Cung điện mùa hè trên đỉnh núi đá

YEMEN

Từng là nơi ở mùa hè của quốc vương Yemen vào thập niên 1930 – 1940, Dar al-Hajar về sau chuyển thành bảo tàng. mở cửa đón khách du lịch.

Dar al-Hajar vốn là nơi ở mùa hè của Yajya Muhammad Hamiddin, quốc vương Yemen và cũng là lãnh đạo Hồi giáo của nước này. Cung điện vẫn thuộc quyền sở hữu của hoàng gia Yemen tới năm 1962, sau đó trở thành bảo tàng. Ảnh: Rod Waddington/Flickr.

Một phần cung điện xây dựng bằng gạch đá, phần còn lại nằm trong chính nền núi đá dựng đứng nên Dar al-Hajar được mệnh danh là “cung điện đá”. Dù nhìn từ góc nào công trình biểu tượng này cũng làm người xem choáng ngợp vì vẻ tráng lệ và hùng vĩ. Ảnh: yeowatzup/wiki.

Cung điện nằm trong thung lũng Wadi Dhahr, chỉ cách thủ đô Sana’a của Yemen 15 km. Vào năm 1786 học giả người Hồi giáo Imam Mandour Ali Bin Mehdi Abbas xây một công trình trên núi đá nhỏ dựng đứng như cột chống trời này. Ảnh: Yahya Arhab/EPA

Đến những năm 1920 – 1930 cung điện Dar al-Hajar được dựng trên nền công trình cổ đó, bổ sung thêm nhiều phòng ở, phòng bếp, nhà kho và các khu vườn, hồ nước yên tĩnh. Ảnh: Pinterest.

Cung điện được xây theo kiến trúc thành trì, có các điểm đặt súng, đại bác để phòng thủ khi bị tấn công và sở hữu riêng một nguồn nước nằm sâu trong lòng đất để dùng khi cần trốn kẻ thù. Cung điện xây dựng cho quốc vương Yahya nhưng thực tế ông lại không có nhiều thời gian tận hưởng vì bị ám sát vào năm 1948. Ảnh: Shutterstock.

Ngày nay, cung điện được chuyển thành bảo tàng và mở cửa cho khách tham quan tự do hoặc theo tour, khám phá các căn phòng và mê cung những cầu thang bên trong. Nhiều du khách từng tới Dar al-Hajar để lại nhiều lời khen trên TripAdvisor. Ảnh: Shutterstock.

Du khách có tài khoản 63jonesthecat chia sẻ: “Một nơi tuyệt vời. Tôi đến Yemen một tháng và đây là một trong những chỗ đẹp nhất tôi từng thấy trong đời”. Các du khách khác cũng cho rằng Dar al-Hajar là nơi “phải tới”. Ảnh: Shutterstock. 

Bên cạnh kiến trúc và lối trang trí độc đáo bên trong của cung điện, Dar al-Hajar còn có những ban công, cửa sổ với view ngắm bao quát và đẹp ngoạn mục. Du khách nào tới đây cũng phải trầm rồ khi được ngắm nhìn vẻ đẹp mộc mạc, nguyên sơ mà quyến rũ của thung lũng và những ngọn núi đá Wadi Dhahr. Video: SaddamHattami.

Khánh Trần (theo OA)

Làm kẻ ngốc trên đời không phải thiệt thòi mà là cảnh giới trí tuệ thâm sâu

Nhiều người cho rằng sống trên đời khôn ngoan một chút thì được thoải mái hơn một phần. Vậy nên ai cũng tranh tranh đoạt đoạt, cố giành phần lợi cho mình. Nhưng thông minh quá liệu có thực sự là chuyện tốt? 

Người đời hay nói “Khôn sống, mống chết“, xem ra câu ấy không phải lúc nào cũng thật đúng. Khôn ngoan, tài giỏi lắm thì thường gặp vạ. Cổ nhân nói: “Anh hùng đa nạn, hồng nhan đa truân” là vậy.

Mother carrying her Daughter

Hơn 2000 năm trước, Trang Tử cũng từng nói: “Khôn chết, dại chết, biết sống“. Chuyện kể rằng, một hôm Trang Tử cùng học trò ra ngoài vân du, ngắm cảnh núi sông. Lúc lên núi chơi, họ bắt gặp mấy người tiều phu đứng bên cạnh một gốc cây to đùng, cành lá rườm rà, quặt quẹo. Mấy tiều phu nói với nhau: “Cây này chẳng dùng vào việc gì được, tìm cây khác mà đốn vậy“. Trang Tử quay sang bảo với học trò: “Cái cây này vì bất tài mà thoát chết vậy“.

Lúc sau, họ đi xuống một thôn làng dưới chân núi, vào nhà người quen thăm hỏi. Chủ nhà thấy Trang Tử đến thì mừng lắm, sai gia nhân đi chuẩn bị tiệc chiêu đãi cho mấy thầy trò. Gia nhân hỏi: “Có hai con chim, một con biết gáy, một con không. Thịt con nào ạ?“. Chủ nhà nói: “Thịt con không biết gáy“.

Học trò ngơ ngác nhìn Trang Tử hỏi: “Hôm qua thầy bảo cái cây vì bất tài mà được sống, sao hôm nay con chim không biết gáy lại phải chết?“. Trang Tử ôn tồn giảng: “Có tài hay là bất tài thì cũng đều không tốt cả. Khôn chết, dại cũng chết, chỉ có biết mới sống“.

“Biết” ở đây chính là hiểu thời thế, biết tiến biết lùi, biết lúc nào nên khôn, lúc nào nên dại, biết hàm dưỡng trong xử thế. Lão Tử cũng từng giảng: “Đại trí nhược ngu“, ý tứ là những bậc có trí tuệ lớn thường nhìn bề ngoài như ngốc nghếch. Đương nhiên họ không ngốc thật, chỉ là biết cách cư xử mà thôi.

***

Lại kể một chuyện nữa, một lần Khổng Tử vượt nghìn dặm xa xôi đến thỉnh giảng Lão Tử về Đạo. Đàm đạo cùng nhau mãi, cuối cùng trên đường tiễn Khổng Tử, Lão Tử nói mấy câu này:

Ông phải nhớ kỹ: Không tranh với đời, thì thiên hạ không ai có thể tranh cùng, đó là học theo đức của nước vậy. Nước gần với Đạo. Đạo không nơi nào không có, nước không nơi nào không có lợi, tránh chỗ cao mà về chỗ thấp, chưa bao giờ trái ngược, là giỏi tìm chỗ đứng.

Ông lần này đi rồi, nên bỏ cái ngạo khí trong lời nói và biểu cảm, xóa bỏ cái chí dục ở dung mạo. Nếu không, người chưa đến mà tiếng tăm đã đến, thân chưa tới mà gió đã động, hiển lộ phô trương, như hổ đi trên phố, ai dám dùng ông?“.

Khổng Tử là bậc hiền nhân quân tử, ôm cái chí cao vọng muốn sửa đổi lễ phép của thiên hạ, hướng lòng người về truyền thống, có thể nói là tài năng hơn người, vạn người hiếm gặp. Nhưng cũng chính vì thanh danh của Khổng Tử quá lớn như vậy nên chẳng có bậc quân chủ nào thực bụng dùng ông.

Lão Tử thậm chí đã tiên đoán được trước cuộc đời Khổng Tử, ấy là ngạo khí quá cao, chí dục quá lớn nên long đong bao nhiêu nước mà chẳng tìm được minh quân để thực hành đạo học của mình.

Phàm là người khôn thì đều là giả ngốc, biết một trượng nhưng chỉ nói một thước, tài học mênh mông như nước Đông Hải nhưng thể hiện ra bên ngoài thì có phần hồ đồ, nông cạn. Ấy mới thực sự là người khôn thật sự vậy.

Ngẫm kỹ ra, trên đời, ngốc nghếch một chút cũng tốt. Sống đơn giản thì đời thanh thản, không so đo được mất thì nhẹ nhõm tâm thân, tự tại an nhiên. Việc gì cũng kỹ càng, sáng suốt quá thì dễ khiến tâm can tổn thương, lao tâm khổ lực, mệt mỏi vô cùng.

Người quân tử nhìn sự vật đều là phóng khoáng, khoan dung, cho nên cũng không cầu sự tranh đoạt. Chỉ có kẻ tiểu nhân mới soi xét kỹ càng, xét nét tiểu tiết. Do vậy những bậc anh hùng thực sự trên đời đều ít nhiều có chút “dại dột” trong con mắt người khác vậy.

Trong lịch sử, có biết bao nhiêu kẻ kiêu dũng vì quá ngạo mạn mà phải chịu kết cục thảm bi. Văn Chủng cùng với Phạm Lãi, làm quân sư cho Việt Vương Câu Tiễn. Sau này khi đại nghiệp của Câu Tiễn đã thành, Phạm Lãi lập tức cáo quan đi du ngoạn sông hồ, ai cũng cho là dại. Văn Chủng không nghe lời khuyên của bạn, cứ ở lại hầu hạ Câu Tiễn.

Cuối cùng, Phạm Lãi sau này kinh doanh phát đạt, trở thành đại thương nhân. Còn Văn Chủng ở lại bị Câu Tiễn nghi ngờ, cuối cùng dùng kiếm chém chết. Nếu Văn Chủng có thể biết “dại dột” hơn một chút thì có lẽ số phận đã không ngang trái như vậy.

Ngốc nghếch không phải là xuẩn ngốc, mà là sống chân thật, trung hậu với người.

Ngốc nghếch không phải là cam chịu bắt nạt, mà là rộng lượng, phóng khoáng.

Ngốc nghếch không phải là kém cỏi, mà là nhường nhịn, ẩn nhẫn trước dòng đời.

Người làm ra bộ ngốc nghếch thực ra đều nhìn thấu lẽ đời, chỉ là họ không thích soi mói, tranh đua hơn thiệt mà thôi.

Nhân sinh như mộng, cùng lắm là mấy chục năm trời hưởng niềm hoan lạc thế gian, hà tất phải so đo hơn thiệt, vì mối lợi nhỏ mà nhìn nhau như kẻ thù.

Không tranh với đời thì chính là người trí huệ, biết buông bỏ lại là cảnh giới của cao nhân, hoàn toàn không phải kẻ ngu ngốc.

Phật gia giảng, mọi thứ có được ở kiếp này đều là phúc đức kiếp trước dồn tích lại, căn bản không phải bởi vì tranh giành mà có được, càng không phải do khôn ngoan mà chiếm lấy.

Người ngốc nghếch một chút, dại khờ một chút thì đêm kê cao gối ngủ an lành, ra đường không sợ tai họa rình rập, quan hệ với người thì cũng chẳng e ngại, ý tứ trước sau.

Tâm nhàn chính là phúc khí lớn nhất của đời người. Không tranh thì tự nhiên được ung dung, thanh thản. Dại khờ một chút cũng có sao? Chính là:

Người nhàn hoa quế rụng rơi
Đêm xuân thanh tĩnh núi đồi lặng thinh
Trăng lên chim núi giật mình 
Tiếng kêu thảng thốt trong ghềnh suối xuân

(Điểu minh giản – Vương Duy)
Bản dịch: DKN / Văn Nhược 

Người lương thiện là người thông minh nhất

Thông minh chưa hẳn đã lương thiện nhưng người lương thiện chắc chắn là người thông minh nhất
Ảnh ghép minh họa: Đại Kỷ Nguyên
Thông minh và khôn khéo được cho là những lợi thế giúp con người sống dễ dàng hơn trong một xã hội ngày càng cạnh tranh. Tuy nhiên, câu chuyện của nhà sáng lập Amazon, Jeff Bezos khiến không ít người giật mình tự hỏi: “Thông minh liệu có quan trọng hơn tất cả”?Ông Jeff Bezos, sáng lập viên và CEO của Amazon, là một trong những gương mặt quyền lực nhất trong làng công nghệ thế giới. Tuy nhiên, không chỉ là một người giàu có bậc nhất, ông còn là một người có ý chí, nghị lực và nhân cách khiến nhiều người ngưỡng mộ.

Trong một lần tham gia buổi lễ tốt nghiệp năm 2010 tại trường Princeton, nơi ông theo học thời đại học, Jeff đã chia sẻ lại câu chuyện từ thuở ấu thơ của ông. Câu chuyện sau đó đã đánh thức trong tâm hồn hàng triệu người câu hỏi: “Thông minh liệu có quan trọng hơn tất cả?”:

“Khi còn là một đứa trẻ, tôi thường dành thời gian nghỉ hè của mình ở trang trại của ông bà tại Texas. Tôi giúp ông bà sửa chữa máy quạt thóc, tiêm vacxin cho bò và làm các công việc nhà khác. Vào mỗi buổi chiều, chúng tôi cùng nhau xem những vở kịch opera, đặc biệt là vở “Năm tháng của đời người”.

Suốt quãng đời tuổi thơ, tôi luôn mong đợi những ngày như thế. Tôi vô cùng yêu quý và kính trọng ông bà của mình. Tôi thầm cảm ơn số phận đã mang họ đến bên tôi, trở thành những người thân yêu nhất trong cuộc đời của tôi.

Những buổi sáng với tiếng gõ leng keng của ông và tiếng thái gọt đồ ăn của bà luôn là miền ký ức trong trẻo đầy sức mê hoặc đối với tâm hồn tôi.

Nhưng có một điều tôi không thích nhất chính là mùi thuốc lá, đặc biệt trong những lần du lịch. Tôi sẽ ngồi ở chiếc ghế băng dài phía sau xe và người lái xe đương nhiên là ông nội. Còn bà nội tôi sẽ ngồi cạnh ông, bà thường không nói gì nhiều và chỉ hút thuốc.

Ngay từ nhỏ tôi đã yêu thích những con số và thường tính toán tất cả mọi thứ trong cuộc sống, từ lượng dầu tiêu hao cho đến những chi tiêu buôn bán tạp hóa, từ tiền mua gà cho tới tiền mua những thứ nhỏ nhặt như tỏi, tiêu.

Một lần, tôi tình cờ nghe được một bài quảng cáo về thuốc lá trên truyền hình. Chẳng giống như những đứa trẻ cùng tuổi bị hấp dẫn bởi những hình ảnh động thú vị, tôi quan tâm tới nội dung chính.

Người ta nói rằng mỗi điếu thuốc lá sẽ làm giảm vài phút tuổi thọ, chính xác là khoảng hai phút. Vì thế tôi quyết định vì bà mà làm một phép tính toán.

Tôi đã dành một ngày để quan sát bà, tôi tính xem mỗi ngày bà tôi hút mấy điếu thuốc, mỗi điếu thuốc hút mấy hơi, cuối cùng cũng tính được một con số hợp lý.

Hôm đó, sau khi hoàn thành sự tính toán của mình, tôi ngả người về phía trước vỗ bờ vai của bà và kiêu ngạo tuyên bố: “Nếu như hai phút hút một hơi thuốc thì bà sẽ giảm 9 năm tuổi thọ”.

Tôi nhớ rất rõ ràng chuyện gì đã xảy ra sau đó và điều ấy nằm ngoài dự liệu của tôi. Tôi kỳ vọng sự thông minh và khả năng tính toán của mình sẽ nhận được lời khen ngợi nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại.

Bà nội tôi đã bật khóc, còn ông tôi trước đó luôn chăm chú lái xe bỗng dừng lại một bên đường. Ông xuống xe, mở cửa và tỏ ý đợi tôi xuống.

Tôi bàng hoàng tự hỏi liệu tôi đã gây ra phiền phức hay sao? Ông nội tôi là một người trí tuệ và điềm tĩnh. Ông chưa bao giờ nói lời nghiêm khắc với tôi hay bực mình với tôi chuyện gì. Hay là ông muốn tôi quay trở lại xe và xin lỗi bà nội?

Trong đầu tôi quay cuồng với các loại suy nghĩ và không ngừng lo lắng về điều sắp xảy ra với tôi. Chúng tôi đứng ở bên đường cách chiếc xe một đoạn.

Ông nội nhìn sâu vào mắt tôi, trầm ngâm một lát sau đó nhẹ nhàng nói: “Jeff à, có một ngày cháu sẽ hiểu, lương thiện so với thông minh càng khó hơn”.

Đó là câu nói khiến tôi, một người luôn tràn đầy tự tin vào sự thông minh của bản thân thực sự ngỡ ngàng và chấn động. Mỗi ngày lớn lên tôi lại hiểu thêm về câu nói của ông. Điều tôi nói có thể chẳng sai chút nào, nó là khoa học. Điều tôi hiểu là trong mỗi điếu thuốc ấy có hàng tá chất độc gây tác hại đối với sức khỏe như thế nào.

Nhưng điều quan trọng nhất tôi không thể hiểu cho tới ngày hôm đó chính là đằng sau mỗi điếu thuốc bà hút có thể là biết bao tâm sự, biết bao suy tư về những thăng trầm đã qua, về một nỗi buồn niềm đau nào đó mãi hằn in trong lòng bà chẳng thể nguôi ngoai”.

***

Quả thực trong đời sống này, điều chúng ta có thể tiếp nhận là tri thức, nhưng điều không thể tiếp nhận mà phải dung dưỡng là một tấm lòng lương thiện.

Bởi lương thiện ấy không phải là một loại lý thuyết, mà là sự hòa hợp giữa ý niệm và hành vi, là bản chất nguyên sơ của sinh mệnh nguyên thủy của con người.

Người ta cho rằng càng hiểu biết nhiều thì càng thông minh, càng thông mình thì càng biết thu vén cái lợi cho mình, như thế cuộc sống sẽ ngày càng sung sướng, hạnh phúc.

Nhưng càng thông minh, càng khôn khéo, càng tư lợi, con người lại càng đánh mất sự thuần khiết, thuần tịnh vốn có của mình.

Vì lương thiện nên biết đủ, vì lương thiện mà biết tha thứ, không so đo tranh giành, không ganh đua ân oán từ đó mà nội tâm thanh tịnh, an hòa. Người có nội tâm thiện lương, tĩnh lặng sẽ sáng suốt, có thể thực thi bất kể sự việc gì bằng cả tấm lòng mình mà không bị được mất hay danh tiếng ràng buộc, ức chế.

Người ta nói lương thiện là một loại trí huệ. Người thông minh chưa hẳn đã lương thiện, nhưng người lương thiện chắc chắn là người thông minh nhất.

Lý Minh / DKN

Nước Mỹ và vấn nạn nô lệ thời lập quốc


Biểu tình tại Los Angeles liên quan đến cái chết của ông George Floyd.
Biểu tình tại Los Angeles liên quan đến cái chết của ông George Floyd.

“Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc.” – Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, công bố ngày 4 tháng Bảy năm 1776.

Một trong năm tác giả chính của tuyên ngôn này là Thomas Jefferson, như chúng ta đã biết [1]. Vị Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ, vì thế, đã trở thành biểu tượng của tự do, bình đẳng, và nhân quyền trên toàn cầu.

Mọi người là gồm những ai?

Vấn đề là, Jefferson vào lúc đó có xem người da đen, người nô lệ, là con người không?

Không riêng gì Jefferson, những nhà lập quốc Hoa Kỳ khác, như George Washington, James Madison (một trong các tác giả chính của Hiến pháp Hoa Kỳ), Benjamin Franklin, James Monroe v.v… nghĩ sao về người da đen, về vấn đề nô lệ?

Một mặt, không ai biết rõ trong đầu các nhà lập quốc Hoa Kỳ nghĩ gì vào lúc đó, cho dầu phần lớn các suy nghĩ của họ về bao vấn đề khác nhau được lưu trữ cho đến nay. Mặt khác, lời mở đầu của hiến pháp nói như sau [2]:

Chúng tôi, nhân dân Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ, với mục đích xây dựng một Liên Bang hoàn hảo hơn nữa, thiết lập công lý, đảm bảo bình yên trong nước, cung ứng phòng thủ chung, cổ võ sự thịnh vượng chung, bảo an nền tự do cho bản thân và con cháu chúng ta, chỉ định và xây dựng Hiến pháp này cho Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ.

Hai năm sau đó, 10 tu chánh án được thông qua với mục tiêu bảo đảm các quyền căn bản của mọi người dân Hoa Kỳ.

Nhưng rõ ràng người da đen, người nô lệ, không được xem là con người vào lúc đó.

Nói đúng hơn, thì họ không được xem là công dân của Hoa Kỳ, theo hiến pháp này.

Không những thế, bản hiến pháp ngay từ đầu đã chính thức công nhận thực trạng của nô lệ, và xem người nô lệ lúc đó chỉ trị giá ba phần năm (3/5) của một người tự do, mà chủ yếu vì lý do bầu cử (vào Hạ viện), thuế má và thoả thuận chính trị vào lúc đó [3]. Nó cũng cho những người sở hữu nô lệ quyền bắt giữ những ai trốn khỏi tiểu bang của mình, và cấm việc hủy bỏ buôn bán nô lệ trước năm 1808.

Điều này cho thấy một sự khác biệt căn bản giữa Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 và Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1789 và 1791 về vấn đề ai mới thực sự được sở hữu các quyền này, chứ không phải là mọi người sống trên đất nước này.

Jefferson, một mặt, lên án sự vô luân của nạn buôn bán nô lệ vì nó ngược lại các quyền tự nhiên của họ, nhưng mặt khác, miễn trừ cho người Hoa Kỳ về bất kỳ trách nhiệm nào trong việc sở hữu nô lệ. Jefferson, và chắc nhiều người khác, biện luận rằng vấn nạn nô lệ đã hiện hữu trên nước Mỹ từ đầu thế kỷ 17, tức trước thời họ gần 200 năm.

Dù biện luận thế nào đi nữa, chính sự mâu thuẫn này trong đạo đức, không phải trong pháp luật, đã đưa đến cuộc nội chiến Hoa Kỳ vào đầu nhiệm kỳ của tổng thống Abraham Lincoln. Số người chết trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ không phải 618.222 người, mà theo nghiên cứu mới nhất được ghi nhận, lên đến 750.000 người [5].

Jefferson và vấn đề sở hữu nô lệ

Jefferson, và bao nhiêu nhà lập quốc khác, kể cả tổng thống đầu tiên, George Washington, cũng như ba tổng thống Hoa Kỳ sau Jefferson là James Madison, James Monroe và Andrew Jackson, đều sở hữu nô lệ vào lúc đó [5]. Jefferson không chỉ sở hữu, mà còn có quan hệ tình dục với một người phụ nữ da đen, một người nô lệ của mình, tên Sally Hemings, dựa theo các bằng chứng về Jefferson và các hậu duệ đến nay, kể cả các thử nghiệm DNA [6]. Một số nguồn nghiên cứu cho rằng hai người có sáu người con với nhau.

Sally Hemings, thật ra, không phải là một nô lệ bình thường. Bà Hemings là chị em cùng cha khác mẹ với bà Martha Skelton Jefferson, vợ của Jefferson, trước khi lấy chồng có tên họ là Wayles. Cha của Martha là John Wayles, là một luật sư và một người buôn nô lệ, có quan hệ tình dục với Betty Hemings, đẻ ra sáu người con, con út là Sally Hemings. Martha mất vào năm 1782, nên trong chuyến công vụ đến Pháp vào năm 1787, kéo dài hai năm, Jefferson đã góa vợ. Hemings lúc đó mới 14 tuổi, đã tháp tùng Jefferson với người con gái Mary Jefferson Eppes, lúc đó chỉ 9 tuổi. Nhiều học giả tin rằng Jefferson đã có quan hệ tình dục với Hemings từ chuyến đi Pháp này, hay lúc về lại Virginia, khi Hemings 16 tuổi.

Trong số 700 người nô lệ mà Jefferson sở hữu trong suốt cuộc đời mình, chỉ có Sally Hemings và sáu người con của bà (với Jefferson) đã được cho rời khỏi cuộc đời nô lệ tại Monticello do sự chỉ định của Jefferson [7].

Cũng vì các điều này mà biểu tượng và thanh danh Jefferson về tự do, bình đẳng v.v… đã phần nào bị ảnh hưởng tiêu cực.

Khác với Thomas Jefferson, George Washington và Benjamin Franklin, hai nhà lập quốc khác của Hoa Kỳ, không ủng hộ chế độ nô lệ. Trong di chúc trước khi mất năm 1799, Washington có ước nguyện muốn trả tự do cho tất cả nô lệ của mình khi ông/vợ ông chết, mặc dầu sự trao trả tự do cho họ không hề đơn giản [8]. Franklin cũng sở hữu nô lệ lúc trẻ, nhưng ông đã nhiệt thành vận động xóa bỏ nô lệ lúc về già, đặc biệt qua Thỉnh Nguyện thư gửi đến quốc hội Hoa Kỳ, Hạ viện vào ngày 12 tháng Hai và Thượng viện vào ngày 15 tháng Hai năm 1790, nhưng không thành [9]. Franklin đã chết hai tháng sau, ngày 17 tháng Tư năm 1790, thọ 84 tuổi.

Di sản nô lệ

Theo giáo sư sử học và luật học tại đại học Harvard, Annette Gordon-Reed, khác với sự phục vụ mang tính hợp đồng của những người nhập cư châu Âu đến Bắc Mỹ, chế độ nô lệ tại Mỹ là một điều kiện được thừa hưởng [10]. Vì thế cho nên chế độ nô lệ này bị ràng buộc chặt chẽ với sự thống trị của người da trắng. Do đó mà ngay cả những người nô lệ được trả tự do, bằng cách này hay cách khác, sớm hay muộn, đều được xem là hạ cấp trong mắt người da trắng; ngược lại, màu trắng liên quan đến sự cao cấp, thượng đẳng và tự do. Cho nên vật lộn với di sản của chế độ nô lệ, vì thế, đòi hỏi phải vật lộn với thượng đẳng da trắng mà đã hiện hữu trước khi thành lập Hoa Kỳ và vẫn tiếp tục tồn tại sau khi chấm dứt chế độ nô lệ hợp pháp.

Theo nghiên cứu của Gs Gordon-Reed, một vài tuần trước khi nội chiến Hoa Kỳ xảy ra năm 1861, Alexander Stephens, Phó Tổng thống của Confederacy (phía tách rời liên bang Hoa Kỳ), cho là người da đen (negro) không thể nào bình đẳng với người da trắng, và rằng nô lệ – phục tùng cho chủng tộc siêu hạng – là điều kiện tự nhiên và bình thường của hắn ta (Slavery – subordination to the superior race – is his natural and normal condition). Cho nên Gs Gordon-Reed biện luận rằng “Để đối đầu với di sản của chế độ nô lệ mà không công khai thách thức thái độ chủng tộc đã tạo ra và định hình thể chế là bỏ một bên biến số quan trọng nhất ra khỏi phương trình”.

Nhìn như thế, lá cờ của Confederacy, hay các biểu tượng đại diện cho Confederacy, như của tướng Robert E. Lee chẳng hạn, không đơn thuần là một vấn đề lịch sử cần phải quên đi; nó còn là một biểu tượng của di sản nô lệ trong đó thành phần thượng đẳng da trắng vẫn muốn tiếp tục duy trì. Cách đối xử thô bạo của cảnh sát với người da đen, như vụ George Floyd vừa qua, cho thấy óc phân biệt vẫn còn hiện hữu trong một số thành phần xã hội tại Mỹ.

Gs Gordon-Reed kết luận để hiểu những vấn đề nhức nhối hiện nay thì “không chỉ nhìn vào chế độ nô lệ mà còn nhìn vào di sản lâu dài nhất của nó: việc duy trì thượng đẳng da trắng”.

Nhiều người Mỹ da trắng, điển hình nhất là bà Eleanor Roosevelt, một trong những tác giả chính của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, hiểu được những bất công oan ức mà người Mỹ gốc Phi đã chịu đựng trong suốt mấy trăm năm qua. Lúc còn sống, bà Roosevelt đã tranh đấu không ngừng nghỉ cho quyền sống của họ, và tìm cách cứu những mạng sống rẻ mạt của người da đen mặc dầu chế độ nô lệ đã không còn hiện hữu sau Tu Chính Án 13 năm 1865. Nên nhớ, vào thập niên 1930, người Mỹ da trắng có thể bắn giết người da đen mà không hề hấn gì, dù không có đủ bằng chứng họ có tội tình gì. Có những lần bà Roosevelt đã tìm cách thuyết phục tổng thống Franklin Delena Roosevelt (FDR) can thiệp để cứu những mạng sống này. Bà cũng đã vận động để ông FDR gặp gỡ lắng nghe tiếng nói của lãnh đạo người da đen, và vận động để người da đen được tham gia tích cực vào các vai trò khác nhau trong Thế Chiến II. Phong trào đấu tranh quyền dân sự (Civil Rights Movement) đã đạt được những thành quả tích cực về công bằng xã hội vào thập niên 1960, đưa đến những cải tổ sâu rộng về luật pháp liên quan đến kỳ thị chủng tộc [11]. Nhiều người Mỹ da trắng cấp tiến đã đứng về phía công lý, nhưng không phải tất cả.

Rất tiếc, vấn nạn kỳ thị vẫn còn tiếp diễn, cho đến nay.

Những công dân Hoa Kỳ, kể những người Việt đến trước hay sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 mà giờ đây là công dân Mỹ, đều có quyền hãnh diện về quốc gia này. Đây là cái nôi của cuộc cách mạng chuyển hóa quyền lực từ quân chủ sang dân chủ, của nhân quyền, của quyền lực cứng và mềm, có sức hút mãnh liệt nhân tài khắp nơi, và đã là trọng lực đáng kể nhất từ sau Thế Chiến II để bao nhiêu quốc gia khác noi gương chuyển hóa dân chủ. Nhưng với một di sản nô lệ kéo dài 400 năm như thế, mà tư duy thượng đẳng da trắng vẫn còn hiện hữu mạnh trong lòng người Mỹ, thì sự hòa giải và bình đẳng vẫn còn lắm thử thách trên quốc gia này. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã tiến hành một cuộc cách mạng để đời cho thế giới học hỏi, nhưng di sản nô lệ vẫn mãi là vết nhơ của lịch sử. Viết ra ở đây không phải là để trách bất cứ ai cả nhưng cốt để nói lên thực tế rằng, tất cả đều là con người, dù vĩ đại, nhưng vẫn có những giới hạn của mình, và bị tác động mạnh mẽ bởi quá khứ và bối cảnh chung quanh.

Nguồn gốc tội lỗi và sai lầm, cái niềm tin mình đương nhiên thượng đẳng hơn người khác, vẫn còn thì làm sao có thể xóa bỏ kỳ thị, phân biệt!

Phạm Phú Khải / VOA

Từ nhỏ, gia đình bảo giỏi toán. Lớn lên, quyết định học kỹ sư, tưởng sở trường của mình.

Về sau, thích hoạt động xã hội, đam mê tìm hiểu các hành vi con người và chính trị được định hình bởi các yếu tố nào.

Gần đây, càng làm việc liên quan đến con người, và càng nghiên cứu nhiều hơn, tôi tìm thấy khoa học hành vi và khoa học xã hội (Behavioural Science and Social Science), trong đó tâm lý, nhất là địa hạt khoa học thần kinh (neuroscience), giải thích được rất nhiều về cách suy nghĩ và hành xử của con người.

Tôi hy vọng có dịp chia sẻ với bạn đọc về những vấn đề cùng quan tâm, và mong được học hỏi từ mọi người qua trang blog này.

Các bài viết của Phạm Phú Khải là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.

Phố Wall và London trở thành tay sai của Bắc Kinh như thế nào?

Lenin có câu nói: “Các nhà tư bản sẽ bán cho chúng tôi sợi dây thừng mà chúng tôi sẽ dùng để treo cổ họ”, và các nhà tài phiệt Phố Wall đã bán cho Bắc Kinh sợi dây này suốt hơn 2 thập kỷ qua…

Vào tháng 11 năm 2018 Peter Navarro, cố vấn thương mại của Nhà Trắng lúc đó có liên quan mật thiết đến cuộc chiến thương mại của Tổng thống Trump với Bắc Kinh, đã phát động một cuộc tấn công gay gắt vào cái mà ông gọi là “các nhà tỷ phú toàn cầu” của Phố Wall.

Ông cáo buộc “nhóm ngân hàng Phố Wall và các nhà quản lý quỹ phòng hộ” đã tham gia vào “ngoại giao con thoi” của riêng họ với phía Trung Quốc và cố gắng phá hoại các cuộc đàm phán thương mại của Mỹ bằng cách gây áp lực lớn lên Nhà Trắng để nhường chỗ cho Bắc Kinh. Ông Navarro tiếp tục cáo buộc giới tinh hoa tài chính là “các tay sai ngoại bang chưa đăng ký” hoạt động như một phần của các hoạt động ảnh hưởng của Bắc Kinh tại Washington.

Đó là quan điểm mạnh mẽ, nhưng cơ sở thực tiễn là gì?

Bắc Kinh đã làm việc với Phố Wall trong một thời gian dài. Khi Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đến thăm Hoa Kỳ vào năm 1999, ông đã ẩn náu tại khách sạn Astoria của New York và dành nhiều ngày trong các cuộc gặp mặt với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. “Ông Chu dường như không bao giờ mệt mỏi với việc tán tỉnh doanh nghiệp Mỹ,” The New York Times đưa tin.

Những người khổng lồ của tài chính Hoa Kỳ trong nhiều thập kỷ đã  định hướng chính sách quốc gia của Mỹ về Trung Quốc. Bất cứ khi nào các tổng thống Clinton, Bush hay Obama đe dọa sẽ có lập trường cứng rắn hơn về chủ nghĩa bảo hộ thương mại, thao túng tiền tệ hoặc trộm cắp công nghệ của Trung Quốc, các lãnh đạo Phố Wall đã sử dụng ảnh hưởng của mình để thuyết phục họ lùi bước. Và chính áp lực từ Phố Wall đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của Nhà Trắng, Clinton ủng hộ việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, bất chấp việc Trung Quốc vi phạm hầu hết các nguyên tắc của tổ chức này.

Hai mươi năm sau, The New York Times đã viết: “Ở Washington, trên Phố Wall và trong các phòng họp của công ty, Bắc Kinh đã sử dụng quy mô của đất nước và lời hứa hẹn trong nhiều thập kỷ để dập tắt sự phản đối và thưởng hậu hĩnh cho những người giúp đỡ họ phát triển”. Các tổ chức tài chính là những người ủng hộ quyền lực nhất của Bắc Kinh tại Washington.

Lĩnh vực tài chính – các ngân hàng lớn, các quỹ phòng hộ và công cụ đầu tư – vì thế nằm ở trung tâm bản đồ quyền lực ở Mỹ, và đỉnh cao là Goldman Sachs. Đối với ĐCSTQ, những gã khổng lồ về tài chính là những mục tiêu dễ dàng, vì có sự hòa hợp về lợi ích. Giám đốc điều hành Phố Wall, dự đoán Bắc Kinh là một mỏ vàng khi nó mở cửa thị trường tài chính rộng lớn cho người nước ngoài, họ đã tư vấn cho các công ty Trung Quốc nên mua công ty nào và cho họ vay tiền để làm điều đó, đổi lại họ chia phần theo giá trị giao dịch. Theo một quan chức cấp cao của Nhà Trắng, “những nhà buôn chứng khoán chuyên nghiệp thực sự thích Đảng Cộng sản Trung Quốc”.

ĐCSTQ đang mở toang cánh cửa. Nhưng sự liên kết lợi ích có thể không lâu dài, vì ý định của Bắc Kinh là cuối cùng biến Thượng Hải trở thành thủ đô tài chính của thế giới, thay thế New York và Thành phố London. Như Lenin đã nói: “Các nhà tư bản sẽ bán cho chúng tôi sợi dây thừng mà chúng tôi sẽ dùng để treo cổ họ”.

Đến năm 2003, Goldman Sachs “đã trở thành người bảo lãnh phát hành chứng khoán chính cho các công ty nhà nước lớn của Trung Quốc”. Năm 2006 Henry Paulson chuyển từ Giám đốc điều hành của Goldman Sachs sang Bộ Trưởng Tài chính dưới thời George W. Bush, mang theo một mạng lưới quan hệ giá trị nhất với giới thượng lưu Trung Quốc. Paulson đã đến thăm đất nước này khoảng bảy mươi lần. Ông xin tổng thống xem liệu ông có thể nhận trách nhiệm về chính sách kinh tế Trung Quốc của Mỹ hay không, và Bush đã đồng ý.

Nhưng Paulson, theo đánh giá của tác giả và nhà báo Paul Blustein viết trong Chính sách đối ngoại, đã sai lầm. Blustein lập luận rằng nếu Paulson phản ứng mạnh mẽ hơn với thao túng tiền tệ của Bắc Kinh, kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp nhà nước, chính sách ngược đãi các doanh nghiệp Mỹ ở Trung Quốc và chương trình trộm cắp công nghệ, thì điều kiện dẫn đến chiến tranh thương mại có thể không xảy ra. Thay vì đề xuất các hành động trả đũa để bảo vệ các công ty Mỹ, Paulson đã làm việc để chống lại họ tại Quốc hội, đề xuất tổ chức “Đối thoại kinh tế chiến lược” bắt đầu vào tháng 12 năm 2006. Không cần phải nói, điều này mang lại lợi thế cho Bắc Kinh.

Paulson, một người bạn tốt của thị trưởng Bắc Kinh thời bấy giờ là Vương Kỳ Sơn, khi đó đã có khuynh hướng ôn hòa với những nỗ lực của Đảng trong việc mở cửa nền kinh tế; Paulson đã bị thao túng. ĐCSTQ đã kéo ông ta đi sâu hơn vào vòng tay của họ, khơi dậy nhận thức về quyền lực ảnh hưởng của chính ông ta. Ông ta thậm chí đã có cuộc họp ngắn riêng tư, một đối một với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào.

Sau khi Paulson rời nhiệm sở năm 2009 – thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra – trong thời gian đó, ông đã gọi điện cho Vương và cầu xin ông ta ra lệnh cho một ngân hàng nhà nước Trung Quốc bảo lãnh cho Bear Stearns – một hãng tay chân của Goldman Sachs đã thành lập Viện Paulson, đồng thời tận tâm “củng cố mối quan hệ Mỹ-Trung phục vụ duy trì trật tự toàn cầu”.

John Thornton là một cựu binh có ảnh hưởng khác của Goldman Sachs. Ông đã lãnh đạo Goldman vào Trung Quốc và khi ông nghỉ hưu với tư cách là chủ tịch ngân hàng năm 2003, ông trở thành giám đốc Chương trình Lãnh đạo Toàn cầu tại Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh. Thornton là một người ủng hộ mạnh mẽ chương trình học bổng tại Thanh Hoa được tài trợ bởi nhà đầu tư tỷ phú và là bạn của Tổng thống Trump, Stephen Schwarzman, và ông là thành viên của một số tập đoàn hàng đầu của Trung Quốc và Mỹ. Năm 2006, ông đã đưa tiền của mình vào một Trung tâm Trung Quốc mới tại Viện Brookings, nơi ông là chủ tịch của hội đồng quản trị. Năm 2008, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trao cho ông giải thưởng cao nhất dành cho người nước ngoài, Giải thưởng Hữu nghị của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Phần này của câu chuyện Phố Wall sẽ không hoàn chỉnh nếu không đề cập đến quỹ đầu tư BlackRock của Mỹ, lớn nhất thế giới, tổng giá trị tài sản do quỹ này quản lý lên tới 6,5 nghìn tỷ đô-la. Năm 2019, Giám đốc điều hành của quỹ, Larry Fink, nói với các cổ đông của công ty rằng ông dự định biến BlackRock thành một trong những nhà quản lý tài sản hàng đầu của Trung Quốc, nói rằng ông sẽ sẵn sàng tận dụng khi Bắc Kinh mở cửa thị trường vốn cho người nước ngoài, và ông nhắm mục tiêu trở thành một trong những nhà quản lý tài sản nước ngoài đầu tiên gây quỹ bằng đồng nhân dân tệ ở Trung Quốc.

Trong khi sức mạnh của Phố Wall trong việc ảnh hưởng tới chính sách với Trung Quốc là có thực, năm 2017 đã có một điều gì đó thay đổi. Các nhà sản xuất Mỹ quyết định rằng họ đã chịu đựng đủ việc tài sản trí tuệ của họ bị đánh cắp và họ không thể tiếp tục chờ đợi Bắc Kinh thực hiện lời hứa tự do hóa nền kinh tế Trung Quốc và cung cấp một sân chơi bình đẳng cho các công ty Mỹ.

Phòng Thương mại Hoa Kỳ đã công bố một báo cáo cho biết như vậy, thúc đẩy một khoảng cách nữa giữa tài chính và sản xuất, một lỗ hổng cho phép chính quyền Trump, được ủng hộ bởi đảng Dân chủ, tăng cường sức mạnh cho Bắc Kinh. Điều này đã buộc giới tài chính phải vận động hành lang và phối hợp chặt chẽ hơn với các đồng minh ở Bắc Kinh.

Các thái tử Đảng của Phố Wall

ĐCSTQ đã không bằng lòng chỉ dựa vào sự phối hợp lợi ích giữa Bắc Kinh và các công ty tài chính lớn ở phương Tây. Một tuyến kết nối quan trọng khác của sự ảnh hưởng là các “thái tử Đảng” – con trai và con gái của các nhà lãnh đạo Đảng hàng đầu trong quá khứ và hiện tại. Trong nhiều năm, công ty đầu tư khổng lồ thuộc sở hữu nhà nước CITIC đã bị chi phối bởi các thái tử Đảng, cũng như China Poly Group, tập đoàn được xây dựng xung quanh việc sản xuất vũ khí. Thị trường cổ phiếu đang phát triển của Trung Quốc được kiểm soát bởi “tầng lớp quý tộc đỏ” và con cái của họ .

Đối với các quỹ phòng hộ phương Tây, các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và ngân hàng, điều kiện tiên quyết để kinh doanh tại các thị trường vốn Trung Quốc mới nổi, sinh lợi cao là một mạng lưới quan hệ với các gia đình kiểm soát các công ty lớn nhất và thống trị hệ thống quyền lực của Đảng. Trao việc cho con trai, con gái, cháu trai và cháu gái của những gia đình này mang lại mạng lưới quan hệ cá nhân vì lợi ích đôi bên cùng có lợi. Con cái không cần phải có trình độ cao hoặc thậm chí đặc biệt có tài; quan trọng họ là con cháu ai. Con đường sự nghiệp lý tưởng cho một thái tử Đảng là bằng tốt nghiệp tại một trường đại học danh tiếng, tốt nhất là trường đại học Ivy League hoặc Oxbridge, sau đó đi thẳng lên sàn giao dịch của một ngân hàng lớn hoặc quỹ phòng hộ ở New York hoặc London và sau vài năm ở đó, một MBA và sau đó là một công ty Phố Wall.

Một cái nhìn sâu sắc về cách thức hoạt động này được thể hiện qua một cuộc điều tra của Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ năm 2016, dẫn đến việc JP Morgan phải trả 264 triệu đô-la vì vi phạm Đạo luật Thực hành Tham nhũng Nước ngoài. JP Morgan đã bị bắt khi thuê các thái tử Đảng Trung Quốc để giành chiến thắng trong kinh doanh, điều mà ủy ban này mô tả là “hối lộ có hệ thống”. Công ty vận hành cái mà họ gọi là Chương trình Con trai và Con gái , nơi cung cấp hàng tá việc làm ở Hong Kong, Thượng Hải và New York cho con cái thuộc giới thượng lưu của Đảng.

Một người là Gao Jue, con trai của bộ trưởng thương mại Trung Quốc, Gao Hucheng. Là một sinh viên tốt nghiệp gần đây của Đại học Purdue, Gao Jue đã tìm được một công việc sau cuộc gặp giữa cha mình và giám đốc điều hành cấp cao của JP Morgan, William Daley. (Daley là một Bộ trưởng thương mại Hoa Kỳ dưới thời Clinton và đã thúc đẩy Trung Quốc gia nhập WTO. Sau đó, ông giữ chức vụ Chánh văn phòng của Tổng thống Obama).

Kết quả phỏng vấn của Gao Jue kém nhưng được ngân hàng đề nghị một vị trí phân tích đáng thèm muốn. Dễ ngủ gục tại nơi làm việc, anh ta sớm bị đánh giá là một nhân viên “non nớt, vô trách nhiệm và không đáng tin cậy”. Khi việc thu hẹp quy mô diễn ra, ngân hàng sau đó muốn sa thải anh ta, cha anh ta đã đưa người đứng đầu văn phòng ngân hàng Hong Kong, Fang Fang, đến ăn tối và cầu xin cho con trai mình được giữ lại, hứa sẽ “thêm hợp đồng” cho JP Morgan trong giao dịch Trung Quốc. Fang đã bị thuyết phục và một giám đốc điều hành cấp cao ở New York đã đồng ý giữ Gao Jue, mặc dù con trai riêng của giám đốc điều hành đã bị cho nghỉ việc. Công việc là công việc. Khi Gao Jue cuối cùng đã bị cho đi, cậu ta đã nhận các công việc tài chính khác trước khi kết thúc tại Goldman Sachs.

Tất nhiên, có nhiều người Trung Quốc đại lục làm việc trong ngành tài chính Hoa Kỳ có năng lực cao và xứng đáng với vị trí của họ, thường là những người rất cao cấp. Fang là một ví dụ. Ông tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa danh tiếng vào những năm 1980 và sau đó học MBA tại Đại học Vanderbilt ở Nashville. Năm 1993, ông nhận một công việc tại Merrill Lynch, làm việc ở New York và Hong Kong, và năm 2001, ông bắt đầu sự nghiệp 13 năm với JP Morgan, vươn lên vị trí giám đốc điều hành ngân hàng đầu tư Trung Quốc, có trụ sở tại Hong Kong. Trong thời gian đó, ông đã môi giới việc bổ nhiệm nhiều thái tử Đảng vào các vị trí trong ngân hàng. Ông cũng có được kiến ​​thức sâu sắc về tài sản cá nhân của một số giới cầm quyền của Trung Quốc. The New York Times mô tả Fang có một “mạng lưới liên lạc sâu rộng trong giới chính phủ và doanh nghiệp Trung Quốc”.

Mặc dù không phải là hoàng tộc của ĐCSTQ, Fang có quan điểm rất gần với tầng lớp quý tộc đỏ. Fortune mô tả ông là “một nhà điều hành thân thiện với truyền thông có mối quan hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản”. Năm 2011, ông thành lập Hội Hua Jing tại Hong Kong, một câu lạc bộ xã hội dành cho con em của giới thượng lưu đã đi du học và trở về Hong Kong. Nhóm này đã được mô tả là Câu lạc bộ của các thái tử Đảng và là chi nhánh Hong Kong cho các hoàng thân của ĐCSTQ.

Đối với giới thượng lưu ĐCSTQ, sự gắn kết với các bậc thầy của Phố Wall thông qua việc sắp xếp bố trí các thái tử Đảng vào phố Wall quan trọng hơn là vấn đề tìm việc cho con em của họ. Nó là một phương tiện để thu thập thông tin tình báo và gây ảnh hưởng bởi vì nó đặt người cung cấp thông tin và chân tay của mình vào trung tâm quyền lực của Mỹ.

Toàn bộ hoạt động của một công ty Mỹ có thể được báo cáo cho một người cha hoặc một người chú ở Trung Quốc, cùng với thông tin bí mật về các vấn đề cá nhân và tài chính của những người giàu có nhất ở Bắc Mỹ.

ĐCSTQ ở thành phố London

Các tổ chức tài chính châu Âu cũng không chậm chạp trong việc tuyển dụng  các thái tử Đảng. Vào những năm 2000, Deutsche Bank, ngân hàng lớn nhất của Đức, đã sử dụng tiền hối lộ và các hành vi tham nhũng để tiếp cận Trung Quốc, bao gồm cả việc tặng những món quà đắt tiền cho các nhà lãnh đạo, đặc biệt là gia đình của thủ tướng Ôn Gia Bảo và sau đó là thị trưởng Bắc Kinh Vương Kỳ Sơn, hiện nay là thành viên của nội các Bộ Chính trị, Ban thường vụ.

Năm 2009 Deutsche Bank đã đánh bại JP Morgan để giành hợp đồng vì họ đã thuê con gái của chủ tịch của khách hàng. Ngân hàng cũng đã có một chương trình tích cực tuyển dụng con cái của các quan chức quyền lực. Trong số đó có con trai của bộ trưởng tuyên truyền thời đó là Lưu Vân Sơn, và một trong những người con gái của Li Zhanshu – hiện là một trong bảy người trong Ủy ban Thường vụ – mặc dù cả hai đều bị đánh giá là không phù hợp với công việc.

Ở Zurich, Credit Suisse thuê con gái của ông Ôn Gia Bảo. Credit Suisse giữ một bảng tính theo dõi các khoản tiền phải bỏ ra để thuê các thái tử Đảng cùng với số tiền mà họ mang lại. Họ đã thuê hơn 100 con trai, con gái và bạn bè của các quan chức chính phủ cao cấp. Một “công chúa” đã được tuyển dụng sau khi nhân viên ngân hàng của Credit Suisse giúp làm đẹp hồ sơ của cô. Khi đã vào biên chế, cô ấy thường không đi làm. Khi cô đi làm, cô bị đánh giá là “thô lỗ và không chuyên nghiệp” và đôi khi đưa mẹ cô đi cùng. Tuy nhiên, cô đã được trả 1 triệu đô-la Mỹ mỗi năm và được thăng chức vài lần vì gia đình cô đã trao các giao dịch cho ngân hàng. (Năm 2018, Credit Suisse đã đồng ý trả 77 triệu đô-la cho chính quyền Hoa Kỳ để tránh bị truy tố về tội hối lộ).

Trong khi vị trí của các thái tử Đảng và những lời hứa tiếp cận thị trường tài chính khổng lồ của Trung Quốc là con đường ảnh hưởng quan trọng hàng đầu ở Phố Wall, thì ở Thành phố London, tình hình lại khác.

Khu tài chính của London – khu vực rộng 1 dặm vuông được gọi là Thành phố London, hay đơn giản là Thành phố – cũng là trung tâm tài chính của Châu Âu, mang lại cho các công ty tài chính lớn một sức ảnh hưởng không nhỏ trong chính trường Anh.

Brexit có nhiều người tự hỏi liệu Thành phố có thể giữ được vị thế thống trị của mình hay sẽ bị thay thế bởi các đối thủ ở Frankfurt hay thậm chí là Paris. Các quan lại của Thành phố đã làm việc chăm chỉ để đảm bảo sự nổi trội của nó, điều này mang đến một cơ hội vàng cho Bắc Kinh.

Sẽ là hơi quá khi nói rằng nếu Bắc Kinh có thể kiểm soát Thành phố thì họ có thể kiểm soát Anh, nhưng nói vậy cũng không phải là không có cơ sở. Một dấu hiệu đáng ngại, tuy nhỏ, về tầm ảnh hưởng mà Bắc Kinh đã mang lại vào tháng 5 năm 2019 khi Tập đoàn Thành phố London, chính quyền của quận, đã cấm văn phòng Đài Loan ở London đóng góp quảng cáo cho cuộc diễu hành của thị trưởng hàng năm.

Ngày nay, Tập đoàn Thành phố London  luôn sẵn lòng phục vụ Trung Quốc. Vào tháng 3 năm 2019, hai tháng trước khi ra lệnh cấm Đài Loan tham gia trong cuộc diễu hành của mình, Thị trưởng Peter Estlin đã tham gia một phái đoàn đến Trung Quốc để thúc đẩy các liên kết “tài chính xanh và công nghệ tài chính”, cùng với vai trò của Thành phố trong Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI). Trong khi ở đó, Estlin đã nói về phần quan trọng mà Thành phố đóng góp trong thành công của Trung Quốc. Phỏng vấn trên Phoenix TV, ông tiết lộ rằng Thành phố sẽ tổ chức một bữa tiệc vào tháng 9 năm sau để kỷ niệm 70 năm Cộng hòa Nhân dân. Thị trưởng đã ca ngợi “văn hóa đôi bên cùng có lợi” của BRI và nói rằng ông thấy Thành phố đóng vai trò quan trọng trong việc giúp tài trợ cho “một sáng kiến ​​tuyệt vời” và một tầm nhìn “rất thú vị”.

Phái đoàn được dẫn dắt bởi John McLean, thành viên hội đồng quản trị của Hội đồng doanh nghiệp Trung Quốc-Anh, người đã tuyên bố rằng “London mở cửa kinh doanh cho các công ty tài chính và công nghệ Trung Quốc”. Trước đó vào năm 2019, chủ tịch ủy ban chính sách của Thành phố London, Catherine McGuinness, đã hoan nghênh sự ra mắt phiên bản toàn cầu của tờ China Daily của ĐCSTQ, lưu ý rằng tờ báo “có trụ sở tại Square Mile và là một người bạn tốt của Tập đoàn Thành phố London”.

Đức Thiện / Theo The Sydney Morning Herald

%d người thích bài này: