Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời

Hòn đảo này là một địa điểm hoàn hảo để có thể ghi lại sự thay đổi của đất trời, của cây lá, không khí, dòng sông, khu rừng.

Jani Ylinampa là một nhiếp ảnh gia sống tại Rovaniemi, Phần Lan. Anh được coi là bậc thầy thực sự trong việc nắm bắt và lưu giữ những hình ảnh huyền diệu đầy xúc động từ thiên nhiên, như một buổi hoàng hôn ngoạn mục, những khu rừng xinh đẹp, những hồ nước trong lành hay một sớm bình minh còn phủ đầy sương trên cây cỏ…

Trong 15 năm hoạt động nhiếp ảnh, hòn đảo nhỏ có tên Kotisaari là một trong những vùng đất bí ẩn đã được Ylinampa khám phá ra. 

Hòn đảo nhỏ này nằm giữa dòng sông Kemi xinh đẹp, thanh bình. Từ cuối thế kỉ 19, đảo Kotisaari đã là điểm gặp gỡ của những người đi rừng ở Rovaniemi, Lapland, Phần Lan. 

Ngày nay, hòn đảo nhỏ thơ mộng này đã trở thành một điểm thu hút khách du lịch vào tất cả các dịp trong năm.

Bạn có thể đi đến đảo Kotisaari bằng một chiếc thuyền máy nhỏ, đồng thời cũng có thể du ngoạn trên dòng sông Kemi để nhìn ngắm cảnh thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ của vùng đất Bắc Âu này. 

Trên hòn đảo nhỏ xíu có một vài căn nhà gỗ nhỏ được dựng lên cho khách tham quan dừng lại nghỉ chân, thư giãn và ngắm nhìn vạn vật xung quanh, lắng nghe thiên nhiên và hơi thở của chính bản thân mình.

Năm 2015, Jani Ylinampa đã dùng máy bay không người lái để chụp lại hòn đảo này từ trên không. 

Sau đó, những bức ảnh đã lan truyền chóng mặt trên mạng xã hội khiến hòn đảo nhỏ này nhận được nhiều sự chú ý. 

Sau đó, Jani Ylinampa đã quyết định chụp lại cảnh quan thiên nhiên của hòn đảo thay đổi qua bốn mùa trong năm để giới thiệu đến tất cả mọi người.

Anh cho biết, hòn đảo này là một địa điểm hoàn hảo để có thể ghi lại sự thay đổi của đất trời, của cây lá, không khí, dòng sông, khu rừng. 

Cảnh sắc bốn mùa thay đổi rõ rệt khiến cho nhiều người không khỏi trầm trồ và mong ước được một lần đặt chân đến vùng đất diệu kì này.

Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 2.

Mùa xuân trên đảo Kotasaari

Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 3.

Mùa hạ trên đảo Kotasaari

Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 4.

Mùa thu trên đảo Kotasaari

Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 5.

Mùa đông trên đảo Kotasaari.

Cùng ngắm thêm một số hình ảnh rực rỡ của đảo Kotasaari và sông Kemi qua ống kính của Jani Ylinampa nhé!

Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 6.
Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 7.
Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 8.
Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 9.
Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 10.
Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 11.
Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 12.
Đảo tí hon Kotisaari bốn mùa thay lá đẹp như trong cổ tích, ai nhìn cũng ao ước được đặt chân đến một lần trong đời - Ảnh 13.


theo HELINO

Lịch sử hình thành ‘OK’: Từ cách viết tắt sai chính tả cho đến thuật ngữ phổ biến nhất thế giới

Lịch sử hình thành 'OK': Từ cách viết tắt sai chính tả cho đến thuật ngữ phổ biến nhất thế giới
“OK” TRÊN THỰC TẾ LÀ CÁCH VIẾT TẮT SAI CHÍNH TẢ TIẾNG ANH TỪ THẬP NIÊN 1830. VẬY NGHĨA CỦA NÓ LÀ GÌ VÀ TẠI SAO MỌI NGƯỜI VẪN DÙNG CHÚNG CHO ĐẾN NGÀY NAY?

Quay ngược dòng lịch sử vào thập niên 1830, tầng lớp doanh nhân trí thức tại thành phố Boston bắt đầu thịnh hành việc nói tắt những từ đã quá quen thuộc trong các cuộc nói chuyện. Ví dụ “OW” đại biểu cho “Oll Wright-All right” (được thôi), “KY” đại biểu cho “Know Yuse-Know Use” (biết cách sử dụng) và đặc biệt là “OK” đại biểu cho “Oll Korrect- All Correct” (tất cả đều ổn).

Kể từ thập niên 1800, cụm từ “All Correct” vốn được dùng để miêu tả mọi việc đều ổn theo yêu cầu đặt ra và việc sử dụng “OK” nhanh chóng được mọi người ưa dùng bởi tính thuận tiện và thời thượng. Suy cho cùng, chẳng có ai muốn lạc hậu khi nói chuyện với giới thương nhân và trí thức khi họ đều dùng từ tắt này.

Đến ngày 23/3/1839, cụm từ “OK” chính thức được công nhận trên mặt báo của tờ Boston Morning Post. Bắt đầu từ đó, hàng loạt tờ báo bắt đầu sử dụng “OK” và chúng trở nên phổ biến trên toàn nước Mỹ.

Thậm chí, Tổng thống thứ 8 của Mỹ là Martin Van Buren cũng đã dùng từ “OK” làm khẩu hiệu cho chiến dịch tranh cử lần 2 của mình vào năm 1841. Do sinh ra tại thị trấn Kinderhook thuộc New York nên Tổng thống Buren đã dùng khẩu hiệu: “Old Kinderhook was ‘oll korrect’”.

Martin Van Buren (1782-1862) là Tổng thống Mỹ thứ 8 từ năm 1837 đến năm 1841. Ông là một trong những người sáng lập nên Đảng Dân Chủ và còn là Thống Đốc thứ 9 của tiểu bang New York. Trước khi trở thành tổng thống, ông là Ngoại Trưởng thứ 10 và là Phó tổng thống thứ 8 của Mỹ.

Van Buren giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1836 nhờ sự ủng hộ hết mình của vị Tổng thống đáng kính Andrew Jackson và sự lớn mạnh trong tổ chức của Đảng Dân Chủ. Tuy nhiên, ông đã không may mắn trong cuộc tái tranh cử vào năm 1840 mà một phần là do sự trì trệ của nền kinh tế quốc gia trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1837.

Dù khẩu hiệu này được quảng bá rộng rãi nhưng hiệu quả nó đem lại khá thảm họa. Do khủng hoảng kinh tế năm 1837 mà danh tiếng của Tổng thống Buren bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Hàng loạt tờ báo đăng tải các bài châm biếm về khẩu hiệu “OK” và vô tình khiến từ viết tắt này trở nên ngày càng phổ biến hơn nữa.

Trong khi những từ viết tắt khác của tầng lớp tinh anh Boston dần biến mất theo thời gian thì “OK” lại phát triển mạnh, nhất là sau khi máy điện tín ra đời vào năm 1844, chỉ 5 năm sau khi báo chí sử dụng từ “OK”.

Những chiếc máy điện tín ban đầu sử dụng mã Morse để gửi những bức thông điệp ngắn trong khoảng cách xa. Chúng là một tập hợp những âm ngắn và dài để phân biệt các bảng chữ cái và “OK” trở thành ký tự được mọi người ưa thích sử dụng bởi ngắn gọn và không bị nhầm lẫn với những nội dung khác.

Với sự mở rộng của hệ thống đường sắt và điện tín, “OK” nhanh chóng phổ biến trong cộng đồng Mỹ. Thậm chí trong bản hướng dẫn điện tín phát hành năm 1865 còn quy định bất kỳ tin nhắn nào sẽ không được coi là chấm dứt nếu không có “OK” ở cuối câu.

Tác động từ marketing

Với “OK” hay chính xác hơn là chữ “K”, chúng rất khó xuất hiện trong các văn bản quy phạm tiếng Anh. Nghiên cứu năm 1961 cho thấy chữ “K” chỉ đứng thứ 22 trong bảng xếp hạng những chữ cái hay xuất hiện nhất ở văn viết.

Như một hệ quả tất yếu, việc xuất hiện chữ “K” sẽ bắt mắt và thu hút sự chú ý của người xem hơn và đây là lý do nhiều công ty có xu hướng thay thế chữ “C” bằng chữ “K” để quảng cáo. Ví dụ như “Catch-Katch” (Bắt), “Crush-Krush”, “Crazy-Krazy”…

Lịch sử hình thành OK: Từ cách viết tắt sai chính tả cho đến thuật ngữ phổ biến nhất thế giới - Ảnh 2.

Ngày nay, nhiều thương hiệu như Kool Aid hay Kraft Heinz đều là biến thể của phong trào trên.

