Tòa nhà văn phòng gợi nhớ về tuổi thơ ở làng quê

Ngôi nhà 4 tầng tại Sơn Trà, Đà Nẵng là nơi làm việc của những con người hiện đại lớn lên từ làng quê với lũy tre xanh, nhà mái ngói.

toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 1
Công trình được các kiến trúc sư của Ho Khue Architects thiết kế trên diện tích đất 350 m2. Trước đó, khu đất rộng lớn này gồm vài ngôi nhà cũ, bụi tre xanh và một số loại cây dại mọc tự nhiên.
toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 2
Ý tưởng của KTS là thiết kế công trình gợi cảm giác xưa cũ của làng quê trong một văn phòng hiện đại, giúp con người làm việc tại đây cảm thấy mình như một phần của thiên nhiên.
toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 3
Kiến trúc bên trong được thiết kế đơn giản, nhẹ nhàng với nhiều cây xanh được bố trí trong các không gian.
toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 4toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 5
Gạch không nung được sử dụng để tạo không khí của một ngôi nhà ở vùng quê. Sàn nhà được lát gạch bê tông với tông màu xám nhạt. Phần mái bằng xi măng được bố trí như một giàn giáo – phương pháp xây dựng đặc trưng của các miền quê. Điều này tạo ra chiều sâu cho tòa nhà với cấu trúc 3 chiều.
toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 6
Cây chuối, tre và một số loại cây bản địa khác được trồng ở tầng 1 của văn phòng. Phần tiếp giáp phía tây nam của ngôi nhà được xây dựng bằng bê tông và trang trí bằng các thanh nan để tránh nắng nóng, đồng thời cho phép luồng gió tự nhiên từ biển thổi vào.
toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 7
Làm việc trong văn phòng hiện đại này gợi lên cảm giác gợi nhớ về thời thơ ấu, khi cuộc sống con người vẫn còn khá đơn giản.
toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 8
Luồng không khí trong lành từ biển vào dẫn đến nhiệt độ dễ chịu, không bị lạnh.
toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 9
Hàng rào cây hoa bao quanh những khoảng tường thoáng tạo bóng mát và vẻ đẹp.
toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 10
Tầng thượng được trồng dày đặc các loại cây và cỏ để làm mát những tầng dưới.
toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 11
Tầng này có văn phòng điều hành, phòng họp và phòng ăn trưa rộng mở với một nhà bếp hoàn chỉnh.
toa nha van phong nhieu cay xanh thien nhien anh 12
Do thế hệ trẻ hiện đại ít có cơ hội được trải nghiệm không khí mộc mạc, chan hòa với thiên nhiên ở vùng làng quê nên công trình này đã mang những tinh thần đó vào không gian làm việc của họ.
Hà Bùi Ảnh: Hiroyuki Oki

Cái chết bí ẩn của nhà vật lý hàng đầu thế giới

Cuộc thương chiến Mỹ – Trung được cho chỉ là phần nổi, đằng sau đó là cuộc chiến công nghệ, khi các tập đoàn Trung Quốc đều bị Tổng thống Donald Trump “sờ gáy”, từ Huawei, Tik tok… Việc Trung Quốc tập trung 1.000 nhà khoa học tài năng người Hoa ở Mỹ và không tiếc tiền thâu tóm các doanh nghiệp công nghệ bản địa, bị Nhà Trắng cho rằng đây là hành động trộm cắp công nghệ để tuồn về Trung Quốc.

Đỉnh điểm của cuộc chiến công nghệ là giám đốc tài chính Huawei bị bắt giữ, nhiều nhà khoa học bị điều tra và cái chết bí ẩn của chuyên gia vật lý nổi tiếng người Hoa Trương Thủ Thịnh.

Cuối tháng 12/2018, đúng vào hôm “Công chúa Huawei” Mạnh Vãn Chu bị bắt giữ tại Canada cũng xảy ra vụ việc Trương Thủ Thịnh (Shou Cheng Zhang), nhà vật lý người Mỹ gốc Hoa nổi tiếng là “Người Hoa gần với giải Nobel vật lý nhất”, đồng thời là nhà đầu tư mạo hiểm bất ngờ nhảy lầu tự sát tại Mỹ ở tuổi 55. Thông tin ông chết lại được công bố cùng ngày với việc Mạnh Vãn Chu bị bắt đã phủ bóng mây nghi vấn lên cái chết bất thường này.

15 tuổi đã học đại học

Ngày 6/12/2018, Trường Đại học Stanford và người thân của Trương Thủ Thịnh đều đã xác nhận tin ông qua đời. Người nhà ông nói trong một văn bản tuyên bố, Trương Thủ Thịnh đã bất ngờ qua đời hôm 1/12 sau một thời gian chống chọi với chứng trầm cảm. 

Trương Thủ Thịnh sinh năm 1963 tại Thượng Hải, 15 tuổi đã vào học tại khoa Vật lý, Đại học Phục Đán; 17 tuổi được cử sang CHLB Đức học, cùng năm qua Mỹ học nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại phân hiệu Stony Brook University trực thuộc Đại học bang New York; người trực tiếp hướng dẫn là Giáo sư Dương Chấn Ninh, người đã đoạt giải Nobel về Vật lý. Năm 1987 ông lấy được bằng Tiến sĩ, năm 1993 ông được Đại học Stanford mời giảng dạy tại khoa Vật lý, hai năm sau thì trở thành Giáo sư suốt đời của khoa này ở tuổi 32.

Giáo sư Trương Thủ Thịnh. Ảnh: News.stanford.

Những thành tựu xuất sắc của Trương Thủ Thịnh về Vật lý Lượng tử đã đưa ông trở thành người nổi tiếng trên quốc tế, Năm 2007, Tạp chí “Science” của Mỹ coi thành quả nghiên cứu của ông và đồng nghiệp là một trong “10 thành tựu lớn mang tính đột phá quan trọng toàn cầu”. Đó là chứng minh được giả thiết về hạt fermion của nhà vật lý Ettore Majorana mà các nhà vật lý vất vả tìm kiếm trong suốt 80 năm trước đó. Trương Thủ Thịnh đã đặt tên cho loại hạt bí ẩn mà ông tìm thấy là “Hạt Thiên sứ”.

Trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình, Trương Thủ Thịnh đã được nhận tất cả các giải thưởng lớn về Vật lý, chỉ ngoại trừ giải Nobel. Trương Thủ Thịnh là Viện sỹ Viện Mỹ thuật và Khoa học Mỹ (American Academy of Arts and Sciences), Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ (United States National Academy of Sciences, NAS), Viện sỹ quốc tịch nước ngoài Viện Khoa học Trung Quốc. Giáo sư Dương Chấn Ninh, người đã nhận giải Nobel Vật lý từng nhận xét về người học trò của ông: “Đối với cậu ấy, việc được nhận giải Nobel chỉ còn là vấn đề thời gian”.

Chính quyền chú ý

Những thành tựu của ông Trương Thủ Thịnh được chính phủ Trung Quốc chú ý. Năm 2009 ông được lựa chọn tham gia “Kế hoạch ngàn người” – tức kế hoạch du nhập nhân tài từ nước ngoài về của Trung Quốc. Ông được Đại học Thanh Hoa mời về làm đồng Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu Khoa học và công nghệ Lượng tử, nhiều lần được các nhà lãnh đạo Trung Quốc tiếp và biểu dương. Tháng 1/2018, Trương Thủ Thịnh đã được trao Giải thưởng Khoa học kỹ thuật quốc gia năm 2017.

Giáo sư Trương Thủ Thịnh ra đi cùng ngày “Công chúa Huawei” bị bắt. Ảnh Box.

Năm 2012, phát biểu tại Diễn đàn thế kỷ của Đại học Thanh Hoa, Trương Thủ Thịnh nhớ lại chặng đường phát triển của ông: “Năm 2008, Trung Quốc bắt đầu thúc đẩy “Kế hoạch ngàn người”, cá nhân tôi rất vinh hạnh khi gặp được cơ hội như thế. Nhớ lại năm 1978, hồi đó bắt đầu khôi phục thi đại học, thực hiện Cải cách mở cửa; tôi chưa học Cao trung (tức Trung học Phổ thông) vẫn thử tham gia dự thi và đã đỗ ngay.

