác với đảng đối lập. Tu chính án 25 có thể được sử dụng để loại bỏ tổng thống khỏi nhiệm kỳ. Ngay cả các kênh truyền thông cánh tả cũng thấy điều này rất hoang đường. Tu chính án 25 của Hiến pháp Hoa Kỳ là một biện pháp xử lý rất nghiêm trọng đối với việc tổng thống mất khả năng điều hành. Hiến pháp quy định rằng phó tổng thống và hầu hết các quan chức nội các phải xác định rằng tổng thống đã mất khả năng điều hành hoặc điều đó phải được xác định bởi một cơ quan do Quốc hội thành lập theo luật.

Trong lịch sử, chỉ có Tổng thống Reagan và Bush là sử dụng Tu chính án 25, đó là những gì họ tự yêu cầu thực hiện, trước khi gây mê phẫu thuật, họ tạm thời để phó tổng thống nhiếp chính. Bây giờ Chủ tịch Hạ viện Pelosi muốn biến nó thành một cây gậy chống lại tổng thống hiện tại.

Nội dung cụ thể của dự luật này là gì? Cần thành lập một ủy ban liên đảng, tổng cộng có 16 thành viên, một nửa là đảng viên Dân chủ, một nửa là đảng viên Cộng hòa, tám người trong số họ phải là bác sĩ, và bốn người là nhà tâm lý học. 16 thành viên này sẽ cùng bầu ra thành viên thứ 17. Chỉ cần Thượng viện và Hạ viện thông qua một nửa trong số đó, ủy ban này có thể tiến hành kiểm tra sức khỏe tổng thống. Theo Tu chính án thứ 25, ủy ban này phải được Phó Tổng thống phê duyệt, tuy nhiên, khả năng sẽ không có Phó Tổng thống nào làm điều này, và Pence cũng sẽ không bao giờ làm điều đó. Đề xuất này dự kiến ​​sẽ không được thông qua tại Quốc hội. Ngay cả khi Đảng Dân chủ kiểm soát Thượng viện và Hạ viện, ngay cả khi ông Biden được bầu, ông ấy cũng sẽ phủ quyết đề xuất của bà Pelos

Chỉ còn 20 ngày nữa, sẽ diễn ra tổng tuyển cử, các cuộc thăm dò cho thấy ông Biden đang dẫn đầu, và vị trí dẫn đầu vẫn đang thăng cấp. Tại sao một đề xuất vô lý như vậy lại được đưa ra vào lúc này? Một số người nói rằng bà Pelosi đang diễn kịch. Thực tế, mục tiêu của bà là ông Biden. Năm tới ông Biden sẽ 78 tuổi. Hiện đã bị suy nhược tinh thần. Mục tiêu của bà Pelosi là muốn dùng Tu chính án 25 để lật đổ ông Biden và thay thế bằng bà Kamala Harris.

Cũng còn một khả năng khác là bản thân Đảng Dân chủ tin vào kết quả của các cuộc thăm dò dư luận hiện tại. Các cuộc thăm dò nội bộ của chính họ có thể không lạc quan chút nào. Bà Pelosi lo lắng rằng ông Trump sẽ tái đắc cử. Nếu ông Trump tái đắc cử và họ tiếp tục tìm cách lật đổ ông, e rằng họ sẽ còn bị “giày vò” thêm  4 năm nữa.

Theo Đông Phương Tung Hoành (東方縱橫) / TrithucVn
(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của cá nhân tác giả)