Nhầm lẫn xuất xứ

Vào thập niên 1890, xuất xứ “OK” từ Boston đã bị quên lãng và nhiều tờ báo bắt đầu nhầm lẫn khi cho rằng từ này xuất phát bởi bộ tộc da đỏ Choctaw. Từ “Okeh” trong tiếng Choctaw có nghĩa là “như vậy đó”.

Tuy nhiên theo các nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ của người Choctaw không thể ảnh hưởng quá nhiều đến giao lưu cộng đồng Mỹ và do xuất xứ của nó quá xa xôi nên việc tác động đến văn hóa xã hội Mỹ thập niên 1830 là điều không thể.

Lịch sử hình thành OK: Từ cách viết tắt sai chính tả cho đến thuật ngữ phổ biến nhất thế giới - Ảnh 4.

“OK” lần đầu xuất hiện trên tờ Boston Morning Post vào năm 1839

Ngày nay, “OK” không còn để chỉ tất cả đều ổn nữa mà mang ý nghĩa khẳng định chung nhiều hơn, chấp nhận vấn đề mà không mang cảm xúc nào. Chúng được dùng thường xuyên đến mức chẳng ai đếm cũng như tự hỏi mình đã dùng bao nhiêu “OK” trong ngày.

Với sự bành trướng sức mạnh của Mỹ, “OK” dần trở thành từ thông dụng cho cả những nước chẳng sử dụng tiếng Anh. Thậm chí chúng còn trở thành biển hiệu thông dụng cho nhiều chương trình, hướng dẫn hay văn bản dù chúng có được viết bằng tiếng Anh hay không.

Theo Tổ Quốc

Những chuyện tình lãng mạn của tác giả cuốn “Người Mỹ trầm lặng”

nguoisantin

Học giả người Canada Richard Greene đã ra mắt cuốn tiểu sử mới về nhà văn lẫy lừng Graham Greene, tác giả cuốn “Người Mỹ trầm lặng”.

Sau khi phân tích, tập hợp dữ liệu từ hàng nghìn trang thư bị thất lạc được công bố gần đây và nhiều cuốn hồi ký mới của những người hiểu Greene nhất, học giả Graham Greene đã viết cuốn Russian Roulette: The Life and Times of Graham Greene (tạm dịch: Cò quay Nga: Cuộc đời và thời đại của Graham Greene).

GIÀU SỰ LÃNG MẠN

Là người giàu cảm xúc, những mối tình của Greene bắt đầu khi còn là một sinh viên trẻ tại Đại học Oxford. Hồi là thiếu niên, ông đã có cảm tình với nữ quản lý Gwen Howell, hơn Greene khoảng mười tuổi. Một hôm, ông nhìn thấy Howell nằm trên bãi cát, “váy bà để lộ ra một khoảng đùi dài trần trụi. Đột nhiên, ngay lúc đó, tôi rơi vào tình yêu, cả thân thể và trái tim”, theo chia sẻ của Greene được trích trong cuốn sách.

Tieu su Graham Greene anh 1

Cảm xúc này, hay có chăng là sự tán tỉnh, chỉ diễn ra mãnh liệt trong sáu tháng. Sau đó, vào năm 1926, Greene cải sang đạo Công giáo để kết hôn với Vivien Dayrell – Browning vào năm 1927. Đây không phải là một cuộc hôn nhân thành công nhưng cũng không hoàn toàn không có hạnh phúc. Và bất chấp những mối quan hệ bên ngoài của chồng, Vivien trên danh nghĩa vẫn là phu nhân của Graham Greene cho đến khi bà qua đời vào năm 2003.

Hầu hết người tình đều dành nhiều lời nồng ấm cho Greene dù ông không phải là chồng của họ. Người bạn đồng hành của ông trong 30 năm cuối đời chính là một trường hợp như vậy. Bà là Yvonne Cloetta, làm công việc nội trợ và rất xinh đẹp, mảnh mai, thích quần áo sáng màu và thích khiêu vũ.

Là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất thế kỷ 20 và có lẽ cũng là tác giả nổi tiếng nhất trong tất cả các nhà văn Anh, trải nghiệm sống của Greene kéo dài suốt thế kỷ trước. Ông sinh năm 1904 và mất sau một trận ốm ngắn năm 1991. Lúc đó, bên giường bệnh cùng ông là con gái và mối tình sâu đậm Cloetta.

