Hòn đảo cho thuê 40 USD một đêm

ITALY

Đến Falconera du khách được thoát khỏi Venice đông đúc, trải nghiệm cuộc sống ở trang trại nuôi ong, hàu và rau củ.1

Đảo Falconera rộng hơn 200.000 m2 ở Venice, là nơi lý tưởng để đi nghỉ “cách ly” khi du khách được thuê cả đảo với giá mỗi người chỉ 42 USD/ đêm. Nơi đây chỉ đón tối đa 16 khách.

Falconera nằm gần thị trấn Cavallino-Treporti ở đầm Venetian. Trên đảo chỉ có một ngôi nhà cổ đủ chỗ cho 16 người. Nhìn từ trên cao bao trùm hòn đảo là màu xanh của cỏ cây, nông trại và rất nhiều không gian ngoài trời để du khách trải nghiệm.

Đảo thuộc sở hữu của gia đình Anna Sarzetto, cô thừa kế cơ ngơi này từ bà mình. Từ khi tiếp quản đảo, Anna cải tạo ngôi nhà của bà mình thành một điểm lưu trú cho khách đi nghỉ, giúp gia đình có thêm nguồn thu. Gần đây, gia đình còn làm thêm một nông trại trên đảo để trồng astiso, cà chua, nuôi gà lấy trứng.

Trong nhà có một phòng ăn lớn với trần xây kiểu cũ, 7 phòng ngủ và 3 phòng tắm. Phòng nghỉ thích hợp cho cả khách đi một mình, theo đôi hoặc gia đình, nhóm bạn.

Anna bắt đầu cho du khách khắp nơi về đây thuê đảo từ 3 năm trước. Cô nhận ra rằng công việc này cho mình trải nghiệm “du lịch khắp thế giới tại ngay nhà mình” khi cô nhận khách từ khắp nơi trên thế giới đến.

Anna còn nuôi ong, hàu và đánh bắt hải sản từ đầm, nên du khách tới nghỉ ở Falconera cũng được thỏa sức trải nghiệm cuộc sống người Venetian.

Anna cho hay: “Tất cả sản phẩm chúng tôi làm đều sạch, thân thiện môi trường. Ngoài ra mật ong có vị đặc biệt nhờ chúng lấy phấn hoa từ những loài cây chỉ mọc ở khu đầm quanh đảo”.

Ở đảo, du khách còn thường xuyên thấy đàn chim hồng hạc kiếm mồi quanh các đầm phá. Mùa xuân và mùa thu là thời điểm thích hợp nhất để ngắm đàn chim này.

Vào những tháng hè, khách nghỉ tại đảo có thể tổ chức tiệc nướng ngoài trời, mùa đông thì làm lửa trại.

Du khách đặt phòng qua Airbnb và di chuyển tới đảo bằng thuyền, chỉ mất 8 phút di chuyển từ thị trấn Cavallino-Treporti.

Giá thuê cả đảo cho 16 người là 677 USD/ đêm, nên mỗi người tốn 42 USD. Nếu khách đi nghỉ một mình hoặc theo đôi giá phòng là 94 USD/ đêm.

Khánh Trần (theo MSN)

Truyện lịch sử :Những nghi án cung đình không lời giải trong lịch sử Việt Nam

Những nghi án cung đình không lời giải trong lịch sử Việt Nam

Đỗ Thích hay Lê Hoàn – Dương Vân Nga sát hại Vua Đinh Tiên Hoàng?

Liên quan tới cái chết của vị vua sáng lập triều đại nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt trong lịch sử Việt Nam là Đinh Tiên Hoàng, theo sử sách, nhà vua bị viên quan hầu cận Đỗ Thích sát hại để đoạt ngôi, nhưng các nhà nghiên cứu hiện đại lại cho rằng, Lê Hoàn và Dương Vân Nga mới chính là thủ phạm.

Tuy không đề cập Đỗ Thích giết hại nhà vua như thế nào, nhưng sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa đông, tháng 10, Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích giết vua ở sân cung đình… Nhân vua ăn yến ban đêm, say nằm ở trong sân, Thích bèn giết, lại giết cả Nam Việt Vương Liễn”.

Sách Dã sử và giai thoại ở Hoa Lư cho hay, vì biết Đinh Tiên Hoàng sinh thời thích ăn lòng lợn nên khi cho rằng thời cơ cướp ngôi đã đến, Đỗ Thích dâng lên vua một đĩa lòng lợn rất ngon có tẩm thuốc độc cực mạnh, vua ăn xong trúng độc mà mất. Từ đó đến nay, tại Hoa Lư, vào ngày giỗ Đinh Tiên Hoàng, khi mổ trâu, bò, dê, lợn làm lễ cúng, tất cả lòng đều bỏ đi, không dùng làm cỗ. Đó là tục kị nhắc đến món lòng tẩm thuốc độc đã làm hại vua.

Nguyên nhân dẫn đến hành động Đỗ Thích giết vua Đinh? Theo chính sử, viên quan này mơ thấy sao rơi vào miệng, tưởng là điềm báo được làm vua nên đã giết chết cả Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn. Thế nhưng, các nhà nghiên cứu đã đặt giả thiết Đỗ Thích chỉ là người vô tình có mặt ở hiện trường sau khi cha con vua Đinh bị hại (vì là quan nội thị) và lúc bấy giờ, ông không thể thanh minh mình vô tội, nên vội vã chạy trốn và bị bắt chém sau 3 ngày, trở thành nạn nhân trong mưu đồ sát hại vua của Lê Hoàn và Dương Vân Nga hoàng hậu.

Theo lý giải, việc Lê Hoàn làm Phó vương khi Đinh Toàn lên ngôi, cấm cố họ Đinh cùng với việc các trung thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp khởi binh chống Lê Hoàn có thể là những biểu hiện cho thấy mưu đồ thoán đoạt của Lê Hoàn. Giả thiết đặt ra là hành động của Lê Hoàn có sự trợ giúp của Dương Vân Nga. Trong bối cảnh cung đình của nhà Đinh lúc ấy có 3 hoàng tử, trưởng là Liễn, thứ là Toàn, út là Hạng Lang. Liễn là con trưởng, có nhiều công lao. Hạng Lang lại được vua yêu nên đã lập làm thái tử dù mới lên 4 tuổi, khó có thể bộc lộ những phẩm chất cao siêu hơn Đinh Liễn. Tiên Hoàng lại có những 5 hoàng hậu; có thể đã xảy ra cuộc đua ganh giữa 5 hoàng hậu về tương lai của ngôi thái tử. Trong cuộc đua ganh này, Dương hậu đã chọn Lê Hoàn làm chỗ dựa. Sau sự kiện Đinh Liễn giết Hạng Lang, Đinh Tiên Hoàng không xử phạt Đinh Liễn mà vẫn dự định để Liễn nối nghiệp. Có thể điều này làm phật ý Dương hậu khi bà cho rằng, trước đã đặt Hạng Lang trên Liễn thì nay Liễn cũng phải ở dưới Toàn. Do vậy, Dương hậu đã cùng Lê Hoàn hành động.

Chung quan điểm, nhà giáo Hoàng Đạo Thúy và một số nhà nghiên cứu gần đây cho rằng, Đỗ Thích không phải là thủ phạm giết vua. Thích chỉ là một viên hoạn quan, chức nhỏ, sức mọn, không hề có uy tín hay vây cánh. So với Thích, trong triều có các bạn của vua Đinh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Lưu Cơ… đều nắm trọng quyền, đủ cả văn lẫn võ. Vì vậy, ông không thể mơ tưởng việc sẽ khuất phục được các đại thần nhà Đinh để ngồi yên trên ngai vàng.

Ai là thủ phạm trong vụ án Lệ Chi Viên?

Sách Đại Việt sử ký toàn thư nhận định: Lê Thái Tông (1423 – 1442) thiên tư sáng suốt, nối vận thái bình; bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh dẹp Di địch. Trọng đạo sùng nho, mở khoa thi chọn hiền sĩ; xử tù, xét án phần nhiều tha thứ khoan hồng. Cũng là bậc vua tài giỏi biết nối giữ cơ đồ, song đam mê tửu sắc, đến nỗi thình lình băng ở bên ngoài cũng là tự mình chuốc lấy tai họa.

Vậy, nguyên nhân thực sự dẫn tới cái chết là Vua Lê Thái Tông là thế nào? Theo sử sách, ngày 27//7/1442 (năm Nhâm Tuất), Vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quan ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trãi đón Vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4/8 cùng năm, Vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc huyện Gia Lương, Bắc Ninh). Cùng đi với Vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi, khi ấy đã vào tuổi 40, rất được nhà vua yêu quý vì sắc đẹp, văn hay. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ, rồi băng hà. Các quan bí mật đưa xác vua về, ngày 6/8 mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang.

“Mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua”, nhưng trên thực tế, lại chẳng hề có người nào chứng kiến lúc vua hấp hối, băng hà; và đồng nghĩa, cũng chẳng có ai dám khẳng định nhìn tận mắt Nguyễn Thị Lộ giết vua. Vi thế sau này, trong cuốn Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi Viên, các nhà sử học và một số nhà khoa học đã chỉ rõ, chủ mưu của vụ thảm án Lệ Chi Viên là Tuyên từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh, mẹ vua Lê Nhân Tông.

Về động cơ, thứ nhất là do bà rất căm oán Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ – hai người đã giúp bà phi Ngô Thị Ngọc Dao, mẹ Lê Thánh Tông, thoát khỏi âm mưu sát hại của bà ta. Thứ hai là do thời đó, nhiều người trong triều dị nghị rằng, bà Nguyễn Thị Anh đã có thai trước khi vào cung và Bang Cơ (Lê Nhân Tông) không phải là con Vua Thái Tông, nên nhân lúc nhà vua về thăm Nguyễn Trãi, sợ Nguyễn Trãi gièm pha và nói tốt cho Tư Thành (Lê Thánh Tông), nên bà Nguyễn Thị Anh đã sai người sát hại Vua Thái Tông, rồi đổ tội cho vợ chồng Nguyễn Trãi.

Sử sách chép, vài ngày sau khi hành hình gia đình Nguyễn Trãi, triều đình thực ra chính là Thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính thay con. Để “nhổ cỏ tận gốc”, bà Nguyễn Thị Anh còn ra lệnh giết hai hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng – là những người khuyên Nguyễn Trãi sớm tố cáo “bộ mặt thật” của Nguyễn Thị Anh với Vua Thái Tông.

Nghi án Nguyễn Văn Tường đầu độc Vua Kiến Phúc?

Sau khi Vua Hiệp Hòa bị phế, vào ngày 3/11/1883, Ưng Đăng, 14 tuổi, chính thức lên ngôi, lấy niên hiệu Kiến Phúc. Tuy nhiên, chỉ 8 tháng sau đó thì ông đột ngột băng hà, khiến người đương thời rất hoài nghi, đặt nhiều nghi vấn.

Sử sách chép rằng, thuở trước khi Ứng Đăng làm con nuôi của vua Tự Đức, ông được giao cho bà Học phi Nguyễn Thị Hương nuôi dưỡng, nên lúc lên ngôi thì bà hoàng này càng trở nên có thế lực, ảnh hưởng lớn trong triều. Bà được quan đại thần Nguyễn Văn Tường tỏ ra thân thiện nhằm chiếm cảm tình.

Một dịp, vua Kiến Phúc bị bệnh đậu mùa. Sách Kể chuyện các vua Nguyễn viết: “Kiến Phúc bị bệnh đậu mùa, bà Học phi lúc nào cũng ở bên cạnh đức vua còn bé bỏng của mình từ mờ sáng đến nửa đêm. Thế là quan phụ chính Nguyễn Văn Tường đêm nào cũng vào chầu hoàng đế và hoàng mẫu có khi đến nửa đêm mới về. Kiến Phúc đã nhiều lần chú ý thái độ lả lơi của Nguyễn Văn Tường mỗi khi trao cho bà Học phi điếu thuốc đã châm lửa của mình. Một đêm, Kiến Phúc giả vờ ngủ say, nghe được câu chuyện thì thầm to nhỏ giữa hai người, nhưng cuối cùng không nén được, bỗng kêu lên: “Lành bệnh rồi, ta sẽ chặt đầu cả ba họ nhà mi”.

Quan Tường bẽn lẽn rút lui xuống Thái y viện, lấy thuốc pha chế sẵn cho nhà vua, nhưng y lại chê thuốc xấu, rồi tự tay mình pha chế một thang thuốc khác đưa lên. Sau khi uống xong chén thuốc, vua Kiến Phúc ngủ luôn giấc nghìn thu. Do vậy, nếu đây là sự thật thì lời nói chứa đựng phẫn nộ của nhà vua đã phải trả giá bằng cả mạng sống…

Tuy nhiên, cũng có một giả thuyết cho rằng, vua Kiến Phúc bị Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết đầu độc chết nhằm đưa Hàm Nghi lên ngôi, bởi nhà vua theo Pháp như Dục Đức, Hiệp Hòa.

Như vậy, bên cạnh các ông vua trên, trong lịch sử Việt Nam còn có nghi án xung quanh cái chết của Vua Lê Long Đĩnh, Lê Thánh Tông, Quang Trung…

Cái chết của công thần bậc nhất Nguyễn Vǎn Thành

Sau khi lên ngôi, Hoàng đế Gia Long đã giết hại vị công thần bậc nhất của triều Nguyễn lúc đó là Nguyễn Vǎn Thành. Vậy, thực hư chuyện này thế nào?

Theo sử sách, kỳ án Nguyễn Văn Thành xuất phát từ một bài thơ hàm tư tưởng phản nghịch của con trai và ông đã phải chịu trách nhiệm liên đới. Sách Kể chuyện các vua Nguyễn viết: Nguyễn Văn Thành có người con trai là Nguyễn Văn Thuyên, thi đỗ cử nhân, thường hay làm thơ để giao du với những kẻ văn sĩ. Bấy giờ nghe Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận có tiếng hay chữ, Văn Thuyên bèn làm bài thơ sai tên Nguyễn Trương Hiệu cầm đi mời hai vị vào chơi. Bài thơ như sau: Văn dạo Á Châu da tuấn kiệt/ Hư hoài trắc dục cầu ty/ Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác/ Thiện tướng phương tri Ký bắc kỳ/ U cốc hữu hương thiên lý viễn/ Cao cương minh phượng cửu thiên tri/ Thư hồi nhược đắc sơn trung tế/ Tá ngã kinh luân chuyển hoá ky.

Dịch nôm là: Ái Châu nghe nói lắm người hay/ Ao ước cầu hiền đã bấy nay/ Ngọc phát Kinh Sơn tài sẵn đó/ Ngựa Kỳ kí bắc biết lâu thay/ Mùi hương hang tối xa nghìn dặm/ Tiếng phượng gò cao suốt chín mây/ Sơn tể phen này dù gặp gỡ/ Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.

Với bài thơ này, Lê Văn Duyệt vốn hiềm khích với Nguyễn Văn Thành, đã nắm lấy cơ hội, vào tâu vua. Rồi Nguyễn Văn Thuyên sau khi bị bắt và tra tấn mấy ngày đêm, lại thú nhận có ý đồ mưu phản. Thế là các triền thần ủng hộ Lê Văn Duyệt thi nhau tố cáo Nguyễn Văn Thành, xin nhà vua nghiêm trị.

Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ ghi: Nguyễn Văn Thành đã bị tước hết ấn, về ở nhà riêng và tiếp tục chờ xử lý. Theo Việt Nam sử lược và Quốc triều chỉnh biên, vì quá uất ức, một hôm khi bãi triều, Nguyễn Văn Thành chạy theo nắm lấy áo Gia Long mà khóc rằng: “Thần theo bệ hạ từ thuở nhỏ đến bây giờ, nay không có tội gì mà bị người ta cấu xé mà lại không cứu?”. Gia Long giật áo ra, bỏ vào cung, từ đó cấm Thành không được vào chầu và sai Lê Văn Duyệt đem Nguyễn Văn Thuyên ra tra hỏi một lần nữa. Nguyễn Văn Thuyên lại thú nhận tội của mình.

Nguyễn Văn Thành bị bắt giam ở trong trại quân Thị Trung để chờ đình thần xét án. Hôm đình thần tra án rồi, Thành ra nói với Thị Trung Thống Chế là Hoàng Công Lý rằng: “Án xong rồi, vua khiến tôi phải chết, nếu không chết thời không phải là tôi trung”. Rồi ông uống thuốc độc chết ở trại quân.

Xung quanh cái chết của công thần bậc nhất Nguyễn Văn Thành có rất nhiều nghi vấn đặt ra. Có ý kiến cho rằng, sau khi giành được quyền thống nhất, một nỗi lo ngại ngày càng lớn trong lòng Vua Gia long. Thế lực của bầy tôi – công thần khai quốc sẽ dần lấn át ngôi vua của dòng họ Nguyễn. Gia Long bèn tìm cách trừ dần họ. Cái khó là “hại” thế nào cho phải đạo. Vua tôi cùng vào sống ra chết, kẻo nữa mang tiếng “chim hết cung bị vứt, thú chết chó săn bị giết”.

Nguyễn Văn Thành là công thần đầu tiên được “chú ý”. Việc ông đang làm Tổng trấn Bắc Hà bị Gia Long triệu hồi về kinh, bề ngoài giao trọng trách lớn nhất, nhưng bên trong để dễ kiềm chế, kiểm soát. Khi nhà vua ngỏ ý muốn lập hoàng tử thứ tư làm Thái tử, Nguyễn Văn Thành lại muốn lập Hoàng tôn Đán, con Đông cung Cảnh đã chết vì cơ nghiệp. Lúc đó, Vua Gia Long đã suy ra rằng: “Hắn muốn dựng vua nhỏ để sau này dễ khống chế. Ta há tối tăm lầm lẫn”… Và cuối cùng thì cơ hội đã đến với nhà vua nhân chuyện phản loạn của con trai Thành. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu không đồng tình với quan điểm trên. Việc Nguyễn Văn Thuyên có ý mưu phản thì Nguyễn Văn Thành – là cha thì phải chịu liên đới. Đó là lẽ thường trong cuộc sống.

An oan Thoại Ngọc Hầu

Lịch sử đánh giá Thoại Ngọc Hầu là một vị tướng tài, công thần hàng đầu của vua Gia Long, ngang với Nguyễn Vǎn Thành và Lê Văn Duyệt. Công lao lớn nhất của ông đó là khai phá miền Hậu Giang, chỉ huy việc đào kinh Vĩnh Tế nối liền Hà Tiên và Châu Đốc – một công trình vĩ đại trong lịch sử phong kiến. Tuy nhiên, cùng với những vinh hiển nhận được từ các vị vua triều Nguyễn, ông còn “nhận” được một án oan kéo dài suốt 90 năm mới được gột rửa.

Lê Văn Duyệt đem lời tố cáo ấy tâu lên triều đình, Vua Minh Mạng ra lệnh tịch thu gia sản và giao cho Bộ Hình nghiêm trị. Sau khi triều đình nghị án, ông bị truy giáng chức tước xuống hàm ngũ phẩm, con ông tên Nguyễn Văn Tâm bị lột ấm hàm; tất cả điền sản để lại đều bị tịch thu, phát mãi.

Có lẽ cảm thấy khép tội Thoại Ngọc Hầu như thế hơi nặng nên Minh Mạng sai đình thần bàn xét lại án Thoại Ngọc Hầu. Tháng 5/1832, nhà vua xuống dụ chỉ truy giáng ông xuống hàm Chánh ngũ phẩm và đoạt lại chức tập ấm của con, duy các sắc tặng phong cha mẹ Nguyễn Văn Thoại được miễn thu hồi. Tang vật Nguyễn Văn Thoại đã sách nhiễu dân thì phải truy ra rồi lấy gia sản ấy mà truy cấp cho dân Chân Lạp.

Sau này, khi Vua Minh Mạng sai Lang trung Bộ Công là Lê Hựu đem sắc thư sang tuyên dụ Vua Chân Lạp, cho biết việc quan Bảo hộ Nguyễn Văn Thoại quấy nhiễu dân đã bị triều đình trị tội, Vua Chân Lạp nên kính cẩn giữ lễ, đừng bận lòng vì một quan chức hư hỏng. Nhưng Vua Chân Lạp dâng biểu nói rõ năm trước có việc đi lấy gỗ táu đem nộp thì dân đã lĩnh tiền và gạo của Nhà nước do Thoại Ngọc Hầu cấp rồi, vậy không cần phải cấp thêm nữa. Nhờ thế, Vua Minh Mạng mới biết rõ Thoại Ngọc Hầu không hề nhũng nhiễu dân.

Việc chưa yên thì người nghĩa tế (con rể) của Thoại Ngọc Hầu tên Võ Vĩnh Lộc, cưới con gái nuôi của ông tên (thị) Nghĩa, sau theo Lê Văn Khôi chống lại triều đình. Khi cuộc nổi dậy bị phá tan, vợ chồng Lộc đều bị bắt, bị giết. Nhà vua chỉ dụ cho bộ Hình điều tra mối quan hệ giữa Vĩnh Lộc và Thoại Ngọc Hầu. Bộ Hình yêu cầu quan tỉnh Gia Định tra hỏi sự việc thì rõ Thoại Ngọc Hầu không liên quan đến sự việc này.

Án của Thoại Ngọc Hầu càng trở nên tồi tệ hơn, khi vào tháng 3/1838, Nguyễn Văn Quang (là cháu họ của Nguyễn Văn Thoại, đồng thời là cháu nội của Khâm sai Thuộc nội Chưởng cơ Nguyễn Văn Bình) đã cùng Lê Văn Sơn (cháu họ của Lê Văn Duyệt) đang là tù phạm bị giam ở ngục tỉnh Gia Định, bàn mưu vượt ngục chiếm giữ thành phản lại triều đình.

Vua Minh Mạng phán rằng, Nguyễn Văn Quang là con cháu công thần ở Vọng Các (Bangkok), trước can án, triều đình chưa nỡ giết, còn để giam cấm, thế mà dám mưu đồ vượt ngục, lấy việc trước của Lê Văn Khôi làm khuôn mẫu, ý muốn chiếm thành làm phản, làm khổ nhân dân. Lê Văn Sơn là cháu Lê Văn Duyệt, phạm tội bị giam, muốn suy tôn lên để mưu khởi sự, cùng triều đình gây biến, mối họa không trừ thì mầm họa lại mọc. Vì vậy, Nguyễn Văn Quang, Lê Văn Sơn cùng 4 người khác bị kết án xử tử lăng trì. Ông của Nguyễn Văn Quang là Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Văn Thoại cũng liên luỵ, bị triều đình lấy lại các văn bằng đã cấp. Với lần nghị án mới, Nguyễn Văn Thoại bị tước luôn hàm Chánh ngũ phẩm…

Mãi đến ngày 25/7/1924, vua Khải Định mới xét và chính thức truy phong ông Thoại là Đoan Tức Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần. Như vậy, nỗi oan mà anh linh Thoại Ngọc Hầu và con cháu ông gánh chịu kéo dài tổng cộng 90 năm.

Theo ĐẤT VIỆT ONLINE

SỰ THẬT VÀ DỐI TRÁ

Image may contain: 1 person
Bức tranh “Sự thật ra khỏi giếng” của hoạ sỹ người Pháp Jean-Léon Gérôme, năm 1896.)

Truyền thuyết từ thế kỷ 19 kể rằng sự thật và dối trá có lần gặp nhau. Dối trá chào sự thật và nói “hôm nay là ngày đẹp trời”. Sự thật ngó nhìn xung quanh, nhìn lên bầu trời, và thực sự là ngày đẹp trời.Họ đi cùng nhau một lúc cho đến khi tới bên một giếng to đầy nước. Dối trá thò tay xuống nước và quay sang nói với sự thật:“Nước sạch và ấm, nếu bạn muốn thì chúng ta cùng nhau bơi?” – Sự thật lại thấy nghi ngờ bèn nhúng tay vào nước và thấy nước thật sự dễ chịu. Cả hai cùng bơi một lúc đến khi đột nhiên dối trá chạy lên khỏi giếng, lấy quần áo của sự thật và biến mấtSự thật tức giận trèo lên khỏi giếng trần truồng, chạy khắp nơi tìm kiếm dối trá để lấy lại quần áo của mình. Mọi người thấy sự thật trần truồng thì liền nhìn tránh sang hướng khác vì sượng sùng hoặc tức giận. Sự thật tội nghiệp thấy xấu hổ bèn quay lại giếng và náu mình ở đó mãi mãi.Kể từ đó, dối trá đi khắp thế giới, khoác áo như sự thật, đáp ứng nhu cầu của thế giới, và không hề muốn nhìn thấy sự thật trần trụi.

Sưu tầm

Suy ngẫm về thói giả dối của người Việt

Sợ sự thật, sợ phải tiếp cận, đối mặt với sự thật sẽ là con đường ngắn nhất dẫn đến tự huỷ hoại.

Gần đây, trong nhiều mặt sinh hoạt đời thường, người ta cảm nhận rõ hơn sự giả dối, gian dối đang ngày càng trở nên phổ biến. Nhưng phải làm gì trước sự giả dối thì gần như người Việt mình vẫn chưa có thói quen hành xử đúng mực với nó.

“Ngụy thiện”?

Có khi biết rõ cái đang diễn trước mặt mình quá ư giả dối, nhưng lại sợ “vạch áo cho người xem lưng”, sợ “xấu chàng hổ ai”, nên sự giả dối, bất lương càng có đất để sống dai và biến tướng.

Giả dối luôn song hành với sự hèn yếu, thiếu tự tin nơi nhân cách, chuyên môn của chính mình. Một khi thước đo nhân cách bị đánh mất thì họ sẽ tìm cách bưng bít và ngăn che sự thật. Biểu hiện rõ nhất của sự giả dối, dối trá là bên ngoài người ta có thể đóng vai làm “nhà từ thiện” nhưng bên trong thì ra sức tiêu thụ hàng quá đát, hàng độc hại để thu lợi bất chính.

Không ít người sẵn sàng làm chứng gian cho nhau, hoặc ngậm miệng cho qua mọi chuyện để cầu toàn, hưởng lợi… Vì thế giả dối luôn song hành với tâm lý xấu che, tốt khoe và sợ sự thật. Trong các quan hệ ứng xử, một khi người ta thiếu lòng tự trọng và sợ sự thật, thì đó là lúc sự giả dối phát tác và bắt đầu gây hại.

Cũng cần phân biệt thêm giữa nói dối, giả dối và gian dối. Nói dối phần nhiều liên quan đến cái miệng, nhưng giả dối và gian dối thì vượt xa sự bất lương của cái miệng. Vì nó còn là thủ đoạn được thúc đẩy ngay trong hành động và ý nghĩ gây hại.

Nói thì dễ, làm thì khó. Nói dối không chỉ là nói sai sự thật, quá sự thật mà còn là nói hoa mỹ, khoa trương, thêu dệt, nói vô bằng. Đằng trước nói phải sau lưng nói trái, nói ác độc gây thù hận, đổ vỡ… Nói dối và làm dối có tác hại ở những mức độ khác nhau, nhưng nếu cả nói dối và làm dối cùng bị ý thức điều khiển thì cụôc sống sẽ phát sinh nhiều bất ổn.

Việc thích nghe khen, nghe nịnh, nghe tâng bốc cũng ít nhiều tiếp tay cho sự giả dối. Giả dối tạo ra sự mất mát niềm tin trong xã hội, một khi ai đó cứ mở miệng ra là rao giảng đạo đức, nhưng cách hành xử thực tế thì luôn đi về phía ngược lại. Hệ thống quản trị xã hội đến lúc nào đó sẽ đối mặt với khủng hoảng một khi các giá trị đạo đức bị bất tín. Nói như dân gian: “Trăm năm tích đức tu hành, một nhời thất đức công trình đổ đi”…

Thông thường, đứng trước sự giả dối nhất thời, người ta sẽ quy ngược và tẩy chay cả quá trình “tích đức” lâu dài trước đó. Vì thế thành tích quá khứ cũng khó “đỡ” nổi cho cái hiện tại trần trụi, nhiều khuyết tật này. Nhưng nếu ai dũng cảm nhận trách nhiệm, không đổ lỗi, thì họ sẽ có cơ hội phục dựng lại hình ảnh nhân cách của mình, xây dựng niềm tin vào sự tốt đẹp cho cộng đồng.

Nếu dùng quyền lực, tiền bạc để bao che tội lỗi, thì sẽ tạo ra cho đời sống ứng xử một thứ lo ngại hữu hình, rằng sự thật không những không được phơi bày mà còn để cho sự giả dối ngang nhiên công phá vào thành trì niềm tin con người.

Khi các mối quan hệ xã hội xảy ra sự mất niềm tin ở diện rộng đối với nhau thì người ta dễ dàng phân tuyến và củng cố cho cái nhìn đối lập “yêu nên tốt ghét nên xấu” của mình. Do đó, những cơ hội để người ta điều chỉnh và tương thông với nhau sẽ bị sự thành kiến ngăn chặn.

Rõ ràng cái nhìn “yêu nên tốt ghét nên xấu” của người Việt mình chưa sửa chữa được cái khuyết điểm lịch sử trong việc “định nghĩa” con người là thiện hay ác, có thể sửa chữa hay không. Đây cũng là quan điểm không thống nhất của Nho gia và Pháp gia trong lịch sử cai trị mà Việt Nam từng chịu ảnh hưởng.

Pháp gia nghĩ ra mọi điều luật để tăng tối đa các công cụ cai trị có lợi cho vương quyền, trong khi Nho gia thì gia giảm và bổ sung nhiều các phép tắc đạo đức, thậm chí ở một mức độ khó tin như “mệnh trời”. Cũng vì đổ hết cho mệnh trời, nên lời nói và thực hành ít đi đôi với nhau.

Khi chữ “trung” được đẩy lên mức cao nhất (trung thần bất sự nhị quân), thì đặc quyền của giới quý tộc gần như không có điểm dừng, trong khi dân chúng phải chịu đủ mọi thứ khắc chế. Hàng nghìn năm dân tộc ta phải sống chung với cái không có thật là “mệnh trời”, một dạng “nguỵ thiện” trong cai trị.

Sẽ rất khó khăn để nói thẳng, nói thật trong những trường hợp ứng xử xã hội thiên về lối sống duy cảm kiểu “yêu nên tốt ghét nên xấu”. Và đó là lý do pháp luật khó được thực thi và sự thật luôn bị đẩy vào góc khuất.

Còn nhiều cái không có thật, cái ảo tưởng vẫn tiếp tục cai trị trong đầu óc con người, nên người ta buộc phải học cách để sống chung với nó. “Nguỵ thiện” là lấy cái học đạo đức giả làm nền cho ứng xử, khiến cho người ta thích nghe những lời tâng bốc và luôn sợ hãi trước sự thật.

Giả dối- ý thức bị cái ác chế ngự hoàn toàn

Theo quan điểm của đạo Phật, rất khó để có những lời nói dối không gây hại cho ai, nên nói dối dù ở mức độ nào vẫn phải dẫn đến “quả báo” mất mát niềm tin. Nói dối có nhiều cấp độ nặng nhẹ khác nhau, nhưng giả dối thì được huấn tập vào trong tính cách, đến một lúc lấn lướt và trở thành cái đối lập với sự chân thật, công lý.

Trong vế tâm lý “ghét nên xấu”, người ta dễ dàng nuôi dưỡng ý định gây tổn hại cho đối phương. Thậm chí, chỉ cần nghe đối phương gặp khó khăn thì họ cũng coi đó là cơ hội để vui sướng, ăn mừng. Ngay cả việc dùng công cụ bạo lực để hại người cũng được xem như một thứ niềm vui. Đôi lúc người ta còn tranh luận: “Tôi chỉ mới có ý định giết người thôi, còn đã có ai chết đâu mà tôi bị coi là phạm tội giết người”.Có nhiều tình huống người ta phải nói dối, nhưng đó không phải là sự giả dối. Giả dối có cấp độ cao hơn nhiều nói dối, vì ở đó ý thức đã bị cái ác chế ngự hoàn toàn.

Theo quan điểm của đạo Phật, mọi hành động được dẫn dắt bởi ý thức sẽ quyết định nghiệp mà họ phải trả. Trong trường hợp này, dù người kia chưa giết người thì tội giết người cũng đã thành lập, vì ý thức trung tâm đã bị cái ác kiểm soát. Đạo Phật gọi đó là tự tác, giáo tha tác, kiến tác tuỳ hỷ (tự tay mình giết, bảo người khác giết, thấy người khác giết mà vui theo).

Dù ở tình huống phải giết một để người cứu vạn người thì vẫn phải chịu qủa báo giết người, không gì có thể bù lấp được cho hành vi cố sát. Vì giết cái ác trong một con người chỉ là giết một vế của con người, còn đang tâm giết cả con người là giết luôn cái thiện, không cho người khác cơ hội để sống và sửa chữa.

Khi ý thức thù nghịch phân tuyến và trở thành định kiến trong ứng xử xã hội thì sẽ tạo ra một môi trường giáo dục ít khoan dung và hoà giải. Một khi lòng từ bi không phải là sức mạnh thì càng sử dụng bạo lực, càng cho thấy sự sợ hãi. Phản ứng của sự sợ hãi chính ngăn che sự thật, khiến người ta không thấy được hành vi gây tổn hại, nhất là khi ý thức đã bị sự hiềm thù, đối đầu kiểm soát.

Trong nhiều trường hợp, pháp luật và nhân nghĩa đời thường không gặp gỡ nhau. Và xã hội “nguỵ thiện” là xã hội mà ai cũng tự cho rằng mình là “chân lý”. Ngay cả tôn giáo, một nơi được xem là có nhiều bài học đạo đức nhất, mà sự chết chóc, thù hận do xung đột tôn giáo cũng không hề giảm.

Pháp luật và đạo đức có đầy đủ các mức độ để kiểm soát hành vi, duy trì trật tự xã hội, nhưng nó sẽ trở nên “nguỵ thiện” khi những người tạo ra nó sống bằng hành vi đạo đức giả, thiếu vắng sự soi chiếu nội tâm và kiểm soát ý thức. Song những bất ổn xã hội là một tương quan rộng lớn, trong đó có cả tâm thức khơi mào cho những nghi kỵ, thù hận, khắc sâu và đưa đẩy những mối họa tham sân si lớn hơn của con người để tranh giành ích lợi và ảnh hưởng, đôi khi chỉ để thỏa mãn cái tự ngã nhất thời.

Tính giả dối và căn bệnh sợ sự thật

Trong lịch sử, Pháp gia và Nho gia ra sức bảo vệ vương quyền bằng đủ mọi quy định pháp luật và quy chuẩn đạo đức. Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo và pháp luật trong tình huống cụ thể nào đó lại không có cùng tiếng nói với nhau.

Bởi “đạo đức nguỵ thiện” và “pháp quyền mánh khoé” đều có những mặt lợi hại, nhưng bao nhiêu thế kỷ nay nó chỉ dừng ở mức khắc chế và thúc ước nhau, chứ không bao giờ triệt tiêu nhau. Và khi lợi ích được dàn xếp, nó sẽ tìm cách xích lại gần nhau.

Người Việt mình có một hạn chế là thấy cái gì đó mới là vồ vập, nhưng không theo đuổi cái gì cho đến nơi đến chốn. Thế nên không ít lần tiếp nhận tư tưởng khác, nhưng ít tiếp nối và thừa kế những tinh hoa của nó. Nói chung là thiếu một cái nhìn tương quan toàn diện.

Một giới hạn khác là luôn tỏ ra sợ hãi khi phải thừa nhận những sai lầm. Vì thế dù pháp luật có quy định chi tiết thì người ta cũng không đủ tự tin để giải quyết dứt điểm, tạo nên những thái độ lừng khừng, lưng chừng, nửa vời, nhìn trước ngó sau để bảo toàn cho mình. Quy hoạch chiến lược ở ta yếu cũng chính vì tính cách ăn xổi ở thì, thiếu bản lĩnh tự tin này.

Có người quan tâm hỏi người bạn của mình rằng: “Nghe nói anh bị ung thư phải không?”. Người bạn trả lời: “Không, tôi không có bệnh gì cả”. Một thời gian ngắn sau người kia thấy anh bạn của mình qua đời vì bệnh ung thư, bèn chặc lưỡi: “Rõ ràng anh ta chết vì ung thư mà cứ bảo mình không có bệnh gì?”. Việc chết đến nơi rồi mà vẫn không thừa nhận mình có bệnh. Đó là bệnh gì, nếu không phải là bệnh sợ hãi sự thật.

Sợ sự thật, sợ phải tiếp cận, đối mặt với sự thật sẽ là con đường ngắn nhất dẫn đến tự huỷ hoại.

Trong một bài báo, nhà báo Hữu Thọ có nói: “Muốn nghe được lời nói thật là phải công phu lắm, phải thành tâm lắm. Hãy rửa tai để nghe lời nói thật vì không có lời nói thật nào mà không có vị chua chát. Để bệnh nói dối tràn lan chủ yếu là tại người nghe“.

Có sự thật nào thật hơn những phát biểu ấy? Đến nỗi Giáo sư Hoàng Tuỵ phải thốt lên: “Sự giả dối đang là mối nhục lớn“. Nhưng ai là người đi đầu trong nhận thức “biết nhục” để xã hội không nhục, thì còn tuỳ vào việc có người nghe được lời nói thẳng và nghe được sự thật hay không.

Cái thói quen ứng xử “yêu nên tốt, ghét nên xấu” cũng khơi mào cho việc dung dưỡng sự giả dối, đánh tráo khái niệm và làm sai lệch nhận thức. Khi không còn niềm tin ở nhau, xã hội ở tất cả các phía ghét yêu đều muốn giành phần thắng về mình bất chấp cả “lời nói dối”, bất chấp việc bẻ chữ, bẻ nghĩa để gây bất lợi cho đối phương. Đó cũng là hình ảnh sinh động nhất của một xã hội đang dạy nhau dối trá.

Tuy nhiên cũng cần phải hiểu, vì còn có người giữ vai trò cầm cân nảy mực ưa nói dối, làm dối, nên người khác cũng dùng chính cách ấy để chống lại họ. Như vậy, nhẽ ra chúng ta có được một xã hội có đủ người nói thẳng, nói ngay, nói đúng sự thật, có đủ người nghe thẳng, nghe ngay, nghe đúng sự thật…, thì vì định kiến “truyền thống”, “chủ nghĩa”, “tôn giáo”, ngay cả những người được xem là nói được, viết được để tác động đến dư luận xã hội cũng rơi vào hoạt cảnh dối trá…

Khi những cái dối trá ấy gặp nhau, đối chọi nhau thì làm gì có một xã hội đàng hoàng đúng nghĩa. Một khi cái sự gian dối bị đẩy vào góc khuất, đẩy vào bí mật quá lâu thì sẽ tạo ra sự bất tín. Theo quan điểm của đạo Phật, nói dối bất cứ điều gì đều phải chịu quả báo, và quả báo nhãn tiền là ngay cả khi nói thật nhưng cũng không ai tin.

Truyện kể dân gian có nói đến nhân vật một đứa trẻ, vì muốn đánh lừa người khác để làm vui thích, đã hô cháy nhà để mọi người chạy đến cứu. Nhưng khi trò đó tái diễn vài lần, thì người ta không còn tin vào nó nữa. Cho đến khi nhà nó xảy ra hoả hoạn, nó hô khản cả cổ nhưng cũng không ai thèm để ý để chạy  đến cứu.

Trong lịch sử dân tộc, vua Lý Nhân Tông từng xuống chiếu cầu lời nói thẳng, xét người có tài đức cho quản quân dân. Như thế phải quý trọng sự thật, phải có sự dũng mãnh và lòng khoan dung độ lượng hơn người mới có thể lắng nghe được sự thật, lắng nghe được lời nói thẳng.

Trong các quan hệ xã hội, không dung được người khác thì cũng không dung được mình. Dung người thể hiện ở chỗ biết lắng nghe lời nói thẳng. Không dung được người biểu hiện ở hành vi trấn áp bằng bạo lực và các ứng xử dưới chuẩn khác. Do đó càng sử dụng bạo lực, càng dối trá thì càng lộ ra sự kém cỏi trong nhận thức, cũng như sự sợ hãi, hoảng loạn, mất định hướng trong tinh thần.

Khi bạo lực hành vi, ngôn từ trong xã hội thắng thế thì hành xử của con người ngày càng xa rời các giá trị đạo lý, càng sợ hãi trước sự thật… Làm sao có thể xây dựng được một quốc gia hùng mạnh, trong sạch khi người ta luôn sợ hãi trước sự thật, tìm mọi cách để ngăn che sự thật.

Theo THÁI NAM THĂNG / VIETNAMNET

Công nghệ kháng-pin Mặt Trời có thể tạo ra được điện trong đêm tối

Công nghệ kháng-pin Mặt Trời có thể tạo ra được điện trong đêm tối
Lợi dụng nhiệt tỏa ra trong quá trình nguội đi của Trái Đất, kháng-pin Mặt Trời có thể tạo ra điện.

Pin Mặt Trời vẫn được tung hô là một trong những công nghệ quan trọng nhất ngành sản xuất năng lượng nhờ khả năng, trên lý thuyết, là tạo ra được lượng năng lượng vô tận.

Trong thực tế, pin Mặt Trời chỉ hoạt động vào ban ngày, thậm chí cần ánh nắng đủ nhiều để nó có thể sản xuất được điện năng. Để giải quyết vấn đề “tạo năng lượng sạch trong đêm”, các nhà khoa học tìm ra được một giải pháp mới.

Thứ công nghệ mới có tên anti-solar panel, tạm dịch là kháng-pin Mặt Trời. Nó không sử dụng ánh nắng để vận hành, mà có thể tạo điện từ nhiệt do Trái Đất thải ngược lại bầu khí quyển trong quá trình nguội đi mỗi đêm. Điện sinh ra từ nhiệt thông qua một máy phát nhiệt điện.

Máy phát có thể biến nhiệt thành điện thông qua hiệu ứng nhiệt điện: khác biệt nhiệt độ giữa hai chất dẫn/chất siêu dẫn có thể tạo nên khác biệt trong điện áp của chúng, tức là có tiềm năng tạo ra điện.

Một nhóm các nhà khoa học tới từ Đại học Stanford đã lợi dụng hiệu ứng này để tạo ra 2,2 watt điện trên mỗi mét vuông kháng-pin Mặt Trời; họ lắp đặt hệ thống trên một mái nhà thử nghiệm nhằm chứng minh công nghệ này hoạt động được.

Công nghệ kháng-pin Mặt Trời có thể tạo ra được điện trong đêm tối - Ảnh 1.

Con số 2,2 watt không nhiều, nhưng vẫn là con số đáng lưu tâm khi xét tới việc hệ thống kháng-pin Mặt Trời chỉ sử dụng nhiệt mà Trái Đất sinh ra trong đêm để tạo điện. Theo lời các nhà khoa học đứng sau hệ thống này, các tấm kháng-pin Mặt Trời có thể thắp sáng các thành phố vào ban đêm với chi phí thấp.

Nhóm nghiên cứu này không phải những người đầu tiên thử nghiệm công nghệ kháng-pin Mặt Trời: hồi đầu năm nay, một nhóm nghiên cứu nữa tới từ Đại học California, Davis chế tạo pin năng lượng có thể tạo ra điện vào ban đêm mà không cần tới ánh sáng Mặt Trời.

Jeremy Munday, tác giả nghiên cứu này cho hay: “Bạn có năng lượng nhiệt từ Mặt Trời truyền tới Trái Đất và pin năng lượng Mặt Trời sẽ thu lấy năng lượng đó. Vì vậy về cơ bản, bạn cần hai vật thể có nhiệt độ khác nhau và một số cách để chuyển đổi nguồn năng lượng đó. Những gì mà thiết bị này vận hành vào ban đêm cũng tương tự như vậy.

Chúng ta cần một cơ thể nóng như Trái Đất và một cơ thể lạnh như không gian vũ trụ. Vì sức nóng lan truyền từ Trái Đất ra ngoài không gian. Do đó chúng ta có thể lấy nguồn nhiệt đó và chuyển đổi nó thành điện năng“.

Còn các nhà khoa học Stanford tự tin rằng hệ thống kháng-pin Mặt Trời của họ hiệu quả hơn những thử nghiệm trước đây, có thể tạo ra lượng năng lượng gấp 120 lần những hệ thống cũ. Họ nhấn mạnh việc tăng quy mô hệ thống dễ dàng, khi mà máy phát nhiệt điện chỉ là một phần nhỏ của trạm năng lượng.

Công nghệ kháng-pin Mặt Trời có thể tạo ra được điện trong đêm tối - Ảnh 2.

Thiết bị thử nghiệm việc tạo ra điện thông qua nhiệt tỏa ra từ cơ thể.

Kháng-pin Mặt Trời có thể “sống tốt” tại những nơi nhiều nắng, bởi lẽ ngay cả khi nắng tắt, nhiệt lượng trong không khí vẫn rất nhiều, đủ để vận hành máy phát. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, công nghệ này vẫn mang nhiều tính giả thuyết.

Chúng tôi đang phát triển một máy phát điện cho mọi người – có thể cung cấp điện cho những nơi đang phát triển, những vùng nông thôn xa trung tâm”, nhóm nghiên cứu tại Stanford nói.

Thế nhưng cả nghiên cứu của họ lẫn của nhóm tới từ Đại học California, Davis vẫn chưa phải nguồn điện đáng tin cậy trong tương lai gần: hệ thống của Jeremy Munday mới chỉ tạo ra một phần nhỏ điện so với một tấm pin năng lượng Mặt Trời thông thường, và anh Munday cũng nhận định rằng năng lượng Mặt Trời là thành quả của hàng thập kỷ nghiên cứu, trong khi đó kháng-pin Mặt Trời vẫn là công nghệ trong thuở trứng nước.

Nhưng nếu tiến trình phát triển diễn ra suôn sẻ, thì những tấm năng lượng kháng-pin Mặt Trời này có thể giải quyết được vấn đề bỏ phí nguồn nhiệt ở các dây chuyền sản xuất công nghiệp. Thậm chí, ta còn có thể lắp đặt chúng trên mái nhà, không khác gì công nghệ pin Mặt Trời hiện tại mà lại có tiềm năng sản xuất điện 24/7.

Ngành công nghiệp năng lượng vẫn sẽ còn chứng kiến nhiều đột phá trong tương lai, bạn cứ chờ mà xem.

Theo Tổ Quốc

Thiết kế của Lầu Năm Góc đã giúp cứu nhiều sinh mạng trong vụ 11/9 ra sao

Làm thế nào mà tầng 2 của Lầu Năm Góc vẫn trụ vững sau khi hàng chục cột ở tầng 1 bị phá hủy hoặc hư hại nghiêm trọng bởi cú đâm của chiếc máy bay không tặc trong thảm kịch ngày 11/9/2001.
Thiết kế của Lầu Năm Góc đã giúp cứu nhiều sinh mạng trong vụ 11/9 ra sao - Kỳ cuối

Khu vực Lầu Năm Góc bị máy bay không tặc đâm trúng. Ảnh: AP

THIẾT KẾ ƯU VIỆT TỪ 60 NĂM TRƯỚC

Gần như không thể tưởng tượng được lực mà Chuyến bay 77 đã lao vào Lầu Năm Góc. Chiếc Boeing 757 nặng ước tính khoảng 82,4 tấn và đang bay với tốc độ hơn 530 dặm / giờ.

Thiệt hại xảy ra với tòa nhà chủ yếu là do các thùng nhiên liệu dự trữ lớn ở cánh và thân máy bay. Chuyến bay 77 cất cánh từ Sân bay Quốc tế Dulles của Washington D.C. lúc 8h20 sáng trên đường đến Los Angeles với những thùng nhiên liệu lớn cho hành trình xuyên quốc gia. Và số nhiên liệu đó hầu như còn nguyên khi chiếc phi cơ lao vào Lầu Năm Góc.

Theo phân tích của Dusenberry và cộng sự, các cánh nhẹ và phần không chứa nhiên liệu của máy bay bị cắt gẫy gần như ngay lập tức khi va chạm, nhưng những thùng nhiên liệu nặng đã xuyên qua tầng 1, tạo ra một luồng mảnh vỡ xé nát tòa nhà như một trận tuyết lở, để lại “con đường” hủy diệt dài gấp đôi chiều dài của máy bay.

Ông Dusenberry đã so sánh chiếc Boeing 757 với một quả bóng nước.”Bản thân quả bóng thì không nặng, nhưng nếu bạn bơm đầy nước và ném vào thứ gì đó, thì nó sẽ va chạm và tạo ra một lực khá lớn”, ông giải thích.

Điều mà Dusenberry và các đồng nghiệp tìm hiểu là làm thế nào mà tầng hai của Lầu Năm Góc vẫn trụ lại được sau khi hàng chục cột ở tầng một bị phá hủy hoặc hư hại nghiêm trọng. Các tầng trên chỉ sụp đổ sau khi chịu thiệt hại nghiêm trọng từ ngọn lửa dữ dội.

Thiết kế của Lầu Năm Góc đã giúp cứu nhiều sinh mạng trong vụ 11/9 ra sao - Kỳ cuối - Ảnh 1.

Tổng thống Mỹ thời đó George Bush và Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld thăm hiện trường vụ tấn công tại Lầu Năm Góc ngày 12/9/2001. Ảnh: History

Kết luận chuyên môn của nhóm là hai quyết định về thiết kế chiến lược được đưa ra từ 60 năm trước đã giữ cho Lầu Năm Góc vẫn trụ vững.

Quyết định đầu tiên liên quan đến cách các cột bê tông đỡ sàn và trần nhà được gia cố. Họ phát hiện ra các cột bằng bê tông được gia cố bằng nhiều sợi thép xoắn để tăng thêm độ chắc chắn. Trong xây dựng hiện đại, một cột bê tông có thể sẽ được hỗ trợ bằng các vòng thép vằn nằm ngang đặt thưa nhau, chạy dọc theo lõi cột. Nhưng trở lại những năm 1940 thì tiêu chuẩn thời đó là sử dụng một vòng xoắn liên tục của những cây thép xoắn ốc.

Nhóm của Dusenberry đã nhận ra ngay ưu điểm của lối gia cố cốt thép theo hình xoắn ốc này. Bên trong không gian tối đen và đổ nát ở tầng 1, họ tìm thấy những cột bị uốn cong nghiêm trọng, nơi lớp bê tông bên ngoài đã bong ra, nhưng bên trong cốt thép xoắn ốc vẫn còn nguyên vẹn. Thật kinh ngạc, những chiếc cột bị xét nát, biến dạng đó vẫn đứng vững sau va chạm.

Dusenberry nói: “Nếu thời đó họ sử dụng các vòng thép [đặt ngang] thay vì cây thép xoắn ốc [chạy dọc], tôi cho rằng sức chịu đựng sẽ không tốt như vậy”.

Thiết kế của Lầu Năm Góc đã giúp cứu nhiều sinh mạng trong vụ 11/9 ra sao - Kỳ cuối - Ảnh 2.

19 tên không tặc tham gia loạt vụ khủng bố rúng động nước Mỹ và thế giới 19 năm trước.

Điều thứ hai giữ Lầu Năm Góc còn trụ vững sau cuộc tấn công là cách sàn bê tông và trần được gia cố. Trước hết, các cột đỡ ở mỗi tầng được đặt cách nhau tương đối sát, với khoảng cách tối đa là 6 mét. Vì vậy, các dầm bê tông chỉ phải bắc qua ở khoảng cách ngắn.

Và bên trong những dầm bê tông đó, các kỹ sư đã cho chạy những thanh thép vằn dài chồng lên nhau từ dầm này sang dầm khác. Dusenberry nói rằng chính những giá đỡ bằng thép chồng chéo đó đã giữ vững khối trần bê tông nặng ngay cả khi các cột bên dưới đã bị sập.

“Kết cấu thép đó có thể hoạt động như một dây treo giữ khối bê tông ở tầng trên. Nó giống như một dây phơi quần áo vậy”, ông Dusenberry nói.

Lầu Năm Góc là tòa nhà có một không hai, một pháo đài 5 góc bằng bê tông với phong cách kiến ​​trúc đã lỗi thời từ lâu. Nhưng ông Dusenberry nói rằng các kiến ​​trúc sư và kỹ sư hiện đại có thể học được rất nhiều điều từ những bài học về sự kiện 11/9, trong đó điều quan trọng là sự dự phòng dư thừa về khả năng chống chịu và độ dẻo.

Thiết kế của Lầu Năm Góc đã giúp cứu nhiều sinh mạng trong vụ 11/9 ra sao - Kỳ cuối - Ảnh 3.

Toàn cảnh Lầu Năm Góc vào năm 2016. Ảnh: Getty Images

Dự phòng ở đây là việc thiết kế những đường dẫn tải lực thay thế trong trường hợp các phần tử kết cấu chính bị mất hoặc bị phá hủy. Lầu Năm Góc đã làm được điều này thông qua kết cấu cột chặt chẽ và thép cây xếp chồng lên nhau trong dầm. Trong khi đó, độ dẻo là khả năng các phần tử trong kết cấu bị uốn cong dưới tải trọng cực hạn, nhưng không bị gãy, như được thể hiện ở những cây thép xoắn ốc trong lõi các cột tại Lầu Năm Góc.

“Ngày nay có những tòa nhà đang được thiết kế với sự cân nhắc rằng có thể xảy ra một sự cố nào đó. Không nhất thiết phải là một sự cố do ác ý, mà là một sự cố bất kỳ làm hỏng một phần cấu trúc quan trọng. Ví dụ, bạn có thể thiết kế một tòa nhà mà, nếu mất đi một cột bên dưới, thì tầng trên của tòa vẫn ‘treo’ được các tầng bên dưới nó”, kỹ sư Dusenberry nhấn mạnh.

Theo báo Tin Tức