Hồ Trị An mùa tảo xanh

ĐỒNG NAI

Màu xanh ngắt do tảo phát triển trên mặt hồ Trị An quanh Bến Nôm tạo nên bức tranh đẹp ngỡ ngàng khi nhìn từ trên cao.

Bến Nôm với “bãi đất chìm” lộ dần lên vào mùa nước cạn, thuộc xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, nằm trên quốc lộ 20, cách ngã tư Dầu Giây khoảng 20 km về hướng đi Đà Lạt.

Bộ ảnh này được nhiếp ảnh gia Nguyễn Tấn Tuấn (TP HCM) thực hiện trong một chuyến sáng tác ảnh tại Đồng Nai vào mùa tảo tháng 7 – 9 năm nay.

Các tàu, ghe đậu sát nhau dọc bờ dải đất màu nâu, tương phản với màu xanh ngắt của tảo.

Ngư dân địa phương cho biết tảo lục khu vực này “nở hoa”, phát triển mạnh trở nên dày và xanh nhất trong những ngày nắng.

Gam màu xanh của tảo trải dài và hòa lẫn vào màu nâu của bùn đất. Màu xanh của tảo sẽ thay đổi tùy theo ánh sáng mặt trời chiếu xuống mặt hồ và khi những cơn mưa trút xuống thì màu tảo trong nước nhạt dần.

Tảo lục trong lòng hồ Trị An là nguồn nhiên liệu sinh học quan trọng đồng thời là nguồn thức ăn tự nhiên cho các động vật thủy sinh và tôm, cá.

Bến Nôm là nơi thu hút du khách đến trải nghiệm nhịp sống yên bình cùng rất nhiều nhiếp ảnh gia tới sáng tác vào mùa tảo phát triển. Trong ảnh là những chiếc ghe đánh cá của ngư dân nổi bật trên nền xanh của tảo.

“Ghe đánh cá của ngư dân được thiết kế đặc biệt, với dải lưới nằm ở mũi ghe nên khi từ trên cao nhìn xuống trông như một chiếc đuôi cá”, anh Tuấn chia sẻ.

Cảnh mưu sinh trên nền tảo xanh mơn mởn.

Những bãi bồi ven bến Nôm còn là nơi người dân tận dụng để chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Đàn vịt ùa ra ăn tảo xanh trên lòng hồ Trị An, gần bến Nôm. Hồ nhân tạo này nằm trên sông Đồng Nai, có nhiệm vụ trữ nước để cung cấp cho nhà máy thủy điện Trị An.

Gần đó là đàn trâu nước băng ngang lòng hồ. Ngoài bến Nôm, các điểm đến bình yên khác ở khu vực hồ Trị An còn có rừng Mã Đà hay đảo Năm Bầu, phù hợp với các chuyến dã ngoại theo nhóm.

Huỳnh Phương

Ảnh: Nguyễn Tấn Tuấn

Hercules trong câu chuyện dụ ngôn về Đức hạnh và Lạc thú

Có những người, mỗi khi thức dậy vào buổi sáng, họ lại cố gắng coi ngày hôm đó là cả cuộc đời mình, là một bức tranh thu nhỏ của kiếp nhân sinh. Cổ ngữ có câu: “Đời người sớm còn tối mất”, vì thế người minh trí sẽ luôn tự hỏi “Ta nên sống thế nào trong ngày hôm nay?” để đến khi nhắm mắt lại, trái tim họ vẫn tràn ngập sự bình yên và tôn nghiêm của một đời. Trong bức “Hercules giữa Đức hạnh và Lạc thú” (Hercules Between Vice and Virtue), Gérard de Lairesse đã mô tả một khoảnh khắc quan trọng của cuộc đời người anh hùng vang danh Thần thoại Hy Lạp, nhưng dường như ẩn đằng sau đó, ông muốn nhắn nhủ rằng mỗi chúng ta đều đang thường xuyên đối mặt với những lựa chọn tương tự, hàng ngày, hàng giờ, trong cuộc sống, một cách không tự biết.

Bức “Hercules Between Vice and Virtue” của Gérard de Lairesse, nửa sau thế kỷ 17. Tranh dầu, chất liệu vải. Lưu trữ tại Bảo tàng Louvre, Paris. (Tranh: Wikipedia, Public Domain)

“Sự lựa chọn của Hercules” là một câu chuyện dụ ngôn trong Thần thoại Hy Lạp, bắt nguồn từ triết gia Prodicus xứ Ceos. Chuyện kể rằng Hercules là một người anh hùng bán Thần, có mang trong mình dòng máu của Thần linh. Một lần nọ khi còn trẻ, Hercules lặng lẽ suy ngẫm về con đường tương lai của bản thân mình.

Trong khi Hercules đang ngồi suy ngẫm, có hai người phụ nữ cao lớn tới bên anh. Người phụ nữ đầu tiên trang phục giản dị, toát ra một bầu không khí đường hoàng và khiêm nhường. Cô ấy bước đến từ từ, giống như bản tính của mình, chân thành, tự nhiên và tôn nghiêm.

Người phụ nữ thứ hai mềm mại và tròn trịa hơn. Cô cố tình để lộ làn da nõn nà, cách ăn mặc cũng phơi bày ra vẻ đẹp của thân thể. Người phụ nữ này quan tâm đến ấn tượng mà bản thân tạo ra cho người khác, bởi vì điều cô muốn là thu hút sự chú ý từ họ.

Người phụ nữ thứ hai chào Hercules trước người phụ nữ thứ nhất. Cô cố gắng thuyết phục Hercules sánh bước cùng mình. Cô nói rằng cô có thể làm cho cuộc sống của anh “dễ chịu và vui vẻ hơn” và rằng Hercules “sẽ được tận hưởng mọi niềm vui của cuộc sống và thoát khỏi mọi phiền toái và rắc rối”.

Hercules hỏi tên người phụ nữ và cô trả lời: “Bạn tôi gọi tôi là Hạnh phúc, nhưng kẻ thù của tôi, thật hài hước, lại thích gọi tôi là Lạc thú.”

Lúc này, người phụ nữ đầu tiên cũng bước đến bên Hercules và bắt đầu nói: “Tôi, Đức hạnh, sẽ không lừa dối anh bằng những từ ngữ tươi sáng như cô ấy. Điều tôi đặt ra trước mắt anh là bản chất của sự vật và luật lệ của các vị Thần. Trong tất cả những điều tốt đẹp mà thiên đàng đã ban cho chúng ta, mỗi thứ đều phải thông qua nỗ lực khắc khổ và làm việc chăm chỉ mới có được…”

Lạc thú ngắt lời và nói với Hercules rằng cô đến từ thiên đàng, và cô có một lối tắt đưa anh đến hạnh phúc.

Đức hạnh nhìn sang Lạc thú và nói: “Đúng vậy, cô đến từ thiên đàng, nhưng chẳng phải cô đã bị trục xuất khỏi thiên đàng sao? Hơn nữa kể từ đó, cô đã bị tất cả những người đáng kính nhất trên thế gian này từ chối. Những ai đi theo cô sẽ cạn kiệt năng lượng khi còn trẻ và thiếu khôn ngoan khi về già. Lúc còn trẻ, họ đã quen với lạc thú, nên họ sẽ có đủ mọi nỗi đau khổ và lo lắng khi về già.”

Đức hạnh cũng nói rằng: “Những người cùng tôi đi đều cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm khi nhìn lại những gì họ đã làm trong quá khứ và rất hài lòng với hiện tại. Họ được các vị Thần chúc phúc, được bạn bè yêu mến, được miền đất của họ vinh danh. Vào cuối đời, họ sẽ không bị thế giới lãng quên một cách đáng xấu hổ.”

Câu chuyện dụ ngôn về Hercules đã truyền cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ, gồm cả Gerhard de Lairesse. De Lairesse là một họa sĩ thời kỳ hoàng kim của hội họa Hà Lan trong thế kỷ 17. Trong những ngày đầu, De Lairesse bị ảnh hưởng sâu sắc bởi họa sĩ Rembrandt. Thời kỳ sau đó, trước khi thị lực của ông suy giảm hoàn toàn, phong cách hội họa của De Lairesse lại thiên về xu hướng tân cổ điển của Nicolas Poussin.

Trong bức “Hercules giữa Đức hạnh và Lạc thú” (Hercules Between Vice and Virtue), De Lairesse đã sử dụng nhiều yếu tố tân cổ điển. Ông nhấn mạnh về hình dạng nhiều hơn màu sắc, và màu sắc cũng tương đối ảm đạm. Bức tranh cũng sử dụng các chủ đề và trang phục cổ điển.

Không giống như nguyên tác, phiên bản của De Lairesse có thêm hai nhân vật, tổng cộng có một nam và bốn nữ. Trong bức họa, nữ Thần Đức hạnh ở bên trái, nhìn Hercules, tay chỉ lên trên. Chiếc váy của cô đơn giản mà trang trọng.

Người anh hùng Hercules và câu chuyện dụ ngôn về Đức hạnh và Lạc thú

Đằng sau nữ Thần Đức hạnh là một người phụ nữ khác, đôi mắt cô liếc nhìn Hercules. Cô khẽ ngẩng đầu lên, trông rất trang nghiêm và cao thượng, tay phải cầm một ngọn đèn nhỏ. Có thể tưởng tượng, cô tượng trưng cho phẩm giá và lương tri.

Người anh hùng Hercules và câu chuyện dụ ngôn về Đức hạnh và Lạc thú

Nữ Thần Lạc thú ở bên phải Hercules. Cô ăn mặc phóng đãng, đôi bàn tay vuốt ve Hercules và cố gắng quyến rũ anh. Cô nhìn Hercules, đôi mắt toát lên sự mong chờ.

Đằng sau vai của nữ Thần Lạc thú, một bà già khác đang đứng, tay đặt trước miệng, như muốn ra hiệu giữ bí mật. Đôi mắt bà hướng thẳng vào người xem tranh.

Hercules ở vị trí trung tâm của bức tranh, trong tay cầm một cây chùy. Sự sắp xếp ánh sáng và tư thế của Hercules tạo ra độ tương phản cao, tăng cường sự chú ý của người xem tranh vào chủ thể quan trọng nhất của bức tranh.

Người anh hùng Hercules và câu chuyện dụ ngôn về Đức hạnh và Lạc thú

Ngôn ngữ cơ thể của Hercules cho thấy sự lựa chọn cuối cùng. Anh đẩy tay nữ Thần Lạc thú và khẽ quay sang nữ Thần Đức hạnh bên phải. Anh cầm một cây chùy trong tay, cho thấy rằng mình đã sẵn sàng đối mặt với bất kỳ thử thách nào trên con đường phía trước.

Ở một ý nghĩa nào đó, người phụ nữ đứng sau nữ Thần Đức hạnh là thể hiện chân thực của Đức hạnh. Đi theo nữ Thần Đức hạnh, cho dù chúng ta sẽ phải đối mặt với những tình huống khó khăn và đen tối như thế nào, lương tri và phẩm giá sẽ luôn đi trước chỉ dẫn cho chúng ta, ngay cả khi ngọn đuốc hướng về phía quang minh ấy có vẻ yếu ớt.

Còn bà già đứng sau lưng nữ Thần Lạc thú là biểu hiện chân thực của Lạc thú. Nói cách khác, đây chính là diện mạo của nữ Thần Lạc thú: “cạn kiệt năng lượng”“đủ mọi nỗi khổ đau và lo lắng khi về già”. Bởi vậy, bà già mới nhìn về phía người xem, và yêu cầu họ giữ bí mật.

Từ đây, chúng ta thể hội sâu sắc được sự tương phản mạnh mẽ giữa nữ Thần Đức hạnh và nữ Thần Lạc thú:

Một người thắp sáng tương lai cho chúng ta, trong khi người kia bí mật che giấu sự thật đằng sau cuộc hành trình.

Hercules và người xem (chúng ta) có những điểm tương đồng ở một mức độ nào đó: Anh phải đưa ra những lựa chọn khó khăn. Anh nhìn chúng ta, như thể chia sẻ chính khoảnh khắc này với chúng ta. Đó là bởi vì tất cả con người sống trên thế gian này đều có những khoảnh khắc như vậy trong cuộc sống của mình. Ánh mắt của Hercules như thể đang nói: “Còn bạn, bạn có chọn Đức hạnh hay chăng?”

Hercules không chỉ chia sẻ lựa chọn của mình với chúng ta, mà còn thông qua đó khiến chúng ta phải suy ngẫm sâu sắc về hậu quả từ hành động của mình.

Tất cả chúng ta đều có khả năng chọn cách sống mỗi ngày trong cuộc đời. Tất cả chúng ta đều có cơ hội lựa chọn Đức hạnh hoặc Lạc thú. Đôi khi chúng ta sẽ bước lạc lối, nhưng xin đừng bao giờ từ bỏ con đường được dẫn dắt bởi nữ Thần Đức hạnh.

Các tác phẩm nghệ thuật truyền thống có một sức mạnh đáng kinh ngạc, bởi chúng có thể chỉ ra những thứ vô hình, từ đó gợi mở cho người xem: “Điều này có ý nghĩa gì với tôi và mỗi khán giả?” “Nó ảnh hưởng đến quá khứ như thế nào và ảnh hưởng đến tương lai ra sao?” “Làm thế nào để chúng ta bước tiếp trên cuộc hành trình nhân sinh của chính mình?”

Theo Epoch Times / Tác giả: Eric Bess / Mạt Lị biên tập

Chúng ta cần gì khi phải đi một mình?

Tất cả những gì chúng ta cần, khi phải đi một mình, chỉ duy nhất một thứ – khí chất con người.

Dĩ nhiên đến một độ tuổi nào đó, việc đảm bảo một ngày ăn đủ ba bữa cùng những nhu cầu thiết yếu của bản thân không còn là việc khiến bạn nhọc lòng.

Còn một chỗ nương thân? Có người may mắn có ngôi nhà của mình, có người vẫn là nhà thuê hay phòng trọ thì cũng chẳng phải là việc quá lớn lao.

TP.HCM, Hà Nội hay những thành phố lớn khác ở Việt Nam, nếu với người nhập cư, thời gian ở trên chiếc giường của mình thật ra là rất ít. Chỉ cần một chốn nhỏ yên tĩnh, sạch sẽ, gọn gàng chắc cũng là đủ cho một giấc ngủ ngon.

Thế nhưng, với rất nhiều người, không hạnh phúc thường không phải là vì thu nhập thấp, chỗ ở thuê hay sức khỏe không được tốt… mà đơn giản là không có người ở bên cạnh, một người đồng hành cùng mình với những buồn vui và thử thách cuộc đời.

Có người vì hoàn cảnh gia đình dở dang, có người vì nhan sắc hạn chế, có người vì tự ti năng lực, có người không qua nổi một vết thương lòng, có người sợ bắt tim mình lại phải chờ phải mong.

buoc di mot minh anh 1
Nhưng giả sử, cuộc đời ngay lúc này bắt chúng ta phải đi một mình? Nguồn ảnh: strangerinmilan

Hạnh phúc trong suy nghĩ số đông không nằm ở khía cạnh một mình. Một mình sống. Một mình đi. Một mình tận hưởng. Một mình đau. Một mình vượt qua. Một mình tự xây trong tim một mái nhà.

Nhưng giả sử, cuộc đời ngay lúc này bắt chúng ta phải đi một mình?

Khi chúng ta không còn chọn lựa nào khác trong hiện tại.

Than khóc hay vật vã hoặc mệt mỏi vì cảm giác ấy chỉ là những thứ cảm xúc trì kéo con người xuống với đáy bùn.

Sao không để chúng ta, vì chính chúng ta, mà giành lấy rất nhiều niềm vui cho bản thân?

Không vì mình mà khỏe mạnh hơn bằng cách dùng thời gian rỗi vào việc tập luyện thể thao và ăn uống healthy. Không vì mình mà giỏi hơn mỗi ngày bằng việc đọc sách, xem phim, nghe nhạc, xem kịch hay đơn giản là vượt qua những thử thách công việc.

Không vì mình mà thay đổi nhận thức về sự lạc quan, gặp gỡ những con người giỏi hơn thay vì tụ tập với những con người bi quan và luôn mỉa mai cuộc sống. Không vì mình mà đi nhiều hơn để mở rộng tầm nhìn.

Không vì mình mà để nụ cười mình tươi hơn, tay mình xòe rộng hơn, lòng mình bao dung hơn.

Tất cả những gì chúng ta cần, khi phải đi một mình, chỉ duy nhất một thứ – khí chất con người.

Một con người khỏe mạnh, lạc quan, luôn biết cách tạo ra một phiên bản tốt hơn chính mình của ngày hôm qua, là một thứ thần thái hiển hiện trên gương mặt mà không ai, không gì trong cuộc đời này có thể che phủ được.

Ngay cả trong trường hợp chúng ta phải đi một mình trong suốt quãng đời còn lại. Chúng ta cũng không được phép để phí hoài thời gian chúng ta được làm người.

Chỉ cần chúng ta tự tin vào chúng ta, tự khắc thế giới này là một mái nhà.

Vì suy cho cùng, đi bên cạnh một con người có khí chất chắc chắn sẽ tốt hơn gấp nghìn lần những con người chỉ được phủ kín bởi trang sức.

Trích từ ” Chúng ta sống có vui không? ” / Nguyễn Phong Việt / Skybooks liên kết NXB Phụ nữ

Nhận diện hiện tượng ‘tham nhũng tinh thần’ ở Việt Nam

Tham nhũng tinh thần đã trở thành hiện tượng xã hội “ngầm” ở Việt Nam, hủy hoại nhân cách con người.

Lâu nay khi nhắc tới tham nhũng, người ta sẽ nghĩ ngay tới việc lạm dụng chức quyền lấy của công, của nhân dân (thiên về vật chất). Nhưng có lẽ khi xã hội hiện đại hơn, tham nhũng sẽ “đa phương diện hơn”.

Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International), tham nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công. Tham nhũng và tham ô là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế chưa phát triển, quản lý kinh tế, xã hội lỏng lẻo, yếu kém tạo ra nhiều sơ hở cho các hành vi tiêu cực và các tệ nạn có điều kiện phát triển và tại đó một phần quyền lực chính trị được biến thành quyền lực kinh tế.

Tham nhũng và tham ô làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội, làm giảm lòng tin của công dân vào nhà nước, đến chừng mực nào đó nó gây mất ổn định chính trị, kinh tế – xã hội. Tuy hình thức của tham nhũng là khác nhau, nhưng bản chất tham nhũng thì giống nhau.

Ở Việt Nam, theo Giáo sư Hoàng Chí Bảo, tính nan giải, khó trị của tham nhũng được lý giải từ sự yếu kém của thể chế, tính nửa vời trong chỉ đạo thực hiện và sự thoái hóa của không ít quan chức, công chức trong bộ máy, thậm chí tham nhũng có cả trong hoạt động tư pháp, trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Tình trạng pháp luật có, pháp chế cũng có nhưng pháp trị thì không hoặc yếu kém và hình thức, là một thực tế phổ biến hiện nay ở Việt Nam.

Tham nhũng trên đây có thể nói đó là hiện tượng xã hội, tồn tại ở tất cả các quốc gia, chỉ khác nhau ở mức độ nhiều hay ít.

Tuy nhiên, những năm gần đây, một loại tham nhũng mới xuất hiện, đó là tham nhũng tinh thần. Tham nhũng tinh thần trở thành hiện tượng xã hội “ngầm” không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số quốc gia khác trên thế giới.

Có thể chia tham nhũng tinh thần thành tham nhũng thế tục và tham nhũng tâm linh. Tham nhũng thế tục là tham nhũng sử dụng những cái không thuộc về mình (giả bằng cấp, đạo văn, ăn cướp ý tưởng…) thành cái của mình. Tham nhũng tâm linh là tham nhũng lợi dụng những yếu tố tâm linh để phục vụ mục đích riêng của mình hay có thể nói đơn giản hơn là “vụ lợi tâm linh”.

Ở Việt Nam loại tham nhũng này chưa được gọi là tham nhũng, nhưng trên thực tế nó ăn sâu vào đời sống, tư duy của một số cá nhân, đôi khi nó trở thành phong trào làm biến đổi giá trị truyền thống, tạo ra những thứ vô giá trị nhưng được một số người chấp nhận và đề cao nó. Đây là loại tham nhũng làm hủy hoại dần nhân cách con người, làm mục ruỗng xã hội. Khi nhân cách con người hết, nghĩa là con người đó cũng sẽ chết.

Thật dễ hiểu khi có cả những quan chức cao cấp đại diện cho cả địa phương lớn, một lĩnh vực lớn rất “vô tư” dùng bằng cấp giả, không chỉ bằng đại học mà cả bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Còn chuyện đạo văn, “vô tình, không cố ý” tham khảo đôi chút về ý tưởng, đoạn văn, thậm chỉ cả luận văn, luận án cũng đã trở thành việc không phải hiếm, nếu như không muốn nói là tràn lan.

Nên thế không phải ngẫu nhiên người ta nói “thạc sĩ, tiến sĩ trở thành mác làm sang, làm đẹp lý lịch khi thăng quan tiến chức”. Với lý do đó, chẳng hơi đâu mà học. Tiền mua được cả bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Những người “chủ” thực sự của những tấm bằng đó mặc dù có đôi chút ngậm ngùi, nhưng cũng tạm vừa lòng với số tiền hoặc được lợi ích nào đó (thăng chức…). Rõ ràng kiểu tham nhũng này được thỏa thuận, luật pháp cũng khó lòng xử lý.

Ở loại tham nhũng này còn được thể hiện ở chỗ đối tượng này không thừa nhận năng lực thật, giá trị thật, thậm chí phủ nhận sạch trơn năng lực và giá trị thật của đối tượng khác. Không ít người đã bị hủy hoại cả cuộc đời, đau đớn hơn là không thể tự hiểu mình là ai, nghi ngờ chính bản thân. Năng lực của họ, giá trị của họ bị những người phủ nhận tùng xẻo mỗi ngày một ít, vừa đau đớn, vừa muốn tồn tại, nhưng không được tồn tại, tồn tại nhưng trở nên vô nghĩa.

Đó có thể tạm gọi là kiểu tham nhũng thế tục. Còn tham nhũng tâm linh có thể nói là loại tham nhũng vô cùng phức tạp, bởi nó động chạm tới tinh thần, sự tự trọng, lương tâm của mỗi cá nhân. Tâm linh có sức ảnh hưởng tự nhiên, nó lan đi rất nhanh chóng.

Nhà nước ta luôn coi trọng tới việc phát triển hệ thống tôn giáo, xây dựng lòng tin lành mạnh cho toàn xã hội. Tuy nhiên, một số quan chức đã lợi dụng việc này, biến nó trở thành cái riêng của mình. Họ dùng tiền “công đức” xây dựng chùa, nhà thờ, làm từ thiện…mong muốn “thế lực vô hình” tạo ra sức mạnh, mang lại may mắn cho họ về công danh và tiền bạc.

Tham nhũng tâm linh thường được dùng đối với những người có chức, quyền, có nhiều tiền lợi dụng tôn giáo, dùng tôn giáo thực hiện mục đích của mình. Mục đích đó có thể là mong muốn thần linh, thế lực siêu nhiên “phù hộ độ trì” để thăng quan tiến chức, kiếm nhiều tiền, mong cho những người mình “ghét” bị “trời tru đất diệt”.

Trên thực tế chúng ta khó có thể định nghĩa rõ thế nào là tham nhũng tâm linh bởi nó là thứ không hiện hữu, mà tồn tại ngay chính trong tư duy của mỗi cá nhân mà chúng ta không kiểm soát được. Chính vì vậy loại tham nhũng này phát triển rất dễ dàng, khó có thể ngăn chặn.

Loại tham nhũng này không chỉ những quan chức có tiền mới tham nhũng mà ngay cả những người “kiết xác”, lợi dụng lòng tin của người khác kiếm tiền rất dễ dàng. Thế mới có chuyện tưởng xương lợn là xương người đem về nhà cúng, một kẻ vô học, nói không ra lời chỉ tay năm ngón xỉa xói những vị quan to, kẻ lắm tiền chê “người trần mắt thịt”. Và thế người ta sợ quá, vái lấy vái để mong “Ngài rủ lòng thương, chỉ lối đưa đường”.

Yếu tố tâm linh rất dễ làm con người ta tin tưởng. Chỉ cần một câu nói liên quan tới thần thánh, linh hồn của những người đã khuất… cũng khiến người ta có thể làm tất cả trong trạng thái tinh thần gần như mất lý trí. Tham nhũng tâm linh sẽ làm xã hội rối loạn, con người trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê, tinh thần rệu rã, hành động vô thức, mù quáng.

Thế mới biết tham nhũng tinh thần còn khủng khiếp hơn cả tham nhũng vật chất. Chống tham nhũng về vật chất đã khó, chống tham nhũng tinh thần càng khó hơn. Quả thật sống sao cho đúng, thật là khó.

Theo BÙI HÙNG / VOV

Bắc Kinh đang đứng trước 2 lựa chọn: Thay thế Tập Cận Bình hoặc sụp đổ từ bên trong

Ông Tập Cận Bình tham dự hội nghị tuyên dương chiến thắng Covid19, tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, Trung Quốc ngày 8/9/2020. (Ảnh: Reuters / Carlos Garcia Rawlins).

Mới đây, có kênh truyền thông Anh đã chỉ ra rằng báo cáo điều tra độc lập về đại dịch viêm phổi Vũ Hán có thể mang lại tai họa cho Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) Tập Cận Bình. Trước áp lực to lớn của quốc tế, Bắc Kinh phải đối mặt với hai lựa chọn, đó chính là thay thế ông Tập, còn nếu ông Tập không chịu từ chức, ĐCSTQ sẽ sụp đổ trong đấu đá nội bộ. 

Đại dịch viêm phổi Vũ Hán, còn gọi là Covid-19, bùng phát lần đầu tiên ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc vào đầu năm nay, do Bắc Kinh che giấu dịch bệnh đã khiến dịch bệnh lan rộng khắp thế giới, tạo nên thiệt hại to lớn về sức khỏe, tính mạng, kinh tế, chính trị và văn hóa… của người dân ở tất cả các quốc gia.

Tính đến 9h00 ngày 18/9/2020, theo thống kê của Worldometers đã có 30.338.614 người nhiễm virus Vũ Hán và 950.377 người tử vong. Vì chính quyền Trung Quốc luôn che giấu dữ liệu dịch bệnh, thế nên giới phân tích bên ngoài nhận định nếu tính cả dữ liệu thực tế ở Trung Quốc, thì con số cao hơn rất nhiều so với dữ liệu công khai hiện giờ.

Chuyên gia Dai Ming có bài bình luận trên NTDTV, kết luận rằng. Trước làn sóng lên án của cộng đồng quốc tế, ĐCSTQ đã viện đến đủ các thủ đoạn như: vu oan giá họa, đùn đẩy trách nhiệm, ngoại giao khẩu trang, ngoại giao sói chiến, và chi ra 2 tỷ đô-la Mỹ để ngăn chặn dịch bệnh tại cuộc họp của Hội đồng Y tế Thế giới… nhưng vẫn không thể xoa dịu làn sóng phẫn nộ của cộng đồng quốc tế. Hiện tại, 194 quốc gia thành viên đã nhất trí triển khai các cuộc điều tra độc lập về nguồn gốc virus viêm phổi Vũ Hán và các động thái ứng phó ban đầu của ĐCSTQ, dự kiến báo cáo điều tra sẽ được công bố vào tháng 11.

Cựu sĩ quan quân đội Anh, kiêm cố vấn quốc phòng đương nhiệm Nicholas Drummond ngày 12/9 cho biết trong một cuộc phỏng vấn độc quyền với trang tin tức Daily Express của Anh rằng báo cáo tạm thời liên quan đến cuộc điều tra độc lập về virus viêm phổi Vũ Hán có thể mang lại tai họa cho người lãnh đạo ĐCSTQ Tập Cận Bình.

Ông Drummond tin rằng một khi kết quả của cuộc điều tra độc lập “trồi lên mặt nước”, ĐCSTQ sẽ phải đối mặt với hai sự lựa chọn:

Dưới áp lực của liên minh quốc tế, ông Tập Cận Bình buộc phải từ chức, hoặc ĐCSTQ sẽ bước vào một cuộc Chiến tranh lạnh mới với các nước phương Tây. Bởi dịch bệnh không chỉ định hình lại mối quan hệ giữa ĐCSTQ với  Vương quốc Anh, mà còn định hình lại mối quan hệ giữa Bắc Kinh với cả thế giới.

Nếu Bắc Kinh muốn thiết lập lại quan hệ với các nước phương Tây và làm cho mối quan hệ Trung Quốc – phương Tây tiến triển theo chiều hướng tích cực, chính quyền Trung Quốc cần phải thay thế ông Tập Cận Bình.

Nếu đại dịch không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế Trung Quốc mà còn làm lung lay vị thế của ĐCSTQ trong cộng đồng quốc tế, chế độ Bắc Kinh sẽ phải tỏ thái độ bằng cách thay thế người lãnh đạo đương nhiệm.

Nếu ông Tập từ chối từ chức, có thể xảy ra cuộc đấu đá tranh giành quyền lực nội bộ và ĐCSTQ có thể sụp đổ từ bên trong.

Trên thực tế, liên quan đến việc thay thế người lãnh đạo đương nhiệm trong nội bộ ĐCSTQ mà nói, nhiều nhà phê bình cho rằng dẫu Tập có từ chức hay không cũng không thay đổi được bản chất tà ác của ĐCSTQ, đổi một người khác lên thay thì cũng chỉ là bình mới rượu cũ mà thôi. Có lẽ ông Tập là ứng cử viên thích hợp nhất cho vị trí lãnh đạo cuối cùng đẩy nhanh sự diệt vong của ĐCSTQ.

Ông Trịnh Trung Nguyên (Zheng Zhongyuan) trong một bài viết có tiêu đề “Tập Cận Bình được nhận định là người khiến ĐCSTQ diệt vong” có nói, trong tất cả các lãnh đạo ĐCSTQ, Tập Cận Bình được coi là người có mối lo vong đảng nhiều nhất. Chiến dịch chống tham nhũng trong 5 năm đầu nhiệm kỳ của ông Tập được đẩy mạnh dưới danh nghĩa cứu đảng, phương thức thống trị được áp dụng trong đảng cũng là trước nay chưa từng có, cuộc chiến quy mô lớn “đả hổ diệt ruồi” đến nay vẫn chưa dừng lại.

Tuy nhiên, dù cơ cấu lại ĐCSTQ như thế nào thì càng chống tham nhũng càng thêm tham nhũng, cộng thêm biếng nhác chính trị lan tràn, sắc lệnh chính trị không ra khỏi Trung Nam Hải. Từ sau Đại hội Toàn quốc lần thứ 19, chiến tranh thương mại Trung-Mỹ vẫn chưa chấm dứt, dịch tả lợn, đại dịch viêm phổi Vũ Hán và lũ lụt lần lượt kéo đến, khiến kinh tế Trung Quốc rơi vào cục diện khó khăn, toàn bộ xã hội tràn ngập nguy cơ, nhưng người thực sự ngồi trên miệng núi lửa lại là người chấp chính hiện nay.

Ông Tập được gọi là kẻ đang tăng tốc quá trình diệt vong của ĐCSTQ, đường một chiều điên cuồng, vậy nên cư dân mạng đã gọi ông là “tổng gia tốc sư”.

Đặc biệt kể từ sau khi virus viêm phổi Vũ Hán lan rộng toàn cầu, các hành vi “gia tốc” của ông Tập ngày càng gia tăng, bao gồm việc nhân lúc thế giới đang căng thẳng chống dịch mà “đục nước béo cò”, gây hấn khắp nơi, liên tục đưa máy bay quân sự và tàu chiến đến các vùng biển Đài Loan, Biển Đông, Hoa Đông để “phô trương sức mạnh”. Tàu Trung Quốc đã nhiều lần tấn công tàu cá Việt Nam, Nhật Bản, Philippines, Đài Loan.

Đáng chú ý nhất là việc bùng phát xung đột biên giới lớn nhất mấy chục năm qua với Ấn Độ khiến quan hệ Bắc Kinh với các nước láng giềng ngày càng xấu đi. Chính sách ngoại giao sói chiến của ĐCSTQ, nhất là áp đặt Luật An ninh Quốc gia đối với Hồng Kông đã khiến phương Tây nổi giận, một liên minh thế giới do Hoa Kỳ lãnh đạo đang siết chặt ĐCSTQ.

Trước tình thế nghiêm trọng về mọi mặt ở trong nước và quốc tế, lợi ích của các phe phái nội bộ ĐCSTQ bị tổn hại, các cuộc đấu đá tranh giành quyền lực trong đảng càng trở nên gay gắt hơn, khiến quyền lực của ông Tập Cận Bình đang chịu sự đe dọa, trước mắt đã rơi vào tình thế khó khăn không thể thoát ra.

Bà Thái Hà, cựu giáo sư tại trường Đảng Trung ương Trung Quốc, gần đây đã phân tích một số khả năng dẫn đến sự sụp đổ cuối cùng của ĐCSTQ. Bà tin rằng khả năng lớn nhất là chế độ thống trị dựa trên khủng bố và bạo lực này, do không ngừng tạo ra các mâu thuẫn bên trong, cuối cùng dưới áp lực cao độ theo dây chuyền từ trên xuống, mọi người đều không chịu đựng thêm nữa, sẽ khiến nó sụp đổ ngay từ bên trong

Theo Dai Ming, NTDTV.com
Vũ Dương biên dịch