George Floyd và người da đen ở Mĩ

Tên anh trở thành biểu tượng cho đấu tranh chống lại sự tàn bạo của cảnh sát. Anh cũng là một người da đen ‘fit’ đúng vào cái profile tiêu biểu của người da đen ở Mĩ. Nhưng có phải đó là do nên công lí kì thị của Mĩ như nhiều người nói, hay là do những vấn đề tồn tại trong cộng đồng người da đen. Những con số thống kê sẽ trả lời câu hỏi đó.

𝟏. 𝐆𝐞𝐨𝐫𝐠𝐞 𝐅𝐥𝐨𝐲𝐝

Anh sanh năm 1973 ở Fayettville, North Carolina. Nhưng anh ta lớn lên ở Texas, theo học Trường trung học Yates High School, và ở đó anh trở thành cầu thủ có hạng. Có lẽ vì lí do gia đình George bỏ học. Theo báo chí, năm 2009 anh ta bị kết án 5 năm tù giam vì tôi xâm nhập nhà và cướp (robbery and home invasion), mãi đến năm 2013 mới được tại ngoại. Năm 2014, sau một thời gian tìm không được việc làm, George di cư đến Minneapolis và định cư trong khu phố chủ yếu là người da đen.

Ở Minneapolis anh ta làm 2 việc: vừa lái xe truck ban ngày và vừa làm bảo vệ cho một nhà hàng ban đêm. Những người bạn anh ở nhà hàng cho biết anh là người tử tế, và rất thích mọi thực khách chào anh một tiếng. Nhưng vì dịch bệnh, nên thành phố Minneapolis bị ‘lockdown’ và anh ta mất việc làm. Có thể nói George là nạn nhân của dịch Vũ Hán.

Hôm thứ Hai (25/5/2020), một nhân viên bán hàng của một tiệm chạp phô (Minneapolis) gọi điện cho cảnh sát báo rằng George dùng tiền giả (20 đôla). Cảnh sát đến còng tay anh ta, đè xuống mặt đường. George bị viên cảnh sát Derek Chauvin dùng đầu gối đè xuống cổ làm cho nạn nhân không thở được. Câu nói của George làm ám ảnh cả thế giới “Tôi không thở được”. Thế nhưng chẳng hiểu lí do gì mà viên cảnh sát vẫn dùng biện pháp đó. George được chở vào bệnh viện, nhưng anh qua đời ở đó.

Những người quen biết mô tả George Floyd là người có trách nhiệm xã hội. Sau khi ra tù, anh làm việc thiện nguyện, giúp cộng đồng, và từng lên tiếng chống lại bạo động dùng súng. Anh còn được mô tả là người cha gương mẫu, rất thương con gái 6 tuổi hiện đang sống với mẹ ở Houston (Texas).

Cái chết của Floyd dấy nên một loạt biểu tình bắt đầu từ Minneapolis lan sang nhiều thành phố có đông người da đen cư ngụ. Thật ra, không còn là biểu tình bình thường chống sự tàn ác của cảnh sát nữa, mà đã biến thái thành bạo loạn và hôi của. Rất nhiều video và hình ảnh cho thấy những kẻ tham gia biểu tình, người da đen và cả da trắng, xông vào đập cửa kính các tiệm bán hàng và lấy hàng hoá, kể cả nhiều loạ hàng mắc tiền như kim cương, vàng và đồng hồ.

Có lẽ những gì xảy ra nằm ngoài sự tưởng tượng của George Floyd. Nếu còn sống, chắc anh ta không muốn nhìn những cảnh tượng như hiện nay.

𝟐. 𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐝𝐚 đ𝐞𝐧 𝐨̛̉ 𝐌𝐢̃

Người da đen ở Mĩ có một lịch sử 300 (hay 400) năm. Họ đã trải qua và chịu không biết bao nhiêu bất công và kì thị của người da trắng. Ai cũng biết vào thế kỉ 17 và 18 người da đen bị bọn cai trị da trắng bắt cóc từ Phi Châu và chở sang Mĩ làm nô lệ. Mãi đến thế kỉ 19 nhờ tranh đấu, tình trạng nô lệ mới giảm. Ngay trong thế kỉ 20, trong giới y khoa người da trắng có thời làm thí nghiệm (mà ngày nay được xem là vô đạo đức) trên người da đen. Có thể nói rằng người Mĩ da trắng thế hệ trước đã phạm những tội tày trời chống lại người da đen. Đó là sự thật lịch sử mà không ai có thể phủ nhận.

Hiện nay, trong thực tế cái khoảng cách về kinh tế – xã hội giữa hai nhóm da đen và da trắng vẫn còn rất xa. Chúng ta thử nhìn qua vài con số thống kê:

(a) Dân số. Theo số liệu thống kê census 2016, nước Mĩ có 41.4 triệu người da đen (gốc Phi Châu), chiếm 12.7% tổng dân số Mĩ [1].

(b) Thu nhập bình quân mỗi gia đình da đen là 35400 USD, thấp hơn gần 40% so so với thu nhập gia đình da trắng là 60250 USD [2]. Tỉ lệ hộ nghèo ở người da đen là 26%, trong khi đó ở người da trắng là 10%. Tỉ lệ thất nghiệp ở người da đen là 9.2%, còn người da trắng là 4.4% (số liệu 2015).

(c) Giáo dục. Theo số liệu census 2000, 72% người da đen tuổi 25+ tốt nghiệp trung học, trong khi tỉ lệ này ở người da trắng là 84%. Chỉ có 14% người da đen có bằng cử nhân trở lên, so với 26% ở người da trắng và 44% người Á châu [3].

(d) Khả năng học của người da đen cũng thấp xa so với người da trắng và Á châu. Chẳng hạn như số liệu năm 2018 cho thấy điểm SAT (môn toán) trung bình như sau: Mĩ da đen 463, Mĩ da trắng 557, Á châu 635. Ngay cả điểm SAT môn đọc và viết cũng vậy: học sinh da đen có điểm thấp (483), so với Mĩ gốc Á châu (588), da trắng (566), và Mĩ Latino (501) [4].

(e) Tội phạm. Năm 2014, có 6.8 triệu người Mĩ bị bắt giam trong tù; trong số này có 2.3 triệu người da đen (34%) [5]. Lưu ý rằng, người da đen chỉ chiếm 12.7% tổng dân số Mĩ.

(f) Tỉ lệ bắt giam. Cục Thống kê Công lí (Bureau of Justice Statistics) cho biết khoảng 38% ”dân số” tù là người da đen (tổng số tù nhân chừng 7 triệu), kế đến là người da trắng (35%), và người Hispanics (21%). Tỉ lệ bị bắt giam ở người da đen là 141 (tính trên 10,000 dân), còn ở người da trắng là 27.5. Nói cách khác, người da đen có xu hướng bị giam cao gấp 5 lần so với người da trắng.

(g) Người da đen có xu hướng phạm tội chống người da trắng cao gấp 50 lần người da trắng phạm tội chống người da đen. Tỉ lệ người da đen phạm tội bạo động chống người da trắng là 1013 tính trên 10,000 dân số, và con số này cao 57.5 lần so với tỉ lệ người da trắng phạm tội bạo động chống người da đen (17.6) [7].

Những sự thật trên (dĩ nhiên là chưa đầy đủ) nhưng cũng đủ để ‘vẽ’ một bức tranh về tình cảnh người da đen ở Mĩ. Khoảng cách giữa người da đen và da trắng quá xa. Khoảng cách giữa người da đen và Á châu lại càng xa hơn nữa. Lưu ý rằng người da đen đã có mặt ở Mĩ 300 năm.

𝟑. 𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐝𝐚 đ𝐞𝐧 𝐯𝐚̀ 𝐜𝐨̂𝐧𝐠 𝐥𝐢́ 𝐌𝐢̃

Nhưng đối với giới lãnh đạo cộng đồng da đen, những khoảng cách đó là do người da trắng gây nên. Họ có lí thuyết gọi là “Victimology”, có thể hiểu là “Nạn nhân học”, cho rằng người Mĩ da đen là nạn nhân của chủ nghĩa kì thị chủng tộc do người da trắng chủ trương; rằng sự tiến bộ của cộng đồng người Mĩ da đen lệ thuộc vào hành động ăn năn, hối cải của người da trắng (về những việc họ phạm phải trong quá khứ). Một quan điểm rất phổ biến cho rằng nền công lí Mĩ thiên vị người da trắng và chỉ để trừng phạt người da đen. Những người theo quan điểm này trích dẫn những dữ liệu về tội phạm để làm cơ sở cho lí luận của họ.

Nhưng sự thật thì không đơn giản như thế.

Nghiên cứu khoa học xã hội cố gắng tìm câu trả lời có phải hệ thống tư pháp gây bất công cho người da đen, và một cách ngắn gọn: kết luận của rất rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống công lí Mĩ không có tính kì thị chủng tộc. Hai trăm năm trước đây thì có thể có, nhưng ngày nay thì không có chuyện kì thị chủng tộc trong hệ thống tư pháp Hoa Kì.

Một nghiên cứu (năm 1993) về mối liên quan giữa chủng tộc và mức độ hoặc hình phạt đối với các tội phạm về ma tuý, và tác giả không tìm ra bất cứ mối liên quan nào. Số lượng thuốc bán ra, tiền sử tội phạm, tội phạm có vũ khí hay không, và các đặc điểm khác về tội phạm giải thích tất cả những khác biệt về hình phạt giữa người da đen và da trắng. Chủng tộc không có ảnh hưởng đến mức độ phạt.

Có sự kì thị về án tử hình giữa nguời da đen và da trắng? Năm 1994, Giáo sư Stanley Rothman và Stephen Powers điểm qua các chứng cớ nghiên cứu khoa học xuất bản sau 1972 và họ đi đến kết luận rằng không có sự khác biệt về án tử hình giữa phạm nhân da đen và da trắng. Tính từ 1976 đến 1993, có 2716 người đang chờ tử hình, 36% trong số này là người da đen; và trong số 226 người bị tử hình, 38% là người da đen.

Thập niên 1980s là thời gian những người da đen cho rằng chiến dịch chống lại vấn nạn ma tuý làm cho người da đen dễ bị … cầm tù. Nhưng số liệu thực tế cho thấy một bức tranh khác: năm 1980, gần 47% tù nhân trong các nhà tù tiểu bang là người da đen, và 34% tù nhân trong các nhà tù liên bang là người da đen. Mười năm sau (1990), người da đen chiếm 49% dân số tù tiểu bang và 31% dân số tù liên bang. Thời gian bị giam trung bình ở người da đen là 25 tháng, so với 24 tháng ở người da trắng – không có sự khác biệt đáng kể.

Tương tự, một nghiên cứu của RAND năm 1991 về cướp của và ăn trộm trên 14 thành phố lớn của Mĩ cũng không tìm ra bất cứ mối liên quan nào giữa chủng tộc và mức độ phạt. Năm 1995, nhà thống kê học Patrick Langan phân tích dữ liệu của 42,500 bị cáo thuộc 75 quận hạt lớn của nước Mĩ, và ông cũng không tìm thấy mối liên quan nào giữa chủng tộc (da đen) và mức độ phạt. Người da đen cũng như người da trắng có cùng hình phạt và mức độ phạt (“no evidence that, in the places where blacks in the United States have most of their contacts with the justice system, that system treats them more harshly than whites.”) Một nghiên cứu tổng quan mới đây ghi nhận vấn đề phương pháp luận nhưng cũng đi đến kết luận rằng không có sự kì thị đáng kể, hệ thống tư pháp áp dụng bình đẳng cho người da đen cũng như người da trắng [8].

Tuy nhiên, người da đen ngày nay có nhiều cơ hội hơn thế hệ cha anh của họ trước đây. Kì thị chủng tộc ở Mĩ là một hành vi phi pháp và chánh phủ Mĩ đã tạo mọi điều kiện cũng như ưu tiên cho người da đen. Mĩ đã có tổng thống người da đen. Còn số bộ trưởng, quan chức cao cấp, tướng lãnh gốc da đen thì nhiều không thể kể hết.

𝟒. 𝐌𝐨̣̂𝐭 𝐭𝐡𝐨𝐚́𝐧𝐠 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐜𝐨̣̂𝐧𝐠 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐝𝐚 đ𝐞𝐧

Tôi có chút trải nghiệm về thái độ của người da trắng đối với người da đen vào cuối thập niên 1990. Khi tôi mới sang Mĩ và tìm nơi mướn nhà, mấy người trong đại học khuyên tôi là tuyệt đối tránh những nơi có nhiều người da đen. Họ rất thẳng về lời khuyên, vì họ nói tình hình tội phạm ở khu vực đông người da đen không phải là nơi lí tưởng để cư trú.

Phải một thời gian sau tôi mới nhận ra sự thật này. Nơi tôi tạm trú chỉ cách khu người da đen có 2 con đường, nhưng trời ơi, khác nhau một trời một vực. Khu người da trắng thì sạch sẽ, nhà cửa tươm tất, bãi cỏ xanh rì, và đường xá yên tĩnh. Ngược lại, khu vực ‘của’ người da đen thì rất bề bộn, và nhìn từ xa cứ như là một khu tồi tàn. Đọc báo địa phương tuần nào cũng thấy tin về tội phạm, mà tuyệt đại đa số xảy ra ở cộng đồng người da đen. Sự khác biệt hay tách biệt hoàn toàn không phải kì thị, mà chỉ là vấn đề an ninh.

Có lần tôi đi công tác bên Mĩ và do tình hình khan hiếm khách sạn ở Baltimore, tôi phải ở một khách sạn gần khu người da đen. Tối nào đi bộ từ hội nghị về khách sạn, tôi cũng chứng kiến những cảnh buôn bán thuốc, những thanh thiếu niên nhìn người đi ngang một cách đáng sợ. Có một lần họ tiến đến gần tôi để … xin thuốc lá! Ngay ngày hôm sau tôi phải chuyển khách sạn.

Hai năm trước khi ghé qua Atlanta, nơi cũng có nhiều người da đen cư trú, và cái kinh nghiệm ở Baltimore khơi dậy. Hai anh em tôi (tôi và Thạch) mỗi khi đi từ hội nghị về khách sạn ngang qua cái công viên mà người da đen rất đông, và không nói ra, có lẽ các bạn cũng biết họ làm gì. Thật ra, ngay ở trạm xe điện và trong hội nghị, người ta liên tiếp cảnh cáo chúng tôi nên tránh xa khu vực “nhạy cảm”, hiểu theo nghĩa có đông người da đen.

Tôi nghiệm ra rằng những hành động phản xã hội của cộng đồng người da đen chính là yếu tố gây nên sự bất bình đẳng giữa cộng đồng da đen và da trắng. Và, cái vòng tròn luẫn quẫn: người da trắng sợ người da đen, và nỗi sợ đó nuôi dưỡng sự thù hằn của người da trắng; ngược lại, thực tế nuôi dưỡng sự hoài nghi của người da đen về công lí nước Mĩ.

Nhưng có lẽ thay vì đổ thừa người da trắng và công lí Mĩ, có lẽ cộng đồng người da đen nên nhìn lại mình. Tại sao đã hơn 100 năm với những cơ chế pháp lí và điều kiện kinh tế – xã hội ưu tiên, mà khoảng cách giữa người da đen và da trắng vẫn còn quá xa? Chính Martin Luther King từng khuyên người da đen nên tỏ ra có trách nhiệm xã hội (ông nói “we’ve got to do something about our moral standards. We know that there are many things wrong in the white world, but there are many things wrong in the black world too.”) King kết luận rằng người da đen không nên cứ đổ thừa cho người da trắng [về những thất bại của họ] (“We can’t keep on blaming the white man. There are things we must do for ourselves”).
______________

 

No photo description available.
No photo description available.
Image may contain: text
Theo FB Nguyễn vă Tuấn

5 địa danh Việt Nam vào top điểm đến thế giới

Hà Giang, Quảng Bình, Ninh Bình, Hạ Long, Quy Nhơn là những điểm du lịch bụi tốt nhất 2020 theo bảng xếp hạng của Hostelworld.

Hà Giang nằm ở vị trí thứ 4 trong danh sách. Theo số liệu từ Hostelworld, số lượng đặt phòng ở điểm đến tăng 118% trong 2 năm 2018, 2019.

Cách thủ đô Hà Nội khoảng 300 km, Hà Giang thu hút du khách bởi phong cảnh núi non hùng vĩ, những cung đèo uốn lượn quanh co. Đặc biệt, nơi đây có hoa nở suốt 4 mùa. Một số loài hoa đặc trưng là tam giác mạch tháng 10 – 11, hoa đào, cải vàng tháng 1 – 2. Với nhiều du khách, Hà Giang còn đẹp bởi bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ, với những phiên chợ và các cô, cậu bé trong trang phục truyền thống.

Ở Hà Giang, các điểm du lịch nổi bật là cổng trời Quản Bạ, cao nguyên đá Đồng Văn, cột cờ Lũng Cú, Dinh Vương, đèo Mã Pí Lèng… Ảnh: Nguyễn Hữu Thông.

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình ở vị trí thứ 6 trong danh sách. Đây là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên lớn nhất Việt Nam, cùng hệ thống núi đá vôi, hang động hùng vĩ.

Là khu vực kiến tạo karst cổ nhất trên thế giới cùng 392 hang động, gồm hang động lớn nhất thế giới Sơn Đoòng, vườn quốc gia được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới. Ảnh: Vietnam Stock Images/Shutterstock.

Nằm ở vị trí thứ 10 là Ninh Bình, điểm đến nổi tiếng với quần thể danh thắng Tràng An, Tam Cốc – Bích Động, cố đô Hoa Lư, chùa Bái Đính… Với địa hình đa dạng gồm núi, sông, núi đá vôi, hang động, nơi đây được mệnh danh là vịnh Hạ Long trên cạn. Ảnh: Pelikh Alexey/Shutterstock.

Thành phố biển sở hữu Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nằm ở vị trí 18. Một trong những trải nghiệm hút khách nhất ở đây là du thuyền trên vịnh, tham quan các hang động Sửng Sốt, động Thiên Cung, hòn Trống Mái, đảo TiTop… Ngoài ra, khách có thể tắm biển Bãi Cháy, vui chơi ở công viên nước, tham quan bảo tàng Quảng Ninh. Ảnh: S-F/Shutterstock.

Thành phố Quy Nhơn, Bình Định là điểm đến cuối cùng của Việt Nam góp mặt trong danh sách, nằm ở vị trí 20. Trong những năm gần đây, thành phố là điểm đến thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước, với những bãi biển và cù lao hoang sơ. Trong đó phải kể đến Kỳ Co, Eo Gió, Cù Lao Xanh, Ghềnh Ráng. Ảnh: Hương Chi.

Đứng đầu bảng xếp hạng là đảo Nusa Penida, Bali, Indonesia. Đảo có diện tích khoảng 200 km2 và được biết đến với hoạt động lặn biển. Khu vực là nơi sinh sống của 296 loài san hô, các loài đặc biệt như cá đuối manta ray, cá mặt trăng Mola Mola. Năm 2010, khu vực rộng 20.057 ha xung quanh đảo Nusa Penida, Nusa Ceningan và Nusa Lembongan được công nhận là Vùng biển được bảo tồn.

Một điểm đến nữa của Indonesia trong danh sách là thị trấn Kuta Lombok. Ảnh: Igor Tichonow/Shutterstock.

Surat Thani, đại diện duy nhất của Thái Lan nằm tại vị trí thứ 2. Một số điểm tham quan nổi tiếng của tỉnh là công viên biển quốc gia Ang Thong, công viên quốc gia Khao Sok và khu bảo tồn voi Sonchana.

Những điểm đến ở châu Á còn lại có mặt trong danh sách là đảo Siargao, thành phố Coron, Philippines; Amman, Jordan; Fukuoka, núi Phú Sĩ, Nhật Bản và thủ đô Beirut, Lebanon. Ảnh: Acsanova/Shutterstock.

Hồ Tekapo, New Zealand đứng ở vị trí thứ 8 gây ấn tượng với màu nước xanh lam, được bao quanh bởi những ngọn núi hùng vĩ vùng Mackenziens. Mỗi mùa, nơi đây mang một vẻ đẹp riêng với các trải nghiệm như golf, đi xe ngựa, đạp xe leo núi, đi trực thăng ngắm cảnh và trượt tuyết mùa đông. Ảnh: Dmitry Pichugin/Shutterstock.

Vị trí thứ 9 thuộc về đảo Ibiza, Tây Ban Nha. Phần lớn hòn đảo được biết đến với những bữa tiệc. Các khu vực yên bình và hoang sơ hơn là Portinax, Cala Llonga và Puerto San Miguel.

Bồ Đào Nha có 2 điểm đến trong danh sách là thành phố Faro, số 12 và Lagos số 16. Quận Cornwall, phía tây nam Anh có mặt ở vị trí 19. Ảnh: Lukasz Janyst/ Shutterstock.

Công viên quốc gia Yosemite, Mỹ đứng ở vị trí 13. Đây là điểm đến phù hợp với những du khách yêu thích dã ngoại. Với diện tích hơn 3.100 km2, vườn quốc gia sở hữu những thác nước hùng vĩ, thung lũng, đồng cỏ xanh bất tận và những cây sequoias khổng lồ. Ảnh: Andrew Opila/Shutterstock.

Lan Hương (Theo Huffington Post)

Bài thơ khóc chồng nổi tiếng của nữ sĩ Tương Phố

2Nữ sĩ Tương Phố sinh ngày 14.7.1900 ở Bắc Giang, nguyên quán huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Bà có tên thật là Đỗ Thị Đàm. Do bà chào đời tại Đồn Đầm xã Phượng Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh  Bắc Giang nên bà được đặt tên là Đàm để nhớ địa danh ấy (chữ Đàm nghĩa Hán văn là Đầm).

Sinh ra trong một gia đình Nho học, thân sinh của bà là nhà nho Đỗ Duy Phiên và bà Nguyễn Thị Yêm. Thân mẫu bà hiếm hoi, chỉ sinh được hai người con gái là Tương Phố và Song Khê. Hai chị em lúc nhỏ được cha dạy chữ Hán rồi học tiếng Pháp tại trường công lập ở tỉnh nhà Hưng Yên. Sau đó, bà Đỗ Thị Đàm lên học tại trường nữ Sư phạm Hà Nội.

Đỗ Thị Đàm rất yêu thích văn thơ từ thuở nhỏ, cũng do được thụ hưởng ở người cha những áng thơ văn đẹp và buồn trong văn chương trung đại của Trung Quốc và Việt Nam. Và nhất là trong thời gian bà ở Hà Nội đã quen thân làm bạn với một chàng trai từ Huế ra học trường Y rồi trở thành vợ chồng. Chồng của bà – Thái Văn Du – một chàng trai rất yêu văn thơ lại vừa có vốn cựu học và tân học ở kinh đô Huế, và đôi vợ chồng trẻ thường cùng nhau đàm đạo về văn thơ. Và nhất là khi vào học trường nữ Sư phạm Hà Nội (1918 – 1920) có dịp làm phong phú thêm vốn văn chương Đông – Tây, bà rất đam mê việc đọc văn thơ của các tác gia thi văn có tiếng trong và ngoài nước rồi sáng tác thơ văn với nhiều đề tài khác nhau nhưng đều toát lên một nội dung trữ tình sâu lắng tâm hồn man mác, thăm thẳm…

Bà vào làng văn thơ Việt Nam từ những năm cuối thập kỷ 20 (1927-1928). Từ đó, bà làm nhiều bài thơ và nhiều áng văn xuôi đậm đà chất thơ đã tuôn chảy dưới ngòi bút của bà.

Hạnh phúc vừa chớm nở, Đỗ Thị Đàm sống cùng chồng chưa đầy một năm thì ông phải sang Pháp để học tiếp về y khoa. Sau đó, khi bà sinh con trai mới 6 ngày thì chồng bà là y sĩ Đông Dương nên Pháp điều đi tham chiến trong cuộc chiến tranh Pháp – Đức (1914-1918). Sang Pháp một thời gian, ông Du không chịu nổi giá rét mùa đông nên bị bệnh lao phổi rất nặng phải đưa về Huế điều trị rồi mất tại đó. Đường sá xa xôi cách trở, khi người vợ trẻ vào đến nơi để chịu tang chồng thì đã đến kỳ lễ cúng thất tuần, không được nhìn mặt chồng lần cuối. Tương Phố khi ấy mới đôi mươi, ôm nỗi buồn đơn lẻ nhớ thương người chồng xấu số đã viết những vần thơ lẫn trong những câu văn cảm thán mà thành tuyệt tác mang tên Giọt lệ thu nức tiếng một thời: Trời thu ảm đạm một màu/Gió thu hiu hắt thêm rầu lòng em/Trăng thu ngả bóng bên thềm/Tình thu ai để duyên em bẽ bàng…

Bút danh Tương Phố ngay từ đầu đã để lại ấn tượng trên văn đàn, dẫu chưa ai biết được bà là ai. Có thể nói nữ sĩ đã đem tiếng lòng cá nhân, đem tình cảm riêng tư sẻ chia với muôn kiếp người như một cách thi ca hóa, bất diệt hóa tình yêu và nỗi đau duyên phận.  Chính vì thế, cái tên Tương Phố từ đó đã đóng dấu trên văn đàn một thông điệp mang nỗi buồn trần thế.

Giọt lệ thu được hoàn thành từ mùa thu năm 1923, nhưng mãi 5 năm sau, đến năm 1928, nữ sĩ Tương Phố mới gửi đăng trên tạp chí Nam Phong. Câu chuyện tình duyên ngắn ngủi đầy nước mắt được viết bằng văn xuôi, xen lẫn những đoạn thơ lục bát và song thất lục bát đã làm cho nhiều người trong xã hội nước ta lúc bấy giờ vô cùng xúc động và ngưỡng mộ tài năng văn thơ của bà, đã tạo nên được những nỗi niềm rung động trái tim thân thiết với bao người đến thế. Tác phẩm này không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn vang xa tận nước ngoài. Từ những năm 30 của thế kỷ trước, nữ thi sĩ Pháp Jeanne Duclos-Salesses đã dịch Giọt lệ thu sang tiếng Pháp đăng trên báo Le Moniteur d’Indochina. Nhà danh cầm người Pháp De Gironcourt đọc được bài thơ này đã viết bản nhạc Khúc ca trên mộ. Năm 1940, khi sang Việt Nam, ông đã tìm đến Phúc Yên (Vĩnh Phúc) để thăm bà Tương Phố và tặng bà bản nhạc này.

Sau Giọt lệ thu, nữ sĩ Tương Phố viết tiếp Tái tiếu sầu ngâm, Khúc thu hận, Mưa gió sông Tương… Dường như, cả sự nghiệp của bà chỉ xoay quanh nỗi niềm thương nhớ người chồng xấu số, cũng là để khóc thương chính thân phận mình. Đặc biệt, tuy chỉ viết về nỗi lòng riêng nhưng thơ Tương Phố đã có nhiều thành công, nhất là những bài lục bát và song thất lục bát. Khi viết tập sách Nét bút giai nhân, nhà thơ Quách Tấn đã xếp nữ sĩ Tương Phố ngồi chung chiếu thơ với Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Ngọc Hân Công chúa. Ông cho rằng trong Giọt lệ thu và Mưa gió sông Tương có nhiều câu tuyệt tác có thể đặt cạnh Chinh phụ ngâm, Ai tư vãn mà không thấy thẹn.

Năm 1954, bà di cư vào Nam cùng với con trai, sinh sống tại thành phố Đà Lạt rồi sống và gắn bó ở đó gần 20 năm. Nhiều lần bà muốn cùng con trai ra Huế thăm lăng mộ của ông Thái Văn Du nhưng vì thời chiến tranh đi lại khó khăn và mất liên lạc với người thân ngày xưa ở quê chồng nên không biết đâu mà tìm. Năm tháng trôi qua, bà cứ canh cánh bên lòng một nỗi niềm thương nhớ, day dứt.

Nữ sĩ Tương Phố mất năm 1973 và được chôn cất trên một đồi thông  dưới chân đèo Mimosa thuộc dãy Langbiang. Từ khi bà nằm xuống, ngọn đồi ấy mang tên Tương Sơn như để nhắc nhớ về người nằm  đó – nữ sĩ Tương Phố.

3

Giọt lệ thu

Bao giờ quên được mối tình xưa
Sinh tử còn đau mãi đến giờ
Giấc mộng tìm nhau tìm chẳng thấy
Mênh mang biển hận, hận không bờ

Trời thu ảm đạm một mầu
Gió thu hiu hắt thêm rầu lòng em
Trăng thu bóng ngả bên thềm
Tình thu ai để duyên em bẽ bàng

Sầu thu nặng lệ thu đầy
Vì lau san sát hơi may lạnh lùng
Ngổn ngang trăm mối bên lòng
Ai đem thu cảnh bạn cùng thu tâm.

(Nguồn : phunuvietnam.vn)

Tản mạn về bia – Bs Nguyễn Ý Đức

Lại một tình cờ đã đưa tới sự khám phá ra cách chế biến món nước “Tinh Thần”, uống cho tới tận cùng say xỉn này.
Truyền thuyết kể lại là cách đây trên mươi ngàn năm, một cô bé đang ăn miếng bánh mì khô uống với ly nước lạnh, thì có bạn gọi đi chơi trò nhẩy dây. Cô ta ném miếng bánh vào ly nước, để trên mặt bàn rồi chạy ra ngoài. Đó là miếng bánh cũ bỏ quên trong cặp sách đã lâu, có bám bụi xanh.
Mấy ngày sau bà mẹ dọn bàn thấy ly nước trong trong, có mùi thơm thơm. Đang khát nước, bà bèn uống. Một lúc sau cảm thấy trong người sảng khoái, lên tinh thần. Bà khoe với ông chồng và ngỏ ý muốn có thêm. Chiều vợ, ông chồng làm nước đó cho vợ và gia đình.
Lối xóm bắt chước và thiên hạ cũng làm theo. Thế là Bia ra đời.

Anh ngữ gọi là Beer, Pháp ngữ là Biere từ chữ Latin “Bibere” nghĩa là Uống.
Người Việt ta phiên âm là LA DE từ chữ La Biere cho tiện việc sổ sách.
Tiếng Đức Baere, từ chữ Barley là loại lúa mạch dùng nhiều nhất để làm la de.
Trung hoa gọi bia là Ty tửu vì có ít ethanol.

Theo các nhà khảo cổ, thì la de được dân chúng thành phố Babylon chế ra đầu tiên một cách khá quy mô, cách đây trên 6000 năm. Họ ngâm nước cho hạt lúa mạch lên mốc xanh, nghiền nát, trộn với nước, để dăm ngày rồi uống. Khi đó, la de rất được dân chúng ưa thích, mà khả năng biến chế giới hạn nên các Lãnh Chúa bèn đặt chế độ khẩu phần. Dân lao động chỉ được mỗi ngày hai lít, công nhân viên nhà nước ba lít, quan chức cao cấp và quý ngài tu sĩ năm lít.

Từ Ai Cập, la de lan tràn ra các nước khác và được phổ thông trước khi nho được trồng làm rượu vang, vào thời kỳ đế quốc La Mã. Con dân đế quốc coi la de như thứ nước uống của người man di, còn họ uống thứ nước dành cho Thần Linh, ấy là rượu vang.
Cũng nên nhắc là việc nấu la de, theo luật đời xưa, là việc làm của nữ giới. Đến sau Thiên Chúa giáng sinh thì la de được đưa vào thị trường thương mại, ai mua cũng được.
2Chuyện này cũng có lý do. Vì đã có một thời kỳ, làm la de được các tu viện hầu như dành quyền ưu tiên chế biến và là nguồn lợi tức đáng kể cho cơ sở tôn giáo. Ngoài lợi tức, các tu sĩ còn muốn tự do dùng la de chung với thực phẩm ngon mà họ được cung cấp. Đồng thời la de không bị cấm trong thời gian ăn chay, nên các ngài tự do dùng và mỗi tu sĩ được chia tới 5 lít một ngày.
Chỉ sau thời kỳ Cải Cách giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã, đưa đến sự thành lập các giáo hội Tin Lành vào thế kỷ 16, sự ưu đãi độc quyền làm bia này cho tu viện mới được bãi bỏ. Bia được các nhà sản xuất thương mại trách nhiệm.

Nhưng phải công nhận là nhờ kiến thức của các tu sĩ mà kỹ nghệ làm bia tiến bộ rất nhiều, từ việc một miếng bánh rơi vào ly nước tới những máy móc, tuy thô sơ, nhưng mau lẹ, làm được nhiều lại an toàn vệ sinh, có phẩm chất ngon hơn.
Kỹ nghệ sản xuất bia thực sự cải thiện vào đầu thế kỷ thứ 19 với sự sáng chế ra máy hơi của James Watt và hệ thống làm lạnh của Carl von Linde. Trước đó, bia thường được làm vào mùa Đông, thuận tiện cho sự lên men của bánh. Từ khi khám phá ra hệ thống làm lạnh, bia được sản xuất quanh năm. Đầu máy hơi nước của James Watt giúp sự sản xuất bia từng loạt với số lượng nhiều hơn.

Trong việc làm bia, nhà bác học Pháp Louis Pasteur cũng cống hiến một khám phá quan trọng: Đó là sự tìm ra những nấm lên men mà ông đã trình bày trong nghiên cứu tựa đề “ Etude de la Bierre”, vào năm 1876. Nhờ khám phá này mà ngày nay ta đã nuôi được men và dùng rộng rãi trong kỹ nghệ làm bia và rượu vang.
Một khoa học gia khác người Đan Mạch, Christian Hansen, đã thành công trong việc tách một thứ nấm, trồng trong dung môi dinh dưỡng và dùng hàng loạt vào việc lên men lúa mạch để làm bia.

Làm bia
Muốn có một lon bia, ta cần bốn vật liệu chính yếu: Nước, ngũ cốc, men và cây Hoa Bia (Hop= Houblon).
A_ Ngũ cốc

Bia có thể được làm từ gạo (Việt Nam,Trung Hoa Nhật Bản), ngô (Thổ dân American Indian), mì ( Đức wheat), lúa mạch đen ( Nga, ryes) yến mạch ( Oats) nhưng thông thường nhất vẫn là bằng hạt lúa mạch ( Barley) rồi đến lúa mì. Ngô và gạo cho loại bia kém phẩm chất.

 

4

Lúa mạch có nguồn gốc từ Châu Á và Ethiopia và là loại ngũ cốc được sản xuất đứng hàng thứ tư sau lúa mì, gạo và ngô. Lúa mạch có lượng carbohydrates khá cao, tới 67% và 13% chất đạm.

Trước hết, mạch được ngâm trong nước độ một tuần cho nẩy mầm đồng thời tinh bột của mạch được chuyển hóa thành đường maltose. Sau đó mạch có mầm được đun chín rồi sấy khô, say khỏi vỏ rồi ngâm trong nước nóng. Đường trong mạch sẽ hòa vào nước cho một dung dịch có vị ngọt.Dung dịch này được đun sôi khoảng hai giờ để diệt hết vi khuẩn. Đây là lúc mà Hoa Bia được thêm vào để tạo ra vị đắng cho bia.
B_ Hoa bia

5

Houblon là loại cây leo có hoa mọc thành từng chùm. Hoa được sấy khô để tạo vị đắng cho bia. Đun càng lâu thì chất đắng của hoa bia càng tan nhiều trong nước, bia sẽ đắng hơn.
Nghiên cứu ở Mỹ cho biết cây Hoa Bia có chất chống oxy hóa Antioxidant Prenylated Flavonoids rất tốt để giúp cơ thể giảm nguy cơ bị các bệnh tim, ung thư, sa sút trí tuệ và cao cholesterol.
Dung dịch được để nguội, vớt hết lá hoa bia và cặn bã ra rồi men được thêm vào.

C_ Men
Men bia là những nấm nhỏ li ti có khả năng chuyển đổi tinh bột ra đường. Nấm có nhiều trong thiên nhiên.
Hai loại men thường dùng trong kỹ nghệ bia là Sacchromyces cerevisiae nổi lên mặt dung dịch và loại Saccharomyces uvarum, chìm dưới đáy. Mươi ngày sau men sẽ chuyển hóa hầu hết đường maltose và lúc đó ta đã có một lon bia.

Nhưng chưa đủ, muốn có hơi sủi bọt, bia được chuyển vào một bình điều hòa để lên men lần thứ hai và có hơi carbonates. Vì còn vẩn đục, nên bia được lọc.
Bia vô lon hoặc chai được đun nóng ( Pasteurized) để diệt hết các vi khuẩn còn sót và để chặn sự lên men.
Draft bia không đun nóng nhưng phải giữ ở nhiệt độ lạnh cho tới khi dùng để bia thôi lên men. Uống ngay sau khi sản xuất, Draft bia ngon hơn vì trong khi chuyên trở đi xa, sự thay đổi nhiệt chung quanh ảnh hưởng tới phẩm chất của bia.
D_ Nước

Nước dùng để làm bia cũng rất quan trọng. Nước có nhiều khoáng chất thì bia đắng hơn là nước có ít khoáng chất.
Beer cũng như rượu vang có từ 2-6% Ethanol trong khi đó rượu mạnh như whisky, gin, vodka có tới 45-50% ethanol.

Dinh dưỡng
Về phương diện ăn uống, ngoài nước, bia có một số lượng các chất dinh dưỡng rất khiêm nhường vì đa số đã bị tiêu hủy trong quá trình chế biến.

 

12

Một ly 360 cc (12 Oz) cho 140 calories mà 60% là do chất rượu ethyl alcohol của bia; 17mg calcium; 28mg magnesium; 40mg phosphore; 85mg potassium; rất ít Zinc, sinh tố B.

Các chất đạm, chất béo, sinh tố C và sinh tố hòa tan trong chất béo đều có rất ít nên bia được nhiều người coi như chẳng bổ dưỡng gì ngoài một số calories. Chẳng thế mà bác sĩ David Williams của đại học Wales, Anh Quốc đã cổ võ là trong chương trình giảm béo, nên uống nửa lít bia một ngày vì bia có tới 93% là nước lã, không đường, không chất béo.
Bia còn giữ hương vị thơm ngon nếu tiêu thụ trong vòng hai tháng sau khi làm, do đó không nên mua tích trữ quá nhiều và quá lâu. Cất bia ở chỗ mát, không có ánh nắng mặt trời để bia khỏi lên mùi.
Ly để uống bia cần sạch, không vết mỡ vì mỡ làm bia hết bọt.
Cũng không nên uống bia quá lạnh vì nhiệt độ thấp làm giảm mùi thơm của bia.

Bia với Sức Khỏe

Trang báo Forbes ngày 17 tháng 3 năm 2008, tác giả Allison Van Dusen có nêu ra 8 lý do lành mạnh để uống bia, căn cứ vào một số nghiên cứu khoa học. Đó là từ 30-35% ít bị heart attack, tăng chất béo lành HDL, giảm rủi ro máu cục, giảm hóa già, bảo vệ khỏi tử vong vì bệnh tim mạch, tăng trí tuệ giảm Alzheimer, giúp xương chắc mạnh, giảm biến chứng tiểu đưởng.
Nhưng Allison nhấn mạnh ở chữ vừa phải moderation. Vừa phải là 240 cc, ngày hai lần, quý bà thỉ chỉ ½ mà thôi.
Lưu ý là uống bia mãn ngày mãn tháng, lon trước rước lon sau thì hậu quả tai hại cũng nhiều.

Chẳng hạn như trở thành bét nhè nghiện rượu, xơ cứng ung thư gan, ung thư miệng…Ấy là chưa kế phá rối an ninh trật tự công công khi say xỉn, gây gổ hận thù, thân chủ thường xuyên của khám nhỏ khám lớn. Ngoài ra, có nghiên cứu cho là uống vài ly bia/ngày có thể tăng rủi ro ung như nhũ hoa nữ giới.
Thành ra bia không phài là tốt cho mọi người.
Như giáo sư Charlie Bamforth, Đại học California ở Davis, nhắc nhở là không nên coi bia như một dược phẩm. Uống bia vì ý thích nhưng vừa phải là điều cần nhớ.

Nguyễn Ý-Đức M.D. / (Nguồn : rfviet.com)