Vẻ đẹp mùa lưới vây Hòn Yến

PHÚ YÊN

Ngoài ngắm nhìn khung cảnh hoang sơ, du khách đến Hòn Yến có dịp hòa cùng nhịp sống ngư dân vào mùa đánh cá bằng lưới vây.

Quang cảnh vùng biển Hòn Yến và mùa đánh bắt thủy sản nhìn từ trên cao. Hòn Yến thuộc thôn Nhơn Hội, xã An Hòa, huyện Tuy An, cách thành phố Tuy Hòa khoảng 20 km. Người dân địa phương gọi Hòn Yến vì ngày xưa nơi đảo nhỏ này có nhiều chim yến về làm tổ.

Đường đến Hòn Yến từ Tuy Hòa có thể đi từ quốc lộ 1A, rẽ phải ở ngã ba Phú Điềm hoặc có thể đi ven biển theo các đường liên thôn qua các xã An Phú, An Chấn và An Mỹ.

Bức ảnh nằm trong bộ ảnh “Vẻ đẹp mùa lưới vây ở Hòn Yến” của nhiếp ảnh gia Cao Kỳ Nhân (quê Phú Yên). Tác giả cho biết hiện sống và làm việc tại TP HCM, nhưng không quên dành tình yêu quê hương Phú Yên.

Quần thể Hòn Yến gồm Hòn Yến, Hòn Đụn (hay còn gọi hòn Sụn – hòn nhỏ nằm gần bên trái), Bàn Than, Gành Yến, Hòn Choi, Vũng Choi, tạo thành một quần thể thắng cảnh tự nhiên bên bờ biển, được công nhận là Di tích danh thắng cấp quốc gia năm 2018, trong đó Hòn Yến là điểm nhấn nổi bật của quần thể.

Hòn Yến và Hòn Đụn nằm cách bờ khoảng 100 m, du khách có thể lội bộ ra hòn vào mùa nước cạn nhưng cũng cần lưu ý bên dưới có nhiều đá và khá gập ghềnh.

Nơi đây có nước biển xanh màu ngọc bích và nơi đây có nhiều loại hải sản tươi ngon như cá cơm, mực, cua hay ốc vú nàng. Ngư dân nơi đây còn nuôi tôm hùm trong các lồng nằm dọc theo vùng bờ biển.

Mỗi lồng nuôi tôm có kích thước khoảng 2,5×2,5×1,2 m, mật độ nuôi đối với kích cỡ tôm 300 – 500g trở lên từ 3 – 5 con/m2 lồng.

Quang cảnh các lồng nuôi tôm hùm và các tàu cùng lúc thả lưới vây đánh cá sát nhau. Phú Yên là “thủ phủ” tôm hùm, với hơn 119.000 lồng nuôi, trong đó tôm thương phẩm có hơn 84.200 lồng, còn lại là tôm hùm giống.

“Vũ điệu” tấm lưới xanh vây trên biển với nhiều hình dạng khác nhau, như hình tròn (ảnh), trái tim hay lá sen.

Anh Nhân cho biết, vào tháng 5 – 8 hàng năm là ngư dân thôn Nhơn Hội nhộn nhịp ra khơi Hòn Yến, dùng lưới vây đánh bắt thủy sản, chủ yếu là cá cơm. Nhịp sống mưu sinh này trở thành đề tài thú vị dành cho người yêu nhiếp ảnh.

“Hoa lưới” màu xanh trên biển. Nhìn từ trên cao, từng tấm lưới được kéo căng giữa biển, như có sự sắp đặt tài tình của người nghệ sĩ.

Lưới vây đánh bắt theo nguyên lý lọc nước bắt cá, được thả từ tàu và kéo lên tàu. Lưới vây chuyên đánh cá đi thành đàn và chỉ thả lưới đến một độ sâu nhất định. Khi phát hiện luồng cá cơm thì các ngư dân dùng lưới bủa vây bắt cá.

Tàu đang kéo lưới vây. Trong quá trình đánh bắt, hình dạng của lưới vây luôn thay đổi. Từ lúc bắt đầu thả lưới có dạng là một tấm lưới phẳng, đến kết thúc thả có dạng là một hình trụ và khi thực hiện quá trình cuộn rút có dạng hình chóp cầu.

Hoạt động đánh bắt của ngư dân trên tàu với mẻ lưới vây thu hoạch cá cơm. Tàu đánh bắt thường có công suất nhỏ dưới 90 CV (mã lực) nên chủ yếu đánh bắt gần bờ, trên mỗi chuyến tàu gồm 10 – 13 ngư dân.

“Đằng sau những bức ảnh lưới vây này được hỗ trợ nhiệt tình từ ngư dân. Họ thân thiện và gắn bó với nghề. Tôi hi vọng đời sống người dân cải thiện hơn sau những chuyến vây lưới thu hoạch cá cơm” – anh Nhân chia sẻ.

Khi thủy triều xuống thấp, xung quanh Hòn Yến nổi lên những rạn san hô và sao biển đầy màu sắc, hòa với nắng vàng tạo nên khung cảnh biển lung linh.

Bức tranh rạn san hô cạn tựa như “vườn đá nở hoa” có một không hai tại Hòn Yến. Tuy nhiên, đây lại là tài nguyên thiên nhiên nhạy cảm, dễ bị xâm hại. Bước chân của du khách đi trên thềm san hô, tạo thành đường mòn trên đá, có thể làm biến dạng, chết san hô và mất chỗ trú ngụ của các loài sinh vật biển. Do đó, chính quyền địa phương lưu ý các du khách cũng như nhiếp ảnh gia khi ngắm, chụp ảnh san hô lựa chọn vị trí hợp lý và tránh giẫm đạp lên chúng, cần đặt vấn đề bảo tồn san hô lên hàng đầu.

Sau khi khám phá Hòn Yến, du khách có thể “kết nối” với các danh thắng và di tích lịch sử khác dọc tuyến đường ven biển Phú Yên như Ghềnh Đá Đĩa, Cù lao Mái Nhà, đảo Hòn Chùa, Bãi Xép, Bãi Môn – Mũi Điện và Vũng Rô.

Cao Kỳ Nhân – Huỳnh Phương / VNEpress

Bí ẩn lớn nhất của trải nghiệm cận tử: Những câu chuyện ly kỳ, đáng sợ bây giờ mới kể

Bí ẩn lớn nhất của trải nghiệm cận tử: Những câu chuyện ly kỳ, đáng sợ bây giờ mới kể
Hình ảnh gốc: Brian Stauffer / Scientific American

Những câu chuyện ly kỳ và bí ẩn xoay quanh trải nghiệm cận tử (Near-death experience) vẫn khiến giới khoa học không ngừng tìm hiểu.

Đi ngược lại mong muốn của cha mình, Ernest Hemingway thuở còn đôi mươi đã tình nguyện tham gia vào quân đội Mỹ, gia nhập hàng ngũ quân y, chăm sóc những người lính bị thương trong Thế chiến thứ nhất (1914 – 1918). Một ngày đầu Thu năm 1918, Ernest Hemingway bị thương rất nặng ở chân.

Trong những ngày tháng tưởng chừng như cái chết cận kề, chàng trai trẻ đã viết thư về cho gia đình. Nội dung bức thư có đoạn như sau: “Việc từ giã cõi đời thật là một điều dễ dàng. Con như nhìn thấy cái chết ngay trước mắt mình. Nếu có điều gì đó dễ dàng ở trên đời này thì chết đi chính là điều con đang cảm thấy thế…”

Vài năm sau, Ernest Hemingway trở về quê nhà sau khoảng thời gian được chữa trị tại bệnh viện ở Milan (Ý) và bắt đầu sự nghiệp viết tiểu thuyết. Trong cuốn truyện ngắn “The Snows of Kilimanjaro” (1936, tạm dịch: Tuyết rơi ở Kilimanjaro), ông đã kể lại trải nghiệm cận tử của mình khi thấy linh hồn rời khỏi thể xác, bay lên sau đó lại nhập vào cơ thể mình sau giây phút ông được các bác sĩ chữa trị vết thương thời Thế chiến.

Nhân vật trong câu chuyện “The Snows of Kilimanjaro” (Kilimanjaro là một ngọn núi lửa ở Tanzania) của Ernest Hemingway cũng trải nghiệm cận tử một cách kinh điển: Đầu tiên là bóng tối, sau đó là sự chấm dứt của nỗi đau. Ánh sáng ngập tràn khắp nơi và sau đó là một cảm giác yên bình bao trùm tất cả.

Hai luồng cảm xúc của người trải nghiệm cận tử


Theo các nhà khoa học, trải nghiệm cận tử (Near-death experience – NDE) được kích hoạt trong giai đoạn tính mạng một người bị đe dọa mạnh mẽ. Khi đó, cơ thể người đó bị tổn thương do chấn thương cùn (chấn thương vật lý), đau tim, ngạt, sốc…

Theo thống kế, cứ 10 bệnh nhân ngừng tim trong bệnh viện (sau đó sống lại qua hồi sức tim phổi) đã trải nghiệm một giai đoạn như vậy. Hàng ngàn người sống sót sau những tình huống như vậy đã thấy mình như lạc vào một cõi vượt ra ngoài sự tồn tại hàng ngày, không bị giới hạn bởi ranh giới thông thường của không gian và thời gian. Những trải nghiệm mạnh mẽ, huyền bí này có thể dẫn đến sự biến đổi vĩnh viễn của cuộc sống của họ.

Bí ẩn lớn nhất của trải nghiệm cận tử: Những câu chuyện ly kỳ, đáng sợ bây giờ mới kể  - Ảnh 2.

Ảnh minh họa: Brian Stauffer / Scientific American

Các bệnh nhân trải qua NDE đều kể lại cùng một câu chuyện: Họ thấy mình không còn đau đớn, cơ thể nhẹ bẫng, nhìn thấy ánh sáng rực rỡ ở cuối đường hầm và các hiện tượng thị giác khác, tách ra khỏi cơ thể của mình và trôi nổi trên nó, hoặc thậm chí bay vào không gian (trải nghiệm ngoài cơ thể).

NDE có thể là trải nghiệm tích cực hoặc tiêu cực. Nếu có người cảm giác yên bình, không đau đớn thì cũng có những trường hợp sợ hãi, bị lấn áp bởi nỗi kinh hoàng dữ dội, nỗi thống khổ, sự cô đơn và tuyệt vọng.

Bất kỳ sự trải nghiệm cận tử nào cũng nhắc nhở chúng ta về sự bấp bênh và mong manh của cuộc sống; và rằng ranh giới giữa sự sống và cái chết thực sự rất mỏng manh.

TIẾN SĨ MỸ RAYMOND A. MOODY, JR.

Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “trải nghiệm cận tử” trong tác phẩm “Life after Life”.

Trải nghiệm cận tử bắt đầu thu hút sự chú ý của công chúng vào cuối thế kỷ 20 sau những công trình của các bác sĩ và nhà tâm lý học. Trong đó nổi bật nhất là Tiến sĩ Raymond A. Moody, Jr. (1944) – một nhà triết học, tâm lý học, bác sĩ người Mỹ – lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “trải nghiệm cận tử” trong cuốn sách thuộc hàng best-seller của mình “Life after Life” (1975).

Kế đó là Giáo sư tâm thần học người Mỹ Bruce M. Greyson, tác giả của cuốn “Sổ tay trải nghiệm cận tử” năm 2009.

“Thách thức của các nhà khoa học là giải thích trải nghiệm cận tử trong khuôn khổ tự nhiên. Là một nhà khoa học chuyên nghiên cứu về cơ thể và não bộ ở người, tôi quan tâm đến NDE bởi nó tạo thành một loại ý thức hiếm có của con người.

Có một sự thật rằng, những trải nghiệm như vậy được gán với sự kiện thần bí, tâm linh, là một nhà khoa học, tôi vận hành theo giả thuyết rằng tất cả những suy nghĩ, ký ức, sự chấp nhận và trải nghiệm của chúng ta là hậu quả không thể chối cãi của năng lực nhân quả tự nhiên của não bộ chứ không phải bất kỳ sự kiện siêu nhiên nào” – Tác giả bài báo viết trên Scientific American.


Sự kỳ lạ của não bộ: Vùng đất chưa được khám phá hết

Cần phải nhớ rằng, NDE đã xuất hiện, tồn tại cùng chúng ta mọi lúc, trong mọi nền văn hóa và trong tất cả mọi người, trẻ và già, gái và trai. Đó là một trải nghiệm được kể lại bởi một người suýt chết hoặc đã bị chết lâm sàng và được cứu sống.

Vào năm 1791, đô đốc người Anh Sir Francis Beaufort (1774 – 1857), người được lấy tên để đặt cho Thang sức gió Beaufort, đã kể lại trải nghiệm của ông sau lần gần như bị chết đuối. Về sau ông nhớ lại thế này:

Một cảm giác bình yên lan tỏa khắp cơ thể trong lúc tôi cảm tưởng mình tuyệt vọng nhất. Tôi cũng không đau đớn. Có cảm giác như mọi giác quan đã chết, đã tê liệt nhưng tâm trí không như vậy. Tôi bắt đầu chuyến du hành ngược thời gian của mình, trở về với ký ức tuổi thơ, thời trai trẻ… tất cả diễn ra như một cuốn phim quay ngược. Không thể tưởng tượng được là cụm từ để miêu tả lúc ấy từ bất cứ ai đã từng là chính mình trong tình huống tương tự.

Đô đốc người Anh Sir Francis Beaufort (1774 – 1857)

Một trường hợp khác được ghi nhận vào năm 1900, khi bác sĩ phẫu thuật người Scotland Sir Alexander Ogston (người phát hiện ra tụ cầu khuẩn – Staphylococcus năm 1880) kể lại trải nghiệm NDE của mình như sau:

“Tôi ý thức được cơ thể như một khối bất động; nó thuộc về tôi, nhưng không phải tôi. Tôi ý thức được rằng linh hồn mình đã rời khỏi cơ thể. Tôi bắt đầu lạc vào thế giới của đầy rẫy những sự đáng sợ, những ký ức tồi tệ ào ạt kéo đến. Và mặc dù tôi biết rằng cái chết đang lơ lửng, ở ngày trước mặt nhưng tôi lại không cảm thấy sợ hãi về sự kết thúc đó. Tôi thấy mình lang thang bên dưới bầu trời u ám rồi đột nhiên mọi thứ xáo trộn khi tôi bị kéo trở lại thân xác mình…”

Gần đây, nhà văn người Anh Susan Blackmore đã nhận được một báo cáo từ một người phụ nữ từ đảo Síp đã phẫu thuật cắt dạ dày khẩn cấp vào năm 1991:

“Vào ngày thứ tư sau ca phẫu thuật đó, tôi bị sốc và bất tỉnh trong vài giờ… Mặc dù nghĩ là bất tỉnh, nhưng tôi nhớ, trong nhiều năm sau đó, toàn bộ cuộc trò chuyện chi tiết trôi qua giữa bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ gây mê. Tôi đang nằm trên cơ thể của chính mình, hoàn toàn không đau đớn và nhìn xuống chính bản thân mình với lòng thương xót cho nỗi đau đớn mà tôi có thể nhìn thấy trên khuôn mặt. Sau đó… tôi trôi đi nơi khác, trôi về phía một khu vực tối tăm, nhưng không đáng sợ, giống như rèm cửa và cảm thấy hoàn toàn yên bình. Đột nhiên, tất cả đã thay đổi, tôi trở lại cơ thể một lần nữa, nhận thức được sự đau đớn một lần nữa.”

Một người được cho là chết đi khi chức năng não không thể hồi phục. Khi não bị thiếu lưu lượng máu (thiếu máu cục bộ) và oxy (anoxia), bệnh nhân sẽ ngất xỉu trong một phút và điện não đồ của họ (EEG) trở thành đẳng điện. Điều này ngụ ý rằng hoạt động điện phân bố không gian quy mô lớn trong vỏ não, lớp ngoài cùng của não, đã bị phá vỡ.

Tâm trí – có cơ chất là bất kỳ tế bào thần kinh nào – vẫn có khả năng tạo ra hoạt động điện, thực hiện những gì nó luôn làm: Nó kể một câu chuyện được định hình bởi kinh nghiệm, trí nhớ và kỳ vọng của con người.

Đối với người trải qua nó, NDE giống như mọi thứ mà tâm trí tạo ra trong quá trình thức dậy bình thường. Khi toàn bộ não đã ngừng hoạt động vì mất điện hoàn toàn, tâm trí bị dập tắt, cùng với ý thức. Nếu và khi oxy và lưu lượng máu được phục hồi, não sẽ khởi động và dòng chảy trải nghiệm sẽ được phục hồi lại.

Bí ẩn lớn nhất của trải nghiệm cận tử: Những câu chuyện ly kỳ, đáng sợ bây giờ mới kể  - Ảnh 6.

Trải nghiệm ngoài cơ thể (thoát xác) là một trong những biểu hiện của trải nghiệm cận tử. Ảnh minh họa: John Custer / New York Times

Các nhà khoa học đã ghi hình, phân tích và mổ xẻ sự mất mát và phục hồi tiếp theo của ý thức ở những người Mỹ được đào tạo thành phi công thử nghiệm và các phi hành gia NASA trong máy ly tâm thời Chiến tranh Lạnh.

Với lực hấp dẫn gấp khoảng 5 lần, hệ thống tim mạch ngừng cung cấp máu cho não và phi công bị ngất. Khoảng 10 đến 20 giây sau khi các lực G lớn này ngừng hoạt động, ý thức trở lại, kèm theo một khoảng thời gian nhầm lẫn và mất phương hướng tương đương (các đối tượng trong các thử nghiệm này rõ ràng rất phù hợp và tự hào về khả năng tự kiểm soát của mình).

Kết quả, nhưng người tham gia thử nghiệm đều kể lại rằng: Họ có cảm giác thức dậy trong trạng thái giống như bị bóng đè (bao gồm bị tê liệt một phần hoặc hoàn toàn cơ thể); Đi kèm với đó là cảm giác bình yên, trôi nổi; Trải nghiệm ngoài cơ thể (thoát xác); Nhìn thấy những giấc mơ ngắn ngủi nhưng mãnh liệt, liên quan đến các cuộc trò chuyện với các thành viên trong gia đình….

Nhiều nhà thần kinh học đã ghi nhận sự tương đồng giữa NDE và ảnh hưởng của một lớp các sự kiện động kinh được gọi là động kinh cục bộ phức tạp. Những điều này phù hợp với ý thức suy giảm một phần và thường được tập trung vào các vùng não cụ thể ở một bán cầu.

Tronng cuốn tiểu thuyết thế kỷ 19 “Chàng ngốc” của đại văn hào Nga Fyodor Dostoevsky đã miêu tả cơn động kinh của hoàng thân Myshkin, nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết rằng:

Trong cơn động kinh của mình, hay đúng hơn là ngay trước chúng, Myshkin luôn trải qua một hoặc hai khoảnh khắc khi cả trái tim, tâm trí và cơ thể của anh ta dường như thức dậy ngập tràn sức sống và ánh sáng; khi đó, anh ta trở nên tràn đầy niềm vui và hy vọng, và tất cả những lo lắng của anh dường như bị cuốn trôi mãi mãi..

Hơn 150 năm sau, các bác sĩ phẫu thuật thần kinh có thể tạo ra cảm giác ngây ngất như vậy bằng cách kích thích một phần điện của vỏ não gọi là insula ở bệnh nhân động kinh có điện cực được cấy vào não. Kích thích chất xám ở những nơi khác có thể kích hoạt những trải nghiệm ngoài cơ thể hoặc ảo giác thị giác.

Tại sao tâm trí phải trải qua cuộc đấu tranh để duy trì hoạt động của nó khi đối mặt với việc mất lưu lượng máu và oxy là tích cực và hạnh phúc thay vì hoảng loạn vẫn còn bí ẩn.

Có lẽ những trải nghiệm ngây ngất như vậy là phổ biến đối với nhiều dạng chết miễn là tâm trí vẫn minh mẫn và không bị mờ đục bởi thuốc phiện hoặc các loại thuốc khác được dùng để giảm đau.

Đối với các nhà khoa học, não bộ người là cơ quan bí ẩn nhất, phức tạp nhất mà họ chưa thể khám phá, giải mã hết.

Bài viết sử dụng nguồn: Scientific American

‘2666’ và câu chuyện xảy ra ở thành phố có 108 xác chết

Cuốn sách “2666” của Roberto Bolaño là một vũ trụ đủ triết lý, nực cười, lãng mạn, tục tằn, ngây thơ và cả tội ác.

2666 là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của nhà văn người Mỹ Latin Roberto Bolaño, được xuất bản một năm sau khi ông qua đời vì căn bệnh suy gan khi 50 tuổi.

2666 không chỉ là kiệt tác cuối đời của một tiểu thuyết gia, mà còn là kiệt tác đến từ “tiếng nói văn chương Mỹ Latin quan trọng nhất trong thế hệ của ông”.

'2666' va cau chuyen xay ra o thanh pho co 108 xac chet hinh anh 1 91256167_10158188808229085_243074189513195520_o.jpg
Cuốn sách 2666 của Roberto Bolaño vừa được xuất bản tại Việt Nam. Ảnh: Nhã Nam.

Một kiệt tác đồ sộ

Cuốn sách xoay quanh rất nhiều nhân vật, nhưng tất cả chỉ đều dẫn đến Santa Teresa, thành phố bên rìa sa mạc ở bắc Mexico, giáp biên giới Mỹ.

Ở đó có người châu Âu nghiên cứu văn chương, một giáo sư đại học, một nhà báo Mỹ, một nhà văn Đức kiệt xuất nhưng sống ẩn dật. Rất nhiều cảnh sát, gái điếm và những nhân vật tưởng chừng chẳng có can hệ gì đến nhau.

Những vụ giết người cứ xảy ra hàng ngày trong cái thành phố đầy sức sống và cũng nhiều hiểm họa ấy. Trong cuốn sách, từ năm 1990 đến 1997, 108 xác chết đều là phụ nữ và các bé gái.

Xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm là một vũ trụ đủ màu hỉ, nộ, ái, ố, đủ mùi triết lý, nực cười, lãng mạn, tục tằn, ngây thơ đến độ đui mù, ngoan ngoãn xoay quanh địa ngục lỗ đen và răm rắp tuân theo lệnh của lỗ đen.

Ngay từ khi ra mắt, cuốn sách đã được giới phê bình đón nhận tích cực và dành tặng nhiều lời khen ngợi. Tác phẩm chiến thắng giải “Altazor Award” năm 2005 tại Chile và khi được dịch sang tiếng Anh năm 2008 cũng chiến thắng luôn giải “National Book Critics Circle Award for Fiction” của Mỹ.

Tờ New York Times xếp cuốn sách là một trong 10 tác phẩm hay nhất năm 2008, trong khi tạp chí TIME cũng vinh danh 2666 là tiểu thuyết hư cấu hay nhất cũng trong năm đó.

Tựa đề cuốn sách là một điều bí ẩn, đến nay chưa ai giải đáp được. Con số 2666 không xuất hiện dù chỉ một lần trong suốt tác phẩm và Bolaño cũng chưa từng lên tiếng giải thích ý nghĩa của nó.

Tuy vậy, 2666 đã xuất hiện trong một vài các tác phẩm khác của Bolaño, có thể kể đến Amulet (‘một nghĩa trang vào năm 2666) và The Savage Detectives (‘khoảng năm 2600 gì đó’).

Trong bản gốc tiếng Tây Ban Nha, tác phẩm 2666 dày hơn 1.100 trang. Sau khi chuyển ngữ, bản sách tiếng Việt có độ dày gần 900 trang, kết cấu 5 phần rõ ràng.

Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về 2666, câu chuyện đằng sau cuốn sách, cũng như khi so sánh với các tác phẩm khác, công ty sách Nhã Nam tổ chức buổi tọa đàm trực tuyến “Nhìn thế giới từ phương Tây: Tiểu thuyết của Murakami và Bolano ở Việt Nam” vào tháng 5 vừa qua.

Chương trình có sự tham gia của dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng, một trong hai dịch giả chuyển ngữ tác phẩm đồ sộ 2666 về Việt Nam.

'2666' va cau chuyen xay ra o thanh pho co 108 xac chet hinh anh 2 bolano.jpg
Roberto Bolaño (trái) và Haruki Murakami – hai nhà văn xuất sắc của thời đại.

“Đừng bó buộc nhà văn trong định danh quốc tịch của họ”

Ngay từ phần mở đầu của buổi tọa đàm, dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng khẳng định ông không phải là nhà nghiên cứu Roberto Bolaño. Ông chỉ đơn giản là người đọc Bolaño sớm hơn so với độc giả Việt Nam.

Ông cũng là người gợi ý hai cuốn sách hay nhất của Bolaño để phía đơn vị xuất bản đem tác phẩm về với độc giả Việt, một trong hai tác phẩm đó là 2666.

Thực chất, cách đây 12 năm, Bolaño đã xuất hiện tại văn đàn Việt Nam với cuốn tiểu thuyết Đêm Chile nhưng chưa được chú ý nhiều. Đến năm 2020, khi tác phẩm 2666 được xuất bản, công chúng mới nghiêm túc nhìn nhận văn chương và tài năng của ông.

Trần Tiễn Cao Đăng biết đến Bolaño lần đầu năm 2007 với cuốn The Savage Detectives (tạm dịch: Trinh thám hoang dại) qua người bạn. Điều đáng nói là khi ấy cuốn sách 2666 vẫn chưa được dịch ra tiếng Anh. Phải khi sách được xuất bản tại Mỹ năm 2008, tên tuổi của Bolaño mới gây được tiếng vang lớn trên thế giới.

Tương truyền khi 2666 ra mắt tại thành phố New York, Mỹ, có hiệu sách còn bố trí riêng một người để lấy sách cho độc giả, bởi số người muốn mua cuốn sách của Bolaño rất lớn. Sức hút cũng không kém gì Haruki Murakami khi mới xuất hiện tại cộng đồng Anh ngữ.

Một điều thú vị khi nhắc đến Bolaño, Murakami hay bất kỳ nhà văn nào khác, Trần Tiễn Cao Đăng khuyên độc giả đừng bó buộc họ trong định danh quốc tịch của chính họ như Chile hay Nhật Bản…, mà đơn giản hãy gọi họ là nhà văn.

Ví dụ, các tác phẩm của Murakami, khi loại bỏ hết tên riêng tiếng Nhật và thay bằng những cái tên trong bất cứ ngôn ngữ nào khác, câu chuyện vẫn không thay đổi.

Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai nhà văn vốn chẳng phải đến từ phương Tây, từ khu vực Âu – Mỹ, nhưng vẫn được yêu thích trên toàn thế giới, là tính hiện thực.

Ở Bolaño, tính hiện thực xuyên suốt trong từng trang sách. Ngay chính ở 2666, độc giả cũng có thể thấy rõ điều đó, như ở phần 4 của cuốn sách là chương mà các tội ác dày đặc, ta bị đông cứng người lại vì có quá nhiều việc ác hiển hiện đến như vậy.

Còn Murakami lại là những thế giới siêu thực, song song với nhiều yếu tố kỳ ảo. Hầu như các tác phẩm của Murakami đều có yếu tố phi thực như vậy, như trong Biên niên ký chim vặn dây cót, Kafka bên bờ biển, Cuộc săn cừu hoang…

Các nhân vật của Bolaño và Murakami cũng trái ngược nhau. Bolaño luôn coi mình trước hết với vai trò nhà thơ, mặc dù thành công vang dội trong mảng văn chương. Vì thế, trong hầu hết sách của ông, nhân vật nhà thơ luôn xuất hiện, hiện thân cho cái tôi của chính ông.

Trong Trinh thám hoang dại, toàn bộ câu chuyện xoay quanh các nhà thơ và số phận của họ. Họ hướng tới cái đẹp mà chỉ có mình họ quan tâm đến.

Họ đi bán thuốc phiện để được làm thơ. Nhưng xã hội hiện đại không quan tâm đến họ, biến họ thành kẻ lạc loài. Trong 2666, tuýp nhân vật này lại xuất hiện, đó là anh nhà thơ trong nhà thương điên.

Còn với Murakami, các nhân vật chính lại chưa bao giờ là nhà thơ hay nghệ sĩ. Họ chỉ là những người bình thường, sống độc thân hoặc cô đơn, thường thích nấu ăn và thích nghe nhạc jazz.

Có thể nói hai nhà văn lớn được nhắc đến thuộc hai thế giới hoàn toàn khác nhau, nhưng cùng được xem là hai trong những tiểu thuyết gia quan trọng nhất của thời hiện đại.

'2666' va cau chuyen xay ra o thanh pho co 108 xac chet hinh anh 3 1_3.jpg
Khách mời Trần Tiễn Cao Đăng, một trong hai dịch giả chuyển ngữ tác phẩm 2666 về Việt Nam. Ảnh: Zzzreview.

Với gần 900 trang, cuốn sách 2666 có sự tham gia của hai dịch giả giàu kinh nghiệm là Quân Khuê và Trần Tiễn Cao Đăng, dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha và có được đối chiếu cẩn thận.

Theo chia sẻ từ đại diện đơn vị xuất bản, cuốn sách cũng được gia hạn bản quyền đến hai lần, không chỉ bởi độ dày, mà còn bởi sự chỉn chu, cầu toàn của người dịch, biên tập viên với một kiệt tác văn chương.

Kết thúc buổi tọa đàm, dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng khuyên độc giả đừng nản lòng trước sự đồ sộ của 2666. Văn chương của Bolaño được đánh giá tương đối dễ đọc, dễ hiểu. Ông cũng không phải là người thích chơi chữ nhưng lại có biệt tài kể chuyện cuốn hút.

Độc giả hãy cứ kiên nhẫn, hãy cứ thoải mái tận hưởng cuốn sách từng chút một, và sẽ tìm thấy sự hài lòng khi gấp trang cuối cùng lại.

Thiên Ái / Sách hay / Zing

Mark Zuckerberg vượt qua Warren Buffett và ông chủ LV thành người giàu thứ 3 thế giới

CEO Facebook hiện sở hữu tài sản hơn 89 tỷ USD và là người giàu thứ 3 thế giới chỉ sau Jeff Bezos và Bill Gates.

Bất chấp những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế toàn cầu, Mark Zuckerberg – CEO Facebook vẫn bổ sung hơn 30 tỷ USD vào khối tài sản khổng lồ của mình chỉ sau 2 tháng.

Theo bảng xếp hạng Bloomberg Billionaires Index ngày 23/5, Zuckerberg sở hữu 89,1 tỷ USD, vượt qua nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett (69,2 tỷ USD) và ông chủ LVMH Bernard Arnault (80,4 tỷ USD). Hồi giữa tháng 3, khi Thung lũng Silicon và Bay Area bắt đầu thực hiện lệnh “trú ẩn tại chỗ”, Zuckerberg xếp thứ 5 trên bảng xếp hạng người giàu của Bloomberg với 57,5 tỷ USD

CEO Facebook hiện là người giàu thứ 3 thế giới, chỉ sau Jeff Bezos – ông chủ Amazon (147 tỷ USD) và nhà đồng sáng lập Microsoft, Bill Gates (108 tỷ USD).

Mark Zuckerberg vượt qua Warren Buffett và ông chủ LV thành người giàu thứ 3 thế giới - Ảnh 1.

Mark Zuckerberg hiện là người giàu thứ 3 thế giới. Ảnh: Reuters

Trong bối cảnh nền kinh tế đình trệ, gần 40 triệu người lao động Mỹ mất viêc, Facebook của tỷ phú 36 tuổi vẫn tăng trưởng tốt.

Hôm 29/4, công ty này công bố báo cáo doanh thu quý I tốt hơn mong đợi. Facebook vượt qua kỳ vọng của các nhà phân tích phố Wall khi đạt doanh thu 17,74 tỷ USD và thu hút 1,73 tỷ người dùng hàng ngày trong 3 tháng đầu năm 2020. Công ty cũng báo cáo đạt 3 tỷ người dùng hàng tháng trên toàn bộ hệ thống ứng dụng của mình, bao gồm Instagram, WhatsApp và Messenger. Đến sáng hôm sau, cổ phiếu Facebook tăng 8%, nâng giá trị thị trường thêm 44 tỷ USD.

Tuy nhiên, công ty của Mark Zuckerberg cũng thừa nhận có một “sự sụt giảm đáng kể” đối với nhu cầu quảng cáo trong 3 tuần cuối của quý I.

Trong 2 tháng qua, Facebook đã tuyên bố mở rộng hoạt động kinh doanh sang lĩnh vực thương mại điện tử và trò chuyện video. Gần đây, Facebook ra mắt Messenger Rooms, một dịch vụ trò chuyện video cho tối đa 50 người, khi các dịch vụ như Zoom và Houseparty gặp một số vấn đề khi sử dụng. Cách đây ít ngày, Facebook chính thức “lấn sân” sang thương mại điện tử với Facebook Shops – tính năng cho phép người dùng mua sản phẩm trực tiếp trên Facebook.

Theo Linh Lam / Người đồng hành

Kinh tế chiến lang của ĐCSTQ còn có thể hung hăng được bao lâu?

Anh cả của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là ĐCSTQ. ĐCSTQ tại WHO đối diện với áp lực từ nghị quyết ký tên chung của hơn 100 quốc gia yêu cầu điều tra nguồn gốc virus, và kêu gọi trả lại thân phận quan sát viên cho Đài Loan tại WHO. ĐCSTQ làm ngơ không thấy, vẫn thái độ hung hãn không thỏa hiệp. Sau dịch viêm phổi Vũ Hán, ĐCSTQ vẫn “nói không” với thế mạnh từ quốc tế. Ông Tập Cận Bình khi phát biểu tại Đại hội Y tế Thế giới (WHA) đã mạnh tay rải tiền, được coi là điển hình của ngoại giao chiến lang. Dù vậy đa phần mọi người đều cần phải hiểu, sức mạnh ngoại giao chiến lang của ĐCSTQ là đến từ nền kinh tế chiến lang, nhân tố chính giúp ĐCSTQ không sợ hãi rất đơn giản, “kiểm soát hơn một nửa nước nghèo trên thế giới”, chỉ cần ĐCSTQ tiếp tục kiểm soát các nước khác, thì mặt mũi của ĐCSTQ vẫn sẽ tiếp tục giữ vẻ xấu xí. Ý chính là ví dụ điển hình, thành phố lớn ở miền Bắc nước Ý Lombardia bị thiệt hại nghiêm trọng, đã đề xuất đòi ĐCSTQ bồi thường 20 tỷ Euro. Tuy nhiên Chính phủ trung ương phe cánh tả của Ý lại im tiếng vì không muốn đắc tội với ĐCSTQ. Có thể thấy kinh tế đỏ của ĐCSTQ có ảnh hưởng tới Ý lớn thế nào, chứng minh Chính phủ Ý đành phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”, có khổ mà khó nói.

Kinh tế Ý đỏ hóa, hoặc có thể nói, kinh tế của toàn bộ quốc gia châu Âu đỏ hóa, đương nhiên không phải là bắt đầu từ hôm nay, và bị kiểm soát ở mức độ lớn nhỏ khác nhau tùy vào nền tảng tài vụ của mỗi nước. Sau năm 1980, Liên Xô giải thể, khi kinh tế châu Âu đối mặt với tình trạng thu hẹp, khiến các nước phát triển chậm, lại đúng là thời điểm Trung Quốc trỗi dậy. Lượng lớn lao động giá rẻ Trung Quốc sau cải cách mở cửa đã tiến vào châu Âu, đến sau năm 2000, nhân lực và tài chính đều đã đến, nhất là bang Ôn Châu Trung Quốc. Tại Ý, các thành phố như Lombardia (thành phố bị dịch bệnh nghiêm trọng), Prato, Milan, người Ôn Châu chiếm 12%. Khu vực gần thành phố Milan có đến 2.000 nhà máy sản xuất quần áo chất lượng cao, hơn một nửa trong số đó là ông chủ người Trung Quốc. Đây là ngành sản xuất độc đáo của Milan, nhưng lại là mô thức chế độ lao động thủ công của Trung Quốc. Bởi vì giá cả sản phẩm chất lượng cao quyết định bởi nơi sản xuất, nếu như Milan giống như Gucci của Pháp chuyển nhà máy đến Trung Quốc sản xuất thì không phải là nguyên bản sản xuất tại địa phương nên giá sẽ giảm một nửa. Nước Ý cho rằng đây là chiêu tốt, kết cục là đại dịch bùng phát. Ý thậm chí còn đưa công an Trung Quốc tới khu vực gần Milan thực thi pháp luật để đối phó với người Trung Quốc, mở ra ví dụ về chuyển nhượng chủ quyền.

Kinh tế đỏ đi vào châu Âu

Không chỉ có Ý rơi vào tay ĐCSTQ, năm 2004, Xinjiang Chalkis, một công ty của Giải phóng quân ĐCSTQ, đã mua lại nhà máy sản xuất nước sốt cà chua lớn nhất tại Pháp là Le Cabanon. Nhà máy sản xuất nước sốt cà chua Le Cabanon nằm ở vùng Provence, có lịch sử cả trăm năm. Sau khi bị công ty Trung Quốc mua lại, bao bì bên ngoài của Le Cabanon vẫn duy trì như cũ, nhưng công nhân trong nhà máy lại đổi thành công nhân Trung Quốc đảm nhiệm, máy móc sản xuất hàng đầu đều bị dỡ bỏ, công nhân Pháp nghỉ việc. Tiếp theo, toàn bộ nông dân Pháp cung cấp cà chua cho nhà máy sản xuất đều thất nghiệp, bởi vì Le Cabanon không cần mua sản phẩm thu hoạch được của nông dân khu vực gần đó nữa, mà sốt cà chua đậm đặc được đóng thùng từ Tân Cương vận chuyển theo đường biển đến cửa khẩu nước Pháp, trực tiếp đưa vào nhà máy ở vùng Provence. Công việc hiện tại của công nhân là sau khi lấy bột cà chua từ trong thùng ra, sẽ cho vào lon thiếc sau đó hoàn thành động tác dán nhãn đóng gói. Ngoại quan của bao bì sốt cà chua Le Cabanon không thay đổi, nhãn mác vẫn như cũ, chỉ là ông chủ của nhà máy này đã đổi thành Giải phóng quân của ĐCSTQ.

Nguồn gốc của cà chua là Nam Mỹ, còn hiện tại huyện Toksu ở phía Bắc Tân Cương, thành phố Xương Cát ở Tân Cương có diện tích trồng trọt lớn nhất thế giới, mỗi năm đến mùa thu hoạch, người Duy Ngô Nhĩ chính là lao động giá rẻ nhất. Chủ những nông trại ở đây chính là Giải phóng quân ĐCSTQ, sau khi ĐCSTQ chiếm lĩnh Tân Cương, đã thực hiện chế độ đóng quân khai hoang, quân nhân chuyển thân biến thành ông chủ của nông dân, ông chủ của vườn ruộng rộng lớn, và còn thành lập Công ty Xinjiang Chalkis, mở rộng màu đỏ của ĐCSTQ ra toàn thế giới.

Kinh tế chiến lang của ĐCSTQ đã đạt được hiệu quả ở rất nhiều quốc gia, cùng với sự mở rộng của “một vành đai, một con đường”. Kinh tế chiến lang càng tiến sâu vào lục địa châu Phi, được gọi là mô hình phát triển kinh tế “bẫy ngọt”, khiến những nước này biến thành nước nợ lớn. Lấy Trung Á làm ví dụ, 5 nước có tên hậu tố stan ở Trung Á có hơn một nửa mà chủ nợ lớn nhất là Trung Quốc, ví dụ: Kyrgyzstan, Kazakhstan, Tajikistan. Còn các nước châu Phi thì càng không cần nói, hơn 60% quốc gia châu Phi có ký kết hợp đồng vay thương mại với Trung Quốc, chỉ cần không trả tiền, thì lập tức đối  mặt với chế tài của ĐCSTQ. Do đó, khi bị ĐCSTQ đeo tròng vào cổ, kết cục sẽ không khác gì thuộc địa các nước phương Tây.

ĐCSTQ ở châu Phi thông qua đầu tư phát triển, từ nông nghiệp đến khoáng sản, đã cướp đoạt tài nguyên của châu Phi, một khắc cũng không ngừng lại. ĐCSTQ tự xưng là giúp đỡ thế giới thứ ba, thực ra đây là học tập các nước châu Âu cướp bóc thuộc địa đối với châu Phi, chỉ là thủ đoạn tiến bộ hơn. ĐCSTQ giấu tiền đằng sau các doanh nghiệp tập đoàn lớn trên thế giới, khiến người khác không cách nào nhìn ra mà thôi.

Mỹ ‘nuôi hổ’ gây họa

Đồng đô la Mỹ là công cụ mà ĐCSTQ dùng để kiểm soát các nước khác trên thế giới, đồng thời học tập sử dụng chế tài thương mại mà các nước phương Tây thường sử dụng. Không lâu trước đó, Úc yêu cầu WHO tiến hành điều tra độc lập về nguồn gốc virus viêm phổi Vũ Hán, kiến nghị này đã đắc tội ĐCSTQ, thế là ĐCSTQ tiến hành ra tay đối sản phẩm lúa mạch nhập khẩu từ Úc, thực thi thuế quan trừng phạt 80%. Đây là ví dụ đơn giản nhất, chỉ cần dựa vào ĐCSTQ để kiếm lợi thì buộc phải nghe lời họ. Úc không nghe lời, hiện tại chỉ có thể kiện lên WHO, vấn đề là WHO cũng bị ĐCSTQ kiểm soát, Úc liệu có thể lấy được công bằng chính nghĩa hay không thì vẫn cần phải chiến đấu.

Rất nhiều học giả đổ lỗi cho Mỹ tự tạo ra tổ chức quốc tế sau chiến tranh, hy vọng duy hộ trật tự thế giới mới, nhưng kết quả thẩm phán của trật tự mới lại là ĐCSTQ. Nước Mỹ hiện tại tức giận, nhưng sự thực đã bày ngay trước mắt, bàn tay nắm giữ kinh tế thế giới mới là bàn tay nắm giữ ngoại giao thế giới. Mỹ cuối cùng đã nếm trái đắng, tiến cử một nước Đài Loan nhỏ bé vào Đại hội Y tế Thế giới mà vẫn phải nhìn sắc mặt của ĐCSTQ. Tuy nhiên cũng phải nói lại, tục ngữ Đài Loan có câu, “Kẻ xấu sẽ không kiêu ngạo lâu”, sói chiến sẽ biến thành sói cô đơn, ĐCSTQ còn kiêu ngạo được bao lâu? E là cũng không còn lâu nữa.

Hồng Bác Học
(Bài viết thể hiện lập trường và quan điểm của cá nhân tác giả)