Sau đó, Trung Quốc bắt đầu cử lưu học sinh đi du học, tôi được chọn đào tạo dài hạn tại Đại học Berlin, Đức. Sau đó tôi giảng dạy tại Đại học Stanford, vẫn luôn nhớ đến sự phát triển của đất nước. Khi mà Trung Quốc cần dùng khoa học kỹ thuật để thúc đẩy phát triển thì “Kế hoạch ngàn người” được triển khai, đã cho tôi một cơ hội mới; sự giao lưu học thuật của tôi với các đồng nghiệp trong nước ngày càng rộng mở và dày hơn”.

Gần đây, “Kế hoạch ngàn người” của Trung Quốc gây nên sự chú ý và lo ngại của các giới quốc phòng, tình báo và học thuật Mỹ. Họ chỉ trích đây là bộ phận quan trọng trong nỗ lực của Trung Quốc nhằm chuyển nhượng, sao chép đểcuối cùng đuổi kịp và vượt Mỹ về quân sự, công nghệ… Mục tiêu của họ là thúc đẩy việc di chuyển công nghệ và bản quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ tới Trung Quốc một cách hợp pháp và cả phi pháp. 

Năm 2013, Trương Thủ Thịnh và nhà Vật lý người Anh Stephen Hawking đã được trao Giải thưởng Vật lý cơ sở. Sau khi được nhận giải, ông đã phát biểu trên đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV): “Tôi cũng là người đặc biệt tán thành tư tưởng Giấc mộng Trung Hoa do Chủ tịch Tập Cận Bình đề ra”. Ông đã cho các phóng viên xem bức ảnh ông và một học giả trẻ người Trung Quốc chụp chung với Giáo sư Dương Chấn Ninh. Ông nói, 3 thế hệ học giả có bối cảnh và cuộc sống khác nhau, “nhưng chúng tôi đều có chung một giấc mộng”.

Trương Thủ Thịnh không nói rõ thêm “giấc mộng chung” đó là gì, nhưng mọi người đều hiểu đó chính là “Giấc mộng Trung Hoa”, thực hiện “phục hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại” mà lãnh đạo Trung Quốc tuyên bố. “Giấc mộng” đó bị các học giả phương Tây giải thích là “Chiến lược bí mật để Trung Quốc thay thế Mỹ bá chủ toàn cầu”. 

Cũng năm 2013, Trương Thủ Thịnh và Cốc An Giai – một học trò của ông ở Đại học Stanford cùng nhau sáng lập ra quỹ đầu tư mang tên Danhua Capital. Công ty đầu tư mạo hiểm này đặt ở Silicon Valley, có số vốn ban đầu là 434,5 triệu USD, đầu tư cho hơn 100 công ty startup có tiềm năng nhất ở Mỹ, phần lớn trong các lĩnh vực nhạy cảm trí tuệ nhân tạo (AI), người máy, số liệu và blockchain.

Báo chí Trung Quốc công khai đưa tin, đứng sau quỹ Danhua Capital là Tập đoàn phát triển Trung Quan Thôn của Trung Quốc – một công ty quốc doanh được chính quyền thành phố Bắc Kinh tài trợ. Năm 2006, một Trung tâm sáng tạo Trung Quan Thôn – Silicon Valley diện tích 7 ngàn mét vuông đã được khánh thành tại thành phố Santa Clara, tiểu bang California. 

Tiền vốn của quỹ ra đi, công nghệ tiên tiến của nước ngoài và nguồn nhân lực cao cấp được mang về. Theo Bloomberg, từ năm 2014 đến giữa năm 2018, Trung Quốc đã cho lập 1.171 pháp nhân đầu tư như vậy, với số vốn lên tới 5,9 ngàn tỉ nhân dân tệ, tương đương 858 tỉ đô la!

Xâm nhập và bị điều tra

Sự thâm nhập của Trung Quốc vào Silicon Valley đã khiến các giới ở Mỹ chú ý. Hồi tháng 6-2018, hãng Reuters đưa tin, hơn 20 công ty đầu tư mạo hiểm ở Silicon Valley đã có mối quan hệ mật thiết với các quỹ của chính phủ hoặc công ty quốc doanh của Trung Quốc.

Hồi tháng 11/2018, bản Báo cáo điều tra Khoản 301 cập nhật” của Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ (USTR) nói, có chứng cứ cho thấy chính phủ Trung Quốc đã lợi dụng một loạt công ty đầu tư mạo hiểm (Venture Capital) ở Silicon Valley và một số trung tâm công nghệ để tạo thành một mạng lưới. 

Đầu tư và các hoạt động liên quan của họ nhằm thúc đẩy thêm mục tiêu chính sách của chính phủ Trung Quốc trong giới doanh nhân. Báo cáo đã nêu đích danh tên Danhua Capital là một trong số các công ty lợi dụng đầu tư mạo hiểm để giúp chính phủ Trung Quốc có được các công nghệ mũi nhọn và bản quyền sở hữu trí tuệ liên quan của Mỹ.

Cái chết của Giáo sư Trương Thủ Thịnh gây rúng động dư luận – Ảnh YT

Tiến sĩ Điền Nguyên, một bình luận viên thời sự người Hoa cho rằng, “Kế hoạch ngàn người” của Trung Quốc gắn kết các nhà khoa học gốc Hoa với Bắc Kinh, đương nhiên bị người Mỹ chú ý. Một ví dụ điển hình là Trung tâm Y học Tây Nam của Đại học University of Texas có ít nhất 4 giáo sư gốc Hoa tham gia “Kế hoạch ngàn người” đã bị điều tra, bị sa thải hoặc bị buộc từ chức. 

Ông Điền Nguyên nói, Danhua Capital của Trương Thủ Thịnh bị chính phủ Mỹ điều tra, thậm chí “Báo cáo 301” còn trực tiếp điểm tên, nói quỹ đầu tư này là “lô cốt đầu cầu” của Trung Quốc ở Đại học Stanford và Silicon Valley, chuyên thu thập những công nghệ mà Trung Quốc đang cần. Ông nhấn mạnh, “Kế hoạch ngàn người” bị coi là sự xâm thực các nhà khoa học người Hoa ở nước ngoài; chỉ cần có tên trong “Kế hoạch ngàn người” là về cơ bản đã trở thành đối tượng điều tra hàng đầu của Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI).

Ông nói: “Chỉ cần người nào tham gia “Kế hoạch ngàn người” là về cơ bản đã đối mặt với áp lực từ hai phía: một là từ phía chính phủ Mỹ và một đến từ phía Trung Quốc. Họ biệt đãi anh và quyết không để anh không có sự báo đáp lại”. Cho đến nay, chưa phát hiện được bằng chứng cho thấy quỹ trên làm việc theo lệnh của chính quyền Bắc Kinh, song quy mô và hoạt động của các quỹ đầu tư của nhà nước Trung Quốc đã gây lo ngại cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ. 

 ví dụ, Quỹ Đầu tư công nghiệp vi mạch Trung Quốc, còn được gọi là Quỹ Lớn (Big Fund) có vốn khoảng 21 tỉ đô la, được phân bổ thêm 47 tỉ đô la nữa trong năm 2018, hoàn toàn có thể “nuốt trọn” những doanh nghiệp vi mạch khổng lồ của Mỹ không mấy khó khăn qua các hoạt động đầu tư cổ phiếu, mua bán và sáp nhập…

Chính vì thế, Mỹ đã âm thầm điều tra hoạt động của các quỹ đầu tư của Trung Quốc và tháng 8-2018 đã công bố báo cáo sơ bộ về cung cách và chính sách công nghệ của Trung Quốc, làm cơ sở để kiến nghị Quốc hội Mỹ sửa đổi luật đầu tư, tăng quyền hạn của Ủy ban Đầu tư nước ngoài (CFIUS), siết chặt việc xem xét các dự án đầu tư, mua bán sáp nhập có sự tham gia của các quỹ đầu tư Trung Quốc.