Tieu su Graham Greene anh 2

MẮC CHỨNG TRẦM CẢM VÀ TỪNG THỬ THUỐC PHIỆN

Trong cuộc sống, đôi lúc Greene lâm vào sự khủng hoảng, dù ông giàu có, thành công hay có nhiều mối quan hệ tốt đến thế nào. Greene nổi tiếng và được ca tụng từ khi còn trẻ. Cuốn tiểu thuyết Stamboul Train đã bán được 30 nghìn bản khi Greene 28 tuổi và được quay thành bộ phim Orient Express. Là người nổi tiếng và quyến rũ, ông có thể di chuyển dễ dàng từ chuyến du ngoạn trên du thuyền cùng Vivien Leigh và Randolph Churchill đến khu ổ chuột của Mexico hoặc các khu vực chiến trường của thế giới trong thế kỷ 20.

Nhưng đằng sau sự hào nhoáng đó là một tuổi thơ từng bị bạn học bắt nạt vì nghi ngờ Greene mách lẻo bí mật của họ với hiệu trưởng trường học. Từ thời học sinh, ông đã có dấu hiệu trầm cảm, từng chơi trò cò quay Nga và có ý định tự tử. Khi Greene 16 tuổi, mẹ đã đưa ông đến gặp một nhà phân tâm học và nhà tâm linh có ảnh hưởng ở London.

Lúc đó, Greene yêu thích khung cảnh nghệ thuật London với những nhà hát và các cuộc triển lãm. Ông từng nói rằng đây là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời. Nhiều năm sau, ông được nhà trị liệu nổi tiếng Eric Strauss chẩn đoán là mắc rối loạn hưng – trầm cảm (ngày nay gọi là rối loạn lưỡng cực). Greene cũng thích uống rượu và từng thử thuốc phiện.

Greene muốn liệu pháp hiệu quả nhanh nhưng Strauss từ chối. “Hãy chịu đựng chứng trầm cảm trong hai tuần nữa. Cùng lúc đó, hãy bắt đầu viết ra những gì ông nhớ về thời thơ ấu của mình”, nhà trị liệu nói.

Tieu su Graham Greene anh 3

Đó là lời khuyên hữu ích khi Greene làm theo và chứng trầm cảm dịu đi. Lúc đó, không điều gì hiệu quả hơn việc đặt bút lên giấy.

Như Greene viết vào năm 1980: “Viết lách là một hình thức trị liệu, đôi khi, tôi tự hỏi làm thế nào mà tất cả những người không viết văn, sáng tác hay vẽ tranh có thể thoát khỏi sự điên loạn, u uất, sợ hãi, hoảng loạn…, vốn có trong đời sống con người”.

Thường được gọi là một tiểu thuyết gia Công giáo, các tác phẩm của Greene đưa độc giả đến với ranh giới giữa niềm tin và không tin. Là một nhà báo, một sĩ quan của tình báo Anh (MI6) và cũng là một nhà vận động không ngừng cho nhân quyền, Greene đã truyền tải được nhiều câu chuyện nội tâm về chiến tranh và chính trị ở hàng chục điểm nóng chiến sự trong thế kỷ trước.

Và lúc này, cuốn Russian Roulette: The Life and Times of Graham Greene vừa là một sự dí dỏm nhưng cũng rất sâu sắc và tổng thể về hành trình trưởng thành của một nhà văn có nhiều tác phẩm thay đổi cuộc đời hàng triệu người.

Sách hay /Zing

15 thói quen giúp bạn sống an lạc cả đời

Ngạn ngữ Pháp nói rằng thói quen là bản năng thứ hai của con người. Sẽ có những thói quen tốt và cả những thói quen xấu hình thành từ kết quả sinh hoạt, học tập và tu dưỡng của mỗi người qua thời gian. Tuy nhiên, nếu chú ý hơn vào việc hình thành một số thói quen tốt, bạn sẽ có một cuộc sống an lạc, hạnh phúc cũng như luôn gặt hái được nhiều thành công.

15 thói quen giúp bạn sống an lạc cả đời
(Ảnh: Shutterstock)
1. KHÔNG NGỪNG HỌC HỎI

Việc học giúp chúng ta giữ sự trẻ trung, ước mơ khiến chúng ta tràn đầy sức sống. Khi vận dụng não, chúng ta sẽ không nghĩ nhiều đến những điều không vui nữa, mà sẽ trở nên vui vẻ và thỏa mãn hơn.

