Hàng nghìn phật tử dự lễ hoa đăng tại chùa Tam Chúc

Lễ hoa đăng Vesak 2019 diễn ra tối 13/5, với sự tham dự của 10.000 người và hơn 40.000 hoa đăng.

Vườn cột kinh nằm ở trung tâm chùa Tam Chúc (Hà Nam) là nơi tổ chức lễ hoa đăng – nghi lễ cầu hoà bình, quốc thái dân an, trong khuôn khổ đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak 2019).

Khu vực này được quy hoạch là vườn cột kinh lớn nhất thế giới, dự kiến khi hoàn thành sẽ có 1.000 cột đá, mỗi cột cao 12 m, nặng 200 tấn; hiện vườn có 36 cột kinh.

Hàng nghìn phật tử dự lễ hoa đăng tại chùa Tam Chúc

Từ 18h30 chiều, hàng nghìn bông hoa đăng được thắp sáng trong khuôn viên chùa Tam Chúc.

Hàng nghìn phật tử dự lễ hoa đăng tại chùa Tam Chúc

Các nghi thức chuẩn bị cho buổi lễ được thực hiện bên đàn lễ trước cửa điện Quan âm.

Hàng nghìn phật tử dự lễ hoa đăng tại chùa Tam Chúc

Buổi lễ có sự tham dự của 10.000 người với hơn 40.000 hoa đăng.

Hàng nghìn phật tử dự lễ hoa đăng tại chùa Tam Chúc

Biểu tượng của Vesak 2019 được tạo hình với khoảng 5.000 chiếc hoa đăng.

Hàng nghìn phật tử dự lễ hoa đăng tại chùa Tam Chúc

Nghi thức mở đầu buổi lễ diễn ra lúc 19h. Đêm hoa đăng được tổ chức để “muôn người chung một nhịp tim, chung một ước nguyện mong cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc”.

Hàng nghìn phật tử dự lễ hoa đăng tại chùa Tam Chúc

Hàng nghìn tăng ni thực hiện nghi thức tụng kinh chuyển pháp luân.

Hàng nghìn phật tử dự lễ hoa đăng tại chùa Tam Chúc

Trước cửa Tam Quan nội, nhiều người dân cầm trên tay bông hoa sen cầu nguyện trước khi thả xuống hồ.

Hàng nghìn phật tử dự lễ hoa đăng tại chùa Tam Chúc

Mặt hồ Tam Chúc là nơi người dân thả hoa đăng.

Hàng nghìn phật tử dự lễ hoa đăng tại chùa Tam Chúc

Đêm hoa đăng Vesak 2019 diễn ra từ 19h đến 21h.

Đại lễ Phật đản khai mạc sáng 12/5 và kéo dài đến 14/5 tại chùa Tam Chúc, với 1.650 đại biểu quốc tế từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự, trong đó nhiều vị tăng vương, tăng thống, lãnh đạo giáo hội, nhà nghiên cứu… Hơn 20.000 đại biểu là phật tử, nhân dân trong nước cùng dự. Theo quan niệm Phật giáo, lễ Phật đản là ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chào đời tại vườn Lâm Tỳ Ni vào 15/4 âm lịch năm 624 trước Công Nguyên.

Ngọc Thành

Trại cải tạo sau 1975

tubinha_saigon.jpg

Nguyễn Cao Quyền*

“Nếu không có chính sách cải tạo sai lầm thì nhân dân hai miền Nam Bắc đã cùng dồn nỗ lực vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện việc hoà hợp hòa giải dân tộc để nhanh chóng đưa đất nước đến cảnh phú cường”

I/  HỌC TẬP CẢI TẠO

Khi đồng minh Hoa Kỳ tháo chạy trước đà tiến quân của cộng sản Bắc Việt, họ đã để lại đằng sau 980.000 người lính của quân lực VNCH, những quân nhân đã từng sát cánh với binh sĩ Hoa Kỳ .

Vào giờ VNCH hấp hối thảm cảnh ‘’sống chết mặc bay ‘’diễn ra vô cùng chua sót. Người ta dẫm lên nhau chạy trốn cộng sản không kể gì đến sinh mạng và tài sản vì Hoa Kỳ không có một chương trình di tản nào tương xứng với tình nghĩa đồng minh. Khởi thủy Mỹ chỉ muốn di tản 50.000 người. Vào phút chót số nhân mạng được may mắn cứu vớt mới nhích lên được con số 130.000. Họ muốn moị chuyện diễn ra nhanh chóng cho xong việc. Người ta đoán được tâm trạng này qua lời nguyền rủa rất tàn nhẫn của Henri Kissinger : ’’Sao chúng không chết phứt cho rồi’’( Why don’t these people die fast ?). Như vậy, chỉ cần làm một con tính nhỏ người ta có thể thấy ngay là hơn 800.000 binh sĩ của quân lực VNCH đã là nạn nhân của chế độ cải tạo của cộng sản Việt Nam.

Chỉ vài ngày sau khi chiềm trọn miền Nam, những người cộng sản đã lùa quân nhân, công chức và thành viên đảng phái quốc gia vào tù. Trong một buổi ra mắt mừng chiến thắng, tướng cộng sản Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Hồ Chí Minh ( Sài Gòn ) đã tuyên bố trước báo chí một câu mà những người bị cải tạo không thể nào quên ‘’Đối với người Việt Nam không có ai là kẻ chiến thắng hay chiến bại. Chỉ có đế quốc Mỹ là bị đánh bại mà thôi.’’ Vì lời tuyên bố đường mật này mà các quân nhân, công chức và thành viên đảng phái quốc gia đã tự nguyện đi học tập cải tạo với số lương thực tự túc là 10 ngày hay 1 tháng tùy theo cấp bậc, chức vụ.

Thế rồi một tháng trôi qua, không ai được tha. Khi giải thích sự việc này,  cai tù nói rằng : ’’Đó là nghệ thuật của Cách Mạng bắt các anh vào tù chứ làm gì có chuyện trả tự do sau 1 tháng giam giữ cho các con người có nợ máu với nhân dân như các anh. Các anh còn phải cải tạo dài dài’’. Biết mình bị lừa nhiều người đã tự tử. Môt số người khác tìm cách trốn trại để rồi cũng bị bắt lại.

Sau một năm áp dụng lao động khổ sai cho chế độ cải tạo, Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam, trước khi bị Hà Nội giải tán, công bố chính sách 12 điểm quy định thời gian cải tạo là 3 năm. Sự công bố này lại mang hy vọng cho những người đã mất hết tin tưởng vào viễn ảnh của một ngày về đoàn tụ với gia đình.

Đến cuối năm 1978 thì cái hy vọng mong manh nói trên lại tan tành ra mây khói. Thời gian cải tạo 3 năm như lời hứa đã chấm dứt, song chẳng thấy ai được tha về. Trái lại, trong thời gian này, đa số đã bị lưu đầy lên những vùng rừng núi Bắc Việt ma thiêng nước độc với thân thể và tinh thần sa sút đến cùng cực. Một làn sóng tự tử thứ hai lại xảy ra, nhưng lần này bên cạnh những xác chết vì thất vọng còn có thêm nhiều xác chết khác vì đói khát và bệnh tật.

Vợ con của những người bị bắt đi cải tạo cũng trở thành nạn nhân của các biện pháp kỳ thị và ngược đãi. Họ bị đuổi khỏi nơi cư trú và phải đi vùng kinh tế mới giữa những rừng núi hoang vu không có một chút tiện nghi tối thiểu cần thiết cho đời sống. Con cái họ bị kỳ thị gắt gao khi thi cử và không được phép vào đại học. Nhà cửa của họ bị cán bộ chia nhau chiếm đoạt, tiền bạc của họ ở ngân hàng cũng không được phép lấy ra. Trong cơn túng quẫn những người khác rủ nhau chạy ùa ra biển, đem sinh mạng của chính mình và của con cái mình để đổi lấy tự do. Phong trào ‘’thuyền nhân tị nạn cộng sản ‘’ đã đánh động lương tâm nhân loại vì trong số hàng triệu ngưòi liều chết ra đi, gần một phần nửa đã nằm trong bụng cá hoặc làm mồi cho hải tặc.

II/ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG CẢi TẠO ( KINH NGHIỆM BẢN THÂN )

2009_04_28_ganhphan-gif.jpg

– Những ngày đầu giam lỏng : Sau khi trình diện để được ‘’học tập cải tạo’’chúng tôi được chở bằng xe bus đến Long Thành. Nằm trên đường Saigon-Vũng Tầu, không cách xa thị xã Biên Hòa là bao nhiêu, trại giam Long Thành là một cô nhi viện cũ bị trưng dụng làm nhà tù.

Trong những ngày đầu, chúng tôi tương đối được tự do, ăn uống không thiếu thốn vì ngoài lương thực mang theo 1 tháng chúng tôi còn có thể mua thực phẩm tại căng tin của trại. Chúng tôi cũng chưa phải lao động mà chỉ phải học tập 10 bài chính trị và viết tự kiểm. Các bài học chính trị là những tài liệu đơn giản kể tội Mỹ- Ngụy, tuyên truyền lý thuyết cộng sản và phổ biến chính sách khoan hồng nhân đạo của chính phủ cách mạng. Những buổi học tập này nhằm gieo vào đầu óc chung tôi mặc cảm tội lỗi để chúng tôi nhận tội và an tâm cải tạo lâu dài. Thỉnh thoảng cũng có cán bộ cao cấp từ trung ương về thuyết trình những đề tài chính trị và quân sự có tính cách vừa khoe khoang vừa đe dọa.

Cái mà những người cộng sản muốn đạt được không phải là vấn đề cải tạo chúng tôi thành những người ủng hộ chế độ mà chủ yếu là khai thác chúng tôi qua những bản tự kiểm để biết thêm tin tức về các mặt tình báo và tài nguyên của miền Nam. Trong thời gian làm tự kiểm cán bộ cộng sản đối xử với chúng tôi rất hòa nhã và tử tế. Họ khuyến khích khai thành thật với bằng chứng cụ thể và tố cáo thật nhiều để đái công chuộc tội với cách mạng. Phải nhìn nhận rằng về mặt khai thác này những người công an cộng sản rất lành nghề và làm việc có hiệu qủa cao.

Sau một tháng cải tạo không ai được tha. Đợt tha đầu tiên, gồm một số ít người có gia đình biết chạy chọt tiền bạc, chỉ xảy ra vào đầu năm 1976 trước khi chúng tôi bị lưu đầy ra Bắc. Chiến dịch lưu đầy này được chuẩn bị chu đáo vì họ có thời gian một năm để sắp xếp và thực hiện. Các trại tù miền Bắc được xây cất thêm hoặc dồn lại để có chỗ tiếp nhận chúng tôi. Phương tiện chuyên chở thì gồm vừa hàng không vừa hàng hải. Chuyến máy bay duy nhất chở tù chính trị ra Bắc nhằm mục đích quảng cáo cho chế độ và đánh lừa dư luận để người ta không để ý tới những chuyến hải hành khủng khiếp tiếp theo.

Sau khi những quân nhân và công chức cao cấp của VNCH đuợc chở bằng máy bay đi rồi chúng tôi được di chuyển từ Long Thành lên trại giam Thủ Đức. Cảnh tù đầy đầu tiên đến với chúng tôi tại trại giam này. Chúng tôi bị lùa vào những phòng giam chật chội thiếu vệ sinh, có cửa sắt khóa chặt dưới con mắt kiểm soát của những người công an cộng sản với nét mặt căm thù và hống hách. Hai tháng không hoc tập, không lao động, chỉ ngồi ăn làm cho số lương thực dự trữ cuả chúng tôi dần dần khô cạn. Viễn tượng đói khát bắt đầu xâm chiếm tâm hồn nhưng mỗi người trong chúng tôi cứ phải thúc thủ với ý nghĩ riêng của mình mà không dám chia sẻ với ai vì sợ bị gán cho tội nói xấu chế độ. Chúng tôi ý thức rằng cuộc đời phiêu lưu gian khổ sẽ bắt đầu từ đây.

– Chuyến hải hành khủng khiếp : Thế rồi việc gì phải đến đã đến. Tại trại giam Thủ Đức, một đêm, chúng tôi bị đánh thức dậy, nhận lệnh sắp xếp quân áo để chuyển trại, bị còng tay và chở bằng xe hơi lên bến Tân Cảng Saigon. Tại đây một chiếc tàu thủy to lớn đã chờ sẵn. Chúng tôi bị lùa vào những hầm tàu, nằm chờ tàu nhổ neo để bắt đầu chuyến hành trình ra Bắc. Bóng tối của hầm tàu che dấu những giọt nước mắt tuôn ra vì lo sợ, đau buồn và tủi nhục.

Trong suốt ba bốn ngày đêm lênh đênh trên mặt biển chúng tôi phải thu hết can đảm và nghị lực để chịu đựng sự tanh tưỏi và hôi hám của hầm tàu. Ban đêm hầm tối đen như mực. Ánh sáng chỉ lọt qua những kẽ hở khi mặt trời ló rạng. Khi tàu chuyển máy ra khơi, phần đông anh em tù nhân bị say sóng và nằm mê man bất tỉnh. Cao điểm của cảnh khổ cực này xảy ra chỉ một ngày sau khi chuyến hải hành khởi sự. Ví say sóng, nôn mửa và bài tiết nhiều nên lượng bài tiết lớn hơn những thùng chứa đựng khiến phân và nước tiểu cứ tự do đào thoát ra ngoài và len lỏi vào chỗ nằm của các tù nhân mỗi khi tàu chao đảo.

Khi tàu cập bến Hải Phòng, mở nắp hầm ra, những người cai tù sa sẩm mặt mày vì mùi hôi thối sông lên nồng nặc. Họ tức tốc đóng cửa hầm lại, đi lấy khẩu tranh đeo vào mũi miệng rồi mới tiếp tục công việc chuyển tù lên đất. Riêng đối với tù nhân thì khi bước ra khỏi hầm tầu ai cũng có cảm giác như vừa từ địa ngục được bước lên thiên đàng, một cảm giác chết đi sống lại.

Thoát được cảnh hầm tàu hôi hám chúng tôi liền bị còng tay và nhồi nhét vào những chiếc xe hơi bịt bùng không cho nhìn thấy cảnh vật bên ngoài. Xe chạy rất lâu trong đêm tối. Mãi gần sáng chúng tôi mới được lệnh ra khỏi xe và nhập trại. Những người công an canh gác cho chúng tôi tắm rửa ngay ở miệng một giếng nước, giặt giũ qua loa rồi hối thúc chúng tôi vào những phòng giam kiên cố cuả nhà tù. Sau khi cửa sắt đóng lại và khóa chặt, họ nói vọng vào từ bên ngoài : ‘’Các anh đến đây an toàn rồi, bây giờ chỉ còn việc an tâm cải tạo để chờ ngày được chính phủ khoan hồng’’. Nói xong họ bỏ đi chỉ còn lại hai người công an trẻ cầm súng gác.

Hỏi thăm hai người công an trẻ chúng tôi được biết trai này là trại Quảng Ninh, nằm trên rừng núi cao và nhìn ra vịnh Bắc Việt. Trại này hoàn toàn cách ly khỏi xã hội bên ngoài vì đường giao thông rất khó khăn. Xã hội thu hẹp của chúng tôi bây giờ chỉ gồm có ba thành phần : nhóm tù cải tạo chúng tôi mới đến, những người tù hình sự bị giam giữ từ lâu và những người cai tù có nhiệm vụ canh giữ.

Ngày đầu tiên đến trại Quảng Ninh, chúng tôi có cảm tưởng hình như thời gian trôi nhanh hơn thường lệ. Mới sáng đấy mà đã tối ngay. Khí lạnh của độ cao rừng núi thấm vào phòng giam và vào cơ thể con người. Khi màn đêm đổ xuống, trong phòng chỉ còn lại một ngọn đèn dầu leo lắt và những tiếng thở dài não nuột trong im lặng buồn tanh và ghê rợn.

– Tiến trình diệt chủng bắt dầu : Sáng hôm sau chúng tôi bị phân chia thành đội để bắt đầu làm quen với lao động. Mỗi đội, 30 người, do một đội trưởng là tù nhân và một quản giáo là cán bộ công an phụ trách. Khi đội đi lao động , công an vác súng đi kèm.

Trong những ngày đầu chúng tôi chỉ phải lao động nhẹ chẳng hạn như trồng rau hoặc cuốc sắn gần khu trại giam. Dần dần chúng tôi phải đi xa và phải lao động nặng nhọc hơn chẳng hạn như vào rừng lấy gỗ làm nhà. Sau nhiều ngày làm quen với khung cảnh sinh hoạt trong trại chúng tôi thấy rằng mỗi trại tù cộng sản là một đơn vị kinh tế độc lập. Tù nhân phải lao động để nuôi cán bộ canh giữ mình, để xây trại giam hãm mình và để cung cấp tiện nghi cho khu gia đình là khu vợ con cán bộ ở. Nhà nước không cần chi phí gì nhiều cho trại tù nên nếu nói rằng dưới các chế độ cộng sản nhà tù nhiều hơn trường học thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Bị lưu đầy ra Bắc chúng tôi mất hết liên lạc với gia đình, cho nên mọi nguồn tiếp tế lương thực đều bị cắt đứt. Lao động cả ngày mệt nhọc, chúng tôi chỉ được trại cho ăn 2 bữa, với mỗi bữa hai chén cơm đầy sạn thóc và một ít rau muống luộc. Ngoài hai bữa cơm ra chúng tôi không có thứ gì khác để nuôi sống cơ thể. Mỗi ngày anh em tù nhân nhìn nhau chỉ còn biết thở dài. Ai cũng gầy ốm đi trông thấy.

Ở trại Quảng Ninh chừng hơn một tháng, tôi và một số tù nhân khác bị chuyển đi trại Thanh Cẩm. Trại này nằm trong vùng Bái Thượng, trên thượng nguồn sông Mã, sau những giẫy núi Lam xanh biếc. Từ trại sang biên giới Lào ước lượng chỉ vài cây số. Đến đây chúng tôi bị giam chung với khoảng 700 anh em tù chính trị khác và trong trại cũng có cả một số tù hình sự. Tôi bị giam ở trại này liên tục cho đến ngày được tha về.

Tại trại Thanh Cẩm, chế độ lao động còn khắt khe và nặng nhọc hơn ở trại Quảng Ninh. Dưới mũi súng canh gác của công an gốc dân tộc Mường, chúng tôi phải đi rất xa để lấy cát làm nhà. Mỗi chuyến vừa đi vừa về vào khoảng 3 cây số. Mỗi ngày phải đi ba chuyến mà chỉ đươc ăn có 4 chén cơm với vài cọng rau muống luộc thì sức nào chiụ nổi. Nếu đội nào không đi xe cát thì phải xe đá hoặc vào rừng đẵn luồng vác về cho cán bộ làm nhà. Những người lao động ở trại cưa, trại mộc cũng không sung sướng gì hơn. Cả ngày quần nhau với những cây gỗ lớn, cưa sẻ liên hồi hoặc đục đẽo luôn tay thi lấy năng lượng đâu mà bù đắp. Cuốc đất trồng khoai ngô mới là mệt vì đất núi bạt ngàn mà nhân công thì thưa thớt. Ấy là chưa kể nhũng vụ gánh phân đi bón nặng gẫy sương sườn và chốc lở sương vai.

Sức người có hạn còn nhu cầu của trại thì mỗi ngày môt tăng thêm. Bên cạnh những cái chết vì tại nạn lao động như bị đá núi đè, lợp nhà té xuống đất hay bị cây luồng đâm thủng bụng, dần dần người ta thấy xuất hiện những cái chết vì đói, vì thiểu lực. Sau hơn ba năm bị lưu đầy ra Bắc anh em tù nhân chôn nhau, vì chết đói, đã chật cả một phần đồi sắn. Có một thời gian, trong tâm tư và trước mắt mọi người cái chết đã trở thành quen thuộc, không gây sợ hãi và cũng không gây súc động. Tù nhân chờ đợi Thần Chết đến thăm như chờ đợi một sự giải thoát.

Chính sách bắt lao động khổ sai kết hợp với bỏ đói là phương cách giết người tinh vi và thâm độc. Đó là sự nhẫn tâm và tàn ác nhất mà con người có thể đối xử với con người.

– Một vài cảnh đói ngoài tưởng tương : Xin kể ra đây vài cảnh đói mà người bình thường sống ngoài xã hội, cho dù óc tưởng tượng có xúc tích đến đâu, cũng không thể nào nghĩ tới :

Một hôm nhân lúc đội tù đang lợp nhà, thình lình anh em tù nhân phát giác một ổ rắn dưới tấm lá tranh. Tức thì một anh hô to ‘’Rắn, Rắn’’. Tiếng hô vừa rứt, đám tù nhân nhanh như cắt đã vây quanh ổ rắn và chỉ trong nháy mắt, bằng tay không, các anh đã bắt hết những con rắn độc, bẻ cổ vứt đi và nhét phần còn lại vào túi áo. Trong giờ giải lao, được phép của cán bộ canh giữ, các anh đã nổi lửa rồi đem rắn ra nướng và ăn ngon như chưa bao giờ ngon thế. Không phải chỉ có rắn mà cả rết, cả chuột, cả cóc nhái, sên ốc…nghĩa là tất cả những con gì cử động mà để cho các anh trông thấy thì đều chịu chung một số phận.

Một hôm khác, nhân ngày Chủ Nhật, không phải lao động, các tù nhân ôm bụng đói đang thiu thiu ngủ thì một anh nghe tiếng chuột con kêu trên mái nhà. Không bỏ lỡ cơ hội, anh liền chồm dậy, gọi thêm 2 người khác rồi cả ba, khiêng bàn, công kênh nhau lên bắt chuột. Họ bắt được một ổ chuột con hãy còn đỏ hỏn, chia nhau ăn sống như nhai những củ sâm. Mặc cho máu mê trào ra ngoài miệng trông như ác qủy, các anh thản nhiên nhai ngấu nghiến như không màng gì tới hoạt cảnh ghê rợn tạo nên.

Một buổi chiều sau khi đi lao dộng về, chúng tôi thấy một anh bạn tù nhân sắp chết đói đang ngồi bên một dòng nước tiểu chảy ta từ phía những thùng phân nổi trong cầu tiêu. Nhìn kỹ thấy anh đang bắt mấy con kiến, tha những mảnh ngô chưa tiêu kịp, di chuyển từ cầu tiêu về tổ. Anh lượm những mảnh ngô đó bỏ vào mồm rồi tha cho những con kiến để chúng tiếp tục làm công việc vận tải mà anh thèm muốn. Chương trình cướp ngô của kiến anh chỉ thực hiện được có một ngày. Ngày hôm sau anh trút hơi thở cuối cùng vì quá đói.

Bằng chính sách bỏ đói kết hợp với lao động khố sai những người cộng sản đã giết tù cải tạo mà không cần đem ra trường bắn, không cần nhốt vào lò hỏa thiêu như người Đức Quốc Xã đã làm. Họ cũng chẳng cần tạo ra những cảnh ‘’tắm máu’’ làm gì.

– Một chuyện tù vượt ngục : Trại cải tạo Thanh Cẩm có một khu kiên giam dành cho những thành phần được cộng sản coi là đặc biệt nguy hiểm. Những người bị giam trên khu này không phải lao động nhưng bị cùm chân ban đêm khi đi ngủ. Có một thời gian, tôi cũng là một tù nhân của khu vực kiên giam này. Nhờ không phải lao động nên tôi mới sống sót đến ngày nay. Tại đây tôi còn giữ lại một kỷ niệm hãi hùng mà suốt đời không bao giờ quên được, kỷ niệm liên quan đến một chuyện tù vược ngục.

Là những tù nhân không có ngày về và bị bỏ đói triền miên hết ngày này qua tháng khác, chúng tôi cam tâm kéo dài cuộc sống bị đầy ải và hoàn toàn tuyệt vọng giữa rừng núi hoang vu của biên giới Lào-Việt. Khi màn đêm đổ xuống, khu kiên giam lạnh lẽo và tĩnh mịch, nặng nề như một nhà quàn chất chứa những xác người chưa chết. Ban ngày, chúng tôi đau đớn nhìn nhau như nhìn những bộ xương khô biết cử động.Viễn tượng của ngày xum họp với gia đình, từ lâu, đã hoàn toàn tan biến. Tương lai duy nhất còn lại là sự chờ đợi ngày về với tổ tiên.

Thế rồi, một biến cố kinh hoàng đã xảy ra. Đêm ấy là đêm 1 tháng 5 năm 1979, đêm liên hoan nhân dịp lễ Lao Động. Bọn công an trẻ thuờng chểnh mảng trong nhiệm vụ canh gác mỗi khi có liên hoan. Bỗng nhiên trong bầu không khí tĩnh mịch của đêm khuya, chúng tôi nghe phát ra từ phòng giam bên cạnh, một âm thanh đào tường đều đều như máy chạy. Thỉnh thoảng lại có tiếng người rầm rì động viên nhau như hối giục.

Chúng tôi hiểu ngay đó là một kế hoạch trốn trại đang được tiến hành. Trong cơn tuyệt vọng, các anh mới đến từ trại Quyết Tiến, đang chọn đi vào chỗ chết để tìm đường sống. Mọi người trong phòng giam bên này đều nhắm mắt cầu nguyện cho các bạn đó thành công.

Đêm càng khuya chúng tôi càng hồi hộp. Âm thanh đào tường nghe mồi lúc môt yếu dần. Gà bắt đầu gáy sáng mà âm thanh vẫn còn tiếp tục.Khi âm thanh chấm dứt thì ánh nắng đã luồn qua khung cửa sắt chật hẹp của phòng giam.

Đang lo lắng cho số phận của mấy anh em trốn trại, chúng tôi giật mình vì những tiếng súng báo động nổ rến. Rồi tiếng chân người xô chạy về thượng nguồn song Mã xen lẫn với những tiếng la hét vọng lại từ xa. Trong phòng lúc đó không biết ai đã thở dài và thốt ra hai tiếng ‘’thất bại’’. Chúng tôi đau đớn chia sẻ sự thất bại đó và lo sợ đến tột cùng khi nghĩ tới những biện pháp trả thù của công an trong cơn tức giận.

Khi trời sáng hẳn, phòng giam của những người trốn trại bị công an lục soát rất kỹ. Một tên công an thản nhiên nói với đồng bọn :’’Thằng Tiếp chết rồi ‘’. Anh Đặng văn Tiếp là một cựu trung tá của không lực VNCH và dân biểu quốc hội trước khi miền Nam sụp đổ. Nghe hung tín đó chúng tôi đau đớn lặng người. Những giọt nước mắt từ từ lăn trên gò má như một lời vĩnh biệt. Tất cả các anh khác bị bắt lại hết và bị đánh đập. Hai ngày sau, anh Lâm Thành Văn chết theo anh Tiếp. Riêng cha Nguyễn Hữu Lễ may mắn sống sót dù bị đả thương rất nặng. Sau 13 năm cải tạo, linh mục Lễ hiện đang phụ trách một họ đạo ở Tân Tây Lan.

Bài học của Bắc Kinh : Vào khoảng đầu năm 1979, tại trại Thanh Cẩm, anh em tú cải tạo chết đói khá nhiều. Trong khi ai cũng cam tâm chờ chết thì một đêm chúng tôi nghe thấy những bài bình luận lạ tai phát ra từ những loa tuyên truyền ngoài cổng trại. Sau nhiều ngày theo dõi tin tức chúng tôi được biết giữa Hà Nội và Bắc Kinh đang có sự xích mích nặng nề.

Bắc Kinh đang chuẩn bị cho Việt Nam một bài học. Một quân đoàn Trung Cộng, trải dài trên 600 cây số tại biên giới phía Bắc sẽ xâm lăng Việt Nam và sẽ tiến vào Hà Nội trong vài ngày. Không khí chiến tranh bao chùm cả nước. Lệnh tổng động viên được ban hành và bộ đội đang di chuyển cấp tốc từ Campuchia về biên giới Việt-Trung. Các trại cải tạo nằm sát biên giới như Quyết Tiến, Phong Quang…được di tản sâu vào nội địa. Trại Thanh Cẩm phải nhận thêm một số tù nhân đến từ trại Quyết Tiến.

Chiến tranh đã thật sự xảy ra nhưng quân Trung Cộng, sau khi làm cỏ mấy tỉnh miền biên giới, chỉ tiến đến Việt Trì rồi rút về nước. Hà Nội không bị bao vây và công hãm.

Bài học của Bắc Kinh đã cứu sống rất nhiều tù cải tạo, đó là điều mà ít người biết tới. Vì có bài học này nên chính sách cải tạo khắc nghiệt của Hà Nội có đôi phần nới lỏng. Sau 4 năm bị cắt đứt mọi liên lạc với gia đình, chúng tôi được viết thư và nhận đồ tiếp tế trở lại. Không những thế, gia đình còn được phép đến trại thăm gặp và trong vài trường hợp đặc biệt tù nhân cải tạo còn được phép ở lại suốt đêm ngoài nhà khách để sinh hoạt với gia đình.

Một chuyện khác mà không ai ngờ tới là những gói qùa tiếp tế không những đã cứu sống chúng tôi khói chết đói mà còn cho chúng tôi cơ hội cải tạo những bộ óc của những người tự cho có nhiệm vụ cải tạo chúng tôi.

Mỗi đợt khám quà của tù nhân là một dịp để các cán bộ làm quen với thế giới bên ngoài qua những đồ tiếp tế. Lần đầu tiên khám qùa một anh cán bộ trẻ thấy một gói lạp xưởng đòi tịch thu. Chúng tôi hỏi tại sao thì được trả lời :’’Tịch thu, vì các anh không được phép mang nến ( đèn cày) vào trong trại’’. Tội nghiệp, từ bé tới lớn anh chưa được ăn lạp xưởng bao giờ nên tưởng lạp xưởng là đèn cày.

Những thứ lạ mắt như những cuốn giấy vệ sinh trắng muốt, những chai sà bông nước, những lon cà phê-sữa bột, những viên thuốc Tây xanh đỏ đựng trong những lọ có nắp khó mở….đều là những thứ mà trại thấy cần phải giữ lại để nghiên cứu. Sau này khi biết những thứ đó không có gì nguy hiểm và thỉnh thoảng lại được chúng tôi ‘’kỷ niệm’’ (nghĩa là cho theo ngôn từ cộng sản) các công an trẻ dần dần làm thân và thường muốn nghe chúng tôi kể những chuyện của thế giới bên ngoài, trong giờ lao động. Kỷ luật trại giữa cán bộ và tù nhân cũng không còn gay gắt như trước nữa.

Ngày một số anh em chúng tôi được trả lại tự do ( 1985 ) những người công an trẻ đến chia tay bằng một câu nói cảm động :’’Thôi các anh về mạnh khoẻ rồi đi ngoại quốc. Chúng tôi thì còn ở đây chưa biết đến bao giờ’’. Ngay lúc đó chúng tôi chưa nắm bắt được thông điệp ‘’rồi đi ngoại quốc ‘’ nhưng chúng tôi hiểu ngay rằng những thanh niên cộng sản đó đã bắt đầu tỉnh ngộ sau thời gian mấy năm được chúng tôi cải tạo.

III – CHIẾN DỊCH GIẢI THOÁT TÙ CẢI TẠO

Có một thời gian, công an trại thường chỉ mặt chúng tôi và hăm dọa nhiều lần :’’ Nếu bọn Mỹ không chịu bồi thường 3 tỷ 2 thì các anh sẽ còn cải tạo mút mùa.’’. Câu hăm dọa này không làm chúng tôi lo sợ mà, trái lại, làm chúng tôi mừng thầm vì đoán rằng có thể ở bên ngoài xã hội đang diễn ra một cuộc thương lượng giữa Hoa Kỳ và Việt Cộng để giải thoát chúng tôi khỏi cảnh tù đầy. Cho dù đây chỉ là một hy vọng rất mong manh nhưng chúng tôi cứ bám viú lấy nó như người sắp chết đuối vớ được cọc, để có lý do và can đảm tiếp tục cuộc sống.

Thế rồi, không bao lâu sau, sự ước đoán của chúng tôi được thân nhân vào thăm xác nhận là đúng. Từ đó, trong lòng chúng tôi, ngày nào cũng như mở hội. Hy vọng được về sum họp với gia đình có nhiều triển vọng trở thành sự thật.

Tôi được trả tự do vào cuối năm 1985, sau 10 năm 4 tháng 10 ngày bị cộng sản bỏ tù. Hội nhập lại vào xã hội bên ngoài, tôi được biết vào năm 1976, Kissinger đã tuyên bố :’’Hoa Kỳ đang chuẩn bị bình thường hóa bang giao với Việt Nam ‘’. Việc bình thường hóa bang giao không thành vì trong cuộc đàm phán ở Paris vào đầu năm 1977 Hà Nội khăng khăng đòi Hoa Kỳ phải trả 3250 triệu Mỹ Kim để bồi thường chiến tranh. Lẽ cố nhiên là Hoa Kỳ bác bỏ đòi hỏi vô lý đó vì Hà Nội đã không tôn trọng hiệp định Paris năm 1973.

Nền kinh tế của Việt Nam mỗi ngày một sa sút. Sự vô hiệu của kinh tế hoạch định và tình trạng sa lầy trong chiến tranh Campuchia khiến chế độ Hà Nội đứng trên bờ vực thẳm. Trung Cộng đã trở thành thù nghịch còn Liên sô thì cũng đang gặp khó khăn nên không biết nương tựa vào ai. Hoa Kỳ là sinh lộ duy nhất còn lại. Làm găng không được, Hà Nội bắt đầu đấu dịu.

Đầu thập niên 1980, cả Phạm văn Đồng lẫn Nguyễn Cơ Thạch đều bắn tiếng là sẽ thả tù cải tạo nếu Hoa Kỳ tiếp nhận. Hà Nội dùng tù cải tạo như phương tiện măc cả để xin viện trợ của Hoa kỳ. Hoa Thịnh Đốn đáp ứng và diễn tiến của chiến dịch giải thoát tù cải tạo được ghi nhận như sau.

Ngày 11-9-1984 ngoại trưởng George Schultz chính thức yêu cầu Hà Nội trả tự do và cho phép các tù nhân chính trị được định cư tại Hoa Kỳ. Ba tuần sau tổng thống Reagan gủi văn thư chính thức đến các bộ ngoại giao, an sinh và tư pháp về việc thâu nhận những người tù cải tạo Việt Nam.

Hoa kỳ đồng ý gặp đại sứ Võ Đông Giang của Hà Nội tại Nữu Ước. Cuộc đàm phán tiến hành trong bí mật.

Tháng 7 năm 1988 phái đoàn Robert Funseth, phụ tá thứ trưởng ngoại gao Hoa kỳ, đi Hà Nội họp với phụ tá bộ trưởng ngoại giao Việt Cộng Trần Quang Cơ để bàn về việc trả tự do cho tù chính trị và đưa họ đi định cư tại ngoại quốc.

Ngày 30-7-1989, ông Robert Funseth và Vũ Khoan, thứ trưởng ngoại giao Việt Cộng ký kết tại Hà Nội văn kiện về việc định cư tù cải tạo.

Qua thỏa hiệp này 3000 tù cải tạo và gia đình đã đến Hoa Kỳ trong những tháng đầu tiên của năm 1990. Chương trình định cư này trù liệu đưa ra nước ngoài 400.000 người thì 20% đã đến bến tự do năm 1990, 30% năm 1991, 30% năm 1992, 10% năm 1993 và 10% còn lại vào những năm kế tiếp.

Dựa theo các tài liệu đáng tin cậy người ta cũng được biết là trong số quân nhân VNCH được sang Mỹ định cư sau thời gian cải tạo thì 61% là cấp úy, 35% là cấp tá và tướng và 4% là viên chức chính phủ.

Con số những người chết trong các trại cải tạo chưa được xác định là bao nhiêu. Tài liệu của Khu Hội Tù Nhân Chính Trị Hawaii, thiết lập ngày 20-4-1993 đưa ra một con số rất thiếu sót là 587 người. Đây chỉ là một phần nhỏ của số ‘’tử vong vì cải tạo’’ trong thực tế.

Cũng theo một tài liệu khác chưa dầy đủ thì số trại cải tạo CSVN thiết lập trên toàn quốc sau năm 1975 là 80 trại ( bao gồm cả 2 trại ở các đảo Côn Sơn và Phú Quốc ).

Quyết định của Cộng Sản Việt Nam đưa quân cán chính VNCH đi cải tạo lâu dài sau năm 1975 là một sai lầm trầm trọng. Sau khi chiếm miền Nam, đáng lý ra Hà Nội phải biết lợi dụng thời kỳ vàng son này để hòa hợp hòa giải dân tộc và xây dựng tương lai phồn thịnh cho đất nước.

Giữa tháng 5-1975, bộ trưởng ngoại giao 5 nước ASEAN họp thường niên tại Kuala Lumpur đã bày tỏ ý muốn thiết lập bang giao với các nước Đông Dương. Trong thông cáo chung ngày 24-7-1975 Phi Luật Tân và Thái Lan minh định rõ là các căn cứ quân sự của nước ngoài trong khu vực chỉ là tam thời và khối SEATO sẽ giải tán.

Vào thời gian đó Nhật cũng trù liệu một ngân khoản 1600 triệu Mỹ Kim để giúp 5 nước ASEAN và 3 nước ĐÔNG DƯƠNG xây dựng khu thịnh vượng chung Đông Nam Á. Tiếp theo, tháng 8 năm 1977, Nhật lại kêu gọi sự hợp tác thân hữu giữa các nước trong vùng kể cả Miến Điện, và hứa viện trợ 5 tỷ Mỹ Kim cho kế hoạch phát triển Đông Nam Á tành một khu vực phồn vinh.

Sau khi gia nhập Liên Hiệp Quốc, Việt Nam còn được gia nhập Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế với một khoản vay mượn đầu tiên là 35 triệu Mỹ Kim. Ngân Hàng Thế Giới cũng xúc tiến kế hoạch giúp đỡ Việt Nam phát triển kinh tế thời hậu chiến. Thừa kế chỗ trống của VNCH, Hà Nội còn là hội viên của ngân hàng phát triển Á Châu.

Trong bối cảnh đó nếu không có chính sách cải tạo sai lầm thì nhân dân hai miền Nam Bắc đã cùng dồn nỗ lực vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện việc hoà hợp hòa giải dân tộc để nhanh chóng đưa đất nước đến cảnh phú cường.

Bị Hoa Kỳ giăng bẫy CSVN đã xé bỏ hiệp định Paris và xâm chiếm miền Nam để rồi liền sau đó lại bị Trung Cộng giăng bẫy nhử sang Campuchia và bị sa lầy ở đó. Hậu qủa của những quyết định mù quáng này là một nước Việt Nam kiệt quệ và tụt hậu.

Đối với Hoa Kỳ, bỏ rơi miền Nam Việt Nam trong trận đồ quốc tế để thắng Liên Xô và làm tan rã khối cộng sản là một vấn đề chiến lược. Tiến hành chiến dịch giải thoát tù cải tạo Việt Nam để họ được sang sinh sống và đoàn tụ tại Hoa Kỳ là một vấn đề của lương tâm. Đứng về phương diện quyền lợi cuả Hiệp Chủng Quốc mà xét thì trong cả hai việc làm này Hoa Kỳ đều khôn ngoan và thắng lợi.


 

* Ông Nguyễn Cao Quyền từng là một viên chức cao cấp trong chính quyền Việt Nam Cộng Hoà (VNCH). Tốt nghiệp khóa 1 Trừ Bị Nam Định và khoá 51-53 trường Saint Cyr (Pháp), đỗ cử nhân luật và cao học tiến sĩ kinh tế Đại học Luật khoa Sài Gòn (1963), thẩm phán Tòa Án Quân Sự, Đại tá Chánh thẩm Tòa Án Đặc Biệt (1966-1968), Cố vấn ngoại giao tại Paris (1968-1974), Nha Thông Tin Báo Chí Bộ Ngoại Giao (1974-1975), Sau năm 1975, ông bị đưa đi tù cải tạo (1975-1985), rồi sau đó sang định cư tại Maryland, Hoa Kỳ từ năm 1990. Ông từng là Chủ tịch Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị vùng Hoa Thịnh Đốn, nguyên Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, nguyên Chủ Tịch Cộng Đồng VN vùng Hoa Thịnh Đốn (1996-1998). Ông còn viết nhiều bài khảo luận về kinh tế, chính trị được phổ biến rộng rãi

NCLS có biên tập một số câu chữ cho phù hợp nội dung đăng tải

Nghiên cứu Lịch sử

 

“Ung Thư Văn Hóa”, “Ung Thư Nhân Cách” Ở Việt Nam: Những Mảng Lở Loét Đã Bắt Đầu Thối Rữa, Bong Tróc

Quách Hạo Nhiên

           “…Xứ sở thật thà

sao lại lắm thứ điếm

Điếm biệt thự, điếm chợ, điếm vườn…

Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng

Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn

Vật giá tăng

vì hạ giá linh hồn…!”

(Nguyễn Duy – Nhìn từ xa…Tổ quốc)

Bàn về đất nước và con người Việt Nam hôm nay, ông Nguyễn Phú Trọng – đương kim Tổng Bí thư và Chủ tịch nước – đã không dưới một lần lặp đi lặp lại cái điệp khúc: “chưa bao giờ quê hương ta đẹp và có đời sống văn hóa, kinh tế phát triển, xã hội ổn định như hôm nay; “mặc dù bây giờ ra đường lắm chuyện khó chịu, tham nhũng khắp nơi nhưng nhìn tổng quát lại đất nước ta có bao giờ được thế này không?”. Tương tự như thế là: “giáo dục nước nhà chưa bao giờ được như bây giờ”; hay “cơ đồ dân tộc chưa bao giờ được như hôm nay?”…

Là người làm chính trị lại nắm quyền hành tuyệt đối nên những điều ông Trọng nói ở trên kể ra cũng không có gì lạ. Âu cũng là lẽ tất nhiên vì “miệng nhà quan có gan có thép”. Tuy vậy, trong tư cách một công dân và trên hết là một Con Người, tôi cho rằng mình có đầy đủ quyền và trách nhiệm phải nghĩ khác và nói khác ông Trọng. Trong ý nghĩa này và nhìn ở giác độ văn hóa, với những gì đã và đang xảy ra hiện nay, tôi cho rằng xã hội và con người Việt Nam hôm nay đang bị hoành hành và tàn phá bởi căn bệnh “ung thư văn hóa”, “ung thư nhân cách”. Thời gian gần đây bệnh ngày một nặng hơn vì đã chuyển sang thời kỳ cuối nên bắt đầu di căn ra khắp cơ thể; không khó để mọi người có thể nhận ra những mảng lỡ loét, thối rữa và bong tróc rất đáng sợ này.

  1. Nói dối không biết ngượng mồm

Làm người phải biết tôn trọng sự thật, dám nói lên sự thật dù đó là những điều tồi tệ nhất. Người không biết tôn trọng sự thật là người không có lòng tự trọng. Mà tự trọng chính là cái thẻ “căn cước” chứng nhận sự trưởng thành về nhận thức và hoàn thiện về phẩm cách của mỗi cá nhân.

Đáng tiếc thay, người Việt hôm nay đa phần đều nói dối không hề biết chớp mắt. Từ quan cho đến dân, từ trí thức cho đến bình dân, thất học…tất thảy đều nói dối như một thói quen và không còn biết ngượng mồm. Trong một khảo sát được công bố mới đây của mình, ông Trần Ngọc Thêm cho ràng “bệnh giả dối” đứng hàng đầu trong 34 tật xấu của người Việt, chiếm đến 81%. Còn theo điều tra của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục thì tỷ lệ nói dối cha mẹ của học sinh tiểu học là 22%, học sinh trung học cơ sở là 50%, học sinh trung học phổ thông là 64% và sinh viên đại học là 80%! [1].

Thực ra, cũng không cần ông Trần Ngọc Thêm và các cộng sự phải dày công khảo sát, nghiên cứu, chỉ cần nhìn sự thối nát, bầy hầy của nền giáo dục (thầy không ra thầy, trò không ra trò, gian lận thi cử, mua bán bằng cấp, học hàm học vị diễn ra khắp nơi nhưng không một kẻ nào đứng ra nhận trách nhiệm và xin lỗi dân chúng) cùng vấn nạn tham nhũng của tầng lớp quan chức trong bộ máy công quyền (dù rằng mỗi ngày đều “học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM…”) sẽ cho thấy sự giả trá, thiếu trung thực của người Việt hôm nay khủng khiếp đến mức nào.

Một đất nước mà tham nhũng trở thành “quốc nạn”, quan tham thì nhung nhúc như dồi bọ (vậy mà lắm kẻ lại nói tiền xây biệt thự, mua xe sang hay đưa con cái đi tị nạn giáo dục và an dưỡng tuổi già ở các nước “tư bản giãy chết” là nhờ bán chổi đót, chạy xe ôm…) thì trên thế giới này có lẽ chỉ có miệng lưỡi của “Đảng ta” mới nói được câu: “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân”!?

Chưa hết, một đất nước mà biển đảo thiêng liêng do cha ông bao đời đổ máu xương gìn giữ nhưng cứ mất dần vào tay người “bạn vàng” “4 tốt” thì rõ ràng chỉ có “Đảng ta” mới đủ lập trường và bản lĩnh chính trị vững vàng để thốt ra câu: “chúng ta phải vì đại cục” và “mọi chuyện đã có Đảng và Nhà nước lo”!?

Chỉ riêng những điều trên thôi đã cho thấy con đường tiến lên CNXH của dân tộc này không thể là con đường nào khác ngoài con đường mang tên lừa mị và hoang tưởng. Và đây cũng chính là sự thật đã kéo dài hơn 40 năm nhưng dĩ nhiên cũng chỉ có “Đảng ta” là đủ dũng khí để thốt lên những lời dối gian trắng trợn: “tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”!?

  1. Sân hận, chia rẽ, vô cảm, vô trách nhiệm…

Người Việt lâu nay vốn tự hào là một dân tộc có truyền thống đoàn kết, nhân hậu, lúc nào cũng yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Và có lẽ là dân tộc duy nhất trên thế giới có ngày kỉ niệm “Đại đoàn kết dân tộc” (ngày 18/11 hàng năm).

Tuy nhiên, với những gì đang diễn ra hôm nay, tôi cho rằng nếu tất cả không phải là sự huyễn hoặc thì chính người Việt đang chà đạp và phản bội lại những giá trị tốt đẹp của cha ông mình. Giờ đây, nhìn cách người Việt hành xử, ứng xử tôi không thể không nói rằng Việt Nam hiện tại là một dân tộc rất rời rạc và đầy sân hận; lúc nào nghi kỵ và chẳng biết tương kính, nhường nhịn và yêu thương nhau thật lòng. Đây cũng có thể xem là hệ lụy kéo dài của căn bệnh giả dối từ đó làm cho người Việt ngày một trở nên vô cảm và vô trách nhiệm. Đó cũng là lý do “nội lực quốc gia” ngày một suy yếu, kẻ thù ngoại bang lợi dụng. Có hai vấn đề lớn cho thấy sự sân hận, chia rẽ và vô cảm, vô trách nhiệm của người Việt hôm nay như sau:

Thứ nhất, dù đã nói rất nhiều lần nhưng sau hơn 40 năm giang sơn đã thu về một mối nhưng sự sân hận và nghi kỵ của người Việt liên quan đến cuộc chiến tranh 20 năm ở thế kỷ trước vẫn nguyên vẹn, chẳng biết bao giờ mới có thể hòa hợp, hòa giải.

Thứ hai, dù đất nước đang hòa bình nhưng hàng năm số người Việt chết vì tai nạn giao thông và bệnh ung thư còn hơn cả trong thời chiến. Nếu tai nạn giao thông làm khoảng 8000 người Việt chết mỗi năm (theo số liệu “đếm xác người” chết thuần túy tại hiện trường của cảnh sát giao thông, còn theo số liệu của Bộ Y tế thì là khoảng 15000 người thậm chí theo Tổ chức y tế thế giới thì con số này lên đến hơn 22.000 người) [2] thì con số người Việt tử vong vì bệnh ung thư còn kinh hoàng hơn: trung bình có khoảng hơn 94.000 người tử vong mỗi năm. [3].

“Những con số chết chóc” trên cho thấy điều gì? Về tai nạn giao thông, nói cho cùng tất cả là do sự kém ý thức, coi thường pháp luật và nhất là coi thường mạng sống của chính mình và người khác mà ra.

Còn với căn bệnh ung thư, ngoài nguyên nhân trực tiếp là vấn nạn thực phẩm bẩn đang hoành hành thì môi trường sống của người dân đang bị ô nhiễm nặng nề là nguyên nhân chính yếu nhất. Cả hai nguyên nhân này đều cho thấy sự băng hoại và suy đồi đạo đức, văn hóa của người Việt hôm nay (từ quan cho đến dân). Đặc biệt tất cả đều cho thấy sự tham lam, ngu dốt, vô cảm và vô trách nhiệm của tầng lớp quan chức, lãnh đạo trong bộ máy công quyền; chỉ vì những mối lợi trước mắt mà cấu kết với bọn gian thương sẵn sàng đánh đổi môi trường sinh thái bình yên và tươi đẹp của đất nước. Không khó để nhận ra dọc chiều dài đất nước hiện nay là những dự án khủng (như: Bauxite – Tây Nguyên, Formosa – Hà Tĩnh, nhiệt điện Vĩnh Tân – Ninh Thuận, Lee & Man -Hậu Giang…) chẳng khác gì những quả bom nổ chậm đang treo lơ lửng trên đầu người dân. Dù vậy, tất cả đều được hợp pháp hóa dưới danh nghĩa phát triển kinh tế với mục tiêu “công nghiệp hóa”, “hiện đại hóa” đất nước theo “đúng quy trình” từ Bộ Chính trị cho đến các Sở, Ban, Ngành…Những cá nhân nào dám lên tiếng trao đổi, phản biện thì cái mũ “phản động”, “chống đối”, “nói xấu Đảng và Nhà nước” ngay lập tức sẽ được chụp lên!

  1. Vô pháp, vô thiên, vô đạo

Nhờ sự phát triển của công nghệ,  người Việt hôm nay tuy có nhiều điều kiện để học tập, trau dồi, mở mang kiến thức cũng như dễ dàng tiếp cận thông tin so với trước đó nhưng tiếc thay, nhiều người lại không đủ khả năng để tự nhìn nhận, soi rọi và điều chỉnh lại nhận thức và hành vi của mình. Đây có thể nói là một nghịch lý trong sự phát triển về xã hội và văn hóa ở Việt Nam thời gian qua. Và cái nghịch lý này đã nói lên tất cả sự khủng hoảng, mất phương hướng và rối loạn niềm tin của người Việt hôm nay. Vì khủng hoảng và mất phương hướng nên người Việt giờ đây chỉ biết hành xử theo bản năng, cảm tính và tâm lý đám đông, bầy đàn hơn là dùng lý trí để phân tích, đánh giá nhìn nhận các vấn đề diễn ra trong cuộc sống. Từ đó làm cho xã hội ngày một loạn lạc, rối ren hay nói khác đi, xã hội và con người Việt Nam hôm nay nhìn bề ngoài tưởng rất trật tự, nề nếp, êm ấm nhưng kỳ thực bên trong là một xã hội hoang dã, vô pháp, vô thiên và vô đạo.

Có thể thấy, vì mất niềm tin vào bản thân cũng như các mối quan hệ xã hội khác nên giờ đây người Việt gần như chỉ biết bấu víu vào những trò mê tín của những kẻ “buôn, bán Thánh”. Đó là lý do tại sao, có không ít người tuy ngoài miệng thì nói tuyệt đối tin vào sự lãnh đạo của “Đảng ta” nhưng trên thực tế thì tìm các vị “sư hổ mang” đang ẩn náu trá hình trong các đền, chùa, thiền viện hoành tráng, bề thế khắp mọi miền đất nước để cúng sao giải hạn và cầu xin ơn trên ban cho phước lành. Từ quan tới dân, giờ đây đang tranh nhau tìm đến các cơ sở tôn giáo nhưng không phải để củng cố và trau dồi đức tin trong sự hiểu biết và chân thành hướng thiện mà là để trình diễn, phơi bày tất cả sự tham lam và ngu dốt của mình. Cũng vì lẽ ấy, nên các cơ sở tôn giáo giờ đây nếu không phải là chỗ để họ “hối lộ”, ra giá với “thần thánh” thì cũng là tấm bình phong để che đậy những âm mưu, thủ đoạn mượn thần thánh để “kinh doanh niềm tin”, lừa gạt kiếm chác từ sự mê muội của đồng bào mình.

Có thể thấy, người Việt hôm nay tuy rất nhạy bén trước những vấn đề của xã hội và đất nước nhưng trong cách cư xử, ứng xử thì rất hoang dã, bản năng, và đặc biệt rất hung hăng và “máu me chiến trận…”. Nhiều người giờ đây sẵn sàng lao vào chửi bới, miệt thị, ném đá nhau đến toét đầu chảy máu về mọi chuyện lớn nhỏ trên không gian mạng chỉ với một mục đích duy nhất là: chứng tỏ bản thân đang nắm trong tay nhiều “bí mật” động trời và một chân lý “độc quyền”, đứa nào cãi lại hay nói khác đi đều là ngu muội, phản động…

Đó là trên không gian mạng, còn ngoài đời thực thì các vấn nạn xã hội như cướp, hiếp, giết, ấu dâm, quấy rối tình dục, xì ke ma túy, ngáo đá… đang có xu hướng và diễn ra ngày một công khai và tràn lan hơn. Trong khi đó hệ thống pháp luật Nhà nước tuy dày đặt nhưng đa lại phần chồng chéo do bị thao túng bởi các nhóm lợi ích. Tuy nhiên, điều đáng nói hơn cả là những kẻ thực thi và thừa hành pháp luật lại ít khi xài luật Nhà nước mà chỉ thích dùng “luật ngầm” hay “luật rừng” để “trao đổi” và “xử lý” cho mau lẹ…Và đương nhiên tất cả đều được bảo hộ bởi câu thần chú “đúng quy trình” hay “nghiêm minh”, “không có vùng cấm”…

  1. Thay lời kết

           Không hiểu sao mỗi khi nghĩ về xã hội và con người Việt Nam hôm nay tôi lại nhớ đến những câu thơ trong bài “Nhìn từ xa… Tổ quốc” của nhà thơ Nguyễn Duy. Những lúc như thế tôi lại càng thán phục tài năng, tầm vóc và tài “tiên tri” của Nguyễn Duy hơn. Đã hơn 30 năm rồi nhưng những điều ông khái quát và dự báo về xã hội và con người Việt Nam hôm nay không một chi tiết nào sai. Nhưng có lẽ điều đáng quý hơn cả chính là tâm thế và thái độ phản tỉnh trong sự cầu thị của ông đằng sau những con chữ trong bài thơ này. Tới đây tôi lại liên tưởng và muốn trở lại những điều ông Trọng đã nói ở phần thượng dẫn.

Ông Trọng vốn là người xuất thân từ dân “văn chương chữ nghĩa” nên tôi không nghĩ ông không hiểu những điều nhà thơ Nguyễn Duy đã tiên tri. Vấn đề là phải chăng kể từ khi bước vào con đường quan trường và để đến hôm nay trở thành người nắm quyền hành tuyệt đối ở xứ này ông ấy nghĩ rằng cái tấm bằng “Cử nhân Văn chương” – cái bước đệm đầu tiên để ông có được vị trí như ngày hôm nay – là thứ phù phiếm, cần phải vứt đi? Bởi nếu không, ở giác độ văn hóa, tôi nghĩ nếu đã đọc “Nhìn từ xa… Tổ quốc” thì với trình độ “Cử nhân văn chương” ông Trọng trước hết phải biết rung cảm – dù là sự rung cảm của một Đảng viên, một nhà chính trị nhưng suy cho cùng tất cả đều là con người bằng xương bằng thịt – để từ đó nhìn nhận một cách khách quan, trung thực tất cả những gì đang xảy ra trên mảnh đất hình chữ S này suốt mấy mươi năm qua.

Một xã hội, một đất nước mà cái nền tảng văn hóa bị sụp đổ, nhân cách, nhân tính con người bị tàn phá thì dù anh có nắm trong tay cái “công nghệ 4000 chấm” đi nữa cũng không bao giờ có thể làm cho đẩt nước “hóa rồng” hay “cất cánh” nhất là được bạn bè thế giới nể trọng! [4]. Vậy nên, xin hãy tự tỉnh thức, con người không ai có thể tự nắm tóc mình để nhấc lên khỏi mặt đất huống hồ trên đầu mình vốn chỉ còn mấy sợi loe hoe, trụi lủi và trơn tuột thế kia!

Q.H.N

———–

Nguồn tham khảo:

[1]: “Người Việt nói dối: con số và viễn cảnh”. Xem tại: https://giaoduc.net.vn/Van-hoa/Nguoi-Viet-noi-doi-Con-so-va-vien-canh-post173179.gd

[2]: “Bao nhiêu người chết vì tai nạn giao thông”? Xem tại:; https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/bao-nhieu-nguoi-chet-vi-tai-nan-giao-thong-1077411.html

[3]: “94000 ngừoi chết mỗi năm vì do ung thư”. Xem tại: https://laodong.vn/suc-khoe/94000-nguoi-viet-chet-moi-nam-vi-ung-thu-574005.ldo

[4]: “Công nghệ là hạt nhân thực hiện khát vọng “hóa rồng”. Xem tại; https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/cong-nghe-la-hat-nhan-thuc-hien-khat-vong-hoa-rong-1080061.html

Tác giả gửi cho viet-studies  ngày 12-5-19

Tại sao Tập Cận Bình lại bắn vào chân mình? 

Nguyễn Quang Dy

US President Donald Trump (L) looks up as he sits beside China's President Xi Jinping during a tour of the Forbidden City in Beijing on November 8, 2017. US President Donald Trump toured the Forbidden City with Chinese leader Xi Jinping on November 8 as he began the crucial leg of an Asian tour intended to build a global front against North Korea's nuclear threats. / AFP PHOTO / Jim WATSON        (Photo credit should read JIM WATSON/AFP/Getty Images)

Trong mấy bài trước cùng chủ đề này, tôi đã nhận xét: Mỹ và Trung Quốc sẽ “vừa đánh vừa đàm” (như một quy luật). Những gì vừa diễn ra càng khẳng định quy luật đó. Đàm phán thương mại Mỹ-Trung chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, sau 2 tháng đã đổ vỡ. Trump đã quyết định (từ trưa10/5/2019) sẽ tăng thuế nhập khẩu từ 10% lên 25% trên 200 tỷ (có thể cả 325 tỷ) hàng từ Trung Quốc. Cũng như lần trước, Trump đã làm thật chứ không chỉ dọa. Lập trường cứng rắn của Trump đối với Trung Quốc vẫn được đa số người Mỹ đồng thuận.

Mục tiêu chính

Tuy về chính trị, Trump phải cân nhắc các yếu tố liên quan đến triển vọng tranh cử (11/2020), nhưng về chiến lược, Trump quyết đấu với Trung Quốc bằng chiến tranh thương mại (cụ thể là bằng thuế quan). Nói cách khác, quan hệ Mỹ-Trung đã chuyển từ hợp tác chiến lược sang đối đầu chiến lược, như một đặc thù của quan hệ quốc tế trong thế kỷ 21. Vì vậy, sách lược “vừa đánh vừa đàm” phải phục vụ mục tiêu chính trị và chiến lược nói trên.

Cũng như Trump, Tập Cận Bình có hai mục tiêu chính là chính trị (phải củng cố địa vị lãnh đạo  của mình như “Hoàng đế Trung Hoa”) và chiến lược (phải vượt Mỹ để cầm đầu thế giới) bằng kế hoạch “Made in China 2025” và “Vành đai & Con đường”. Tuy về chính trị, Mỹ và Trung Quốc có thể nhân nhượng và thỏa hiệp (sách lược đàm phán), nhưng về chiến lược hai bên không thể nhân nhượng và thỏa hiệp (về thể chế và tầm nhìn chiến lược).

Đó chính là điều khác biệt giữa Obama (vẫn muốn hợp tác với Trung Quốc) và Trump (nay chủ trương đối đầu với Trung Quốc). Điều đáng lưu ý là chủ trương cứng rắn với Trung Quốc của Trump được sự ủng hộ không chỉ của đảng Cộng Hòa mà cả đảng Dân Chủ, không chỉ trong chính quyền, mà cả trong Quốc Hội. Đây là một xu thế khó đảo ngược. Dù Trump mất chức thì Tổng thống mới vẫn phải cứng rắn với Trung Quốc. Trong Nhà Trắng, người cầm đầu đoàn đàm phán với Trung Quốc vẫn là Robert Lighthizer (với Lighthizerism).

Bước ngoặt mới

Sau hơn hai tháng đàm phán, Mỹ và Trung Quốc đã không đạt được thỏa thuận như nhiều người mơ tưởng, mà đang đứng trước một bước ngoặt mới (hiệp 3) của cuộc chiến tranh thương mại (hay một cuộc chiến tranh lạnh về kinh tế). Tập Cận Bình muốn đàm phán để hoãn binh và chờ một cơ hội mới, hy vọng Trump bị phế truất bởi báo cáo điều tra của Robert Muellers hay một ứng cử viên sáng giá nổi lên có thể thắng Trump (như Joe Biden).

Đó là mong muốn của những người có ảo tưởng (wishful thinking) tại Bắc Kinh. Nhưng khi mong muốn đó không biến thành hiện thực, nó sẽ tạo ra một sự hẫng hụt, làm hỏng quá trình đàm phán (vào giờ chót). Điều đó đã xảy ra tại Hà Nội khi Trump đàm phán với Kim đến lúc sắp ký kết thì Kim đổi ý (backtracking) hy vọng báo cáo của Muellers và lời khai của Cohen buộc Trump phải nhân nhượng. Điều đó vừa lặp lại tại Washington khi Tập đổi ý, hy vọng Joe Biden tuyên bố ra tranh cử sẽ buộc Trump phải nhân nhượng.

Theo Michael Pillsbury (Hudson Institute), đàm phán thương mại đổ vỡ là dấu hiệu phái cứng rắn (hard-liners) đã thắng thế tại Bắc Kinh, buộc Tập Cận Bình không được nhân nhượng với Trump. Pillsbury nói rằng tin tức từ bắc Kinh cho biết “đây là một phần của chủ trương cứng rắn của Bắc Kinh muốn thuyết phục Tập phải thay đổi chính sách và cứng rắn hơn”. Tuy khó biết được điều đó có đúng hay không, nhưng Trump đã tỏ ra cứng rắn. Lưu Hạc và Lighthizer tuy hẹn gặp lại, nhưng rõ ràng “đàm” đã phải nhường bước cho “đánh”.

Hệ lụy khó lường  

Ngay hôm sau (11/5/2019), Trump tweeted: “Tôi cho rằng Trung Quốc cảm thấy bị đánh đau quá trong đàm phán nên họ có thể chờ đến bầu cử lần sau, năm 2020, xem có may mắn không và phe Dân Chủ có thắng không”. Ông nhấn mạnh: “Trung Quốc không nên tái đàm phán với Mỹ vào phút chót” và cảnh báo Trump chắc sẽ thắng cử. Lúc đó muốn đạt được một thỏa thuận với Mỹ, Bắc Kinh sẽ phải trả giá đắt hơn nhiều, nên nhân nhượng ngay bây giờ. Trump đã lệnh cho Lighthizer tăng thuế nhập khẩu lên 25% của 5.700 danh mục sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc (trị giá $ 200 tỷ) từ 12 giờ trưa (Eastern time) 10/5/2019.

Trong khi Tập không muốn luật hóa các thỏa thuận mà Mỹ đòi hỏi nhằm đảm bảo Trung Quốc sau này không vi phạm, thì Trump cũng không muốn ký vào một bản thỏa thuận yếu (weak deal) vì không phát huy được lợi thế của Mỹ về thuế quan. Khi Tập đứng trước áp lực của phái cứng rắn không muốn nhân nhượng Mỹ (nhất là đòi Trung Quốc phải thay đổi luật pháp) thì việc đàm phán sẽ đổ vỡ là điều tất nhiên, không có gì bất ngờ.

Kết cục là hai siêu cường lớn nhất về kinh tế đã quay lại cuộc chiến thương mại mà mới tuần trước tưởng như sắp kết thúc. Không biết các cố vấn của Trump có thực sự ngạc nhiên vì Bắc Kinh đổi ý hay không, và Lưu Hạc có thực sự thất vọng và chịu trách nhiệm vì đàm phán đổ vỡ hay không, nhưng chắc Trump không để Bắc Kinh thoát khỏi thế cờ vây chừng nào họ không từ bỏ những việc làm gây bất ổn cho Mỹ (destabilizing practices).

Thế cờ vây của Mỹ  

Trung Quốc đã dự đoán sai về chính trị Mỹ (hy vọng báo cáo điều tra của Muellers và triển vọng Joe Biden ra tranh cử sẽ làm Trump suy yếu) và đánh giá nhầm về kinh tế vĩ mô của Mỹ (có dấu hiệu suy yếu nên Trump phải bắt Fed giảm lãi suất). Trên thực tế, kinh tế Mỹ đã tăng trưởng cao (3,2%) và thất nghiệp đạt mức thấp kỷ lục (3,6%). Kinh tế Mỹ không bị trì trệ như Bắc Kinh đã dự đoán (nên đã đổi ý vào phút chót). Theo các chuyên gia kinh tế, việc tăng thuế quan không làm cho nền kinh tế Mỹ bị tổn thương nhiều (trong ngắn hạn). (Thương chiến Mỹ Trung: Khúc quanh mới và tác động, Phạm Đỗ Chí, BBC, May 12, 2019).

Trong khi đó, tình hình nội bộ của Trung Quốc bất ổn, tăng trưởng chỉ còn khoảng 6%, thị trường chứng khoán sụt 25% (2018), dự trữ ngoại hối giảm từ $4.000 tỷ xuống còn $2.600 tỷ (10/2018) và phục hồi lên mức $3.100 tỷ, hối suất đồng yuan giảm 6-8%. Thất nghiệp cao vào lúc này là vấn đề chính trị số một của Tập. Bắc Kinh chỉ còn cách đầu tư ra ngoài, nhất là các nước láng giềng vì lý do địa chính trị. Nhưng Bắc Kinh sẽ không còn đủ vốn cho kế hoạch đầy tham vọng, nên sáng kiến “Vành đai & Con đường” có thể bị phá sản.

Thế cờ vây của Mỹ được áp dụng tại Biển Đông khi các chiến hạm của Mỹ và đồng minh tập trận và tuần tra “FONOP” thường xuyên hơn. Tuy Trung Quốc có thể bắt nạt được các nước láng giềng nhỏ yếu trong ASEAN, nhưng phải đối mặt với một liên minh chiến lược mới là “Tứ cường” (Quad) gồm Mỹ-Nhật, Ấn-Úc. (Trump Renews Trade War as China Talks End Without a Deal, Alan Rappeport & Ana Swanson, NYT, May 10, 2019).

Già néo đứt dây

Theo Reuters (10/5/2019), căn cứ vào 6 nguồn thạo tin khác nhau (trong đó có 3 nguồn từ phía Mỹ) Trung Quốc đã “lật kèo” hầu hết các cam kết mà họ đã đưa ra trong quá trình đàm phán, và chính điều này đã làm Trump nổi giận. Trong 7 chương của dự thảo, Trung Quốc đã xóa bỏ các cam kết sẽ thay đổi luật pháp của mình để giải quyết những đòi hỏi cốt lõi của Mỹ là những ngòi nổ dẫn đến chiến tranh thương mại (như đánh cắp sở hữu trí tuệ và bí mật thương mại; ép buộc các công ty Mỹ ở Trung Quốc phải chuyển giao công nghệ; cạnh tranh không lành mạnh; hạn chế việc tiếp cận thị trường tài chính Trung Quốc; thao túng tiền tệ).

Robert Lighthizer và Steven Mnuchin đã bị sốc trước sự thay đổi lập trường của phía Trung Quốc. Ngay những người bạn cũ của Bắc Kinh (như Henry Kissinger và Henry Paulson) cũng lo ngại và lên tiếng chỉ trích. Theo CNN (9/5/2019) Trung Quốc một lần nữa lại đánh giá sai về Trump, khi họ bắt bí vào giờ chót với hy vọng Wasington phải chấp nhận thỏa thuận với Bắc Kinh. Tập Cận Bình đã rơi vào cái bẫy do chính mình dựng lên. Cả hai bên đều không muốn để cho dân chúng thấy mình đã nhượng bộ đối thủ, nên Trung Quốc và Mỹ đã khóa tay khóa chân nhau, cùng đẩy nhau tới bờ vực của cuộc chiến tranh thương mại.

Hầu hết các phân tích đều cho rằng nếu chiến tranh thương mại kéo dài, Bắc Kinh sẽ thiệt hại nhiều hơn Washington. Khi thương mại bị gián đoạn trong cuộc chiến này, “Trung Quốc sẽ bị tổn thương nhiều hơn bảy lần so với Mỹ”. Ngay khi Mỹ cũng chịu tổn thất thì Trung Quốc vẫn là bên bị tổn thương kinh tế nhiều hơn do phụ thuộc nhiều hơn vào xuất khẩu và gánh nợ ngày càng tăng của họ. Nói cách khác, kinh tế Mỹ không yếu như một số người ở Bắc Kinh lầm tưởng, trong khi sách lược bắt bí Mỹ vào giờ chót làm Trump nổi giận.

Cơ hội của Việt Nam  

Các chuyên gia cho rằng các quốc gia mới nổi ở khu vực (như Việt Nam) sẽ được lợi nhiều nhất khi các công ty của Mỹ có thương hiệu lớn (như Adidas, Nike, Apple, Brooks Running) buộc phải rời Trung Quốc để chuyển sang nước khác. Tháng 2/2019, HSBC đã xếp hạng Việt Nam nằm trong số các thị trường châu Á hưởng lợi lớn nhất từ nhiều kịch bản của chiến tranh thương mại. Theo Natixis Research, Việt Nam có mức lương cạnh tranh nhất so với Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc (ngoài kỹ năng lao động tốt và chi phí thấp).

Brooks Running (của Warren Buffett) vừa công bố sẽ chuyển khoảng 8.000 việc làm của họ từ Trung Quốc sang Việt Nam. Điều này sẽ khiến Việt Nam chiếm 65% sản lượng của Brooks Running trong khi Trung Quốc chỉ còn khoảng 10%. Một đại diện của công ty JLL tại Việt Nam cho biết vài năm trở lại đây, các công ty có mặt tại Trung Quốc đã bắt đầu để mắt và rục rịch chuyển sang Việt Nam. Cách đây khoảng 6 tháng, các công ty đó còn đang thăm dò, nhưng nay họ đã khá chắc chắn rằng Việt Nam là một lựa chọn tốt. (Tác động của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đến Việt Nam? New Straits times, May 12, 2019).

Việc Mỹ áp thuế 25% lên hàng hóa từ Trung Quốc sẽ làm tăng nhanh tốc độ dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang Đông Nam Á, một hiện tượng đã diễn ra từ mấy năm qua trong ngành dệt may và điện tử. Đặc biệt đối với Việt Nam, trong số 10 mặt hàng xuất khẩu hàng đầu, có 8 mặt hàng cùng loại với đối thủ Trung Quốc đang bị Mỹ đánh thuế. Đây là mối lợi bất ngờ cho Việt Nam, thu hút được hàng loạt đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong đó có những tên tuổi lớn như Samsung. Một số nước khác cũng đang hy vọng trong trung hạn, như nhận xét của Tony Cripps (CEO của HSBC tại Singapore): “Chuyển đổi một chuỗi sản xuất quy mô cần có thời gian. Nếu căng thẳng tiếp tục, Thái Lan hay Malaysia cũng sẽ được quan tâm”. (Chiến tranh thương mại Mỹ Trung Vừa đánh vừa đàm, VOA, May 10, 2019).

Rủi ro của Việt Nam

Theo các chuyên gia, chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đối với Việt Nam là “con dao hai lưỡi” (a sword that cuts both ways), làm Việt Nam “vừa được vừa mất” (a winner and loser). Investors Services đã nghiên cứu 23 nước ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, và thấy có 4 nước được lợi từ chiến tranh thương mại là Malaysia, Đài Loan, Thailand và Viêt Nam; Đồng thời thấy có 4 nước dễ bị thiệt hại là Hong Kong, Mông Cổ, Singapore và Việt Nam.

Trong khi lợi lộc là ngắn hạn thì chiến tranh thương mại kéo dài có thể làm suy yếu thương mại toàn cầu. Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào thương mại nên cần chuẩn bị cho tình huống xấu. Về lâu dài, Việt Nam cần cải cách thể chế sâu rộng. Theo Christian de Guzman (phó chủ tịch Moody’s Investors Services tại Singapore), “Với triển vọng bất ổn về tăng trưởng và thương mại, cũng như điều kiện tài chính eo hẹp hơn, việc suy giảm đầu tư sẽ làm thương mại sụt giảm, đặc biệt là Hong Kong, Singapore, Đài Loan, Việt Nam, và Mông Cổ”. (For Vietnam Trade War a Sword That Cuts Both Ways, Ha Nguyen, VOA, April 11, 2019).

Theo các chuyên gia, phụ thuộc quá nhiều vào đầu tư nước ngoài cũng làm cho Việt Nam dễ bị tổn thương trước sự thay đổi của xu hướng thương mại toàn cầu. Họ khuyên Việt Nam cải cách kinh tế thực sự, và có tầm nhìn lâu dài đối với những cản trở làm cho đất nước dễ bị tổn thương trước các xung đột thương mại. Họ lo ngại rằng chính phủ quan tâm quá ít đến cải cách mà chú trọng quá nhiều đến ký kết các hiệp định thương mại và bình ổn tiền tệ, chỉ tập trung nhiều vào các giải pháp tình huống để duy trì ổn định vĩ mô và tăng xuất khẩu trong ngắn hạn, mà bỏ qua cải cách kinh tế triệt để nhằm tái tạo khả năng tăng trưởng bền vững.

Lời cuối

Trong cuộc họp Trump-Kim tại Hà Nội (27-28/2/2019), dự thảo thỏa thuận đã sẵn sàng để hai bên ký vào trưa ngày 28/2. Nhưng Trump đã nổi giận bay về Mỹ ngay trưa hôm đó, sau cuộc họp báo ngắn. Theo tin giờ chót, Bắc Kinh đã khuyên Kim nên cứng rắn đối với Trump, vì cho rằng lúc đó Trump đang bối rối do cả đêm mất ngủ để theo dõi diễn biến buổi họp Quốc Hội kết tội mình sau lời khai gây sốc của luật sư Cohen, hy vọng Trump sẽ cần một thỏa thuận với Kim với bất cứ giá nào. Nhưng Trump đã tức giận bỏ về, để Kim nuối tiếc vì đánh mất một cơ hội hiếm có làm Mỹ bỏ cấm vận, và Nam Hàn giúp phục hồi kinh tế.

Nhưng đến nay, các quan chức Mỹ vẫn chưa thực sự hiểu tính cách và phong cách đàm phán thất thường của Trump. Tuy Tập Cận Bình đã thay đổi cam kết sau khi xem lại dự thảo văn bản, nhưng phó thủ tướng Lưu Hạc chắc phải chịu trách nhiệm một phần về sự đổ vỡ đó. Có lẽ Tập đã đánh giá sai khả năng có thể gây sức ép đối với Trump. Bắc Kinh chắc bị bất ngờ khi Trump hành động mạnh mẽ, quyết liệt, không cho hai bên tiếp tục đàm phán, khiến sách lược câu giờ của Tập hoàn toàn mất tác dụng. Giữa Mỹ và Trung Quốc dường như không có sự tin cậy lẫn nhau về các vấn đề gay cấn như cạnh tranh về công nghệ, gián điệp, Đài Loan, và Biển Đông. Có thể nói dù có đạt được thỏa thuận hay không, giới tinh hoa Mỹ đã đồng thuận coi Trung Quốc là mối đe dọa chiến lược. (As China Trade Talks Stall Xi Faces a Dilemma: Fold Or Double Down? Chris Buckley & Steven Lee Myers, NYT, May 9, 2019).

NQD. 13/5/2019. / Tác giả gửi cho viet-studies ngày 13-5-19)