Sự kiện Quỹ Danhua Capital bị USTR nêu tên, cùng với việc thành viên chương trình Ngàn tài năng liên tục bị sa lưới pháp luật ở Mỹ có thể là những yếu tố đưa tới chứng trầm cảm của nhà khoa học tài năng Trương Thủ Thịnh. Dù sao cái chết của ông – cùng với vụ bắt Phó chủ tịch Huawei – cũng làm hé lộ phần nào góc tối trong cuộc đối đầu công nghệ giữa Trung Quốc và Mỹ, thường bị che khuất sau những tuyên bố ồn ào về tăng thuế, cấm vận… 

Thực ra, cuộc thương chiến Mỹ-Trung không phải là chuyện thuế khóa, mà chính là công nghệ: cuộc chiến nhằm xác định vai trò thống trị về công nghệ, qua đó định hình toàn bộ nền kinh tế trong tương lai. Nhiều báo chí Trung Quốc khi đưa tin Trương Thủ Thịnh qua đời đều thống nhất nói là do “mắc chứng trầm cảm”; tuy nhiên trên các diễn đàn mạng xã hội ở bên trong Trung Quốc và hải ngoại lại lan truyền các thông tin khác hẳn.

Có tin nói ông Trương Thủ Thịnh do đầu tư thất bại, đã tự sát vì không chịu nổi trách nhiệm. Lại có tin nói do ông đang bị FBI điều tra. Nhiều người chú ý đến sự trùng hợp: hôm ông Trương Thủ Thịnh tự sát cũng chính là ngày bà Mạnh Vãn Chu – Phó chủ tịch, CFO (giám đốc tài chính) của Huawei bị bắt giữ tại Canada. Có nguồn tin nói, 1 ngày trước đó hai người còn tham dự hoạt động bên lề Hội nghị cấp cao G20 tại Buenos Aires. 

Lại có tin nói, năm 2017, ông Trương Thủ Thịnh đã tiếp xúc với giới chức lãnh đạo Huawei tại Thâm Quyến để thương lượng chuyện hợp tác với nhau… Về vụ này, tin công khai trên báo chí cho biết, ngày 1-4-2017, trong thời gian tham dự Hội nghị cấp cao công nghệ tại Thâm Quyến, Trương Thủ Thịnh đã gặp gỡ Dư Thừa Đông, Chủ tịch Công ty Trung Đoan trực thuộc Tập đoàn Huawei. Vụ này được coi là hai bên bàn chuyện hợp tác chế tạo chip bán dẫn.

Đủ mọi tin đồn xung quanh Trương Thủ Thịnh chưa được xác nhận; có lẽ chúng sẽ mãi mãi trở thành điều bí ẩn không thể được làm sáng tỏ đi theo cái chết đột ngột của ông. Steven Kivelson, Giáo sư vật lý của ĐH Stanford, bày tỏ cái chết của Trương là một “mất mát không thể tưởng tượng”. 

Những nghiên cứu của ông về lượng tử được tạp chíSciencexác định là một trong 10 thành tựu khoa học hàng đầu năm 2007. Ông cũng nhận nhiều giải thưởng vật lý, gồm Europhysics năm 2010, giải Oliver Buckley và giải Dirac năm 2012, cùng giải Vật lý Frontiers năm 2013.Nguyễn Hoàng-T.T (Theo Forbes)

Tạp chí Playboy – thuốc an thần của lính Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam

Playboy không chỉ có giá trị đối với những người lính nói riêng mà còn với cả quân đội nói chung. Ấn phẩm này đã trở thành một liều thuốc tinh thần hữu ích, đôi khi còn hơn cả những lá thư vốn được mong mỏi từ quê nhà.

Playboy – liều thuốc tinh thần của lính Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam

Bài viết của tác giả Amber Batura, nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành lịch sử tại Đại học Kỹ thuật Texas.

Nguồn: Amber Batura, “How Playboy Explains Vietnam,” The New York Times, 28/02/2017.

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Khoảng giữa bộ phim Apocalypse Now có một cảnh nổi tiếng là khi con tàu chạy sông của Martin Sheen đến được một trạm cung ứng nằm sâu trong rừng rậm, trong lúc thủy thủ đoàn mua dầu diesel, nhân viên cung ứng đã cho họ những tấm vé miễn phí để xem một chương trình – “Các anh biết đấy,” anh ta nói, “những cô thỏ.” Không lâu sau, họ ngồi ở một sân khấu tạm bợ dựng quanh một bãi đáp, xem ba cô người mẫu Playboy nhảy xuống từ trực thăng và nhảy theo bài “Suzie Q.”

Cảnh phim đó là hoàn toàn hư cấu; các người mẫu Playboy gần như chưa bao giờ đến lưu diễn ở Việt Nam, và chắc chắn không phải là theo nhóm. Nhưng ngay cả khi không có cô thỏ nào thì chắc chắn tờ tạp chí vẫn có mặt ở đây. Trên thực tế, khó mà nói hết vai trò hết sức sâu sắc của tạp chí Playboy đối với hàng triệu lính và nhân viên dân sự Mỹ có mặt ở Việt Nam trong suốt cuộc chiến: để giải trí, đúng, nhưng quan trọng hơn nó còn là nguồn tin tức, và thông qua mục trao đổi thư từ dày đặc, nó còn là một nơi để tâm sự và xưng tội.

Playboy không chỉ có giá trị đối với những người lính nói riêng mà còn với cả quân đội nói chung. Ấn phẩm này đã trở thành một liều thuốc tinh thần hữu ích, đôi khi còn hơn cả những lá thư vốn được mong mỏi từ quê nhà. Playboy ghi dấu ấn lên cuộc chiến bởi nó là sự kết hợp độc đáo giữa phụ nữ, các mục tiện ích, với bình luận xã hội và chính trị, biến nó trở thành một di sản đáng kinh ngạc về sự can dự của Mỹ tại Việt Nam. Năm 1967, nhà báo Ward Just của tờ Washington Post tuyên bố, “Nếu Thế chiến II là cuộc chiến của tờ Stars and Stripes và cô đào Betty Grable, thì cuộc chiến ở Việt Nam là cuộc chiến của Playboy.”

Chuyên mục nổi tiếng nhất của tạp chí này là “Playmate,” nằm ở hai trang chính giữa. Tổng biên tập và cha đẻ của Playboy, Hugh Hefner, có sẵn trong tâm trí hình ảnh người phụ nữ mà ông muốn miêu tả. Playmate, ban đầu được giới thiệu với cái tên “Sweetheart of the Month,” là đại diện cho hình mẫu lý tưởng của Playboy. Nàng yêu nghệ thuật, chính trị, và âm nhạc. Nàng tinh tế, vui vẻ, và thông minh. Quan trọng hơn, người phụ nữ lý tưởng này cũng quan tâm đến tình dục nhiều như người đàn ông lý tưởng được mô tả trong tạp chí. Nàng không theo đuổi đàn ông để kết hôn, mà để thỏa mãn cho nhau và bầu bạn.

Người mẫu Playmate khác với những biểu tượng gợi cảm của Thế chiến II, dù đi theo di sản của họ. Hefner muốn tạo ra hình ảnh của những phụ nữ có thực mà độc giả của họ có thể gặp được trong cuộc sống hằng ngày – bạn học cùng lớp, thư ký, hay hàng xóm – thay cho hình ảnh những phụ nữ được cách điệu hoá và thường là người nổi tiếng của thế hệ trước đó. Dâm dục nhưng quen thuộc, hình tượng “cô gái nhà bên” là người bạn hoàn hảo cho những người lính đóng quân tại Việt Nam. Vẻ đẹp và sức hấp dẫn của người Mỹ được thể hiện chủ yếu bởi các cô người mẫu xa lạ đã nhắc nhở những người lính trẻ về những phụ nữ mà họ bỏ lại ở quê nhà, vì ai mà họ chiến đấu – và, nếu sống sót, họ sẽ được trở về với họ.

Playmate và các chuyên mục hình ảnh khác trong tờ tạp chí còn phục vụ một mục đích khác cho quân đội Mỹ tại Việt Nam, dù không chủ ý. Những hình ảnh và bức vẽ thường là thô tục của Playboy đã truyền tải những chuẩn mực xã hội và tình dục đang thay đổi ở Mỹ. Sự xuất hiện của người mẫu da màu, năm 1964 là China Lee, và năm 1965 là Jennifer Jackson, phản ánh thái độ thay đổi về chủng tộc. Nhiều người lính đã viết thư cho tạp chí và các người mẫu Playmate để cảm ơn sự xuất hiện của họ trên Playboy. Đặc biệt, những người lính da đen còn cảm thấy hình ảnh của cô Jackson đã mở rộng hứa hẹn về cuộc sống tốt đẹp mà Hefner dành cho họ. Xem những hình ảnh này buộc tất cả người dân Mỹ phải suy nghĩ lại về định nghĩa cái đẹp của họ.

Theo thời gian, Playmate đã dần thúc đẩy ranh giới của các chuẩn mực xã hội và cả các định nghĩa pháp lý khi họ đăng nhiều ảnh khoả thân hơn, đầu tiên là ảnh lông mu vào năm 1969 và ảnh khoả thân toàn bộ nhìn từ đằng trước vào năm 1972. Tờ Washington Post viết rằng các tù nhân chiến tranh người Mỹ đã “rất sốc” khi nhìn thấy ảnh khỏa thân trong một tờ Playboy lậu trên chuyến bay về nhà vào năm 1973. Sự khỏa thân, tính dục và sự đa dạng được thể hiện trong những bức ảnh ấy đại diện cho những thái độ mang tính dễ dãi hơn về tình dục và vẻ đẹp mà những người lính đã bỏ lỡ trong những năm bị giam cầm.

Sự hấp dẫn của Playboy đối với lính Mỹ không chỉ dừng lại ở Playmate. Họ thực sự đã đọc cả tờ tạp chí vì các bài viết. Tạp chí thường xuyên cung cấp các bài viết đặc biệt, xã luận, các bài bình luận và quảng cáo tập trung vào lối sống và giải trí của nam giới, bao gồm thời trang cao cấp, du lịch nước ngoài, kiến trúc hiện đại, công nghệ mới nhất, và xe hơi sang trọng. Playboy tự định hướng mình trở thành kim chỉ nam cho những người đàn ông mong muốn đạt được tầm nhìn về cuộc sống tốt đẹp của Hefner, bất kể họ ở San Diego hay Sài Gòn.

Với các thanh niên đang phục vụ ở Đông Nam Á, có độ tuổi trung bình là 19, nghĩa vụ quân sự thường là công việc đầu tiên cho họ thu nhập khả dụng. Họ đọc tạp chí để được tư vấn về những món đồ nên mua, những chiếc xe tốt nhất và những món đồ thời trang mới nhất – các loại sản phẩm mà họ thường mua được ở một trong những trung tâm trao đổi lớn tại các căn cứ của Việt Nam hay các trung tâm mua sắm đang mọc lên nhanh chóng, chẳng khác gì các món hàng mua được ở nhà.

“The Playboy Advisor,” chuyên mục tư vấn của tạp chí, khuyến khích mọi người đặt câu hỏi về tất cả các loại chủ đề, từ loại rượu tốt nhất đến tình hình cổ phiếu ở nhà, đến tư vấn phòng the, đến cách làm quen với cuộc sống thường dân. Binh lính xem Playboy như một công cụ hữu ích để tìm ra vai trò của mình trong một thị trường định hướng tiêu dùng mà giờ đây họ đã có thể tham gia vì tính cơ động và thu nhập mà nghĩa vụ quân sự đã cho họ.

Nội dung của tờ tạp chí đã vượt ra ngoài lối sống và giải trí khi sứ mệnh của nó được phát triển. Trong những năm 1960, Playboy đã cho đăng nhiều bài viết thẳng thắn về các vấn đề xã hội, văn hoá và chính trị quan trọng mà nước Mỹ đang phải đối mặt, thường được viết bởi các nhà báo đoạt giải Pulitzer, các nhà lãnh đạo trong chính phủ hoặc quân đội, và các cây bút văn chương hàng đầu. Tạp chí đã đề cập đến các chủ đề như nữ quyền, phá thai, quyền của người đồng tính, chủng tộc, các vấn đề kinh tế, phong trào phản văn hóa, và các vụ bỏ tù hàng loạt – những thứ binh lính không thể thấy trong tờ Stars and Stripes. Tạp chí Playboy còn cung cấp các cuộc phỏng vấn chuyên sâu với mọi tên tuổi, từ Malcolm X đến lãnh đạo Đảng Nazi Mỹ George Lincoln Rockwell, giúp những người lính trẻ biết đến các lập luận và ý tưởng về chủng tộc và quyền bình đẳng của người Mỹ gốc Phi mà có thể họ đã không được giới thiệu ở quê nhà. Nghĩa vụ ở Việt Nam khiến nhiều binh lính được tiếp xúc trực tiếp với các chủng tộc và các nền văn hoá đa dạng, và Playboy đã giới thiệu cho họ những ý tưởng và lập luận mới về các vấn đề xã hội và văn hoá ấy.

Ngay từ năm 1965, Playboy đã bắt đầu cho chạy các bài viết về Chiến tranh Việt Nam, với lập trường biên tập thể hiện sự phản đối leo thang xung đột. Dĩ nhiên, về chuyện này đội ngũ biên tập đã rất thông minh: Quan điểm của họ có thể chỉ trích tổng thống, chính quyền, các nhà lãnh đạo quân sự và chiến lược, nhưng họ cũng đảm bảo rằng những người viết bài sẽ làm hết sức mình để ủng hộ binh lính. Năm 1967, lính Mỹ được đọc lập luận của nhà kinh tế học tự do John Kenneth Galbraith rằng “không phần nào trong lý lẽ ban đầu” giúp biện minh cho cuộc chiến là “còn nguyên vẹn,” khi ông bác bỏ ý tưởng về sự thống nhất thành một khối của chủ nghĩa cộng sản và các biện minh cho cuộc chiến khác liên quan đến Chiến tranh Lạnh. Nhưng điều đó khác với việc công kích quân đội. Năm 1971, nhà báo David Halberstam viết trong một bài báo cho Playboy rằng “chúng ta ngưỡng mộ lòng dũng cảm và chủ nghĩa lý tưởng của họ, sự can đảm và sự cống hiến của họ khi đối mặt với những vấn đề bất tận. Chúng ta tin rằng họ là những đại diện tốt đẹp nhất của xã hội Mỹ.” Binh sĩ ở Việt Nam có thể quay sang Playboy để biết tin tức về cuộc chiến của chính họ mà không sợ mình bị chỉ trích.

Playboy cũng hữu ích trong vai trò là một diễn đàn cho những người đang tham gia cuộc chiến. Ấn phẩm này độc nhất ở số lượng các chuyên mục tương tác. Binh lính có thể gửi bài cho các mục như “Dear Playboy” để được tư vấn hoặc thể hiện phản ứng với các bài báo. Nhưng các thông tín viên ấy cũng được tự do kể lại những kinh nghiệm và mối lo thời chiến của mình. Họ thường mô tả cái mà họ coi là sự đối xử bất công của quân đội, thảo luận về những khó khăn trong việc trở lại cuộc sống dân thường, hoặc cảm ơn tờ tạp chí đã giúp họ vượt qua thời gian ở nước ngoài. Năm 1973, một người lính, R. K. Redini ở Chicago, đã viết cho Playboy về sự trở về của mình. “Một trong những thứ khiến chuyến đi Việt Nam dễ chịu hơn là được đọc Playboy hàng tháng,” ông nói. “Chắc chắn nó đã giúp tất cả chúng tôi quên đi những vấn đề của mình – dù chỉ trong một lúc ngắn ngủi. Tôi cảm ơn quý vị, không chỉ vì bản thân tôi, mà còn vì hàng ngàn người khác đã tìm thấy rất nhiều niềm vui trong tờ tạp chí của quý vị.”

Trong “The Playboy Forum,” một chuyên mục dành cho độc giả khác, nhiều người đã bình luận về những khía cạnh cụ thể trong loạt bài dài “The Playboy Philosophy” của Hefner về ma túy, vấn đề chủng tộc và đồng tính luyến ái trong quân đội. Hình thức diễn đàn cho phép những người đang phục vụ tại Việt Nam tiếp cận không chỉ với những người lính khác, mà còn với cả công chúng, cho họ một không gian an toàn để nói lên ý kiến và phê bình về quân đội. “Trong truyền thống, một người lính muốn phàn nàn thì sẽ được bạn bè khuyên nên thổ lộ với cha tuyên úy, hoặc báo cho tổng thanh tra, hay viết thư cho nghị sĩ của mình,” một người lính chia sẻ. “Bây giờ, có lẽ nhờ những lá thư về sự bất công trong quân đội trong The Playboy Forum, một tòa án thượng thẩm khác đã được thêm vào danh sách.”

Tầm quan trọng của tạp chí Playboy đối với những người lính ở Việt Nam đã vượt khỏi những trang Playmate. Họ thậm chí còn mượn linh vật con thỏ và logo của tạp chí để sơn lên máy bay, trực thăng, và xe tăng. Họ vẽ hình con thỏ trên các mảnh vá quần áo, và dùng từ “playboy” trong các mật hiệu và biệt danh. Đón nhận biểu tượng của Playboy là một cuộc nổi loạn nhỏ đối với quy tắc của đời sống quân đội, đồng thời là một bằng chứng về tác động của tờ tạp chí đối với cuộc sống và tinh thần của những người lính.

Và Playboy đã đáp lại sự ủng hộ này. Rất lâu sau khi cuộc chiến kết thúc, họ vẫn tài trợ cho các phim tài liệu về cuộc chiến, nghiên cứu về chất độc da cam và các nghiên cứu về rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý (của cựu chiến binh). Đó là một cam kết chứng tỏ mối quan hệ lâu dài giữa ấn phẩm này và những người lính, và cho thấy Playboy là một di sản đáng kinh ngạc đến thế nào của một trong những cuộc chiến dài nhất của nước Mỹ.

Theo NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ

Chuyện Nhật Bản thoát phương Tây, đánh bại Nga, trở thành cường quốc

Trong giai đoạn khai thác thuộc địa, châu Phi và nhiều nước châu Á trở thành thuộc địa của các nước phương Tây, Nhật Bản cũng bị nhòm ngó. Thế nhưng khác với đại đa số các nước khác, Nhật Bản không chỉ thoát khỏi nguy cơ trở thành thuộc địa, mà còn vươn lên thành cường quốc hàng đầu thế giới.

Đề phòng phương Tây

Năm 1543, một nhóm người Bồ Đào Nha trên một chiếc thuyền Trung Quốc bị trôi dạt đến đảo Tanegashima, nằm ở phần cực nam đảo Kyushu. Họ đưa ra một số loại súng ống của phương Tây. Đây là lần đầu tiên Nhật Bản tiếp xúc với loại vũ khí hiện đại này.

Bấy giờ ở Nhật Bản đang là thời kỳ chiến quốc (1467-1615) nên vũ khí rất được coi trọng. Người Nhật đã tìm hiểu và chế tác theo loại súng này. Đến năm 1560, súng ống đã được các lãnh chúa và Mạc phủ sử dụng cho các binh sĩ của mình.

Sau thời kỳ chiến quốc, Nhật Bản bước vào giai đoạn hòa bình. Cũng trong giai đoạn này, các nước phương Tây bắt đầu tìm hiểu và muốn mở rộng tới thị trường Nhật Bản. Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha muốn được đến Nhật để buôn bán và truyền Đạo. Nhưng người Nhật Bản vốn có truyền thống tín ngưỡng của riêng mình, nên dần dần có cái nhìn đề phòng, thậm chí lựa chọn thái độ bài xích, cấm đoán.

Chuyện Nhật Bản thoát phương Tây, đánh bại Nga, trở thành cường quốc
Thuyền Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đến Nhật buôn bán (tranh thế kỷ XVI).

Nhật Bản chỉ mở một cảng ở vịnh Nagasaki cho người Hà Lan đến buôn bán, bởi họ cho rằng người Hà Lan không can thiệp vào Nhật Bản mà chú trọng buôn bán hơn. Đồng thời thông qua việc giao thương này, người Nhật cũng có thể tiếp thu kỹ thuật phương Tây.

Bị Mỹ uy hiếp bắt mở cửa, châu Âu dòm ngó

Sau hơn 200 năm người Nhật lựa chọn thái độ cấm đoán, năm 1852, Phó đề đốc hải quân Mỹ là Matthew Perry đưa 4 tàu chiến là Mississippi, Plymouth, Saratoga, Susquehanna đến Nhật Bản nhằm tìm kiếm Hiệp ước thương mại. Các tàu chiến Mỹ đến gần Edo (Tokyo ngày nay). Perry hướng đại bác vào đất liền đe dọa, Nhật Bản cho các tàu chiến của mình vây quanh và yêu cầu các tàu chiến Mỹ rời đi.

Nhật Bản
Phó Đề đốc hải quân Mỹ Matthew Perry (Ảnh: Mathew Brady/Wikipedia)

Tuy nhiên Perry yêu cầu các tàu Nhật phải tránh xa nếu không sẽ dùng vũ lực tiêu diệt. Đồng thời Perry cho người chuyển thư của Tổng thống Mỹ đến Mạc Phủ kèm một lá cờ trắng ngụ ý buộc đầu hàng. Trong thư nêu rõ Mỹ muốn được giao thương với Nhật, nếu không sẽ dùng vũ lực. Sau đó Perry rời đi và nói sẽ quay trở lại nhận câu trả lời.

Tháng 2/1854, Perry trở lại Nhật Bản với số tàu chiến tăng gấp đôi. Trước sức mạnh của vũ khí phương Tây, Nhật Bản phải nhượng bộ. Đàm phán diễn ra, hai bên đồng ý ký Hiệp định Kanagawa, khiến phía Nhật chịu nhiều thiệt thòi.

Theo sau Mỹ, các nước châu Âu cũng đổ bộ vào Nhật Bản, buộc Nhật phải ký tiếp các Hiệp ước với Anh, Nga, Hà Lan, v.v.. Đây đều là các Hiệp ước không có lợi cho Nhật.

Sau khi thực thi các Hiệp ước bất bình đẳng với phương Tây, chế độ Mạc Phủ ngày càng suy yếu, khủng hoảng mọi mặt về xã hội, kinh tế và chính trị. Nhiều tầng lớp xã hội bất mãn bởi việc này.

Thiên Hoàng nắm quyền, bắt đầu thời kỳ Minh Trị

Trong lịch sử Nhật Bản thì rất nhiều thời kỳ Thiên Hoàng không nắm quyền. Năm 1868-1869 diễn ra cuộc chiến giữa các Phiên ủng hộ danh nghĩa Thiên Hoàng và quân của Mạc Phủ. Kết quả chế độ Mạc Phủ thua trận và sụp đổ, Triều đình Thiên Hoàng nắm quyền, thời kỳ Minh Trị bắt đầu.

Thời điểm này nhiều nước Đông Nam Á đã trở thành thuộc địa phương Tây. Người Nhật hiểu rằng để tránh trở thành nước thuộc địa thì cần cải cách đưa đất nước đến hùng mạnh, có tiềm lực quân đội ngang phương Tây thì mới được.

Thiên hoàng Minh Trị. (Tranh từ cuốn Tenno Yondai No Shozo, Wikipedia)

Cùng với rất nhiều nhân vật lỗi lạc thời đó, Thiên Hoàng đã thực hiện chính sách cải cách thay đổi quân sự, xã hội, chính trị và kinh tế, đưa Nhật Bản trở thành cường quốc công nghiệp. Tuy nhiên vì tự chủ động thay đổi nên người Nhật vẫn giữ được văn hóa truyền thống và niềm tin tín ngưỡng của dân tộc mình ở mức độ khá cao.

Giáo dục được thay đổi, ngoài giáo dục theo truyền thống, Nhật thuê 500 giảng viên nước ngoài đến 15 trường đại học để giảng dạy về khoa học và quân sự phương Tây. Các giảng viên này được trả lương đến 300 yên/tháng, cao gấp 10 lần so với người Nhật. Đồng thời Nhật Bản cũng cử những sinh viên giỏi sang du học ở phương Tây.

Nhật Bản cho nhập khẩu vũ khí từ phương Tây, thuê chuyên gia nước ngoài hướng dẫn tìm hiểu, hướng đến có thể tự sản xuất được vũ khí. Các sĩ quan nước ngoài trực tiếp huấn luyện quân đội: hải quân theo mô hình của Anh, bộ binh theo mô hình của Đức, hệ thống hậu cần được học hỏi từ nước Mỹ, đồng thời các sĩ quan của Nhật cũng được đưa sang Anh, Pháp học tập. Sau một phần tư thế kỷ, quân đội Nhật Bản thay đổi hoàn toàn.

Nhật Bản
Học viện quân sự Ichigaya được Pháp xây dựng ở Nhật, chụp năm 1874. (Ảnh: Christian Polak/Wikipedia)

Năm 1894-1895 diễn ra cuộc chiến Trung-Nhật, Nhật Bản giành được chiến thắng, thay thế nhà Thanh, buộc nhà Thanh phải từ bỏ quyền thiên triều đối với Triều Tiên. Hơn nữa, nhà Thanh còn phải cắt Đài Loan, quần đảo Bành Hồ cùng bán đảo Liêu Đông (Lữ Thuận) giao cho Nhật Bản.

Năm 1902, trước sự hùng mạnh của mình, người Nhật đã tự tin tuyên bố xóa bỏ các hiệp ước bất bình đẳng đã ký trước đó với các nước phương Tây. Đương nhiên phương Tây cũng không thể làm gì trước sự hùng mạnh của người Nhật.

Đánh bại Đế quốc Nga

Lúc này Đế quốc Nga hùng mạnh liên tục tiến về phía đông, từ Trung Á đến tận bán đảo Kamchatka (ở miền viễn đông nước Nga). Việc bành trướng của Nga khiến Nhật lo lắng bị ảnh hưởng quyền lợi, nhất là ở Triều Tiên và cả vùng Mãn Châu (phía đông bắc Trung Quốc). Cuộc chiến Nga-Nhật đã xảy ra.

Nhà Thanh được phương Tây khuyên nên nằm ngoài cuộc chiến. Các nước phương Tây giữ thái độ trung lập nhưng ngầm ủng hộ Nga, chỉ có Anh là ủng hộ Nhật Bản vì lo Nga sẽ tràn vào Ấn Độ vốn là thuộc địa của mình. Nhiều nước nhận định Nga sẽ thắng vì tiềm lực mạnh mẽ của Đế quốc này.

Thế nhưng thực tế người Nhật giành chiến thắng liên tục, khiến hạm đội Thái Bình Dương nổi tiếng của Nga cũng bị xóa sổ. Thế giới bị bất ngờ, chiến thắng đã đưa Nhật Bản trở thành cường quốc.

Quân Nga thảm bại, phải rút khỏi bán đảo Liêu Đông. (Ảnh: P. F. Collier & Son/Wikipedia)

Nga và Nhật ký Hòa ước Portsmouth, theo đó Nga phải triệt thoái khỏi Triều Tiên, Mãn Châu, đồng thời phải cắt đất trên đảo Sakhalin (một đảo lớn ở bắc Thái Binh dương) cho Nhật.

Từ một đất nước không cởi mở, bị hải quân Mỹ uy hiếp bắt mở cửa, bị phương Tây nhòm ngó muốn khai thác làm thuộc địa, Nhật Bản đã có cuộc thay đổi triệt để về mọi mặt, vươn lên thành cường quốc trên thế giới.

Trần Hưng / TrithucVn

Báo cáo Bộ An ninh Nội địa Mỹ tiết lộ 9 mối đe dọa lớn từ ĐCSTQ

Ảnh chụp màn hình Youtube/Sky News Australia

Mối đe dọa từ ĐCSTQ một lần nữa trở thành trọng tâm của chính phủ Mỹ.

Bộ An ninh Nội địa Mỹ (Department of Homeland Security) đã công bố báo cáo “Đánh giá mối đe dọa lãnh thổ quốc gia” đầu tiên trong tháng này. Đây là một báo cáo toàn diện được thiết kế để giáo dục công chúng về những mối đe dọa lớn nhất mà Hoa Kỳ đang phải đối mặt. Mối đe dọa từ ĐCSTQ một lần nữa trở thành trọng tâm của chính phủ Mỹ. Ngoài ra, báo cáo cũng đề cập đến các mối đe dọa từ các nước như Nga và Iran.

Trong một cuộc phỏng vấn với đài CBS, quyền Bộ trưởng An ninh Nội địa, Chad Wolf cho biết báo cáo này “bao phủ tất cả các mối đe dọa chính mà tôi chú ý đến hàng ngày”.

Ông Wolff cho rằng, “mối đe dọa chiến lược lâu dài nhất đối với người Mỹ, đối với lãnh thổ nước Mỹ, thậm chí cả lối sống của chúng tôi chính là mối đe dọa từ ĐCSTQ”.

“Nó bao gồm nhiều mối đe dọa khác nhau. Từ các mối đe dọa mạng Internet mà chúng tôi thấy, tác động của nước ngoài, an ninh chuỗi cung ứng, đến việc lợi dụng hệ thống học tập và thị thực của chúng tôi, đầu tư nước ngoài vào Hoa Kỳ, vi phạm chính sách thương mại …”, ông Wolff nói. “Trong làn sóng đe dọa này, chúng tôi đã thấy ĐCSTQ đóng một vai trò rất quan trọng và không ngừng gia tăng, cố gắng thực sự gây ra một số tổn thất lâu dài cho Hoa Kỳ”.

Báo cáo của Bộ An ninh Nội địa cho biết, an ninh thương mại và kinh tế chính là thuộc phạm trù an ninh nội địa. Trong thời đại cạnh tranh giữa các cường quốc, Bộ an ninh nội địa ngày càng lo ngại nhiều hơn đến các mối đe dọa từ các tác nhân chính phủ nước ngoài, đặc biệt là các mối đe dọa trực tiếp và gián tiếp từ ĐCSTQ đối với nước Mỹ. Những mối đe dọa này bao gồm sự tàn phá đối nền kinh tế Mỹ thông qua đánh cắp tài sản trí tuệ, sản xuất và bán hàng giả, cũng như các hành vi thương mại không công bằng khác.

“Nhiệm vụ của Bộ An ninh Nội địa là giảm thiểu những mối đe dọa này. Chúng tôi sẽ duy trì một quan điểm rõ ràng về việc coi ĐCSTQ như một đối thủ cạnh tranh chiến lược lâu dài của Mỹ”, báo cáo nhấn mạnh.

Dưới đây là tóm tắt 9 mối đe dọa chính của ĐCSTQ đối với Mỹ từ báo cáo của Bộ an ninh nội địa.

Đe dọa an ninh mạng

Báo cáo cảnh báo, ĐCSTQ đã tạo thành “mối đe dọa gián điệp mạng cao độ” đối với nước Mỹ, và năng lực tấn công mạng của Bắc Kinh vẫn đang gia tăng. 

Báo cáo cho hay, gần như chắc chắn rằng những đối tượng thực hiện các hành vi tấn công mạng ở Trung Quốc sẽ tiếp tục tham gia vào các hoạt động gián điệp mạng ở quy mô rộng lớn, đánh cắp tài sản trí tuệ và thông tin nhận dạng cá nhân từ các doanh nghiệp và cơ quan chính phủ Mỹ nhằm thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp quân sự và dân sự, đạt được lợi thế kinh tế và hỗ trợ các hoạt động tình báo của nó. ĐCSTQ ngày càng có khả năng đe dọa và nguy cơ phá hủy tiềm ẩn đối với các cơ sở hạ tầng quan trọng của Mỹ. 

Báo cáo đề cập rằng, các cuộc tấn công mạng của ĐCSTQ tập trung nhắm vào các công ty trong các ngành sản xuất, cơ sở công nghiệp quốc phòng, năng lượng, y tế và giao thông then chốt.

Mục tiêu của Bắc Kinh là các doanh nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông nước ngoài, mà các sản phẩm và dịch vụ của các công ty này đi vào mạng lưới các chính phủ và khu vực tư nhân trên toàn cầu. Đồng thời, Bắc Kinh cũng đang thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển toàn cầu của các công ty công nghệ thông tin Trung Quốc, bởi vì những công ty này có thể đóng vai trò là nền tảng gián điệp của ĐCSTQ ở hải ngoại. 

Nỗ lực thống trị trong lĩnh vực 5G của ĐCSTQ đã mang đến những thách thức cho Hoa Kỳ trong nỗ lực tăng cường an ninh quốc gia, bảo mật dữ liệu cá nhân, việc chống lại những tác động xấu và nhân quyền.

Phát tán tuyên truyền sai lệch về virus viêm phổi Vũ Hán

Báo cáo cho biết, ĐCSTQ đã sử dụng các thủ đoạn công khai và bí mật, bao gồm cả “đội ngũ mao – 50 xu” trên mạng xã hội, để thực hiện các hoạt động tuyên truyền sai lệch nhằm chuyển hướng trách nhiệm đối với dịch bệnh cho các quốc gia khác, bao gồm cả Mỹ. ĐCSTQ có thể tăng cường các hoạt động gây ảnh hưởng tại Mỹ để đáp lại việc chính phủ Mỹ lên án vai trò của Bắc Kinh trong việc xử lý đại dịch virus viêm phổi Vũ Hán khiến virus phát tán ra toàn cầu.

Báo cáo cho biết, kể từ tháng 8/2019, hơn 10.000 tài khoản Twitter bị nghi vấn giả mạo đã phối hợp trong hoạt động phát tán các ngôn luận chính diện cho chính quyền ĐCSTQ, bao gồm cả các tài khoản bị hack từ khắp nơi trên thế giới.

Các tài khoản này lan truyền các thông tin sai lệch về đại dịch viêm phổi Vũ Hán (Covid-19) và các chủ đề khác mà ĐCSTQ quan tâm. Bộ Ngoại giao Trung Quốc, các phương tiện truyền thông nhà nước và các tài khoản Twitter chính thức đã phát tán tin đồn rằng Covid-19 có thể bắt nguồn từ Mỹ, đồng thời chỉ trích phản ứng của Mỹ đối với đại dịch.

Can thiệp vào bầu cử Mỹ

Báo cáo cũng đề cập đến việc Trung Quốc, Nga và Iran cố gắng sử dụng các hoạt động gây ảnh hưởng công khai và bí mật để can thiệp vào cuộc bầu cử Mỹ. 

Báo cáo chỉ ra rằng, ĐCSTQ có thể tiếp tục sử dụng các hành động công khai và bí mật để bôi nhọ các chính sách của chính quyền Trump trước cuộc bầu cử, đồng thời định hình một hoàn cảnh thông tin trong nước có lợi cho ĐCSTQ. 

ĐCSTQ sẽ tiếp tục lợi dụng hộp công cụ gây ảnh hưởng “sức mạnh mềm” truyền thống của mình, nghĩa là, ĐCSTQ sử dụng biện pháp kinh tế cởi mở và vận động hành lang, để thúc đẩy các chính sách của Mỹ tương thích với lợi ích của ĐCSTQ.

Can thiệp vào chính quyền địa phương và các tiểu bang Mỹ

Báo cáo cho biết, các chính phủ nước ngoài, chủ yếu là Trung Quốc, đã tìm cách trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng lên các nhà lãnh đạo địa phương và các bang của Hoa Kỳ. Họ thường sử dụng các biện pháp “vừa đấm vừa xoa”, chẳng hạn như tìm kiếm các thỏa thuận không chính thức để thúc đẩy quan hệ văn hóa và thương mại. Các quan chức ĐCSTQ cho rằng, các quan chức địa phương và các bang của Hoa Kỳ được hưởng một mức độ độc lập ngoại giao nhất định với Washington và có thể lợi dụng các mối quan hệ này để thúc đẩy các chính sách có lợi cho Trung Quốc khi quan hệ Mỹ-Trung đang rất căng thẳng.

“ĐCSTQ sẽ coi các thách thức kinh tế ở địa phương hoặc các tiểu bang của Mỹ, bao gồm các thách thức y tế do đại dịch viêm phổi Vũ Hán (Covid-19) gây ra như cơ hội then chốt để thiết lập mối quan hệ phụ thuộc và tiến tới đạt được việc gây ảnh hưởng lên các địa phương hoặc tiểu bang tại Mỹ. Bắc Kinh sử dụng các viện chiến lược của Trung Quốc để nghiên cứu xem các bang và quận nào ở Hoa Kỳ có thể dễ dàng tiếp nhận đề xuất của họ”, báo cáo cho biết.

Vào thời điểm bùng phát dịch viêm phổi Vũ Hán (Covid-19), Bắc Kinh đã sử dụng mối quan hệ “thành phố kết nghĩa” với một số thành phố ở Mỹ để thâu gom các nguồn lực y tế công cộng của Hoa Kỳ.

Tính riêng trong tháng 2 năm nay, thành phố Pittsburgh ở bang Pennsylvania đã vận chuyển 450.000 khẩu trang phẫu thuật và 1.350 bộ quần áo bảo hộ đến “thành phố kết nghĩa” Vũ Hán. Ngoài ra, thành phố Pittsburgh cũng đã thiết lập một tài khoản trên trang web gọi vốn GoFundMe và quyên góp được hơn 58.000 USD để mua các dụng cụ y tế cung cấp cho Vũ Hán. 

Tại Chicago, các quan chức ĐCSTQ đã sử dụng mối quan hệ của họ với các quan chức địa phương và tiểu bang để thúc đẩy các ngôn luận ủng hộ Trung Quốc.

Ngoài ra, một quan chức Trung Quốc đã gửi email đến một nghị sĩ ở Trung tây Hoa Kỳ, yêu cầu cơ quan lập pháp của nghị sĩ này thông qua một nghị quyết thừa nhận các nghĩa cử chống dịch anh hùng của Bắc Kinh. 

“Chính phủ Trung Quốc đã mời các quan chức và lãnh đạo doanh nghiệp Mỹ đến thăm Trung Quốc trong các chuyến đi được lên kế hoạch cẩn thận, hứa hẹn với họ những dự án đầu tư sinh lời và giao dịch thương mại hấp dẫn. Mặc dù các chuyến thăm năm nay đã bị hoãn lại do dịch viêm phổi Vũ Hán (Covid-19),  nhưng chính phủ Trung Quốc có thể tiếp tục vun đắp mối quan hệ giữa Bắc Kinh với lãnh đạo các bang và địa phương của Mỹ thông qua các hội thảo trực tuyến và cung cấp “mồi nhử” lợi ích. Những “mồi nhử” này có thể bao gồm việc cứu trợ các công ty Hoa Kỳ [đang gặp khó khăn do đại dịch], đầu tư vào bất động sản ở các khu vực kinh tế bị ảnh hưởng và bán các thiết bị và vật tư y tế với giá thấp”, báo cáo cho biết.

Đe dọa an ninh kinh tế Mỹ

Báo cáo cũng cho biết, Trung Quốc là nguồn cung vật tư y tế giả “đặc biệt bền vững” trong thời gian đại dịch. Bộ An ninh Nội địa tuyên bố đã thu giữ hơn 1 triệu bộ dụng cụ xét nghiệm Covid-19 bị Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cấm và 75.000 khẩu trang giả từ các nhà sản xuất bất hợp pháp của Trung Quốc. Báo cáo cảnh báo rằng, Bắc Kinh đang giám sát tình trạng thiếu hụt trong chuỗi cung ứng y tế của Mỹ và cho biết ĐCSTQ có thể lợi dụng những sự thiếu hụt này để buộc chính phủ Mỹ áp dụng các chính sách thân Trung Quốc hơn.

“ĐCSTQ đang thu thập thông tin về sự thiếu hụt trong chuỗi cung ứng của Mỹ và lợi dụng cuộc khủng hoảng viêm phổi Vũ Hán (Covid-19) để tăng sức ảnh hưởng ở Hoa Kỳ. Bởi vì Bắc Kinh kiểm soát nhiều nguồn cung hàng hóa quan trọng, nên ĐCSTQ có thể mượn việc thiếu hụt nguồn cung chính trong tương lai của Mỹ để đề xuất rằng điều kiện tiên quyết để Trung Quốc cung cấp những nguồn cung này cho Mỹ là Mỹ sẽ phải ngầm chấp thuận các dự án khác nhau của Bắc Kinh”, báo cáo cho hay.

Đe dọa các tổ chức học thuật và nghiên cứu của Mỹ

Báo cáo cho biết, ĐCSTQ sẽ tiếp tục tìm kiếm các nghiên cứu và chuyên gia của Mỹ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và quân sự của họ thông qua nhiều tổ chức và nền tảng chính phủ, phi chính phủ và tư nhân. ĐCSTQ đã huy động các nguồn lực đáng kể để hỗ trợ các mục tiêu phát triển công nghiệp và quốc phòng, đồng thời sẽ tiếp tục lợi dụng các tổ chức học thuật và chế độ thị thực của Mỹ để có được các nghiên cứu và quyền sở hữu tài sản trí tuệ. ĐCSTQ cho rằng, các nghiên cứu và quyền sở hữu trí tuệ này sẽ mang lại lợi thế về quân sự hoặc kinh tế cho Trung Quốc. Vì vậy, Bắc Kinh đã lợi dụng một số giáo sư thỉnh giảng, học giả và sinh viên Trung Quốc ở Hoa Kỳ làm người thu nhập công nghệ phi truyền thống.

Khi những nhà thu thập phi truyền thống này rời Mỹ và trở về Trung Quốc, họ đã lấy đi các nghiên cứu và dữ liệu mà không có sự đồng ý từ các tổ chức học thuật Mx, họ thường cố tình giấu giếm dữ liệu trước khi rời đi để tránh bị phát hiện. Báo cáo cũng liệt kê một số trường hợp liên quan.

Ngoài ra, báo cáo cũng tiết lộ rằng, ĐCSTQ đã sử dụng chương trình tuyển dụng “Nghìn nhân tài” để có được công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ.

Báo cáo cho rằng, chiến lược của Bắc Kinh có thể sẽ thay đổi sau khi chính phủ Mỹ nhận thức được mối đe dọa của ĐCSTQ đối với các tổ chức học thuật và nghiên cứu của Hoa Kỳ. Trong khi chính phủ Mỹ cấm một số sinh viên Trung Quốc nhập cảnh vì có liên quan đến chiến lược dung hợp quân sự-dân sự của ĐCSTQ, giới công nghiệp, giới học thuật và chính phủ địa phương của Mỹ đã nâng cao hơn nhận thức của họ về các thủ đoạn mà ĐCSTQ dùng để có được công nghệ và sở hữu trí tuệ của Mỹ. “Chúng tôi hy vọng rằng, các nhà thu thập phi truyền thống sẽ điều chỉnh phương pháp của họ, bao gồm cả việc lựa chọn các cách thức khác nhau để đến Hoa Kỳ hoặc chuyển hướng nghiên cứu của họ ra nước ngoài, trong khi vẫn hướng tới mục tiêu thu thập thông tin nhạy cảm và quyền sở hữu trí tuệ ở Hoa Kỳ”.

Đe dọa đầu tư nước ngoài vào Mỹ

Báo cáo cho biết, mặc dù đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc vào Hoa Kỳ đã giảm trong hai năm qua so với mức cao kỷ lục trong lịch sử, nhưng phía Trung Quốc sẽ tiếp tục tìm kiếm đầu tư có chọn lọc vào Hoa Kỳ để có được các công nghệ mới mà trong nước họ chưa có, đồng thời phát triển cơ sở công nghiệp của riêng mình và đảm bảo tiếp cận các chuỗi cung ứng quan trọng. Những công ty nước ngoài tìm cách đầu tư vào các công ty Mỹ có thể tăng cường nỗ lực để che đậy mối liên hệ của họ với các cơ quan tình báo hoặc dịch vụ an ninh của ĐCSTQ.

Đe dọa tính toàn vẹn của chuỗi cung ứng Mỹ

Báo cáo nêu rõ trong thời gian bùng phát dịch viêm phổi Vũ Hán (Covid-19), các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc được chính quyền Trung Quốc khuyến khích chuyển đổi sản xuất khi không có khả năng sản xuất vật tư và thiết bị y tế hoặc kiểm soát chất lượng.

Ngoài vấn đề kiểm soát chất lượng, các nhà cung cấp Trung Quốc còn xuất khẩu sản phẩm dưới danh nghĩa của một công ty được cấp phép, nhưng sản phẩm của họ đến từ nhà sản xuất thứ hai, thứ ba hoặc thứ tư nên hầu như không có khả năng truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng.

Vào tháng 3 năm nay, một nhà sản xuất khẩu trang Canada có nhà máy ở Trung Quốc đã báo cáo rằng, chính phủ Trung Quốc đã trưng dụng toàn bộ sản phẩm của họ và không cho phép xuất khẩu bất kỳ sản phẩm nào. ĐCSTQ bắt đầu tích trữ các nguồn cung y tế quan trọng thay vì vận chuyển chúng cho người tiêu dùng ở các nước khác, điều này cho thấy ĐCSTQ đã biết rõ về dịch bệnh và đang nỗ lực tích trữ các nguồn cung y tế chính.

Vi phạm luật và chính sách thương mại của Hoa Kỳ

Báo cáo cho hay,  ĐCSTQ vẫn là khởi nguồn chính các vi phạm chính sách thương mại của Mỹ. 

Mặc dù các cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc nhằm giải quyết vấn đề này đã đạt được tiến triển, nhưng trong năm tới, hành động của các tổ chức tội phạm của ĐCSTQ sẽ tiếp tục đặt ra thách thức lớn đối với việc Hoa Kỳ thực thi các luật và chính sách thương mại.

Các thực thể Trung Quốc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của các thực thể Hoa Kỳ, gây thiệt hại lên tới 600 tỷ đô la Mỹ cho nền kinh tế Hoa Kỳ mỗi năm, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến các ngành công nghiệp và khả năng cạnh tranh của Mỹ.

Trong năm tài chính 2019, Bộ An ninh Nội địa đã bắt giữ nhiều hàng giả có xuất xứ từ Trung Quốc hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Do chất lượng của hầu hết các sản phẩm giả đều không đạt tiêu chuẩn, nên các sản phẩm giả từ Trung Quốc và Hồng Kông là thách thức lớn nhất đối với cơ quan thực thi pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ, cũng như gây rủi ro về sức khỏe và an toàn cho cộng đồng.

Tâm Thanh / Đaikynguyen