2. LỰA CHỌN BẠN BÈ MỘT CÁCH SÁNG SUỐT

Yếu tố bên ngoài quan trọng nhất ảnh hưởng đến hạnh phúc cá nhân là quan hệ xã giao. Chỉ số hạnh phúc và niềm vui của chúng ta có sự gắn kết mật thiết với chất lượng mối quan hệ của ta với những người xung quanh, chất lượng mối quan hệ này chính là sự tin tưởng lẫn nhau giữa những người có tinh thần lạc quan. Vì vậy nếu bạn muốn trở nên vui vẻ hơn, hãy lựa chọn sống cùng những người bạn lạc quan, họ có thể hiểu được con người thật sự của bạn, để cuộc sống của bạn trở nên phong phú, vui vẻ và có ý nghĩa hơn.

15 thói quen giúp bạn sống an lạc cả đời
(Ảnh: Pixabay)
3. HỌC CÁCH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Những người sống an lạc, vui vẻ là người biết cách giải quyết vấn đề. Khi gặp thử thách trong cuộc sống, họ sẽ không tự ngược đãi bản thân và trở nên chán nản. Họ sẽ đối diện với thử thách, dùng toàn bộ sức lực để tìm cách giải quyết. Đồng thời với quá trình đó, bạn sẽ xây dựng sự tự tin và khả năng đối diện với thử thách của bản thân.

4. LÀM VIỆC MÀ BẠN MUỐN LÀM

1/3 thời gian sống của chúng ta đều dành cho công việc, vậy thì việc làm những điều mình muốn có ảnh hưởng rất lớn đến cảm giác hạnh phúc của chúng ta. Nếu bây giờ không làm được những điều mình muốn, vậy hãy thử tìm kiếm niềm vui và ý nghĩa trong công việc mà mình đang làm, hoặc nuôi dưỡng sự yêu thích và hứng thú.

Nụ cười là phương thức hữu hiệu nhất để làm giảm sự tức giận và thất vọng. Nghiên cứu cho thấy, chỉ cần cong khóe miệng cũng có thể tăng cảm giác hạnh phúc của bạn. Đừng quá nghiêm túc trong cuộc sống, phải học cách tìm kiếm sự hài hước và mỉm cười khi mỗi ngày trôi qua.

8 vấn đề quan trọng quyết định tương lai của trẻ
(Ảnh: shutterstock.com)

Sân hận và tức giận là tự trừng phạt bản thân. Khi bạn thả lỏng tâm trạng, trên thực tế nghĩa là đang đối xử tốt với bản thân. Quan trọng nhất là phải học cách tự tha thứ. Ai cũng sẽ phạm lỗi, chỉ có thông qua sai lầm, chúng ta mới dần học được cách trở thành người mạnh mẽ hơn.

Hãy học cách biết hưởng thụ những lời chúc phúc trong đời. Việc bạn thể hiện sự biết ơn của mình đối với những người khiến cuộc sống của bạn tốt hơn cũng rất quan trọng.

Ngoài ra, bạn cũng nên học cách biết ơn. Bước chậm lại, quan sát xung quanh mình, để ý đến những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống: những đóa hoa màu tím nhạt bên đường, mặt trời lặn tuyệt đẹp, trời mưa to rửa trôi mọi sự mệt mỏi trong một ngày của bạn, nụ cười trong mắt nửa kia. Khi bạn có thể thưởng thức được cái đẹp của cuộc sống, suy ngẫm và hạnh phúc bằng lòng biết ơn của mình, tự nhiên bạn sẽ tràn đầy cảm giác hạnh phúc.

Chúng ta sẽ không ngừng cảm thấy hạnh phúc khi giao tiếp với người khác. Chăm chú lắng nghe là hai điều quan trọng nhất để tăng mối liên hệ và mang cảm giác hạnh phúc đến cho bản thân cũng như đối phương.

lắng nghe, bạn bè, thấu hiểu
(Ản: Shutterstock)
9. GIỮ LỜI HỨA

Sự tự tôn của chúng ta được xây dựng khi chúng ta giữ lời hứa. Sự tự tôn cao độ liên hệ trực tiếp với cảm giác hạnh phúc. Vì vậy phải tuân thủ lời hứa của mình với người khác.

10. GIỮ THÁI ĐỘ LẠC QUAN

Mỗi khi bạn đối diện với thử thách, nếu bạn có xu hướng có những suy nghĩ xấu nhất, vậy thì hãy thay đổi tình trạng này. Tự nói với mình những điều tốt hoặc những điều mà bạn học được từ một tình huống nào đó. Chắc chắn sự lạc quan có thể mang đến cho bạn thành công và cảm giác hạnh phúc.

11. YÊU THƯƠNG VÔ ĐIỀU KIỆN

Không có ai là hoàn hảo cả. Hãy chấp nhận sự không hoàn hảo của bản thân và cả người khác. Yêu thương một người nào đó vô điều kiện hoàn toàn không có nghĩa là bạn phải dành toàn bộ thời gian để ở bên họ, hoặc giúp họ giải quyết vấn đề. Yêu thương vô điều kiện là chấp nhận con người thật của họ, để họ tự mình bước đi, tự mình tìm kiếm.

Chiếc hộp tình yêu của con gái
(Ảnh: Shutterstock)
12. HỌC CÁCH CHO ĐI

Có một nguyên tắc cực kì quan trọng trong tâm lý học: “Một khi bạn cho đi cũng chính là lúc bạn được nhận lại”, khi bạn cho đi mà không có sự toan tính, thì đây cũng chính là cách giúp bạn có thể nhận lại được niềm vui và hạnh phúc! Có thể nói rằng, làm việc thiện lành là một trong những cách tốt nhất để giữ tâm trạng an lạc. Khi chúng ta làm việc tốt, não sẽ trở nên linh hoạt hơn, giống như sự kích thích mà não nhận được khi bạn được người khác khen ngợi. Vì vậy, những người quan tâm đến người khác sẽ vui vẻ hơn những ai không biết quan tâm đến xung quanh.

13. TỰ CHĂM SÓC TỐT CHO MÌNH

Người không biết tự chăm sóc bản thân thường cũng sẽ không biết cách chăm sóc người khác, người không biết yêu bản thân cũng sẽ không biết làm thế nào để yêu thương người khác. Rõ ràng, một cơ thể khỏe mạnh là điều quan trọng để xem bạn có hạnh phúc không. Nếu bạn không khỏe, dù bạn có cố gắng ra sao đều sẽ rất khó mà vui vẻ được. Đảm bảo mình ăn ngon, tập thể dục đều đặn, dành thời gian nghỉ ngơi. Hãy chăm sóc tốt cơ cơ thể, trí não và tinh thần của bạn.

14. LÀM HẾT SỨC MÌNH RỒI BUÔNG TAY

Mỗi người đều có mức giới hạn nhất định. Có đôi khi, dù chúng ta rất cố gắng làm một việc gì đó, nhưng vẫn không được như ý. Vậy thì hãy làm hết sức mình rồi buông tay. Khi bạn đã cố gắng hết sức, bạn sẽ không còn hối tiếc nữa.

15. THIỀN ĐỊNH MỖI NGÀY
15 thói quen giúp bạn sống an lạc cả đời
Thiền định kết nối con người với tự nhiên và vũ trụ (Ảnh: Minghui.org)

Khoa học chứng minh rằng, thiền định có thể giúp giảm stress, ngủ ngon, kiếm soát tốt cảm xúc, trẻ hóa não bộ cũng như cải thiện trí nhớ. Những người thường xuyên thiền định cũng cảm thấy cuộc sống vui vẻ hơn so với những người khác. Do đó, mỗi ngày chỉ cần 30 phút dành cho thiền định, bạn sẽ cảm thấy cuộc sống trở nên an lạc hơn rất nhiều.

Bảo Ngọc / TrithucVn

Những điều châu Á cần biết về Trump

donald-trump8

Hầu như tất cả các học giả, lãnh đạo doanh nghiệp, các nhà làm chính sách hay người lái taxi người châu Á nào mà tôi từng gặp trong vòng sáu tháng trở lại đây đều nhanh chóng liên tục hỏi tôi về Trump.

Họ cảm thấy sửng sốt rằng một người hoàn toàn thiếu kinh nghiệm chính trị, hiểu biết về chính sách đối ngoại và căn bản kinh tế vĩ mô, một người thể hiện rõ thái độ khinh miệt đối với người ngoại quốc, phụ nữ và người khuyết tật, lại có thể chi phối đối thoại chính trị của Hoa Kỳ. Sự bối rối nhưng hứng thú về những trò tự kiêu tự đại của Trump đã nhường chỗ cho sự quan ngại ngày càng tăng rằng ông ta rất có thể trở thành người tiếp quản Phòng Bầu dục, dẫn tới những hệ quả bi thảm cho quan hệ kinh tế và an ninh trên khắp Châu Á – Thái Bình Dương.

Có bốn điểm mà các nước châu Á cần phải hiểu về hiện tượng Trump.

Thứ nhất, cuộc bầu cử gần như không liên quan tới châu Á. Bất chấp những tuyên bố thường kỳ của Trump về việc trang bị vũ khí hạt nhân cho Nhật Bản và Hàn Quốc, những kêu gọi tăng thuế nhập khẩu lên hàng Trung Quốc hay sự khinh miệt của ông ta đối với các hiệp định thương mại tự do, chính sách đối ngoại không phải là vấn đề đa số cử tri năm 2016 quan tâm.

Thứ thúc đầy cử tri Mỹ ngày nay là một thứ cocktail độc hại pha trộn tâm lý bất mãn đối với hệ thống kinh tế bị lũng đoạn bởi một tầng lớp chính trị theo đuổi lợi ích cá nhân. Những nhà tài chính gian lận khiến cho nền kinh tế sụp đổ năm 2008 nhưng lại nhận được các khoản tiền thưởng hậu hĩnh thay vì phải ngồi tù. Các tập đoàn và ban điều hành cấp cao xuất khẩu các công việc ngành chế tạo vốn từng cung cấp cho nhiều công dân Mỹ cuộc sống ổn định kiểu trung lưu. Mạng lưới an sinh xã hội bị bào mòn, cơ sở hạ tầng xuống cấp và nền giáo dục đắt đỏ khó đảm bảo khả năng thăng tiến xã hội. Trong lúc đó, những chính trị gia ở Washington lại phục vụ lợi ích của những nhà tài trợ giàu có trong khi chính phủ thì tiêu tốn hàng nghìn tỉ đô la trong các cuộc chiến thất bại tại Afghanistan, Syria và Iraq.

Tổng hợp tâm lý bất mãn của công chúng giải thích cho việc tại sao Trump có thể luôn tìm được người đồng tình đối với danh mục những đối tượng giơ đầu chịu báng, cho dù họ có là người Mexico, các nhóm thiểu số hay là người theo đạo Hồi.

Thứ hai, Trump là hậu quả hợp lý từ những hành vi của Đảng Cộng hòa sau hàng thập kỷ. “Chiến lược miền Nam” (Southern Strategy) của Richard Nixon đã tạo nên sự bất mãn của cử tri da trắng đối với những chương trình tăng cường quyền bầu cử và quyền xã hội cho nhóm thiểu số hay thách thức quan điểm của những người theo đạo Tin Lành. Kể từ đó, Đảng Cộng hòa tìm cách giành sự ủng hộ của cử tri bằng cách hứa hẹn sẽ đảo ngược thứ mà nhiều người coi là sự thoái hóa các giá trị Mỹ truyền thống.

Các thông điệp nhắm vào một số đối tượng hay đánh lừa công luận, cùng các chính sách không gây nên phí tổn (cost-free policies) và việc chi phối hãng Fox News cùng các buổi bình luận bảo thủ trên đài phát thanh, đã giữ cho những cử tri này trung thành với với đảng. Điều này xảy ra bất chấp thực tế rằng các ưu tiên trong chính sách của đảng Cộng hòa tập trung vào việc mang lại lợi ích cho một nhóm giàu có trong đảng khi việc cắt giảm thuế đem lại lợi ích cho “những công ty tạo công ăn việc làm” giàu có; bãi bỏ điều tiết trên diện rộng trong các lĩnh vực như ô nhiễm môi trường, an toàn lao động và tài chính; cắt giảm tài trợ cho các chương trình xã hội, như tem phiếu thực phẩm, hỗ trợ y tế và phúc lợi hưu trí.

Kể từ khi Ronald Reagan đưa ra tuyên bố lần đầu tiên, châm ngôn của đảng Cộng hòa là chính phủ không phải là giải pháp; mà chính phủ chính là vấn đề. Thỏa hiệp bị coi như phản bội. Vào năm 2010, lãnh đạo Thượng viện Mitch McConnell tóm tắt lại chiến lược này, khẳng định rằng mục tiêu của ông là bảo đảm Barack Obama chỉ có thể làm tổng thống trong một nhiệm kỳ. Những nỗ lực này được củng cố bằng việc từ chối hợp tác kịp thời với các ứng viên ngành tư pháp và hành pháp, cộng thêm với kỷ lục làm luật thấp nhất trong lịch sử hiện đại.

Sự thất bại của chính phủ trong việc đưa ra bất cứ giải pháp nào nhằm xoa dịu các cử tri bức xúc tạo thuận lợi cho các cuộc tấn công của Trump. Hàng thập niên trì trệ của chính phủ khiến họ muốn đánh liều vứt bỏ cái cũ và mang lại cái mới. Bạo lực tại các cuộc mít-tinh của Trump là bằng chứng cho cảm xúc thù địch bị dồn nén đó.

Thứ ba, Trump có thể thắng. Các chuyên gia bình luận của Mỹ không thiếu những dự đoán là thế nào chiến dịch tranh cử của Trump cũng sẽ thất bại thảm hại. Các chính trị gia Cộng hòa dòng chính bị phân hóa. Mức độ ủng hộ đảng xuống dốc. Lợi thế có sẵn về Đại cử tri đoàn của Đảng Dân chủ sẽ càng được củng cố bởi các nhóm cử tri lưỡng đảng e ngại trước viễn cảnh Trump lên làm tổng thống. Những tuyên bố như vậy rõ ràng tạo ra một tình huống khả dĩ về sự thất bại của Trump.

Tuy nhiên, những người dự đoán sự thất bại của Trump cũng chính là những người đã lập luận rằng Trump sẽ không thể nhận được trên 10% lượng phiếu bầu trong cuộc bầu sơ của đảng Cộng hòa, rằng nhóm các chính trị gia Cộng hòa dòng chính sẽ không “cho phép” đề cử Trump hay việc truyền thông vạch trần những điểm bất nhất của Trump sẽ hủy hoại khả năng tranh cử của ông ta. Tất cả những suy đoán này đã được chứng minh là không chính xác. Các chính trị gia dòng chính của Đảng Cộng hòa đã bắt đầu tập hợp để ủng hộ Trump trong khi một loạt liên tiếp những câu khẩu hiệu đã thay thế cho những đề xuất chính sách, hứa hẹn những giải pháp đơn giản cho những cử tri thất vọng mà trong đó có rất nhiều người thầm ủng hộ Trump.

Trong khi đó, những kết quả thăm dò không thuận lợi của Hillary Clinton cho thấy tồn tại một rào cản khó khăn. Kỹ năng tranh cử của bà còn yếu, và Hillary vẫn còn đang phải cạnh tranh trên hai mặt trận với cả Bernie Sanders lẫn Donald Trump, điều làm tiêu tốn nguồn lực và nguồn vốn chính trị.

Vấn đề bao trùm của Clinton không hẳn là việc những người ủng hộ Sanders và những người ôn hòa bên đảng Cộng hòa sẽ chịu chấp nhận bầu cho Trump. Thay vào đó, vấn đề nằm ở chỗ họ có thể sẽ tập hợp quanh một ứng viên mới sẽ nổi lên để phản đối các ứng cử viên chủ chốt (protest candidate), hoặc sẽ không tham gia bầu cử. Khi mức độ vận động cử tri cao, bên đảng Dân chủ sẽ thắng. Khi mức độ đó thấp, họ sẽ thua.

Cuối cùng, việc Trump trở thành tổng thống sẽ là một điều tai họa đối với châu Á. Chiến dịch tranh cử của ông không có những chuyên gia chính sách đối ngoại và rất nhiều những chuyên gia có kinh nghiệm thuộc đảng Cộng hòa đã tuyên bố không đội trời chung với Trump. Liệu vài người trong số họ có tham gia vào chính quyền của Trump không? Có thể, nhưng số người đó khó có thể đủ lớn để vượt qua chính sách “nước Mỹ trước tiên” của Trump.

Các quan hệ kinh tế từ các hiệp định thương mại khu vực cho tới các thể chế đa phương có khả năng trở thành nạn nhân của thứ kỹ năng thiết lập thỏa thuận mà Trump tự xưng. Các liên minh hàng thập kỷ nay cũng vậy, tương tự là cam kết không phổ biến vũ khí hạt nhân lâu nay của Mỹ, hay những nỗ lực khéo léo nhằm cân bằng giữa chính sách can dự nước đôi với Trung Quốc và quyết tâm sử dụng hài hòa sức mạnh quân sự của Mỹ bên cạnh sự tinh tế về mặt ngoại giao.

Các quốc gia châu Á đúng là nên lo lắng. Nhưng họ chẳng thể làm được điều gì ngoại trừ chờ đợi kết quả cuộc bầu cử vào tháng 11.

T.J.Pempel là giáo sư về Khoa học Chính trị tại Đại học California, Berkeley.

Nguồn: T.J.Pempel, “What Asia needs to know about Trump”, East Asia Forum, 05/05/2016

Biên dịch: Phạm Phan Hồng Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp