Ai cũng sợ lộ thông tin cá nhân, nhưng bạn có biết lộ dữ liệu ADN sẽ gây ra hậu quả như thế nào không?

Ai cũng sợ lộ thông tin cá nhân, nhưng bạn có biết lộ dữ liệu ADN sẽ gây ra hậu quả như thế nào không?

Hình minh họa

Sự phát triển của công nghệ ngày nay làm nảy sinh không ít rắc rối phức tạp. Việc để lộ thông tin đặc biệt như gen di truyền là một trong những điều như vậy.

Xét nghiệm ADN có lẽ đã không còn là điều quá xa lạ với chúng ta, tuy nhiên việc để lộ kết quả ấy có nguy hại không thì lại ít người nghĩ tới.

Người sở hữu thông tin này có thể dùng nó vào những gì? Và liệu điều đó có phải lúc nào cũng xấu không? Hãy cùng tìm hiểu nhé!

Từ lộ ADN dẫn đến bị lộ danh tính

Trên thực tế, các cơ sở xét nghiệm chỉ sử dụng một phần vô cùng nhỏ, ước tính khoảng 0.02% từ bộ ADN đồ sộ của khách hàng để thí nghiệm mà thôi. Nghĩa là dù ai đó có lấy được thì cũng không thể tiến hành nhân bản vô tính người đó như trong phim đâu.

Tuy vậy, đây thường là những dữ liệu quan trọng, tiết lộ nhiều đặc điểm nhận dạng của người xét nghiệm. Từ đây, họ hoàn toàn có thể biết bạn trông như thế nào, thậm chí nhận dạng được người nhà của bạn nữa.

Cứ cố gắng bảo mật tên tuổi, địa chỉ của mình bao nhiêu tùy thích – các công cụ giải mã gen không cần đến những thông tin đó để biết bạn là ai.

Thế giới đã có những nơi cảnh sát sử dụng ADN tìm được ở hiện trường vụ án và quyền truy cập vào dữ liệu của các công ty cung cấp dịch vụ xét nghiệm để tìm ra gợi ý về thủ phạm hoặc nhân chứng. Tiềm năng là có thật, hệ quả ra sao chỉ còn cần phải xem người lấy được thông tin của bạn sử dụng nó thế nào mà thôi.

ADN – mỏ vàng của làng nghiên cứu

Dữ liệu ADN cũng như bất kì một thông tin nào khác, đều có thể đem bán lấy tiền. Từ kết quả xét nghiệm, người ta có thể biết được bạn dễ mắc bệnh gì, đang mắc bệnh gì, gia đình bạn có bệnh di truyền nào không,…

Ai cũng sợ lộ thông tin cá nhân, nhưng bạn có biết lộ dữ liệu ADN sẽ gây ra hậu quả như thế nào không? - Ảnh 1.

Năm 2018, 23andMe – một công ty công nghệ sinh học tại California, Mỹ đã công khai bán dữ liệu di truyền của rất nhiều khách hàng với giá 300 triệu đô cho gã khổng lồ ngành dược phẩm GlaxoSmithKline. Tất nhiên người phát ngôn của những công ty này tuyên bố rằng việc đó đã được chủ dữ liệu cho phép, và thông tin chỉ được sử dụng vào mục đích nghiên cứu mà thôi.

Lí do họ đưa ra là các nghiên cứu không quan tâm đến dữ liệu gene trên góc độ cá nhân mà thực tế trọng số lượng hơn vì mẫu nghiên cứu lớn dễ cho kết quả chính xác, cũng như sẽ đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu. Tuy nhiên, sau đó lượng tài nguyên khổng lồ này sẽ được bên thứ 3 xóa đi hay lưu trữ để dùng vào mục đích nào khác thì… không ai nói.

Các công ty bảo hiểm hưởng lợi

Nếu có ngành nào được lợi nhiều nhất từ loại dữ liệu đặc biệt này, đó hẳn phải là ngành bảo hiểm. Họ có thể phát hiện xu hướng bệnh tật của chủ hợp đồng, và từ chối chi trả cho các bệnh đó.

Ai cũng sợ lộ thông tin cá nhân, nhưng bạn có biết lộ dữ liệu ADN sẽ gây ra hậu quả như thế nào không? - Ảnh 2.

May sao, hiện nay phần lớn các hệ thống luật pháp trên thế giới đều có quy định bảo mật nhằm bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng dịch vụ xét nghiệm.

Chẳng hạn, Mỹ có Đạo luật chống phân biệt đối xử dựa trên thông tin di truyền 2008, trong đó quy định cấm các hãng bảo hiểm mua bán mẫu hay dữ liệu gene; cấm loại trừ, tăng giá bảo hiểm đối với người hoàn toàn khỏe mạnh dựa trên; cấm các chủ lao động ra quyết định về vấn đề chức vụ hay sa thải,… dựa trên phân tích ADN.

Tuy nhiên, cánh tay của pháp luật không thể với tới mọi ngóc ngách của xã hội, và những tiêu cực vẫn hoàn toàn có thể xảy ra. Chính vì vậy, vấn đề có nên xét nghiệm ADN hay không hiện nay vẫn còn là băn khoăn của rất nhiều người.

Bí mật đời tư có thể bị công khai

Nhiều người muốn sở hữu mẫu ADN của người khác vào mục đích kiểm tra quan hệ máu mủ, tình trạng sức khỏe,… Bạn nghĩ sao nếu một thông tin nhạy cảm như bí mật về huyết thống giữa hai người nào đó bị lọt vào tay người ngoài? Nếu chủ tịch một tập đoàn lớn bị tiết lộ tình trạng sức khỏe và khiến công ty rơi vào khủng hoảng, liệu đó có phải một điều tốt?

Ai cũng sợ lộ thông tin cá nhân, nhưng bạn có biết lộ dữ liệu ADN sẽ gây ra hậu quả như thế nào không? - Ảnh 4.

Các công ty xét nghiệm dĩ nhiên có biện pháp bảo vệ dữ liệu của mình, ta cũng có thể yêu cầu họ xóa bỏ hoàn toàn thông tin và tiêu hủy mẫu vật. Thế nhưng những trường hợp tống tiền, làm nhục, khủng bố tinh thần… người khác chỉ vì một mẫu ADN bị đánh cắp là hoàn toàn có.

Sự phát triển của công nghệ ngày nay làm nảy sinh không ít rắc rối phức tạp. Việc để lộ thông tin đặc biệt như gene di truyền nằm trong số đó. Mặc dù không phải lúc nào cũng tiêu cực, nhưng có lẽ chuyên gia nào cũng sẽ khuyến cáo bạn rằng cần xem xét thật kĩ các điều khoản trước khi kí vào thỏa thuận với các công ty xét nghiệm.

Đừng chỉ coi bản hợp đồng là một tờ giấy, một thủ tục rườm rà cần ta phải trải qua. Bởi vì rất có thể sau này khi chuyện không may xảy ra, đó lại chính là vị cứu tinh, là người bảo vệ quyền lợi cho ta đấy!

Theo Trithuctre

VÌ SAO TT TRUMP PHẢI ĐỐI MẶT VỚI QUÁ NHIỀU THÙ TRONG GIẶC NGOÀI?

Tổng thống Donald Trump là một hiện tượng chính trị lạ lùng chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông chưa từng kinh qua bất cứ một chức vụ nào, cho dù là chức vụ nhỏ bé trong sự nghiệp của một chính trị gia.

Ông là một nhà tài phiệt với hồ sơ “chính trị” là con số 0 tròn trĩnh, lại thẳng tiến một mạch vào Nhà Trắng, bỏ sau lưng những đối thủ chính trị sừng sỏ như cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton hay Thượng nghị sĩ lừng danh John McCain. Giới chính trị, học thuật và truyền thông “tiên đoán” rằng, với một vị Tổng thống “không biết gì về chính trị”, Donald Trump sẽ làm nước Mỹ tan nát và khiến thế giới lanh tanh bành.
Nhưng sau hơn ba năm “cầm lái” nước Mỹ, Tổng thống Donald Trump không những không làm nước Mỹ tan nát mà lại trở nên hùng cường với những kỳ tích, như sự bùng nổ việc làm đáng kinh ngạc (tạo ra 7 triệu việc làm), thị trường chứng khoán liên tục tăng ở các mốc kỷ lục, chỉ số Nasdaq lần đầu tiên vượt mốc 9.000 điểm – ghi nhận đỉnh cao kỷ lục mọi thời đại, tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trong hơn nửa thế kỷ qua…
Tổng thống Trump cũng xây dựng lại quân đội hùng mạnh, thiết lập một lực lượng thẩm phán tài ba, cải cách tư pháp hình sự, cắt giảm thuế mang tính lịch sử, loại bỏ bảo hiểm y tế cá nhân bắt buộc; thành lập binh chủng mới trong Quân đội Hoa Kỳ kể từ năm 1947 – Lực lượng Không gian Hoa Kỳ và đưa nước Mỹ trở thành Nhà sản xuất năng lượng lớn nhất thế giới.

Có thử thách nào tệ hại hơn đối với một Tổng thống Mỹ khi phải đối mặt với thủ tục bị luận tội và truất phế. Sau hơn 2 tháng điều tra với khoảng 12 cuộc điều trần công khai và 15 cuộc điều trần kín, với bản báo cáo dài hơn 300 trang của Ủy ban Tư pháp Hạ viện, cùng cuộc “tổng tấn công” của hàng loạt báo chí truyền thông cánh tả, người ta lo ngại Tổng thống Trump sẽ bị “rối trí” mà “gục ngã”.

Tuy nhiên, với một con người từng trải qua nhiều năm thăng trầm với “đế chế” TRUMP, thủ tục luận tội chỉ là “cú thôi sơn” trong một chuỗi những cáo buộc mà ông phải hứng chịu từ các đối thủ chính trị kể từ khi ông trở thành ông chủ Nhà Trắng. Như một võ sĩ kiên cường so găng trên “võ đài” chính trị khắc nghiệt tại Washington, trận đấu càng gay cấn thì càng khiến Tổng thống Trump trở nên mạnh mẽ.
Có thể nói Donald Trump là vị Tổng thống Mỹ đầu tiên dám đối đầu toàn diện với những nỗ lực của ĐCSTQ hòng thống trị thế kỷ 21 thông qua những hành động “côn đồ” cả về quân sự, kinh tế lẫn ngoại giao.
Bất chấp mọi khó khăn khi bị Đảng Dân chủ bủa vây, quấy phá liên tục trong suốt hơn 3 năm tại vị, Tổng thống Trump vẫn điều hành đất nước một cách tài tình, đưa nền kinh tế Mỹ vươn lên mạnh mẽ trong thế rồng bay, đại bàng cất cánh.
Bên cạnh đó, ông nhấn chìm nền kinh tế Tàu Cộng – vốn tích góp được hàng nghìn tỷ đôla từ thặng dư và “trộm cắp” trong suốt hơn 30 năm hưởng lợi từ thời 4 vị Tổng thống tiền nhiệm – vào tình thế ngày càng lún sâu trong cảnh khốn khó của nợ nần, phá sản và suy thoái.
Từ thái độ ngông nghênh, coi thường mọi quốc gia trên thế giới, rải tiền nuôi Giấc mộng Trung Hoa cho các nước chư hầu dễ bảo và sẵn sàng trừng phạt, “nghỉ chơi” với các nước “cứng đầu”, Tàu Cộng từng liểng xiểng trước uy lực của ông Trump, phải nhân nhượng ký vào bản thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 với Mỹ – một bước hụt hơi của ĐCSTQ trong cuộc đọ sức dài hơi với Tổng thống Trump.
Không giống như các vị tổng thống tiền nhiệm luôn lo ngại và né tránh Tàu Cộng, Tổng thống Trump không ngần ngại nhiều lần chỉ ra rằng, ông coi mối quan hệ giữa Mỹ và Tàu Cộng giống như một phép cộng có tổng bằng 0, mà phần thua thiệt nặng nghiêng về đất nước ông.
Ông trừng phạt Tàu Cộng bằng các đòn thuế quan lên tới hàng trăm tỷ đôla, ra lệnh các công ty lớn của Mỹ rút khỏi TQ, cổ vũ đồng minh ngừng làm ăn với đất nước này, đồng thời trừng phạt và cho vào danh sách đen hàng loạt các “ông lớn” của Tàu Cộng như ZTE, Huawei, yêu cầu Canada bắt giữ Giám đốc Tài chính của Huawei, quản thúc tại gia…
Tổng thống Trump cũng gây áp lực lên các Chương trình Trao đổi Văn hóa và Ngôn ngữ do ĐCSTQ tài trợ cho các trường ĐH Hoa Kỳ núp dưới bóng các Viện Khổng Tử, buộc nhiều trường ĐH Mỹ liên tiếp phải đóng cửa các Viện này – mà thực chất là cánh tay nối dài của mạng lưới tuyên truyền của ĐCSTQ.
Ông “cấm cửa” không cho Tàu Cộng tham gia cuộc tập trận quân sự quốc tế RIMPAC để “trừng phạt” nước này về tội quân sự hóa biển Đông. Tổng thống Trump ra lệnh cho các chiến hạm Mỹ (mang theo vũ khí nguyên tử) “vần vũ” liên tục trên biển Đông suốt năm 2019, và đi qua eo biển Đài Loan tới 9 lần (lần cuối cùng vào ngày 12/11/2019). Đây không khác gì là lời cảnh cáo gửi tới chính quyền Bắc Kinh, đồng thời gửi thông điệp ủng hộ mạnh mẽ của nước Mỹ tới Đài Loan, trong bối cảnh vùng lãnh thổ này bị Tàu Cộng nhăm nhe đe dọa bạo lực nhiều năm hòng thu hồi Đài Loan về một mối.
Cũng chưa có đời tổng thống Mỹ nào lại “đủ” can đảm ủng hộ Đài Loan mạnh mẽ như Tổng thống Trump. Ông điện thoại chúc mừng bà Tổng thống Thái Anh Văn – được coi là cuộc điện thoại trực tiếp đầu tiên của một vị đứng đầu nước Mỹ kể từ năm 1979, khi quan hệ chính thức giữa Mỹ và Đài Loan bị cắt đứt. Tổng thống Trump ra các tuyên bố ủng hộ mạnh mẽ bà Thái Anh Văn, và phê duyệt thương vụ vũ khí lớn nhất trong nhiều thập kỷ qua đối với hòn đảo này, ban hành Đạo Luật Bảo vệ Đài Loan (TAIPEI Act).
Bất chấp mọi đe dọa của Tàu Cộng – từng khiến nhiều vị tổng thống tiền nhiệm chùn bước, ông Trump phá vỡ mọi giao thức, vô hiệu hóa các lời đe dọa của Tàu Cộng, ký ban hành đạo luật Dân chủ và Nhân quyền bảo vệ Hồng Kông (11/2019).
Tổng thống Trump không những không làm thế giới tanh bành mà lại khiến nó trở nên trật tự, công bằng hơn. Chính quyền Trump đã đánh bại Nhà nước Hồi giáo Caliph và tiêu diệt thủ lĩnh khủng bố số 1 thế giới Baghdadi; tiêu diệt Tướng Qassem Soleimani – Tư lệnh Lực lượng Quds tại Iraq trực thuộc Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran; rút khỏi thỏa thuận hạt nhân khủng khiếp với Iran; hủy bỏ Thỏa thuận khí hậu Paris không công bằng và tốn kém; ký kết lại Hiệp định thương mại USMCA giữa Hoa Kỳ, Mexico và Canada thay thế cho Hiệp định thương mại tự do NAFTA cũ; đạt được các hiệp định thương mại mới với Nhật Bản và Hàn Quốc; rút khỏi hiệp định TPP – vốn gây bất lợi cho nước Mỹ .
Bên cạnh đó, Tổng thống Trump đe dọa “xóa sổ” Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mà ông coi chỉ làm lợi cho TQ, cũng như rút Mỹ ra khỏi Hội đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc khi ông cáo buộc tổ chức này cho phép các nước có hồ sơ vi phạm nhân quyền như Tàu Cộng, Iran, Nga… trở thành thành viên.
Tổng thống Donald Trump đã đảo ngược chính sách của Hoa Kỳ kéo dài hàng thập kỷ khi ông mạnh mẽ công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, mở đại sứ quán Hoa Kỳ tại đây và công nhận chủ quyền của Israel đối với Cao nguyên Golan – một quyết định táo bạo và liều lĩnh mà những vị tiền nhiệm của ông đều tìm mọi cách trì hoãn.
Tổng thống Donald Trump phát biểu: “Trong vài thập kỷ qua, mọi Tổng thống trước đó đều hứa sẽ chuyển Đại sứ quán Hoa Kỳ đến Jerusalem. Và họ không bao giờ hành động, họ không bao giờ làm điều đó. Họ không bao giờ có ý định làm điều đó”.
Ông không ngại va chạm, đối đầu – từ đối thủ cho tới đồng minh, từ các liên minh quân sự cho đến các nước bất hảo. Ông buộc NATO cũng như các đồng minh như Hàn Quốc và Nhật Bản phải đóng thêm kinh phí cho quân đội Mỹ; làm suy yếu trục Nga – Trung; tiếp tục cấm vận các quốc gia độc tài như Nga, Cuba, Venezuela, Iran và Bắc Triều Tiên; vô hiệu hóa tính hung hăng của Kim Jong Un; bảo vệ nền dân chủ Hồng Kong và tăng cường hỗ trợ cho Đài Loan. Những vấn đề ông động chạm đến đều là những “hồ sơ” gai góc mà không một vị tổng thống Mỹ nào trước đó dám giải quyết triệt để.
Người xưa có câu: “Quân tử bất vọng động, động tất hữu đạo”, hàm ý rằng người quân tử không hành động mù quáng, hành sự đều chiếu theo đạo lý. Khổng Tử từng nói: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” (Thấy việc nghĩa không làm thì không phải kẻ dũng). Người quân tử có dũng khí lớn bởi họ luôn làm việc nghĩa, luôn “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”.
Có thể nói, Tổng thống Donald Trump được người dân thế giới – đặc biệt những người đang phải chịu sống dưới sự kìm kẹp của các chế độ độc tài – kính trọng ông nhiều nhất bởi chữ “NGHĨA” này.

Tổng thống Donald Trump “xô ngã” mọi tiêu chí thông thường xưa nay trên chính trường nước Mỹ, phá vỡ mọi “chuẩn mực” phát ngôn kín kẽ thường thấy ở các đời tổng thống trước. Ông thường Tweet hoặc chỉ trích, mắng mỏ trực tiếp đối thủ, không ngần ngại, né tránh mà chỉ rõ thẳng vấn đề.

Người yêu quý ông thì gọi ông là “Người khác biệt“. Họ yêu thích sự thẳng thắn trong con người ông, bởi ông dám nói những điều mà người khác không dám nói trong bầu không khí xã hội của “sự đúng đắn chính trị”. Họ yêu mến lòng can đảm của ông, bởi sự mạnh mẽ của ông mới có khả năng “rút cạn đầm lầy” Washington vốn đầy hiểm ác và cạm bẫy.
Họ thích cái cách ái quốc của ông, như cách ông ôm hôn quốc kỳ Mỹ, cách ông quyết liệt đem công ăn việc làm về cho nước Mỹ, tăng thu nhập cho những gia đình nghèo và trung lưu, hỗ trợ những nông dân Mỹ phải hứng chịu tổn thất trong cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung. Họ phấn khích ngay cả trong từng lời nói hành động của ông: “Những gì không có lợi cho nước Mỹ thì tôi sẽ không ký, không làm”.
Họ thấy ông ăn nói bạt mạng một cách hấp dẫn, và có trái tim bằng vàng qua những hành động rất tình người, như khi ông động lòng trắc ẩn với người lính của mình trong chuyến thăm Afghanistan vào Lễ Tạ Ơn 2019, đã âm thầm thanh toán toàn bộ tiền nhà, tiền khám bệnh cho con của người lính. Và đây không phải là lần đầu tiên ông làm những việc nghĩa ấy. Nhiều thập kỷ trước, Donald Trump đã nổi tiếng là một trong số những tỷ phú hào phóng nhất thế giới có trái tim nhân hậu.

Nước Mỹ còn được gọi là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và có người cho rằng, đó là nơi đến của những con người không yêu đất nước mình nhưng lại yêu nước Mỹ. Ở Mỹ, người Mỹ chân chính yêu nước hơn yêu tổng thống của họ. Họ chỉ vinh danh Tổ quốc chứ không vinh danh người đứng đầu Hành pháp. Nhưng trường hợp Tổng thống Donald Trump thì ngoại lệ, vì họ thấy ông ái quốc giống như họ, nên họ đồng hóa lòng yêu nước với sự mến mộ ông.

Kể từ cuộc bầu cử ở Mỹ năm 2016, nhiều người không bầu cho ông nay lại yêu mến ông và trở thành những fan hâm mộ cuồng nhiệt của ông. Họ tự in mũ, cờ và biển hiệu với dòng chữ “TRUMP” để ủng hộ Tổng thống. Các buổi mít-tinh có ông Trump tham dự luôn đông đúc, với hàng chục ngàn người Mỹ yêu nước đến xếp hàng, chờ đợi để được nghe ông diễn thuyết. Mỗi khi Tổng thống Trump dừng lại ngắt câu, cả hội trường chứa hàng chục ngàn người vang dội tiếng reo hò.
Fan hâm mộ ông thuộc mọi thành phần, lứa tuổi, từ người già cho đến trẻ em. Là cô bé 11 tuổi, vốn không quan tâm đến chính trị, chỉ vì ông Trump ra ứng cử mà bắt đầu để tâm theo dõi đời sống chính trị sát sao. Là cụ già 95 tuổi người TQ để có thể được đi bỏ phiếu cho ông, được thực hiện quyền bỏ phiếu, đã học tập chăm chỉ để vượt qua kỳ thi quốc tịch Mỹ. Ngay cả Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro cũng từng tuyên bố, ông bổ nhiệm một người hâm mộ Tổng thống Mỹ Donald Trump làm Bộ trưởng Ngoại giao trong chính quyền mới của mình.
Những người chống đối Tổng thống Trump thì ghét cay ghét đắng ông, trong đó giới truyền thông cánh tả thường “tô vẽ” ông như là “một kẻ” có tác phong “ngông nghênh”, phát biểu “điên rồ”, khinh khi tư pháp, kỳ thị màu da, xem thường phụ nữ, khiêu khích phóng viên, và ra các quyết định chính trị “thiếu xuyên suốt”. Thế nhưng trong hơn 3 năm cầm quyền, uy tín của ông chủ Nhà Trắng không những không bị sứt mẻ, mà thậm chí cử tri của ông nay còn lập thành những “câu lạc bộ người ái mộ” .
Donald Trump tiêu biểu cho hạng người vô cùng hiếm trong xã hội Mỹ: Không cờ bạc, rượu chè, hút sách, lại còn giáo dục các con thành tài và cũng giống như ông, nói KHÔNG với các tệ nạn.
Khi lên làm Tổng thống Mỹ, ông nhận mức lương tượng trưng 1 đôla/400.000 đôla/hằng năm và quyên góp toàn bộ tiền lương của mình cho các cơ quan chính phủ và tổ chức như Bộ Cựu Chiến binh, Bộ Giao thông, Cục Công viên Quốc gia, Bộ Giáo dục, Bộ An ninh nội địa, Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mỹ. Gần đây nhất, Tổng thống Trump đã góp toàn bộ tiền lương quý IV/2019 cho Bộ Y tế Mỹ nhằm chống dịch virus Trung Quốc đang bùng phát dữ dội tại đất nước của ông.
Theo tiết lộ của các quan chức chính quyền, một phần lương của Tổng thống cũng đã được dùng cho mục đích chống lại tình trạng nghiện thuốc, thúc đẩy phát triển sinh viên theo đuổi các ngành khoa học và khôi phục các di tích lịch sử.
Trong 3 năm làm ông chủ Nhà Trắng, tài sản của Tổng thống Trump đã sụt giảm vài tỷ đôla, nhưng ông không hề phiền muộn vì điều ấy và phát biểu rẳng: “Dù tôi có mất đi 2 đến 5 tỷ đôla hay ít hơn nữa thì cũng có gì khác biệt. Tôi không quan tâm đến vấn đề này. Tôi làm tổng thống là vì đất nước. Tôi làm tổng thống là vì nhân dân”.
Rất lâu trước khi Donald Trump chính thức ra tranh cử Tổng thống vào năm 2016, “bà hoàng” truyền thông Oprah Winfrey đã hỏi ông trùm kinh doanh bất động sản về niềm đam mê chính trị trong talkshow “The Oprah Winfrey Show” vào năm 1988, rằng ông có muốn tranh cử tổng thống không. Ông Donald Trump khi ấy đã trả lời: “Nếu tình hình trở nên tồi tệ, tôi sẽ không bao giờ muốn loại trừ hoàn toàn ý định đó, bởi vì tôi thực sự mệt mỏi khi nhìn thấy những gì đang xảy ra với đất nước này”.
Người ta vẫn đang không ngừng tranh cãi rằng, mục đích của ông Donald Trump khi lên làm Tổng thống Mỹ là để giúp nước Mỹ và Thế giới trở nên tốt đẹp hơn, hay mục đích là để đánh sập các nước theo chế độ độc tài tàn bạo, đặc biệt là ĐCSTQ, cũng như làm tan rã hệ thống ngầm của các nhóm lợi ích xuyên quốc gia.
Có lẽ tính đến thời điểm này, thì dường như cả hai mục đích trên đều đúng.

Khi Newton bị cách ly


Chân dung Sir Isaac Newton (1643-1727) trên tờ tiền 1 bảng Anh lưu hành từ 1978-1988.
Chân dung Sir Isaac Newton (1643-1727) trên tờ tiền 1 bảng Anh lưu hành từ 1978-1988.

Ở Cambridge, chương trình học của Newton gồm có văn chương cổ điển (La Mã, Hy Lạp) và triết Hy Lạp. Môn toán duy nhất được dạy là hình học. Nhưng Newton lang thang vô giảng đường ngồi nghe một giáo sư toán thuyết trình và tự học toán và khoa học sau đó.

Lúc bị cách ly, ông lại mang toán và khoa học ra ôn. Trong thời gian này, ông khám phá ra nhiều thứ. Khám phá thứ nhất là vụ trái táo. Ông nghiệm ra được lý do mặt trăng quay quanh trái đất theo quỹ đạo như Johannes Kepler (1571-1630) đã miêu tả, với lý do quả táo rụng xuống đất, là cùng một lý do. Ông sẽ mất tới 20 năm để phát triển đầy đủ ý nghĩ này để rồi đưa đến định luật về trọng lực mà ngày nay lớp Vật lý dạy với tên định luật vạn vật hấp dẫn của Newton. Mọi vật đều có sức hút với mọi vật khác. Không chỉ trái đất hút quả táo xuống mà quả táo cũng hút trái đất lên.

Một trang trong quyển sách tiểu sử Isaac Newton do bạn ông, bác sĩ William Stukeley viết năm 1752, với dòng chữ 'does this apple fall' ('trái táo rơi') miêu tả lúc Newton bắt đầu hiểu định luật vạn vật hấp dẫn (Hình: AP Photo/Lucy Young)
Một trang trong quyển sách tiểu sử Isaac Newton do bạn ông, bác sĩ William Stukeley viết năm 1752, với dòng chữ ‘does this apple fall’ (‘trái táo rơi’) miêu tả lúc Newton bắt đầu hiểu định luật vạn vật hấp dẫn (Hình: AP Photo/Lucy Young)

Khám phá thứ nhì là bức hình mình hay thấy, vẽ Newton với lăng kính, ánh sáng đi qua lăng kính và phát ra 7 màu cầu vồng. Trong khi người đương thời tin rằng 7 màu do lăng kính phát ra, Newton chứng minh không phải vậy.

Ông cho 7 màu vào ngược lại một lăng kính khác và ánh sáng trắng trở lại. Từ đó ông chứng minh rằng ánh sáng trắng thật ra do 7 màu pha lại mà ra. Thí nghiệm của Newton trở thành một thí nghiệm kinh điển trong lớp quang học. Dưới đây là video của đại học MIT làm cho học sinh phổ thông.

Thứ ba là một phát minh toán học. Ông phát minh ra môn giải tích, tiếng Anh gọi là calculus. Mở ngoặc một chút là trong tiếng Anh, môn học cách tính giới hạn, đạo hàm, tích phân, gọi là calculus, mà môn học lý thuyết từ đâu có những thứ đó, gọi là real analysis. Ở Việt Nam cả hai môn đều gọi là giải tích, nhưng không thành vấn đề vì tùy ngữ cảnh sẽ biết ngay muốn nói môn nào.

Newton phát minh ra đạo hàm và tích phân khi ông nghiên cứu chuyển động khi lực thay đổi. Nếu mình chạy với vận tốc đều 20 km/giờ trong 2 giờ thì chạy đươc (20 x 2) = 40 km. Nhưng nếu mình chạy lúc nhanh lúc chậm thì sao? Quả banh ném ngưởc lên lúc đầu sẽ nhanh, rồi chậm dần tới lúc ngưng lại và rớt xuống, lúc đầu rớt chậm rồi sau đó nhanh thêm. Vậy làm sao để biết quả banh bay như thế nào? Newton phát minh ra đạo hàm, tích phân, và các công thức liên quan, khi nghiên cứu những vấn đề này.

Newton viết về phát minh này vào tháng 10 năm 1666, khi đang bị cách ly tránh dịch. Tuy nhiên, ông đã không công bố công trình này. Trong khi đó, ở Đức, một nhà bác học khác, Gottfried Wilhelm Leibniz (1646-1716), cũng nghiên cứu vấn đề này dưới góc cạnh hình học và miêu tả một phần năm 1674. Năm 1684 Leibniz công bố toàn bộ kết quả về calculus. Tại Pháp, Hầu tước Guillaume de l’Hôpital viết một quyển sách giáo khoa dựa trên phương pháp của Leibniz năm 1696. Ai đã học qua giải tích chắc còn nhớ quy tắc l’Hôpital để tính giới hạn.

Trong khi đó, Newton đợi đến 1693 mới công bố một phần công trình, và năm 1704 công bố toàn bộ. Nhưng ông tố cáo Leibniz đã cướp công, viết sách sau khi nghe Newton miêu tả phát minh của mình. Leibniz bác bỏ tố cáo này, rằng ông phát minh calculus bằng đường khác với Newton.

Leibniz trên một con tem Đức phát hành năm 1996.
Leibniz trên một con tem Đức phát hành năm 1996.

Vấn đề là trong thời thập niên 1670 trở đi, Newton và Leibniz đều có liên lạc với nhau, cũng như với các nhà bác học nổi tiếng khác khắp châu Âu, nên việc một ý tưởng nào đó có thể đi từ Newton đến Leibniz trực tiếp hay gián tiếp là điều có thể xảy ra. Sau này, xem xét các giấy tờ riêng tư của hai người, các nhà sử học ngày nay kết luận là tuy cả hai đều biết về phát minh của nhau nhưng mỗi người đều đã nghĩ ra rồi.

Cho tới ngày nay, hơn 400 năm sau, hai cách tiếp cận calculus của Newton và Leibniz vẫn còn ảnh hưởng. Tôi thấy điều này trong việc cá nhân tôi học calculus. Tôi không rõ sau này ở Việt Nam dạy giải tích như thế nào, nhưng khi tôi học ở Việt Nam thập niên 1980, thì tôi học đạo hàm, sau đó tích phân (không có giới hạn) được định nghĩa là ngược với đạo hàm. Rồi sau đó tôi được dạy dùng tích phân (có giới hạn) để tính diện tích giữa đồ thị và trục x. Đó là cách của Newton.

Ở Mỹ, calculus được dạy khác một chút. Tích phân có giới hạn được dạy trước và được định nghĩa là diệnt tích giữa đồ thị và trục x, qua trung gian cái gọi là tổng Riemann. Tích phân không giới hạn được định nghĩa dựa vào tích phân có giới hạn, và được nối với đạo hàm qua định lý cơ bản của giải tích (fundamental theorem of calculus).

Nói cách khác, dạy theo Newton thì: Đạo hàm –> Tích phân không giới hạn –> Tích phân có giới hạn.

Dạy theo Leibniz thì: Đạo hàm & Tích phân có giới hạn –> Tích phân không giới hạn.

Trở lại với Newton. Một khám phá khác của Newton nhưng không phải trong thời gian cách ly, là định luật làm lạnh, công bố ẩn danh năm 1701. Định luật làm lạnh của Newton, tiếng Anh là Newton’s law of cooling, ngày nay được dạy cho học sinh bằng một công thức đạo hàm.

Cho nên mới cho câu nói đùa rằng, “Newton phát minh ra giải tích, chỉ để ướp bia lạnh.”

  • 16x9 Image

    Vũ Quí Hạo Nhiên

    Vũ Quí Hạo Nhiên là giáo sư Toán đại học cộng đồng Coastline College ở Quận Cam, California, với hơn 10 năm dạy các đại học cộng đồng trong vùng như Santa Ana, Cypress, Santiago Canyon, và Orange Coast College. Ngoài ra, ông cũng từng làm báo Việt ngữ trong hơn 10 năm, với chức vụ Tổng thư ký Toà soạn và Phụ tá chủ bút cũng như cộng tác viên cho nhiều báo, đài phát thanh tại Mỹ và các nước khác.

    Ông là giám đốc chương trình luyện thi SAT cho một trung tâm tại Garden Grove, là giám khảo chấm thi AP Statistics cho College Board / ETS, và là cộng tác viên viết sách giáo khoa Toán cho nhà xuất bản Hawkes Learning.

    Trong blog này Vũ Quí Hạo Nhiên viết về những chuyện ông biết: Toán, giáo dục, lịch sử California. Ông hy vọng độc giả sẽ thảo luận, phê bình, kể cả chê trách, cũng như cho ý kiến đề nghị đề tài.

    Các bài viết của tác giả là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.

    Theo VOA

Chữa khỏi COVID-19, ‘giấc mộng xa vời?’

Tìm cách bào chế vaccine ngừa COVID-19 vẫn đang là nỗ lực của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Trong hình là phòng thí nghiệm của công ty Yisheng Biopharma ở Trung Quốc. (Hình: Noel Celis/AFP/Getty Images)

Mặc dù các nhà khoa học và thị trường chứng khoán vui mừng khi chính phủ Mỹ chấp thuận cho dùng thuốc Remdesivir để trị COVID-19, nhưng một liệu pháp chữa khỏi hẳn căn bệnh đã cướp mạng sống của hơn 470,000 người (tính đến 23 Tháng Sáu) trên thế giới vẫn còn xa vời, và có thể không bao giờ đạt được.

Hàng trăm thứ thuốc đang được các nhà khoa học khắp thế giới đua nhau nghiên cứu, nhưng theo Bác Sĩ Carlos del Rio, giáo sư khoa bệnh truyền nhiễm tại Đại Học Emory Rollins về Sức Khỏe Công Cộng (Emory University Rollins School of Public Health), thì “hiện nay, tôi không nhìn thấy ai tới đích.”

Các nhà khoa học đã có hơn 1,250 cuộc nghiên cứu về COVID-19. Các công ty dược đã đầu tư hàng tỷ đô la để tìm thuốc trị và chủng ngừa hầu chấm dứt bệnh dịch.

Vừa qua Bác Sĩ Anthony Fauci, giám đốc Viện Dị Ứng và Truyền Nhiễm Quốc Gia (National Institute of Allergy and Infectious Diseases), đã cẩn trọng khi thông báo kết quả thử nghiệm lâm sàng thuốc Remdesivir. Ông lưu ý rằng đây không phải là một tuyệt tác. Dù rằng Remdesivir đã giúp bệnh nhân nằm viện vì COVID-19 bình phục nhanh hơn, nó vẫn chưa chứng tỏ khả năng cứu được mạng sống.

“Thuốc này đang mở ra nhiều cơ hội,” ông Fauci nói. “Có nhiều công ty và nhà đầu tư tham gia vào, công việc sẽ tốt hơn.”

Trong những thử nghiệm lâm sàng tương lai, các nhà nghiên cứu dự định sẽ kết hợp Remdesivir với những loại thuốc khác để cải thiện kết quả.

Các bác sĩ điều trị bệnh nhân COVID-19 nói rằng họ đang tham dự một trận chiến trên nhiều mặt là “đánh nhau với một con virus tàn phá nội tạng con người, gây ra những cục máu đông chết người và một phản ứng thái quá của hệ thống miễn nhiễm gọi là ‘trận bão tế bào cytokine.’”

Với nhiều phần cơ thể bị tấn công cùng lúc, các nhà khoa học nói, cải thiện tỷ lệ sống còn đòi hỏi một trận đánh đa diện và cần nhiều loại thuốc. Song song thuốc thử nghiệm tấn công virus, những thuốc khác nhắm vào việc bảo vệ hệ miễn nhiễm khỏi bị tổn thương cùng lúc.

“Có rất nhiều phần của bệnh cần điều trị, và tất cả đòi hỏi những liệu pháp khác nhau, theo Bác Sĩ Lewis Kaplan, chủ tịch Hội Dược Phẩm Chăm Sóc Sức Khỏe Đặc Biệt (Society of Critical Care Medicine).

Các tiếp cận kỹ thuật cao gồm có sử dụng tế bào gốc, tế bào “chữ T” và kháng thể để vô hiệu hóa virus Corona.

Các nhà khoa học cũng nhìn lại những thuốc hiện có để có thể dùng trị COVID-19. Các thuốc này gồm có thuốc trị cúm, trị phong thấp, các miếng dán estrogen dùng cho mãn kinh và ngay cả thuốc ợ chua. Nếu các thuốc này chứng tỏ có hiệu quả, bác sĩ có thể sử dụng chúng nhanh hơn vì họ đã quen thuộc và biết rõ những phản ứng phụ cùng độ an toàn của thuốc.

Một số bác sĩ hoài nghi rằng thuốc trị ợ chua và đổ mồ hôi trộm không có công hiệu trị bệnh chết người như COVID-19.

Bác Sĩ Steven Nissen, chủ tịch khoa tim mạch tại Cleveland Clinic, nói ông sợ rằng cường điệu hóa các thuốc chưa được chứng minh tính hiệu nghiệm sẽ chỉ làm hại bệnh nhân, dù rằng tạm thời chúng làm tăng giá trị công ty trên thị trường chứng khoán. Bệnh nhân đòi được chữa trị bằng thuốc ợ chua hoặc thuốc sốt rét trong giai đoạn còn nghiên cứu có thể bị hại vì phản ứng phụ.

Những người tích trữ thuốc, hy vọng để tự chữa khỏi COVID-19, có thể đã làm những bệnh nhân khác không có thuốc cần dùng. Một số người có thể từ chối tham gia thử nghiệm lâm sàng vì họ sợ phải dùng thuốc giả.

“Vội vã dồn mọi thứ trị liệu vào một nghiên cứu là không thận trọng,” ông Nissen nói. “Điều này không phải là liệu pháp thuốc men tốt mà là một hành động tuyệt vọng.”

“Tôi không nghĩ chúng ta muốn loại bỏ bất cứ điều gì có vẻ không bình thường,” theo Bác Sĩ Walid Gellad, giám đốc Trung Tâm Chính Sách và Quy Định Dược Đại Học Pittsburg (Center for Pharmaceutical Policy and Prescribing at the University of Pittsburg).

Thuốc kháng virus lên ngôi

Thuốc kháng virus như Remdesivir có mục đích ngăn ngừa virus nhân rộng, theo Bác Sĩ Peter Hotez, giáo sư Đại Học Y khoa Baylor ở Houston.

Điều này không phải lúc nào cũng đúng. Một cuộc nghiên cứu nhỏ của Trung Quốc về Remdesivir, đăng trong tạp chí Lancet tháng vừa qua, thấy rằng thuốc không hiệu quả với những người bệnh COVID-19 nặng. Trước đây Remdesivir đã thất bại khi thử nghiệm chữa bệnh Ebola.

Các thuốc kháng virus có vẻ giúp ích trong thời kỳ nhiễm bệnh sơ khởi, khi mà tất cả tổn thương cho bệnh nhân là do chính nó gây ra, chứ không phải do hệ miễn nhiễm, ông Hotez nói.

Remdisivir cho đến nay chỉ là một trong nhiều loại kháng virus đang được thử nghiệm chống COVID-19.

Các nhà nghiên cứu quốc tế đang nghiên cứu về thuốc kháng virus Favipiravir, dùng để trị cúm.

Thuốc trị sốt rét Chloroquine và Hydroxychloroquine, đã được Tổng Thống Donald Trump đề cao, cũng có tính chất kháng virus. Mặc dù Cơ Quan Thực Phẩm và Dược Phẩm Mỹ (FDA) đã cho phép dùng thuốc này trong trường hợp khẩn cấp để trị COVID-19, nhưng về sau khuyến cáo rằng thuốc có thể gây biến chứng nguy hiểm về tim.

Một cuộc nghiên cứu trong tạp chí Y Khoa New England cũng thấy không có lợi gì khi sử dụng hai loại thuốc dùng để trị HIV (một kết hợp của Lopinavir và Ritonavir, được bán dưới tên Kaletra) cho bệnh nhân nhiễm COVID-19 nặng tại bệnh viện.

Cảnh xét nghiệm COVID-19 cho trẻ em ở Bogota, Venezuela. (Hình: Juan Barreto/AFP/Getty Images)

Áp chế hệ miễn nhiễm

Một trong những liệu pháp gây phấn khởi cũng là một liệu pháp lâu đời nhất đó là sử dụng kháng thể trong máu những người sống sót sau khi nhiễm COVID-19.

Hệ miễn nhiễm sản xuất kháng thể khi cơ thể chống trả những xâm nhập từ bên ngoài như virus và vi trùng, giúp cơ thể nhận biết và vô hiệu hóa chúng. Kháng thể cũng nhận biết và vô hiệu hóa virus khi người đó lại bị xâm nhập.

Các bác sĩ hy vọng những bệnh nhân đã có kháng thể của virus Corona sẽ trở nên miễn dịch, ít ra vài năm, mặc dù điều này chưa được minh xác.

Các nhà khoa học phát triển được loại “huyết tương dưỡng” này đang nghiên cứu xem những người sống sót sau khi nhiễm COVID-19 có thể chia sẻ sự miễn dịch này cho người khác bằng huyết tương có chứa kháng thể của họ hay không? Bác Sĩ Shmuel Shoham nói. Ông là phó giáo sư y khoa tại Đại Học Y Khoa Johns Hopkins.

Ngoài việc điều trị những người đã nhiễm bệnh, huyết tương này còn có thể ngừa bệnh cho những người gần gũi bệnh nhân, chẳng hạn như nhân viên chăm sóc sức khỏe…

Kháng thể hiến tặng và bất cứ miễn dịch nào mà họ có thể cung cấp, không có tính chất vĩnh viễn, theo Bác Sĩ William Schaffner, giáo sư tại Trung Tâm Y Khoa Đại Học Vanderbilt.

Cơ thể tiêu diệt những kháng thể già nua như một phần của công việc bảo dưỡng định kỳ, ông nói. Thông thường, một nửa những kháng thể hiến tặng bị tiêu hủy trong vòng ba tuần.

Sử dụng huyết tương dưỡng đã có từ hơn một thế kỷ. Người ta đã dùng nó trong đại dịch cúm năm 1918 và cũng đã thấy có cải thiện sống sót trong thời kỳ dịch H1N1 năm 2009-2010.

Nhưng hiện nay các bác sĩ chưa biết huyết tương dưỡng có giúp ích cho những người bị bệnh COVID-19 hay không.

Nói chung, huyết tương dưỡng có nhiều hy vọng trong việc ngăn ngừa bệnh hơn là trị bệnh. Có thể ít hy vọng giúp ích cho người đang nằm ở khu chăm sóc đặc biệt ICU.

Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu sử dụng huyết tương đóng gói sẵn, gọi là “huyết cầu tố miễn dịch (intravenous immonoglobulin) tiêm qua tĩnh mạch bệnh nhân COVID-19.

Sản phẩm này, gọi tắt là IVIG, được lấy từ những người hiến tặng mạnh khỏe trong cộng đồng và đã được dùng từ lâu để giúp những người có hệ miễn dịch yếu chống trả nhiễm trùng. Các bệnh viện lưu trữ loại huyết tương này và đã dùng nó để điều trị bệnh nhân COVID-19.

Mặc dù kháng thể trong các gói IVIG đóng sẵn không đặc biệt nhắm vào virus Corona, các nhà nghiên cứu hy vọng chúng sẽ làm giảm được phản ứng của hệ miễn nhiễm.

Trong một dạng thứ ba của liệu pháp miễn nhiễm, các nhà nghiên cứu đang cố gắng nhận dạng kháng thể riêng biệt quan trọng trong việc vô hiệu hóa virus Corona, rồi sản xuất chúng thành thuốc gọi lạ kháng thể đơn dòng (monoclonal antibodies). Kháng thể đơn dòng đã được dùng để trị một số bệnh lý ung thư, thấp khớp…

“Khi chúng tôi cho người ta một kháng thể, ngay lập tức họ được miễn nhiễm về loại virus riêng biệt đó,” theo Bác Sĩ James Crowe, giám đốc Trung Tâm Chủng Ngừa Vanderbilt. “Hy vọng có được kháng thể sẵn sàng để thử nghiệm lâm sàng trong vài tháng tới.  Chúng tôi chuyển hệ thống miễn nhiễm từ người này sang người khác.”

“Lý tưởng nhất là sẽ phát triển được kháng thể đơn dòng thật mạnh hay một kháng thể pha trộn dùng cho bệnh nhân COVID-19,” ông Crowe nói. “Nhưng sản xuất những thuốc này có thể phức tạp, đắt tiền, và đòi hỏi thời gian.”

“Làm hai kháng thể sẽ phức tạp gấp đôi làm một kháng thể,” ông Crowe nói. “Một kháng thể pha trộn có thể được chuộng hơn, nhưng việc pha trộn khó thực hiện nhanh chóng.”

Làm dịu hệ miễn nhiễm

Trong nhiều trường hợp COVID-19, hệ miễn nhiễm vô hiệu hóa virus Corona và người bệnh khỏi bệnh không cần đi nhà thương.

Vì nhiều lý do mà bác sĩ cũng không hiểu được hoàn toàn, hệ miễn nhiễm của vài bệnh nhân COVID-19 trở nên hiếu động tối đa, tấn công không những virus mà cả tế bào của chính bệnh nhân.

Một “cơn bão tế bào cytokine” mà hệ miễn nhiễm ồ ạt tuôn ra những chất hóa học gây viêm, còn tệ hại hơn virus.

Trong nỗ lực làm dịu hệ miễn nhiễm, các nhà nghiên cứu đang thử nghiệm loại thuốc áp chế miễn nhiễm, gồm có kháng thể đơn dòng đã được dùng để trị các bệnh về hệ miễn nhiễm như thấp khớp, theo lời Bác Sĩ Amesh Adalja, một học giả thâm niên của Trung Tâm An Toàn Sức Khỏe Johns Hopkins (Johns Hopkins Center for Health Security).

Công ty chăm sóc sức khỏe khổng lồ Roche đang làm một cuộc thử nghiệm lâm sàng lớn về thuốc Actemra của họ với hy vọng ngăn ngừa những cơn bão tế bào cytokine, làm nội tạng bệnh nhân suy thoái và gây ra tình trạng nhiễm trùng huyết gọi là sepsis. Actemra là thuốc làm giảm interleukin 6, một hóa chất gây viêm trong một số bệnh nhân COVID-19.

Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu những thuốc tương tự, Anakinra và Siltuximab.

Một loại thuốc khác chống phản ứng của hệ miễn nhiễm từ Regeneron và Sanofi, tên là Kevzara, cho kết quả không khả quan trong thử nghiệm lâm sàng. Nhà sản xuất có ý định tiếp tục nghiên cứu vì thuốc có thể giúp ích cho vài loại bệnh nhân khác.

Bác Sĩ Anar Yukhayev, bác sĩ sản khoa ở New York, người đã vào bệnh viện vì COVID-19 ngày 16 Tháng Ba, đồng ý tham gia thử nghiệm lâm sàng Kevzara.

“Tôi thở rất khó khăn đến tuyệt vọng và bằng lòng thử bất cứ thứ gì có thể giúp tôi,” Bác Sĩ Yukhayev 31 tuổi, điều trị ở Trung Tâm Y Khoa Do Thái Long Island (Long Island Jewish Medical Center), nói.

Sau 36 giờ được cho thuốc, trong khi nằm điều trị ở khu chăm sóc đặc biệt, các triệu chứng của ông bắt đầu cải thiện. Ông có khả năng không dùng máy thở. Các bác sĩ không cho biết ông được cho thuốc Kevzara hoặc là một liều thuốc giả, nhưng chất men enzymes trong gan tăng lên, dấu hiệu của gan đang phản ứng. Enzymes cao trong gan được biết là một phản ứng phụ của Kevzara.

Bác Sĩ Yukhayev hoàn toàn bình phục và đi làm toàn thời gian trở lại hôm 13 Tháng Tư.  Ông hiến tặng huyết tương của mình cho các nhà nghiên cứu.

Cho đến khi thuốc chủng và những loại thuốc điều trị được công nhận, cách tốt nhất để ngừa nhiễm virus Corona là giãn cách xã hội, Bác Sĩ Adalja nói.

“Giãn cách xã hội là một biện pháp mạnh nhưng bây giờ chúng ta chỉ có thế thôi.” [kn]

(*) Bài viết này do KaiserHealth News, một chương trình xã luận độc lập của Kaiser Family Foundation, xuất bản.

Cung điện mùa hè trên đỉnh núi đá

YEMEN

Từng là nơi ở mùa hè của quốc vương Yemen vào thập niên 1930 – 1940, Dar al-Hajar về sau chuyển thành bảo tàng. mở cửa đón khách du lịch.

Dar al-Hajar vốn là nơi ở mùa hè của Yajya Muhammad Hamiddin, quốc vương Yemen và cũng là lãnh đạo Hồi giáo của nước này. Cung điện vẫn thuộc quyền sở hữu của hoàng gia Yemen tới năm 1962, sau đó trở thành bảo tàng. Ảnh: Rod Waddington/Flickr.

Một phần cung điện xây dựng bằng gạch đá, phần còn lại nằm trong chính nền núi đá dựng đứng nên Dar al-Hajar được mệnh danh là “cung điện đá”. Dù nhìn từ góc nào công trình biểu tượng này cũng làm người xem choáng ngợp vì vẻ tráng lệ và hùng vĩ. Ảnh: yeowatzup/wiki.

Cung điện nằm trong thung lũng Wadi Dhahr, chỉ cách thủ đô Sana’a của Yemen 15 km. Vào năm 1786 học giả người Hồi giáo Imam Mandour Ali Bin Mehdi Abbas xây một công trình trên núi đá nhỏ dựng đứng như cột chống trời này. Ảnh: Yahya Arhab/EPA

Đến những năm 1920 – 1930 cung điện Dar al-Hajar được dựng trên nền công trình cổ đó, bổ sung thêm nhiều phòng ở, phòng bếp, nhà kho và các khu vườn, hồ nước yên tĩnh. Ảnh: Pinterest.

Cung điện được xây theo kiến trúc thành trì, có các điểm đặt súng, đại bác để phòng thủ khi bị tấn công và sở hữu riêng một nguồn nước nằm sâu trong lòng đất để dùng khi cần trốn kẻ thù. Cung điện xây dựng cho quốc vương Yahya nhưng thực tế ông lại không có nhiều thời gian tận hưởng vì bị ám sát vào năm 1948. Ảnh: Shutterstock.

Ngày nay, cung điện được chuyển thành bảo tàng và mở cửa cho khách tham quan tự do hoặc theo tour, khám phá các căn phòng và mê cung những cầu thang bên trong. Nhiều du khách từng tới Dar al-Hajar để lại nhiều lời khen trên TripAdvisor. Ảnh: Shutterstock.

Du khách có tài khoản 63jonesthecat chia sẻ: “Một nơi tuyệt vời. Tôi đến Yemen một tháng và đây là một trong những chỗ đẹp nhất tôi từng thấy trong đời”. Các du khách khác cũng cho rằng Dar al-Hajar là nơi “phải tới”. Ảnh: Shutterstock. 

Bên cạnh kiến trúc và lối trang trí độc đáo bên trong của cung điện, Dar al-Hajar còn có những ban công, cửa sổ với view ngắm bao quát và đẹp ngoạn mục. Du khách nào tới đây cũng phải trầm rồ khi được ngắm nhìn vẻ đẹp mộc mạc, nguyên sơ mà quyến rũ của thung lũng và những ngọn núi đá Wadi Dhahr. Video: SaddamHattami.

Khánh Trần (theo OA)

Làm kẻ ngốc trên đời không phải thiệt thòi mà là cảnh giới trí tuệ thâm sâu

Nhiều người cho rằng sống trên đời khôn ngoan một chút thì được thoải mái hơn một phần. Vậy nên ai cũng tranh tranh đoạt đoạt, cố giành phần lợi cho mình. Nhưng thông minh quá liệu có thực sự là chuyện tốt? 

Người đời hay nói “Khôn sống, mống chết“, xem ra câu ấy không phải lúc nào cũng thật đúng. Khôn ngoan, tài giỏi lắm thì thường gặp vạ. Cổ nhân nói: “Anh hùng đa nạn, hồng nhan đa truân” là vậy.

Mother carrying her Daughter

Hơn 2000 năm trước, Trang Tử cũng từng nói: “Khôn chết, dại chết, biết sống“. Chuyện kể rằng, một hôm Trang Tử cùng học trò ra ngoài vân du, ngắm cảnh núi sông. Lúc lên núi chơi, họ bắt gặp mấy người tiều phu đứng bên cạnh một gốc cây to đùng, cành lá rườm rà, quặt quẹo. Mấy tiều phu nói với nhau: “Cây này chẳng dùng vào việc gì được, tìm cây khác mà đốn vậy“. Trang Tử quay sang bảo với học trò: “Cái cây này vì bất tài mà thoát chết vậy“.

Lúc sau, họ đi xuống một thôn làng dưới chân núi, vào nhà người quen thăm hỏi. Chủ nhà thấy Trang Tử đến thì mừng lắm, sai gia nhân đi chuẩn bị tiệc chiêu đãi cho mấy thầy trò. Gia nhân hỏi: “Có hai con chim, một con biết gáy, một con không. Thịt con nào ạ?“. Chủ nhà nói: “Thịt con không biết gáy“.

Học trò ngơ ngác nhìn Trang Tử hỏi: “Hôm qua thầy bảo cái cây vì bất tài mà được sống, sao hôm nay con chim không biết gáy lại phải chết?“. Trang Tử ôn tồn giảng: “Có tài hay là bất tài thì cũng đều không tốt cả. Khôn chết, dại cũng chết, chỉ có biết mới sống“.

“Biết” ở đây chính là hiểu thời thế, biết tiến biết lùi, biết lúc nào nên khôn, lúc nào nên dại, biết hàm dưỡng trong xử thế. Lão Tử cũng từng giảng: “Đại trí nhược ngu“, ý tứ là những bậc có trí tuệ lớn thường nhìn bề ngoài như ngốc nghếch. Đương nhiên họ không ngốc thật, chỉ là biết cách cư xử mà thôi.

***

Lại kể một chuyện nữa, một lần Khổng Tử vượt nghìn dặm xa xôi đến thỉnh giảng Lão Tử về Đạo. Đàm đạo cùng nhau mãi, cuối cùng trên đường tiễn Khổng Tử, Lão Tử nói mấy câu này:

Ông phải nhớ kỹ: Không tranh với đời, thì thiên hạ không ai có thể tranh cùng, đó là học theo đức của nước vậy. Nước gần với Đạo. Đạo không nơi nào không có, nước không nơi nào không có lợi, tránh chỗ cao mà về chỗ thấp, chưa bao giờ trái ngược, là giỏi tìm chỗ đứng.

Ông lần này đi rồi, nên bỏ cái ngạo khí trong lời nói và biểu cảm, xóa bỏ cái chí dục ở dung mạo. Nếu không, người chưa đến mà tiếng tăm đã đến, thân chưa tới mà gió đã động, hiển lộ phô trương, như hổ đi trên phố, ai dám dùng ông?“.

Khổng Tử là bậc hiền nhân quân tử, ôm cái chí cao vọng muốn sửa đổi lễ phép của thiên hạ, hướng lòng người về truyền thống, có thể nói là tài năng hơn người, vạn người hiếm gặp. Nhưng cũng chính vì thanh danh của Khổng Tử quá lớn như vậy nên chẳng có bậc quân chủ nào thực bụng dùng ông.

Lão Tử thậm chí đã tiên đoán được trước cuộc đời Khổng Tử, ấy là ngạo khí quá cao, chí dục quá lớn nên long đong bao nhiêu nước mà chẳng tìm được minh quân để thực hành đạo học của mình.

Phàm là người khôn thì đều là giả ngốc, biết một trượng nhưng chỉ nói một thước, tài học mênh mông như nước Đông Hải nhưng thể hiện ra bên ngoài thì có phần hồ đồ, nông cạn. Ấy mới thực sự là người khôn thật sự vậy.

Ngẫm kỹ ra, trên đời, ngốc nghếch một chút cũng tốt. Sống đơn giản thì đời thanh thản, không so đo được mất thì nhẹ nhõm tâm thân, tự tại an nhiên. Việc gì cũng kỹ càng, sáng suốt quá thì dễ khiến tâm can tổn thương, lao tâm khổ lực, mệt mỏi vô cùng.

Người quân tử nhìn sự vật đều là phóng khoáng, khoan dung, cho nên cũng không cầu sự tranh đoạt. Chỉ có kẻ tiểu nhân mới soi xét kỹ càng, xét nét tiểu tiết. Do vậy những bậc anh hùng thực sự trên đời đều ít nhiều có chút “dại dột” trong con mắt người khác vậy.

Trong lịch sử, có biết bao nhiêu kẻ kiêu dũng vì quá ngạo mạn mà phải chịu kết cục thảm bi. Văn Chủng cùng với Phạm Lãi, làm quân sư cho Việt Vương Câu Tiễn. Sau này khi đại nghiệp của Câu Tiễn đã thành, Phạm Lãi lập tức cáo quan đi du ngoạn sông hồ, ai cũng cho là dại. Văn Chủng không nghe lời khuyên của bạn, cứ ở lại hầu hạ Câu Tiễn.

Cuối cùng, Phạm Lãi sau này kinh doanh phát đạt, trở thành đại thương nhân. Còn Văn Chủng ở lại bị Câu Tiễn nghi ngờ, cuối cùng dùng kiếm chém chết. Nếu Văn Chủng có thể biết “dại dột” hơn một chút thì có lẽ số phận đã không ngang trái như vậy.

Ngốc nghếch không phải là xuẩn ngốc, mà là sống chân thật, trung hậu với người.

Ngốc nghếch không phải là cam chịu bắt nạt, mà là rộng lượng, phóng khoáng.

Ngốc nghếch không phải là kém cỏi, mà là nhường nhịn, ẩn nhẫn trước dòng đời.

Người làm ra bộ ngốc nghếch thực ra đều nhìn thấu lẽ đời, chỉ là họ không thích soi mói, tranh đua hơn thiệt mà thôi.

Nhân sinh như mộng, cùng lắm là mấy chục năm trời hưởng niềm hoan lạc thế gian, hà tất phải so đo hơn thiệt, vì mối lợi nhỏ mà nhìn nhau như kẻ thù.

Không tranh với đời thì chính là người trí huệ, biết buông bỏ lại là cảnh giới của cao nhân, hoàn toàn không phải kẻ ngu ngốc.

Phật gia giảng, mọi thứ có được ở kiếp này đều là phúc đức kiếp trước dồn tích lại, căn bản không phải bởi vì tranh giành mà có được, càng không phải do khôn ngoan mà chiếm lấy.

Người ngốc nghếch một chút, dại khờ một chút thì đêm kê cao gối ngủ an lành, ra đường không sợ tai họa rình rập, quan hệ với người thì cũng chẳng e ngại, ý tứ trước sau.

Tâm nhàn chính là phúc khí lớn nhất của đời người. Không tranh thì tự nhiên được ung dung, thanh thản. Dại khờ một chút cũng có sao? Chính là:

Người nhàn hoa quế rụng rơi
Đêm xuân thanh tĩnh núi đồi lặng thinh
Trăng lên chim núi giật mình 
Tiếng kêu thảng thốt trong ghềnh suối xuân

(Điểu minh giản – Vương Duy)
Bản dịch: DKN / Văn Nhược 

Người lương thiện là người thông minh nhất

Thông minh chưa hẳn đã lương thiện nhưng người lương thiện chắc chắn là người thông minh nhất
Ảnh ghép minh họa: Đại Kỷ Nguyên
Thông minh và khôn khéo được cho là những lợi thế giúp con người sống dễ dàng hơn trong một xã hội ngày càng cạnh tranh. Tuy nhiên, câu chuyện của nhà sáng lập Amazon, Jeff Bezos khiến không ít người giật mình tự hỏi: “Thông minh liệu có quan trọng hơn tất cả”?Ông Jeff Bezos, sáng lập viên và CEO của Amazon, là một trong những gương mặt quyền lực nhất trong làng công nghệ thế giới. Tuy nhiên, không chỉ là một người giàu có bậc nhất, ông còn là một người có ý chí, nghị lực và nhân cách khiến nhiều người ngưỡng mộ.

Trong một lần tham gia buổi lễ tốt nghiệp năm 2010 tại trường Princeton, nơi ông theo học thời đại học, Jeff đã chia sẻ lại câu chuyện từ thuở ấu thơ của ông. Câu chuyện sau đó đã đánh thức trong tâm hồn hàng triệu người câu hỏi: “Thông minh liệu có quan trọng hơn tất cả?”:

“Khi còn là một đứa trẻ, tôi thường dành thời gian nghỉ hè của mình ở trang trại của ông bà tại Texas. Tôi giúp ông bà sửa chữa máy quạt thóc, tiêm vacxin cho bò và làm các công việc nhà khác. Vào mỗi buổi chiều, chúng tôi cùng nhau xem những vở kịch opera, đặc biệt là vở “Năm tháng của đời người”.

Suốt quãng đời tuổi thơ, tôi luôn mong đợi những ngày như thế. Tôi vô cùng yêu quý và kính trọng ông bà của mình. Tôi thầm cảm ơn số phận đã mang họ đến bên tôi, trở thành những người thân yêu nhất trong cuộc đời của tôi.

Những buổi sáng với tiếng gõ leng keng của ông và tiếng thái gọt đồ ăn của bà luôn là miền ký ức trong trẻo đầy sức mê hoặc đối với tâm hồn tôi.

Nhưng có một điều tôi không thích nhất chính là mùi thuốc lá, đặc biệt trong những lần du lịch. Tôi sẽ ngồi ở chiếc ghế băng dài phía sau xe và người lái xe đương nhiên là ông nội. Còn bà nội tôi sẽ ngồi cạnh ông, bà thường không nói gì nhiều và chỉ hút thuốc.

Ngay từ nhỏ tôi đã yêu thích những con số và thường tính toán tất cả mọi thứ trong cuộc sống, từ lượng dầu tiêu hao cho đến những chi tiêu buôn bán tạp hóa, từ tiền mua gà cho tới tiền mua những thứ nhỏ nhặt như tỏi, tiêu.

Một lần, tôi tình cờ nghe được một bài quảng cáo về thuốc lá trên truyền hình. Chẳng giống như những đứa trẻ cùng tuổi bị hấp dẫn bởi những hình ảnh động thú vị, tôi quan tâm tới nội dung chính.

Người ta nói rằng mỗi điếu thuốc lá sẽ làm giảm vài phút tuổi thọ, chính xác là khoảng hai phút. Vì thế tôi quyết định vì bà mà làm một phép tính toán.

Tôi đã dành một ngày để quan sát bà, tôi tính xem mỗi ngày bà tôi hút mấy điếu thuốc, mỗi điếu thuốc hút mấy hơi, cuối cùng cũng tính được một con số hợp lý.

Hôm đó, sau khi hoàn thành sự tính toán của mình, tôi ngả người về phía trước vỗ bờ vai của bà và kiêu ngạo tuyên bố: “Nếu như hai phút hút một hơi thuốc thì bà sẽ giảm 9 năm tuổi thọ”.

Tôi nhớ rất rõ ràng chuyện gì đã xảy ra sau đó và điều ấy nằm ngoài dự liệu của tôi. Tôi kỳ vọng sự thông minh và khả năng tính toán của mình sẽ nhận được lời khen ngợi nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại.

Bà nội tôi đã bật khóc, còn ông tôi trước đó luôn chăm chú lái xe bỗng dừng lại một bên đường. Ông xuống xe, mở cửa và tỏ ý đợi tôi xuống.

Tôi bàng hoàng tự hỏi liệu tôi đã gây ra phiền phức hay sao? Ông nội tôi là một người trí tuệ và điềm tĩnh. Ông chưa bao giờ nói lời nghiêm khắc với tôi hay bực mình với tôi chuyện gì. Hay là ông muốn tôi quay trở lại xe và xin lỗi bà nội?

Trong đầu tôi quay cuồng với các loại suy nghĩ và không ngừng lo lắng về điều sắp xảy ra với tôi. Chúng tôi đứng ở bên đường cách chiếc xe một đoạn.

Ông nội nhìn sâu vào mắt tôi, trầm ngâm một lát sau đó nhẹ nhàng nói: “Jeff à, có một ngày cháu sẽ hiểu, lương thiện so với thông minh càng khó hơn”.

Đó là câu nói khiến tôi, một người luôn tràn đầy tự tin vào sự thông minh của bản thân thực sự ngỡ ngàng và chấn động. Mỗi ngày lớn lên tôi lại hiểu thêm về câu nói của ông. Điều tôi nói có thể chẳng sai chút nào, nó là khoa học. Điều tôi hiểu là trong mỗi điếu thuốc ấy có hàng tá chất độc gây tác hại đối với sức khỏe như thế nào.

Nhưng điều quan trọng nhất tôi không thể hiểu cho tới ngày hôm đó chính là đằng sau mỗi điếu thuốc bà hút có thể là biết bao tâm sự, biết bao suy tư về những thăng trầm đã qua, về một nỗi buồn niềm đau nào đó mãi hằn in trong lòng bà chẳng thể nguôi ngoai”.

***

Quả thực trong đời sống này, điều chúng ta có thể tiếp nhận là tri thức, nhưng điều không thể tiếp nhận mà phải dung dưỡng là một tấm lòng lương thiện.

Bởi lương thiện ấy không phải là một loại lý thuyết, mà là sự hòa hợp giữa ý niệm và hành vi, là bản chất nguyên sơ của sinh mệnh nguyên thủy của con người.

Người ta cho rằng càng hiểu biết nhiều thì càng thông minh, càng thông mình thì càng biết thu vén cái lợi cho mình, như thế cuộc sống sẽ ngày càng sung sướng, hạnh phúc.

Nhưng càng thông minh, càng khôn khéo, càng tư lợi, con người lại càng đánh mất sự thuần khiết, thuần tịnh vốn có của mình.

Vì lương thiện nên biết đủ, vì lương thiện mà biết tha thứ, không so đo tranh giành, không ganh đua ân oán từ đó mà nội tâm thanh tịnh, an hòa. Người có nội tâm thiện lương, tĩnh lặng sẽ sáng suốt, có thể thực thi bất kể sự việc gì bằng cả tấm lòng mình mà không bị được mất hay danh tiếng ràng buộc, ức chế.

Người ta nói lương thiện là một loại trí huệ. Người thông minh chưa hẳn đã lương thiện, nhưng người lương thiện chắc chắn là người thông minh nhất.

Lý Minh / DKN

Nước Mỹ và vấn nạn nô lệ thời lập quốc


Biểu tình tại Los Angeles liên quan đến cái chết của ông George Floyd.
Biểu tình tại Los Angeles liên quan đến cái chết của ông George Floyd.

“Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc.” – Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, công bố ngày 4 tháng Bảy năm 1776.

Một trong năm tác giả chính của tuyên ngôn này là Thomas Jefferson, như chúng ta đã biết [1]. Vị Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ, vì thế, đã trở thành biểu tượng của tự do, bình đẳng, và nhân quyền trên toàn cầu.

Mọi người là gồm những ai?

Vấn đề là, Jefferson vào lúc đó có xem người da đen, người nô lệ, là con người không?

Không riêng gì Jefferson, những nhà lập quốc Hoa Kỳ khác, như George Washington, James Madison (một trong các tác giả chính của Hiến pháp Hoa Kỳ), Benjamin Franklin, James Monroe v.v… nghĩ sao về người da đen, về vấn đề nô lệ?

Một mặt, không ai biết rõ trong đầu các nhà lập quốc Hoa Kỳ nghĩ gì vào lúc đó, cho dầu phần lớn các suy nghĩ của họ về bao vấn đề khác nhau được lưu trữ cho đến nay. Mặt khác, lời mở đầu của hiến pháp nói như sau [2]:

Chúng tôi, nhân dân Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ, với mục đích xây dựng một Liên Bang hoàn hảo hơn nữa, thiết lập công lý, đảm bảo bình yên trong nước, cung ứng phòng thủ chung, cổ võ sự thịnh vượng chung, bảo an nền tự do cho bản thân và con cháu chúng ta, chỉ định và xây dựng Hiến pháp này cho Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ.

Hai năm sau đó, 10 tu chánh án được thông qua với mục tiêu bảo đảm các quyền căn bản của mọi người dân Hoa Kỳ.

Nhưng rõ ràng người da đen, người nô lệ, không được xem là con người vào lúc đó.

Nói đúng hơn, thì họ không được xem là công dân của Hoa Kỳ, theo hiến pháp này.

Không những thế, bản hiến pháp ngay từ đầu đã chính thức công nhận thực trạng của nô lệ, và xem người nô lệ lúc đó chỉ trị giá ba phần năm (3/5) của một người tự do, mà chủ yếu vì lý do bầu cử (vào Hạ viện), thuế má và thoả thuận chính trị vào lúc đó [3]. Nó cũng cho những người sở hữu nô lệ quyền bắt giữ những ai trốn khỏi tiểu bang của mình, và cấm việc hủy bỏ buôn bán nô lệ trước năm 1808.

Điều này cho thấy một sự khác biệt căn bản giữa Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 và Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1789 và 1791 về vấn đề ai mới thực sự được sở hữu các quyền này, chứ không phải là mọi người sống trên đất nước này.

Jefferson, một mặt, lên án sự vô luân của nạn buôn bán nô lệ vì nó ngược lại các quyền tự nhiên của họ, nhưng mặt khác, miễn trừ cho người Hoa Kỳ về bất kỳ trách nhiệm nào trong việc sở hữu nô lệ. Jefferson, và chắc nhiều người khác, biện luận rằng vấn nạn nô lệ đã hiện hữu trên nước Mỹ từ đầu thế kỷ 17, tức trước thời họ gần 200 năm.

Dù biện luận thế nào đi nữa, chính sự mâu thuẫn này trong đạo đức, không phải trong pháp luật, đã đưa đến cuộc nội chiến Hoa Kỳ vào đầu nhiệm kỳ của tổng thống Abraham Lincoln. Số người chết trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ không phải 618.222 người, mà theo nghiên cứu mới nhất được ghi nhận, lên đến 750.000 người [5].

Jefferson và vấn đề sở hữu nô lệ

Jefferson, và bao nhiêu nhà lập quốc khác, kể cả tổng thống đầu tiên, George Washington, cũng như ba tổng thống Hoa Kỳ sau Jefferson là James Madison, James Monroe và Andrew Jackson, đều sở hữu nô lệ vào lúc đó [5]. Jefferson không chỉ sở hữu, mà còn có quan hệ tình dục với một người phụ nữ da đen, một người nô lệ của mình, tên Sally Hemings, dựa theo các bằng chứng về Jefferson và các hậu duệ đến nay, kể cả các thử nghiệm DNA [6]. Một số nguồn nghiên cứu cho rằng hai người có sáu người con với nhau.

Sally Hemings, thật ra, không phải là một nô lệ bình thường. Bà Hemings là chị em cùng cha khác mẹ với bà Martha Skelton Jefferson, vợ của Jefferson, trước khi lấy chồng có tên họ là Wayles. Cha của Martha là John Wayles, là một luật sư và một người buôn nô lệ, có quan hệ tình dục với Betty Hemings, đẻ ra sáu người con, con út là Sally Hemings. Martha mất vào năm 1782, nên trong chuyến công vụ đến Pháp vào năm 1787, kéo dài hai năm, Jefferson đã góa vợ. Hemings lúc đó mới 14 tuổi, đã tháp tùng Jefferson với người con gái Mary Jefferson Eppes, lúc đó chỉ 9 tuổi. Nhiều học giả tin rằng Jefferson đã có quan hệ tình dục với Hemings từ chuyến đi Pháp này, hay lúc về lại Virginia, khi Hemings 16 tuổi.

Trong số 700 người nô lệ mà Jefferson sở hữu trong suốt cuộc đời mình, chỉ có Sally Hemings và sáu người con của bà (với Jefferson) đã được cho rời khỏi cuộc đời nô lệ tại Monticello do sự chỉ định của Jefferson [7].

Cũng vì các điều này mà biểu tượng và thanh danh Jefferson về tự do, bình đẳng v.v… đã phần nào bị ảnh hưởng tiêu cực.

Khác với Thomas Jefferson, George Washington và Benjamin Franklin, hai nhà lập quốc khác của Hoa Kỳ, không ủng hộ chế độ nô lệ. Trong di chúc trước khi mất năm 1799, Washington có ước nguyện muốn trả tự do cho tất cả nô lệ của mình khi ông/vợ ông chết, mặc dầu sự trao trả tự do cho họ không hề đơn giản [8]. Franklin cũng sở hữu nô lệ lúc trẻ, nhưng ông đã nhiệt thành vận động xóa bỏ nô lệ lúc về già, đặc biệt qua Thỉnh Nguyện thư gửi đến quốc hội Hoa Kỳ, Hạ viện vào ngày 12 tháng Hai và Thượng viện vào ngày 15 tháng Hai năm 1790, nhưng không thành [9]. Franklin đã chết hai tháng sau, ngày 17 tháng Tư năm 1790, thọ 84 tuổi.

Di sản nô lệ

Theo giáo sư sử học và luật học tại đại học Harvard, Annette Gordon-Reed, khác với sự phục vụ mang tính hợp đồng của những người nhập cư châu Âu đến Bắc Mỹ, chế độ nô lệ tại Mỹ là một điều kiện được thừa hưởng [10]. Vì thế cho nên chế độ nô lệ này bị ràng buộc chặt chẽ với sự thống trị của người da trắng. Do đó mà ngay cả những người nô lệ được trả tự do, bằng cách này hay cách khác, sớm hay muộn, đều được xem là hạ cấp trong mắt người da trắng; ngược lại, màu trắng liên quan đến sự cao cấp, thượng đẳng và tự do. Cho nên vật lộn với di sản của chế độ nô lệ, vì thế, đòi hỏi phải vật lộn với thượng đẳng da trắng mà đã hiện hữu trước khi thành lập Hoa Kỳ và vẫn tiếp tục tồn tại sau khi chấm dứt chế độ nô lệ hợp pháp.

Theo nghiên cứu của Gs Gordon-Reed, một vài tuần trước khi nội chiến Hoa Kỳ xảy ra năm 1861, Alexander Stephens, Phó Tổng thống của Confederacy (phía tách rời liên bang Hoa Kỳ), cho là người da đen (negro) không thể nào bình đẳng với người da trắng, và rằng nô lệ – phục tùng cho chủng tộc siêu hạng – là điều kiện tự nhiên và bình thường của hắn ta (Slavery – subordination to the superior race – is his natural and normal condition). Cho nên Gs Gordon-Reed biện luận rằng “Để đối đầu với di sản của chế độ nô lệ mà không công khai thách thức thái độ chủng tộc đã tạo ra và định hình thể chế là bỏ một bên biến số quan trọng nhất ra khỏi phương trình”.

Nhìn như thế, lá cờ của Confederacy, hay các biểu tượng đại diện cho Confederacy, như của tướng Robert E. Lee chẳng hạn, không đơn thuần là một vấn đề lịch sử cần phải quên đi; nó còn là một biểu tượng của di sản nô lệ trong đó thành phần thượng đẳng da trắng vẫn muốn tiếp tục duy trì. Cách đối xử thô bạo của cảnh sát với người da đen, như vụ George Floyd vừa qua, cho thấy óc phân biệt vẫn còn hiện hữu trong một số thành phần xã hội tại Mỹ.

Gs Gordon-Reed kết luận để hiểu những vấn đề nhức nhối hiện nay thì “không chỉ nhìn vào chế độ nô lệ mà còn nhìn vào di sản lâu dài nhất của nó: việc duy trì thượng đẳng da trắng”.

Nhiều người Mỹ da trắng, điển hình nhất là bà Eleanor Roosevelt, một trong những tác giả chính của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, hiểu được những bất công oan ức mà người Mỹ gốc Phi đã chịu đựng trong suốt mấy trăm năm qua. Lúc còn sống, bà Roosevelt đã tranh đấu không ngừng nghỉ cho quyền sống của họ, và tìm cách cứu những mạng sống rẻ mạt của người da đen mặc dầu chế độ nô lệ đã không còn hiện hữu sau Tu Chính Án 13 năm 1865. Nên nhớ, vào thập niên 1930, người Mỹ da trắng có thể bắn giết người da đen mà không hề hấn gì, dù không có đủ bằng chứng họ có tội tình gì. Có những lần bà Roosevelt đã tìm cách thuyết phục tổng thống Franklin Delena Roosevelt (FDR) can thiệp để cứu những mạng sống này. Bà cũng đã vận động để ông FDR gặp gỡ lắng nghe tiếng nói của lãnh đạo người da đen, và vận động để người da đen được tham gia tích cực vào các vai trò khác nhau trong Thế Chiến II. Phong trào đấu tranh quyền dân sự (Civil Rights Movement) đã đạt được những thành quả tích cực về công bằng xã hội vào thập niên 1960, đưa đến những cải tổ sâu rộng về luật pháp liên quan đến kỳ thị chủng tộc [11]. Nhiều người Mỹ da trắng cấp tiến đã đứng về phía công lý, nhưng không phải tất cả.

Rất tiếc, vấn nạn kỳ thị vẫn còn tiếp diễn, cho đến nay.

Những công dân Hoa Kỳ, kể những người Việt đến trước hay sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 mà giờ đây là công dân Mỹ, đều có quyền hãnh diện về quốc gia này. Đây là cái nôi của cuộc cách mạng chuyển hóa quyền lực từ quân chủ sang dân chủ, của nhân quyền, của quyền lực cứng và mềm, có sức hút mãnh liệt nhân tài khắp nơi, và đã là trọng lực đáng kể nhất từ sau Thế Chiến II để bao nhiêu quốc gia khác noi gương chuyển hóa dân chủ. Nhưng với một di sản nô lệ kéo dài 400 năm như thế, mà tư duy thượng đẳng da trắng vẫn còn hiện hữu mạnh trong lòng người Mỹ, thì sự hòa giải và bình đẳng vẫn còn lắm thử thách trên quốc gia này. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã tiến hành một cuộc cách mạng để đời cho thế giới học hỏi, nhưng di sản nô lệ vẫn mãi là vết nhơ của lịch sử. Viết ra ở đây không phải là để trách bất cứ ai cả nhưng cốt để nói lên thực tế rằng, tất cả đều là con người, dù vĩ đại, nhưng vẫn có những giới hạn của mình, và bị tác động mạnh mẽ bởi quá khứ và bối cảnh chung quanh.

Nguồn gốc tội lỗi và sai lầm, cái niềm tin mình đương nhiên thượng đẳng hơn người khác, vẫn còn thì làm sao có thể xóa bỏ kỳ thị, phân biệt!

Phạm Phú Khải / VOA

Từ nhỏ, gia đình bảo giỏi toán. Lớn lên, quyết định học kỹ sư, tưởng sở trường của mình.

Về sau, thích hoạt động xã hội, đam mê tìm hiểu các hành vi con người và chính trị được định hình bởi các yếu tố nào.

Gần đây, càng làm việc liên quan đến con người, và càng nghiên cứu nhiều hơn, tôi tìm thấy khoa học hành vi và khoa học xã hội (Behavioural Science and Social Science), trong đó tâm lý, nhất là địa hạt khoa học thần kinh (neuroscience), giải thích được rất nhiều về cách suy nghĩ và hành xử của con người.

Tôi hy vọng có dịp chia sẻ với bạn đọc về những vấn đề cùng quan tâm, và mong được học hỏi từ mọi người qua trang blog này.

Các bài viết của Phạm Phú Khải là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.

Phố Wall và London trở thành tay sai của Bắc Kinh như thế nào?

Lenin có câu nói: “Các nhà tư bản sẽ bán cho chúng tôi sợi dây thừng mà chúng tôi sẽ dùng để treo cổ họ”, và các nhà tài phiệt Phố Wall đã bán cho Bắc Kinh sợi dây này suốt hơn 2 thập kỷ qua…

Vào tháng 11 năm 2018 Peter Navarro, cố vấn thương mại của Nhà Trắng lúc đó có liên quan mật thiết đến cuộc chiến thương mại của Tổng thống Trump với Bắc Kinh, đã phát động một cuộc tấn công gay gắt vào cái mà ông gọi là “các nhà tỷ phú toàn cầu” của Phố Wall.

Ông cáo buộc “nhóm ngân hàng Phố Wall và các nhà quản lý quỹ phòng hộ” đã tham gia vào “ngoại giao con thoi” của riêng họ với phía Trung Quốc và cố gắng phá hoại các cuộc đàm phán thương mại của Mỹ bằng cách gây áp lực lớn lên Nhà Trắng để nhường chỗ cho Bắc Kinh. Ông Navarro tiếp tục cáo buộc giới tinh hoa tài chính là “các tay sai ngoại bang chưa đăng ký” hoạt động như một phần của các hoạt động ảnh hưởng của Bắc Kinh tại Washington.

Đó là quan điểm mạnh mẽ, nhưng cơ sở thực tiễn là gì?

Bắc Kinh đã làm việc với Phố Wall trong một thời gian dài. Khi Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đến thăm Hoa Kỳ vào năm 1999, ông đã ẩn náu tại khách sạn Astoria của New York và dành nhiều ngày trong các cuộc gặp mặt với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. “Ông Chu dường như không bao giờ mệt mỏi với việc tán tỉnh doanh nghiệp Mỹ,” The New York Times đưa tin.

Những người khổng lồ của tài chính Hoa Kỳ trong nhiều thập kỷ đã  định hướng chính sách quốc gia của Mỹ về Trung Quốc. Bất cứ khi nào các tổng thống Clinton, Bush hay Obama đe dọa sẽ có lập trường cứng rắn hơn về chủ nghĩa bảo hộ thương mại, thao túng tiền tệ hoặc trộm cắp công nghệ của Trung Quốc, các lãnh đạo Phố Wall đã sử dụng ảnh hưởng của mình để thuyết phục họ lùi bước. Và chính áp lực từ Phố Wall đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của Nhà Trắng, Clinton ủng hộ việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, bất chấp việc Trung Quốc vi phạm hầu hết các nguyên tắc của tổ chức này.

Hai mươi năm sau, The New York Times đã viết: “Ở Washington, trên Phố Wall và trong các phòng họp của công ty, Bắc Kinh đã sử dụng quy mô của đất nước và lời hứa hẹn trong nhiều thập kỷ để dập tắt sự phản đối và thưởng hậu hĩnh cho những người giúp đỡ họ phát triển”. Các tổ chức tài chính là những người ủng hộ quyền lực nhất của Bắc Kinh tại Washington.

Lĩnh vực tài chính – các ngân hàng lớn, các quỹ phòng hộ và công cụ đầu tư – vì thế nằm ở trung tâm bản đồ quyền lực ở Mỹ, và đỉnh cao là Goldman Sachs. Đối với ĐCSTQ, những gã khổng lồ về tài chính là những mục tiêu dễ dàng, vì có sự hòa hợp về lợi ích. Giám đốc điều hành Phố Wall, dự đoán Bắc Kinh là một mỏ vàng khi nó mở cửa thị trường tài chính rộng lớn cho người nước ngoài, họ đã tư vấn cho các công ty Trung Quốc nên mua công ty nào và cho họ vay tiền để làm điều đó, đổi lại họ chia phần theo giá trị giao dịch. Theo một quan chức cấp cao của Nhà Trắng, “những nhà buôn chứng khoán chuyên nghiệp thực sự thích Đảng Cộng sản Trung Quốc”.

ĐCSTQ đang mở toang cánh cửa. Nhưng sự liên kết lợi ích có thể không lâu dài, vì ý định của Bắc Kinh là cuối cùng biến Thượng Hải trở thành thủ đô tài chính của thế giới, thay thế New York và Thành phố London. Như Lenin đã nói: “Các nhà tư bản sẽ bán cho chúng tôi sợi dây thừng mà chúng tôi sẽ dùng để treo cổ họ”.

Đến năm 2003, Goldman Sachs “đã trở thành người bảo lãnh phát hành chứng khoán chính cho các công ty nhà nước lớn của Trung Quốc”. Năm 2006 Henry Paulson chuyển từ Giám đốc điều hành của Goldman Sachs sang Bộ Trưởng Tài chính dưới thời George W. Bush, mang theo một mạng lưới quan hệ giá trị nhất với giới thượng lưu Trung Quốc. Paulson đã đến thăm đất nước này khoảng bảy mươi lần. Ông xin tổng thống xem liệu ông có thể nhận trách nhiệm về chính sách kinh tế Trung Quốc của Mỹ hay không, và Bush đã đồng ý.

Nhưng Paulson, theo đánh giá của tác giả và nhà báo Paul Blustein viết trong Chính sách đối ngoại, đã sai lầm. Blustein lập luận rằng nếu Paulson phản ứng mạnh mẽ hơn với thao túng tiền tệ của Bắc Kinh, kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp nhà nước, chính sách ngược đãi các doanh nghiệp Mỹ ở Trung Quốc và chương trình trộm cắp công nghệ, thì điều kiện dẫn đến chiến tranh thương mại có thể không xảy ra. Thay vì đề xuất các hành động trả đũa để bảo vệ các công ty Mỹ, Paulson đã làm việc để chống lại họ tại Quốc hội, đề xuất tổ chức “Đối thoại kinh tế chiến lược” bắt đầu vào tháng 12 năm 2006. Không cần phải nói, điều này mang lại lợi thế cho Bắc Kinh.

Paulson, một người bạn tốt của thị trưởng Bắc Kinh thời bấy giờ là Vương Kỳ Sơn, khi đó đã có khuynh hướng ôn hòa với những nỗ lực của Đảng trong việc mở cửa nền kinh tế; Paulson đã bị thao túng. ĐCSTQ đã kéo ông ta đi sâu hơn vào vòng tay của họ, khơi dậy nhận thức về quyền lực ảnh hưởng của chính ông ta. Ông ta thậm chí đã có cuộc họp ngắn riêng tư, một đối một với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào.

Sau khi Paulson rời nhiệm sở năm 2009 – thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra – trong thời gian đó, ông đã gọi điện cho Vương và cầu xin ông ta ra lệnh cho một ngân hàng nhà nước Trung Quốc bảo lãnh cho Bear Stearns – một hãng tay chân của Goldman Sachs đã thành lập Viện Paulson, đồng thời tận tâm “củng cố mối quan hệ Mỹ-Trung phục vụ duy trì trật tự toàn cầu”.

John Thornton là một cựu binh có ảnh hưởng khác của Goldman Sachs. Ông đã lãnh đạo Goldman vào Trung Quốc và khi ông nghỉ hưu với tư cách là chủ tịch ngân hàng năm 2003, ông trở thành giám đốc Chương trình Lãnh đạo Toàn cầu tại Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh. Thornton là một người ủng hộ mạnh mẽ chương trình học bổng tại Thanh Hoa được tài trợ bởi nhà đầu tư tỷ phú và là bạn của Tổng thống Trump, Stephen Schwarzman, và ông là thành viên của một số tập đoàn hàng đầu của Trung Quốc và Mỹ. Năm 2006, ông đã đưa tiền của mình vào một Trung tâm Trung Quốc mới tại Viện Brookings, nơi ông là chủ tịch của hội đồng quản trị. Năm 2008, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trao cho ông giải thưởng cao nhất dành cho người nước ngoài, Giải thưởng Hữu nghị của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Phần này của câu chuyện Phố Wall sẽ không hoàn chỉnh nếu không đề cập đến quỹ đầu tư BlackRock của Mỹ, lớn nhất thế giới, tổng giá trị tài sản do quỹ này quản lý lên tới 6,5 nghìn tỷ đô-la. Năm 2019, Giám đốc điều hành của quỹ, Larry Fink, nói với các cổ đông của công ty rằng ông dự định biến BlackRock thành một trong những nhà quản lý tài sản hàng đầu của Trung Quốc, nói rằng ông sẽ sẵn sàng tận dụng khi Bắc Kinh mở cửa thị trường vốn cho người nước ngoài, và ông nhắm mục tiêu trở thành một trong những nhà quản lý tài sản nước ngoài đầu tiên gây quỹ bằng đồng nhân dân tệ ở Trung Quốc.

Trong khi sức mạnh của Phố Wall trong việc ảnh hưởng tới chính sách với Trung Quốc là có thực, năm 2017 đã có một điều gì đó thay đổi. Các nhà sản xuất Mỹ quyết định rằng họ đã chịu đựng đủ việc tài sản trí tuệ của họ bị đánh cắp và họ không thể tiếp tục chờ đợi Bắc Kinh thực hiện lời hứa tự do hóa nền kinh tế Trung Quốc và cung cấp một sân chơi bình đẳng cho các công ty Mỹ.

Phòng Thương mại Hoa Kỳ đã công bố một báo cáo cho biết như vậy, thúc đẩy một khoảng cách nữa giữa tài chính và sản xuất, một lỗ hổng cho phép chính quyền Trump, được ủng hộ bởi đảng Dân chủ, tăng cường sức mạnh cho Bắc Kinh. Điều này đã buộc giới tài chính phải vận động hành lang và phối hợp chặt chẽ hơn với các đồng minh ở Bắc Kinh.

Các thái tử Đảng của Phố Wall

ĐCSTQ đã không bằng lòng chỉ dựa vào sự phối hợp lợi ích giữa Bắc Kinh và các công ty tài chính lớn ở phương Tây. Một tuyến kết nối quan trọng khác của sự ảnh hưởng là các “thái tử Đảng” – con trai và con gái của các nhà lãnh đạo Đảng hàng đầu trong quá khứ và hiện tại. Trong nhiều năm, công ty đầu tư khổng lồ thuộc sở hữu nhà nước CITIC đã bị chi phối bởi các thái tử Đảng, cũng như China Poly Group, tập đoàn được xây dựng xung quanh việc sản xuất vũ khí. Thị trường cổ phiếu đang phát triển của Trung Quốc được kiểm soát bởi “tầng lớp quý tộc đỏ” và con cái của họ .

Đối với các quỹ phòng hộ phương Tây, các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và ngân hàng, điều kiện tiên quyết để kinh doanh tại các thị trường vốn Trung Quốc mới nổi, sinh lợi cao là một mạng lưới quan hệ với các gia đình kiểm soát các công ty lớn nhất và thống trị hệ thống quyền lực của Đảng. Trao việc cho con trai, con gái, cháu trai và cháu gái của những gia đình này mang lại mạng lưới quan hệ cá nhân vì lợi ích đôi bên cùng có lợi. Con cái không cần phải có trình độ cao hoặc thậm chí đặc biệt có tài; quan trọng họ là con cháu ai. Con đường sự nghiệp lý tưởng cho một thái tử Đảng là bằng tốt nghiệp tại một trường đại học danh tiếng, tốt nhất là trường đại học Ivy League hoặc Oxbridge, sau đó đi thẳng lên sàn giao dịch của một ngân hàng lớn hoặc quỹ phòng hộ ở New York hoặc London và sau vài năm ở đó, một MBA và sau đó là một công ty Phố Wall.

Một cái nhìn sâu sắc về cách thức hoạt động này được thể hiện qua một cuộc điều tra của Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ năm 2016, dẫn đến việc JP Morgan phải trả 264 triệu đô-la vì vi phạm Đạo luật Thực hành Tham nhũng Nước ngoài. JP Morgan đã bị bắt khi thuê các thái tử Đảng Trung Quốc để giành chiến thắng trong kinh doanh, điều mà ủy ban này mô tả là “hối lộ có hệ thống”. Công ty vận hành cái mà họ gọi là Chương trình Con trai và Con gái , nơi cung cấp hàng tá việc làm ở Hong Kong, Thượng Hải và New York cho con cái thuộc giới thượng lưu của Đảng.

Một người là Gao Jue, con trai của bộ trưởng thương mại Trung Quốc, Gao Hucheng. Là một sinh viên tốt nghiệp gần đây của Đại học Purdue, Gao Jue đã tìm được một công việc sau cuộc gặp giữa cha mình và giám đốc điều hành cấp cao của JP Morgan, William Daley. (Daley là một Bộ trưởng thương mại Hoa Kỳ dưới thời Clinton và đã thúc đẩy Trung Quốc gia nhập WTO. Sau đó, ông giữ chức vụ Chánh văn phòng của Tổng thống Obama).

Kết quả phỏng vấn của Gao Jue kém nhưng được ngân hàng đề nghị một vị trí phân tích đáng thèm muốn. Dễ ngủ gục tại nơi làm việc, anh ta sớm bị đánh giá là một nhân viên “non nớt, vô trách nhiệm và không đáng tin cậy”. Khi việc thu hẹp quy mô diễn ra, ngân hàng sau đó muốn sa thải anh ta, cha anh ta đã đưa người đứng đầu văn phòng ngân hàng Hong Kong, Fang Fang, đến ăn tối và cầu xin cho con trai mình được giữ lại, hứa sẽ “thêm hợp đồng” cho JP Morgan trong giao dịch Trung Quốc. Fang đã bị thuyết phục và một giám đốc điều hành cấp cao ở New York đã đồng ý giữ Gao Jue, mặc dù con trai riêng của giám đốc điều hành đã bị cho nghỉ việc. Công việc là công việc. Khi Gao Jue cuối cùng đã bị cho đi, cậu ta đã nhận các công việc tài chính khác trước khi kết thúc tại Goldman Sachs.

Tất nhiên, có nhiều người Trung Quốc đại lục làm việc trong ngành tài chính Hoa Kỳ có năng lực cao và xứng đáng với vị trí của họ, thường là những người rất cao cấp. Fang là một ví dụ. Ông tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa danh tiếng vào những năm 1980 và sau đó học MBA tại Đại học Vanderbilt ở Nashville. Năm 1993, ông nhận một công việc tại Merrill Lynch, làm việc ở New York và Hong Kong, và năm 2001, ông bắt đầu sự nghiệp 13 năm với JP Morgan, vươn lên vị trí giám đốc điều hành ngân hàng đầu tư Trung Quốc, có trụ sở tại Hong Kong. Trong thời gian đó, ông đã môi giới việc bổ nhiệm nhiều thái tử Đảng vào các vị trí trong ngân hàng. Ông cũng có được kiến ​​thức sâu sắc về tài sản cá nhân của một số giới cầm quyền của Trung Quốc. The New York Times mô tả Fang có một “mạng lưới liên lạc sâu rộng trong giới chính phủ và doanh nghiệp Trung Quốc”.

Mặc dù không phải là hoàng tộc của ĐCSTQ, Fang có quan điểm rất gần với tầng lớp quý tộc đỏ. Fortune mô tả ông là “một nhà điều hành thân thiện với truyền thông có mối quan hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản”. Năm 2011, ông thành lập Hội Hua Jing tại Hong Kong, một câu lạc bộ xã hội dành cho con em của giới thượng lưu đã đi du học và trở về Hong Kong. Nhóm này đã được mô tả là Câu lạc bộ của các thái tử Đảng và là chi nhánh Hong Kong cho các hoàng thân của ĐCSTQ.

Đối với giới thượng lưu ĐCSTQ, sự gắn kết với các bậc thầy của Phố Wall thông qua việc sắp xếp bố trí các thái tử Đảng vào phố Wall quan trọng hơn là vấn đề tìm việc cho con em của họ. Nó là một phương tiện để thu thập thông tin tình báo và gây ảnh hưởng bởi vì nó đặt người cung cấp thông tin và chân tay của mình vào trung tâm quyền lực của Mỹ.

Toàn bộ hoạt động của một công ty Mỹ có thể được báo cáo cho một người cha hoặc một người chú ở Trung Quốc, cùng với thông tin bí mật về các vấn đề cá nhân và tài chính của những người giàu có nhất ở Bắc Mỹ.

ĐCSTQ ở thành phố London

Các tổ chức tài chính châu Âu cũng không chậm chạp trong việc tuyển dụng  các thái tử Đảng. Vào những năm 2000, Deutsche Bank, ngân hàng lớn nhất của Đức, đã sử dụng tiền hối lộ và các hành vi tham nhũng để tiếp cận Trung Quốc, bao gồm cả việc tặng những món quà đắt tiền cho các nhà lãnh đạo, đặc biệt là gia đình của thủ tướng Ôn Gia Bảo và sau đó là thị trưởng Bắc Kinh Vương Kỳ Sơn, hiện nay là thành viên của nội các Bộ Chính trị, Ban thường vụ.

Năm 2009 Deutsche Bank đã đánh bại JP Morgan để giành hợp đồng vì họ đã thuê con gái của chủ tịch của khách hàng. Ngân hàng cũng đã có một chương trình tích cực tuyển dụng con cái của các quan chức quyền lực. Trong số đó có con trai của bộ trưởng tuyên truyền thời đó là Lưu Vân Sơn, và một trong những người con gái của Li Zhanshu – hiện là một trong bảy người trong Ủy ban Thường vụ – mặc dù cả hai đều bị đánh giá là không phù hợp với công việc.

Ở Zurich, Credit Suisse thuê con gái của ông Ôn Gia Bảo. Credit Suisse giữ một bảng tính theo dõi các khoản tiền phải bỏ ra để thuê các thái tử Đảng cùng với số tiền mà họ mang lại. Họ đã thuê hơn 100 con trai, con gái và bạn bè của các quan chức chính phủ cao cấp. Một “công chúa” đã được tuyển dụng sau khi nhân viên ngân hàng của Credit Suisse giúp làm đẹp hồ sơ của cô. Khi đã vào biên chế, cô ấy thường không đi làm. Khi cô đi làm, cô bị đánh giá là “thô lỗ và không chuyên nghiệp” và đôi khi đưa mẹ cô đi cùng. Tuy nhiên, cô đã được trả 1 triệu đô-la Mỹ mỗi năm và được thăng chức vài lần vì gia đình cô đã trao các giao dịch cho ngân hàng. (Năm 2018, Credit Suisse đã đồng ý trả 77 triệu đô-la cho chính quyền Hoa Kỳ để tránh bị truy tố về tội hối lộ).

Trong khi vị trí của các thái tử Đảng và những lời hứa tiếp cận thị trường tài chính khổng lồ của Trung Quốc là con đường ảnh hưởng quan trọng hàng đầu ở Phố Wall, thì ở Thành phố London, tình hình lại khác.

Khu tài chính của London – khu vực rộng 1 dặm vuông được gọi là Thành phố London, hay đơn giản là Thành phố – cũng là trung tâm tài chính của Châu Âu, mang lại cho các công ty tài chính lớn một sức ảnh hưởng không nhỏ trong chính trường Anh.

Brexit có nhiều người tự hỏi liệu Thành phố có thể giữ được vị thế thống trị của mình hay sẽ bị thay thế bởi các đối thủ ở Frankfurt hay thậm chí là Paris. Các quan lại của Thành phố đã làm việc chăm chỉ để đảm bảo sự nổi trội của nó, điều này mang đến một cơ hội vàng cho Bắc Kinh.

Sẽ là hơi quá khi nói rằng nếu Bắc Kinh có thể kiểm soát Thành phố thì họ có thể kiểm soát Anh, nhưng nói vậy cũng không phải là không có cơ sở. Một dấu hiệu đáng ngại, tuy nhỏ, về tầm ảnh hưởng mà Bắc Kinh đã mang lại vào tháng 5 năm 2019 khi Tập đoàn Thành phố London, chính quyền của quận, đã cấm văn phòng Đài Loan ở London đóng góp quảng cáo cho cuộc diễu hành của thị trưởng hàng năm.

Ngày nay, Tập đoàn Thành phố London  luôn sẵn lòng phục vụ Trung Quốc. Vào tháng 3 năm 2019, hai tháng trước khi ra lệnh cấm Đài Loan tham gia trong cuộc diễu hành của mình, Thị trưởng Peter Estlin đã tham gia một phái đoàn đến Trung Quốc để thúc đẩy các liên kết “tài chính xanh và công nghệ tài chính”, cùng với vai trò của Thành phố trong Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI). Trong khi ở đó, Estlin đã nói về phần quan trọng mà Thành phố đóng góp trong thành công của Trung Quốc. Phỏng vấn trên Phoenix TV, ông tiết lộ rằng Thành phố sẽ tổ chức một bữa tiệc vào tháng 9 năm sau để kỷ niệm 70 năm Cộng hòa Nhân dân. Thị trưởng đã ca ngợi “văn hóa đôi bên cùng có lợi” của BRI và nói rằng ông thấy Thành phố đóng vai trò quan trọng trong việc giúp tài trợ cho “một sáng kiến ​​tuyệt vời” và một tầm nhìn “rất thú vị”.

Phái đoàn được dẫn dắt bởi John McLean, thành viên hội đồng quản trị của Hội đồng doanh nghiệp Trung Quốc-Anh, người đã tuyên bố rằng “London mở cửa kinh doanh cho các công ty tài chính và công nghệ Trung Quốc”. Trước đó vào năm 2019, chủ tịch ủy ban chính sách của Thành phố London, Catherine McGuinness, đã hoan nghênh sự ra mắt phiên bản toàn cầu của tờ China Daily của ĐCSTQ, lưu ý rằng tờ báo “có trụ sở tại Square Mile và là một người bạn tốt của Tập đoàn Thành phố London”.

Đức Thiện / Theo The Sydney Morning Herald

Nơi trưng mặt nạ tuồng lớn nhất Việt Nam

BÌNH ĐỊNH

Điểm đến còn trưng bày ba Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, bộ sưu tập gốm thời tiền sử và nhiều kiệt tác điêu khắc Chăm Pa.

Bảo tàng Tổng hợp Bình Định thành lập năm 1980, là nơi lưu giữ, bảo quản và trưng bày hơn 10.000 hiện vật về lịch sử, văn hóa của vùng đất và con người Bình Định.

Có nhiều hiện vật độc đáo từ thời văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm Pa, thời Tây Sơn, thời kỳ kháng chiến đến thời hiện đại, chỉ tại nơi đây du khách mới có thể chiêm ngưỡng.

Đặc biệt, nơi đây trưng bày bộ ba mặt nạ theo phong cách tuồng Bình Ðịnh lớn nhất Việt Nam, được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập, cao 3m và rộng 2,1m.

Ba mặt nạ tuồng thể hiện hình tượng khuôn mặt của các nhân vật Phàn Ðịnh Công, Khương Linh Tá và Tạ Ôn Ðình trong vở Sơn Hậu, được coi là vở tuồng cung đình kinh điển của Việt Nam.

Bảo tàng có khu riêng giới thiệu văn hóa truyền thống của Bình Định, trong đó nổi bật nhất là không gian tuồng với tủ kính 4 mặt đặt các tạo hình nhân vật đặc trưng trong diễn tuồng. Tại đây, du khách sẽ được tìm hiểu môn nghệ thuật này thông qua các hiện vật đặc sắc.

Ngoài bộ ba mặt nạ khổng lồ ở bên ngoài, 30 mặt nạ nhỏ được bày trong gian phòng, cùng những đạo cụ khác như binh khí, nhạc cụ, tượng danh nhân Đào Tấn – người hệ thống bài bản tuồng Bình Định.

Bình Định được coi là cái nôi sản sinh nghệ thuật tuồng, còn gọi là hát bội hay hát bộ. Hát bội Bình Định được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014.

Bên cạnh hát bội, không gian nghệ thuật hát bài chòi Bình Định có điểm nhấn là bộ thẻ bài chòi 38 thanh gỗ. Một số nhạc cụ và hiện vật của các nghệ nhân bài chòi danh tiếng cũng được trưng bày tại đây.

Không chỉ là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, năm 2018, nghệ thuật bài chòi Trung bộ Việt Nam được UNESCO ghi nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Cùng với hát bội và bài chòi, võ cổ truyền Bình Định được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia năm 2012.

Căn phòng giới thiệu văn hóa truyền thống của Bình Định cũng trưng bày bộ thập bát ban binh khí (18 món) võ cổ truyền Bình Định và các hình ảnh ghi lại các thế võ đặc trưng.

Bảo tàng cũng giới thiệu đến du khách chiếc nón ngựa, phụ kiện của giới quyền quý địa phương xuất hiện hơn 300 năm trước, là một trong những sản vật đáng tự hào của người Bình Định.

Những món đồ gốm được trục vớt tại các cửa biển và đầm Thị Nại, minh chứng sự tồn tại của “con đường gốm sứ” quan trọng đi qua Bình Định có từ thời Chăm Pa (khoảng thế kỷ 11).

Bên cạnh không gian văn hóa cổ truyền và khu hiện vật thời kháng chiến, phần lớn khuôn viên bảo tàng trưng bày bộ sưu tập điêu khắc mỹ thuật Chăm từ thế kỷ 12.

Bảo tàng Tổng hợp Bình Định mở cửa từ 7h – 11h30 và 13h30 – 17h các ngày trong tuần, trừ thứ Hai. Giá vé tham quan 10.000 đồng một người.

Bảo tàng Tổng hợp Bình Định là điểm đến lý thú có thể kết hợp khám phá khi du khách tham gia giải chạy VnExpress Marathon Quy Nhơn 2020VnExpress Marathon Quy Nhơn 2020 do Báo VnExpress phối hợp UBND tỉnh Bình Định tổ chức. Cuộc thi nhằm ủng hộ phong trào chạy bộ và giúp địa phương quảng bá hình ảnh du lịch đến người dân cả nước và quốc tế.

Ban tổ chức sẽ trích 10% số tiền bán vé cho Quỹ Hy Vọng để xây dựng trường cho học sinh nghèo.

Tâm Linh/VNEpress

%d người thích bài này: