Năm 1945: Cướp chính quyền và thay quyền dân

Luật sư Trần Thanh Hiệp,
 hình ảnhBBC NEWS TIẾNG VIỆT
Luật sư Trần Thanh Hiệp từng là thành viên phái đoàn chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Hòa đàm Paris 1973 và Luật sư tại Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn trước 30/4/1975.

Nhân kỷ niệm cuộc Cách mạng Tháng Tám và ngày 2/9 ở Việt Nam năm nay, BBC Tiếng Việt giới thiệu các ý kiến khác nhau về giai đoạn lịch sử này.

Ông Trần Thanh Hiệp, cựu luật sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn trước 30/4/1975 nói với BBC Tiếng Việt từ Paris về điều ông gọi là thiếu tính chính danh của hành động ‘cướp chính quyền’ năm 1945.

Còn ông Hoàng Cơ Lân, một nhân chứng từng là cựu học sinh có mặt tại cuộc mít-tinh đã ‘bị cướp diễn đàn’ hôm 19/8/1945 ở Hà Nội, bình luận về biến cố của cuộc cách mạng, vai trò của Cựu Hoàng Bảo Đại và chính quyền của Thủ tướng Trần Trọng Kim.

Ngoài ra là ý kiến về lịch sử chính thống hiện nay tại Việt Nam nói về đất Cách mạng tháng Tám 1945 như thời điểm ‘nước Việt Nam đã bước sang một trang mới trong lịch sử hào hùng của toàn dân tộc’.

Cướp chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim

“Tôi tuy quê ở Hà Tĩnh, nhưng hồi đó tôi học ở Hà Nội,” ông Trần Thanh Hiệp, cựu Luật sư Tòa Thượng thẩm Sài Gòn nhớ lại.

Cựu Hoàng Bảo Đại hình ảnhAFP/GETTY IMAGES
Cựu Hoàng Bảo Đại (1913-1997) là Hoàng đế đời thứ 13 và cuối cùng của Triều đình Nguyễn ở Việt Nam, lên ngôi và trị vì từ năm 1925-1945.

“Tôi nhớ là nhân có một cuộc biểu tình do công chức, dân chúng tổ chức để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, thì trong cuộc biểu tình ấy Việt Minh cướp cờ nổi lên và giành lấy như là cuộc biểu tình của Việt Minh để mà làm cuộc Cách mạng tháng Tám. Nhưng mà thực sự ra không có cách mạng gì cả, mà chỉ là một sự cướp chính quyền thôi.”

Và Luật sư Hiệp, người có nhiều năm sau 1975 làm luật sư ở cả Tòa Thượng Thẩm tại Paris, giải thích thêm quan điểm của mình với BBC hôm 29/8/2018:

“Đối với tôi đó là một hành động cướp chính quyền chứ không phải là cái mà người ta gọi là Cách mạng tháng Tám vì không có gì thay đổi, cách mạng cả, chỉ có cướp quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim để mà Đảng Cộng sản dưới tên gọi là Mặt trận Việt Minh hay Việt Nam Mặt trận Đồng minh, cướp lấy chính quyền…”

“Thực sự ra khi thay đổi, ai hay tổ chức nào mà có lực lượng, có sáng kiến thì có thể cướp được chính quyền, nhưng mà sau khi cướp chính quyền rồi thì phải bình thường hóa sự cướp chính quyền ấy bằng việc để cho tất cả nhân dân tham gia vào việc quản trị đất nước.

“Nhưng ở đây, Đảng Cộng sản Việt Nam khi cướp chính quyền thì giữ luôn chính quyền cho riêng mình và giành lấy độc quyền, rồi từ đó đến nay mở ra đường lối toàn trị. Thành ra Đảng Cộng sản tự cho mình quyền thay dân chúng để sử dụng chủ quyền quốc gia.

“Vì thế cho nên không thể nào coi là có tính chính đáng hay là theo từ ngữ cũ gọi là tính chính thống (legitimacy). Tôi cho rằng Đảng Cộng sản tự phong cho mình quyền thay dân chúng, chứ không trả lại cho dân chúng để bình thường hóa việc cướp chính quyền.”

Bác sỹ, cựu Đại tá Hoàng Cơ Lânhình ảnhBBC NEWS VIỆT NAM
Bác sỹ Hoàng Cơ Lân (phải) nói với phóng viên BBC Tiếng Việt, Quốc Phương (trái) rằng ông có mặt tại cuộc mít-tinh ở Nhà hát lớn Hà Nội hôm 19/8/1945

“Nhưng mà không có Cách mạng Tháng Tám mà chỉ có cướp chính quyền không, mà cướp chính quyền rồi cho đến năm 1975 cũng vẫn không trả lại cho dân chúng để bình thường hóa việc cho dân chúng tham gia vào việc quản trị đất nước, thì đó chỉ là mở rộng phạm vi chính quyền đã cướp được để cho chính quyền đó có tính chất cả nước, chứ không thể gọi là thống nhất, mà cũng không thể gọi là giải phóng được.”

Số phận đất nước và tích tắc lịch sử

Nhớ lại biến cố Cách mạng Tháng Tám 73 năm về trước, một nhân chứng có mặt tại cuộc mít tinh ở Nhà hát lớn Hà Nội hôm 19/8/1945, Bác sỹ Hoàng Cơ Lân, cựu Đại tá, Y sỹ trưởng thuộc Binh chủng Nhảy dù, quân lực Việt Nam Cộng Hòa, nói:

“Hồi đó tôi hơn 13 tuổi, tôi sinh tại Hà Nội năm 1932, bố tôi là bác sỹ nha khoa, gia đình tôi quê ở làng Đông Ngạc, Vẽ, một làng nổi tiếng ở ngoài Bắc, một làng nhiều khoa bảng, chúng tôi là dân Bắc chính cống, gia đình có nhiều người học thức, biết nhiều.

“Bây giờ tôi nghĩ lại, nhiều khi quyết định, số phận của một nước, của một người hay là của một gia đình chỉ ăn thua trong một tích-tắc thôi.

“Theo ý tôi, ông Hoàng Đế Bảo Đại yếu quá, không có được huấn luyện để chỉ huy một nước. Trong lúc mà Đảng Việt Minh, Cộng sản, như chúng ta đã biết, tất cả các đảng Cộng sản đều nói để mọi người tưởng là họ giỏi, để họ mạnh.

“Ông Bảo Đại, giá như là một người biết người, biết của, theo ý tôi, thì ông đã nhờ quân đội Nhật giữ an ninh trật tự, không phải như vậy là nhờ quân đội Nhật mà họ sẽ đô hộ mình, vì họ vừa mới đánh Tây (Pháp) xong, rồi họ thua Đồng minh, họ đã nhận được lệnh của quân đội Đồng minh là gìn giữ trật tự tại Đông Dương.

Tiền hình ảnhDEA / A. DAGLI ORTI
Một hình tiền năm 1953 với hình cựu hoàng Bảo Đại

“Họ hỏi ông Bảo Đại, ông Bảo Đại chối, không hiểu tại sao, rồi ông Bảo Đại đầu hàng Đảng Cộng sản, rồi ông ra ngoài Bắc. Về vấn đề ông Trần Trọng Kim, ông mới làm việc được mấy tháng thì không biết là ông giỏi hay không giỏi, nhưng tôi tin rằng ông Trần Trọng Kim với những Bộ trưởng như ông Bộ trưởng Y tế lúc đó là cụ Vũ Ngọc Anh, là bố của Y sỹ Thiếu tướng Vũ Ngọc Hoàn, người sau này chỉ huy ngành quân y của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, toàn là những người khí khái, toàn là những người có học.

“Có thể họ hơi thiếu kinh nghiệm về chỉ huy, về chính trị, nhưng giá thời đó cứ để cho họ làm việc, cứ để cho Nhật, nói thẳng ra là khi nào cần, thì phải nhờ họ, hơn nữa Nhật Bản đâu có tham vọng chỉ huy, đô hộ Việt Nam đâu, họ chỉ nhận lệnh của đồng minh Anh, Mỹ là họ gìn giữ, bảo vệ an ninh trật tự cho Đông Dương và Việt Nam, thì trong mấy tháng đó, Chính phủ của ông Trần Trọng Kim thừa sức để làm việc để chấn chỉnh lại nội bộ của nước Việt Nam, nhất là sau nạn đói 1945.”

Trả lời câu hỏi có thể có một chính thể nào có thể thay thế được Việt Minh khi đó, bác sỹ Hoàng Cơ Lân nói với BBC Tiếng Việt hôm 25/8 từ Paris:

“Tôi thấy có chứ, không có Việt Minh, tôi thấy Việt Nam khá hơn nhiều, mà sẽ được chỉ huy bởi những người có đức độ như ông Trần Trọng Kim, cụ Vũ Ngọc Anh, tất cả những người đó toàn là những người có học, những người ái quốc, mà nhất là họ thực sự yêu nước, dù họ thiếu kinh nghiệm chỉ huy. Nếu trời thương Việt Nam, ông Bảo Đại ông biết chỉ huy, thì đất nước có lẽ không đến nỗi như bây giờ.

“Tôi nhiều lúc hơi khắt khe với ông Hoàng Đế Bảo Đại, nhưng theo ý tôi lịch sử là lịch sử, mình phải nói, quy trách nhiệm ông Vua Bảo Đại, ông mang một trách nhiệm rất lớn trong việc suy sụp của nước Việt Nam sau đó và đưa đến chiến tranh tàn khốc cho đến bây giờ, vì có lẽ cũng không phải tại lỗi của ông ấy, nhưng ông đã không có đủ tư cách, phong độ để làm Vua một nước trong thời loạn ly. Có lẽ số của đất nước như vậy, tôi không biết nói gì hơn…”

Luật sư Trần Thanh Hiệp (trái)hình ảnhBBC NEWS TIẾNG VIỆT
Luật sư Trần Thanh Hiệp (trái) nêu quan điểm về tính chính thống hay tính chính danh của chính quyền do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo kể từ Cách mạng tháng Tám đến nay.

Vấn đề nêu ra trong Chiếu Thoái Vị

Cũng về Cựu Hoàng Bảo Đại, Luật sư Trần Thanh Hiệp nêu quan điểm:

“Tôi thấy nhiều người không đọc kỹ và không hiểu được giá trị của ‘Chiếu Thoái Vị’ của Cựu Hoàng Bảo Đại. Khi thoái vị, Cựu Hoàng đã nói rõ rằng ông tự ý chấm dứt Đế chế để cho dân chúng được tự do và mong muốn rằng những người muốn cho ông thoái vị, yêu cầu ông thoái vị phải nắm vững được điều này.

Cố Chủ tịch Hồ Chí Minh
 hình ảnhAFP/GETTY IMAGES
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Quảng trường Ba Đình hôm 02/9/1945 khai sinh chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

“Và khi đọc ‘Chiếu Thoái Vị’ và ông nói rằng ‘thà được làm công dân một nước tự do, độc lập, còn hơn làm Vua một nước nô lệ’, thì ông đã thoái vị để cho dân chúng cũng được tự do để thành lập dân chủ, thì ông cũng hỏi hai người trong phái đoàn yêu cầu ông thoái vị là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận rằng các ông đó có chấp nhận điều kiện đó không, thì hai người nói chấp nhận…

“Vậy thì chính những người cộng sản đã không tôn trọng lời cam kết của mình và quay lại, không để cho dân chúng được tổ chức dân chủ như là Cựu Hoàng Bảo Đại muốn, cho nên theo tôi ‘Chiếu Thoái Vị’ của Bảo Đại có một giá trị là thiết lập điều kiện thoái vị để thiết lập dân chủ, mà điều kiện đó không được thi hành.

“Thì điểm này bây giờ người ta ít người biết đến, tôi nghĩ cần phải nhắc lại, nhấn mạnh để cho mọi người hiểu rõ rằng Vua Bảo Đại thoái vị, chấm dứt Đế chế là chỉ để xây dựng dân chủ mà Đảng Cộng sản đã cam kết tôn trọng điều đó nhưng rút cuộc đã ‘phản bội’ lại lời cam kết của mình và coi lời cam kết của mình như không có. Tức là nói mà không giữ lời hứa.”

Khi được đề nghị cho biết về tính xác thực của những nhận định và quan sát trên, cựu Luật sư hành nghề tại Tòa thượng thẩm Sài Gòn và Tòa Thượng thẩm Paris trước và sau 30/4/1975 nói:

“Đó là chuyện lịch sử đã xảy ra và trong cuốn ‘Con Rồng Việt Nam’, thì ông Bảo Đại có nói lại chuyện đó. Theo tôi được biết không có văn bản [bàn giao] mà chỉ có những lời trao đổi bằng miệng, nhưng giá trị của điều đó, theo tôi theo truyền thống của Việt Nam thì không có thể nào mất giá trị được.”

‘Khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc’

Trong dịp 73 năm đánh dấu Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 tại Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, trong một bài báo hôm 30/8/2018 đưa tin Thủ tướng Chính phủ Việt Nam chủ trì chiêu đãi quốc tế, dẫn phát biểu của ông Nguyễn Xuân Phúc, nói:

“Nhắc lại những ngày thu hào hùng cách mạng của Hà Nội từ 73 năm trước, Thủ tướng nêu rõ: Ngày 02-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại kính yêu của nhân dân Việt Nam đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Nam Bộ kháng chiếnBản  ảnhGETTY IMAGES
Nam Bộ kháng chiến chống Pháp 1945-46: Hình quân Pháp được quân Anh thả tự do từ tháng 9/1945 trở lại bắt thanh niên Việt Nam

“Từ thời khắc lịch sử thiêng liêng của “màu cờ thu năm ấy”, đất nước Việt Nam đã bước sang một trang mới trong lịch sử hào hùng của toàn dân tộc.

“Thủ tướng khẳng định, trong hơn bảy thập kỷ qua, “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” luôn là khát vọng cháy bỏng và là nguồn động lực to lớn để muôn người dân Việt Nam vượt qua khó khăn, gian khổ, tay nắm tay, cùng nhau tiến bước dưới cờ đỏ sao vàng phấn đấu vì nền độc lập dân tộc, vì sự phát triển thịnh vượng phồn vinh, vì hạnh phúc của muôn nhà, góp phần cho hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới,” Tạp chí Cộng sản dẫn lời Thủ tướng Việt Nam.

BBC

Những người giúp chữ Quốc ngữ ‘làm nên’

Pháp áp đặt chế độ bảo hộ ở Bắc Kỳ sau khi đuổi hết quân Thanh đi
 hình ảnhPRINT COLLECTOR
Pháp áp đặt chế độ bảo hộ ở Bắc Kỳ sau khi đuổi hết quân Thanh đi

Ở Việt Nam vừa có thêm một sáng kiến nhằm ghi công và vinh danh các vị truyền giáo Pháp, Bồ Đào Nha đã ‘xây dựng, phát triển’ chữ Quốc ngữ.

Nỗ lực tìm lại các nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc hình thành ký tự La Tinh của tiếng Việt luôn là việc cần làm và rất đáng khuyến khích.

Nhìn lại cuộc giao lưu Đông Tây ở Việt Nam, có lẽ ta cần tránh cả mặc cảm bài ngoại, đề cao người Việt quá mức cũng như tâm lý sùng bái các giáo sỹ người Âu.

Có ba lý do:

Một là việc tạo ra bộ mẫu tự La tinh cho tiếng Việt không có gì quá độc đáo, thậm chí xảy ra sau Trung văn khá lâu.

Hai là chính các nỗ lực của trí thức Việt Nam và chính sách tiến bộ, khoa học của chính quyền Pháp tại Đông Dương mới thực sự tạo đà cho chữ Quốc ngữ lan tỏa.

Ba là Đông Kinh Nghĩa Thục không đi tiên phong quảng bá Quốc ngữ mà chỉ xóa nốt rào cản tâm lý đã bị lạc hậu để trí thức bản địa yên tâm dùng Quốc ngữ.

1. La tinh hóa các tiếng ngoài châu Âu

Trong lịch sử ngôn ngữ, việc La tinh hóa (Romanisation) các tiếng ngoài châu Âu đã diễn ra khá nhiều và tiếng Việt không phải là biệt lệ.

Đến Trung Hoa vào cuối thế kỷ 16, nhà truyền giáo Matteo Ricci đã nhanh chóng soạn tự điển tiếng Trung bằng ký tự La tinh đầu tiên.

Sang đầu thế kỷ 17, ông cho xuất bản tại Bắc Kinh cuốn Tây Tự Kỳ Dị (Xizi Qiji – Miracle of Western Letters) bản tiếng Trung theo âm La Tinh.

Sách ra tại Bắc Kinh năm 1605, gần nửa thế kỷ trước khi cha Alexandre de Rhodes xuất bản ở Rome năm 1651 ‘Phép giảng tám ngày‘ tiếng Việt dạng La tinh và cuốn ‘Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum‘.

Cả Matteo Ricci và Michele Ruggieri đều dùng tiếng Bồ Đào Nha để phiên âm Hoa ngữ, như cách các giáo sỹ Bồ Đào Nha đầu tiên ghi ký âm tiếng Việt.

Sang năm 1626, một giáo sỹ dòng Tên khác, Nicolas Trigault (1577-1628) xuất bản cuốn ‘Tây Nho Nhĩ Mục Tư (Xiru Ermu Zi) ở Hàng Châu.

Hoàng đế Bảo Đại và Albert Sarraut tại Pháp năm 1933
 hình ảnhGETTY IMAGES
Hoàng đế Bảo Đại và Bộ trưởng Thuộc địa Albert Sarraut tại Pháp năm 1933. Ông Albert Sarraut sau khi làm Toàn quyền Đông Dương đã về nước và làm Bộ trưởng Thuộc địa trong hai nhiệm kỳ

Đến cuối thế kỷ 19, Thomas Wade và Herbert A. Giles soạn ‘Chinese-English Dictionary’ năm 1892, tạo chuẩn quốc tế cho Hoa ngữ dạng La tinh.

Sau này, Mao Trạch Đông cho tạo ra bộ bính âm (pinyin) ở CHND Trung Hoa nhưng ký âm Wade và Giles đến nay vẫn được dùng ở Hong Kong và Đài Loan.

Tại Ấn Độ, tiếng Hindi dạng Devanagari được học giả, nhà thống kê và quan chức thuộc địa người Scotland, William Hunter chuyển sang hệ La tinh cuối thế kỷ 19.

Hindi hệ Hunterian vẫn được chính phủ Ấn Độ ngày nay sử dụng và từng là chuẩn để các nước Nam Á nghiên cứu khi La tinh hóa tiếng của họ.

Vua Thái Lan hồi đầu thế kỷ 20 cũng cho soạn ra bộ chữ La tinh tiếng Thái, và tham khảo từ hệ Hunterian.

Việc La tinh hóa như thế không phải là quá khó khăn mà quan trọng hơn cả là môi trường chính trị, xã hội có thuận tiện để phể biến alphabet mới.

Ví dụ tiếng Ả Rập được người Pháp chuyển sang hệ La tinh nhưng bị phái dân tộc chủ nghĩa Ả Rập bác bỏ vì coi đó là một ‘âm mưu Do Thái’.

Nay, giới trẻ Trung Đông lại dùng không chính thức tiếng Ả Rập hệ La tinh cho mạng xã hội vì giản tiện khi viết trên smartphone .

Còn tại Thổ Nhĩ Kỳ, cải cách ký tự thời Ataturk năm 1932 đã nhanh chóng ‘Âu hóa’ văn tự hệ giống tiếng Ả Rập để chuyển sang La tinh toàn bộ như ngày nay.

Các tiếng Trung Á từng đổi hai lần, từ ký tự Ả Rập sang Cyrillic thời Liên Xô để gần đây lại chuyển sang hệ La tinh, với Kazachstan là muộn nhất, sẽ xong năm 2025.

Các vị truyền giáo đã có công đầu tạo ra bộ chữ Việt hệ La tinh nhưng giả sử không có họ thì việc đó cũng hoàn toàn có thể được làm sau này.

Theo Britannica, Alexandre de Rhodes muốn dùng chữ Quốc ngữ để “cải đạo Ky Tô cho toàn thể dân chúng” ở Đàng Trong và Đàng Ngoài nhưng chỉ cải đạo được cho chừng 6500 người Việt, con số không đáng kể.

Người Pháp sau khi chiếm Đông Dương đã không ủng hộ việc biến người Việt thành dân tộc Thiên Chúa Giáo.

Thủ tướng Jules Ferry của Pháp thời kỳ đánh Bắc Kỳ
hình ảnhMARY EVANS PICTURE LIBRARY
Thủ tướng Jules Ferry của Pháp thời kỳ đánh Bắc Kỳ

Ngược lại, các lãnh đạo nền Cộng hòa Pháp khi đó nổi tiếng là chống tăng lữ (anti-clerical) và theo tinh thần giáo dục thế tục.

Họ đã đem Quốc ngữ dạy trong các trường dòng ra trường công lập cho toàn thể dân Việt, mở đường cho cách viết mới này trở thành phổ biến.

2. Vai trò của Jules Ferry và các quan chức Pháp

Hồi năm 2012, BBC News có bài nói về hai người khổng lồ của văn hóa Pháp, Jules Ferry và Marie Curie (Giants of French history: Jules Ferry and Marie Curie).

Bà Marie Sklodowska-Curie (1867-1934)) nhà khoa học Pháp gốc Ba Lan được hai giải Nobel, thì nhiều người ở Việt Nam đã biết đến.

Tên của bà được đặt cho trường học tại Đông Dương trước đây và Việt Nam hiện nay.

Còn Jules Ferry (1832-1893), thủ tướng Pháp, nhà cải cách giáo dục nổi tiếng, cũng từng có tên đặt cho đường phố ở Việt Nam nhưng sau bị xóa.

Người Việt Nam có thể chỉ coi ông là Pháp thực dân nhưng Ferry là nhân vật rất quan trọng đối với Đông Dương cuối thế kỷ 19.

Năm 1881, Jules Ferry đề ra cải cách giáo dục cho Cộng hòa Pháp, dựa trên bốn nguyên tắc: Phổ cập tiểu học; Miễn phí, Bình đẳng giới tính và Phi tôn giáo.

Cùng thời gian, chính quyền Pháp cho giải tán dòng Tên (Jesuits) và cấm mọi dòng tu và việc dạy tôn giáo nằm ngoài thỏa thuận Concordat với Vatican.

Luật Ferry trở thành tiêu chuẩn của giáo dục hiện đại ở Cộng hòa Pháp, đi trước Anh và Đức, rồi thành chuẩn cho toàn châu Âu sau này.

Là người nhiệt thành ủng hộ việc xâm chiếm thuộc địa ở Việt Nam, ông bị chính giới Pháp đặt cho cái tên ‘Người Bắc Kỳ’.

Năm 1885, Jules Ferry mất chức thủ tướng sau khi quân Pháp thua lính nhà Thanh ở trận Lạng Sơn.

Nhưng hệ thống giáo dục kiểu Pháp theo cải cách Jules Ferry được đem vào Việt Nam đã thay đổi diện mạo xứ sở này.

Tính phổ cập, không phân biệt giới tính trong giáo dục là những tư tưởng quá mới lạ ở nơi đa số người dân mù chữ, phụ nữ trong cả nghìn năm không được đi học.

Các trường thuộc địa đã đưa hàng vạn em trai và em gái người Việt đến lớp, học với thầy giáo và cô giáo Pháp theo hệ giáo dục văn minh nhất châu Âu.

Trong giáo trình này, Việt văn và Quốc ngữ đóng vai trò quan trọng nhờ vào cả chính sách của Pháp và sức thuyết phục của trí thức Việt.

3. Vì sao Pháp ủng hộ Quốc ngữ?

Thầy giáo và học sinh trường trung học bảo hộ Albert Sarraut, Hà Nộihình ảnhC.A.O.M
Thầy giáo và học sinh trường trung học bảo hộ Albert Sarraut, Hà Nội – ảnh tư liệu của C.A.O.M

Thời kỳ người Âu xâm chiếm, khai thác và khai hóa các thuộc địa kéo dài hàng trăm năm nên khó có một đánh giá chung đen trắng rõ rệt.

Nhìn chung thì các thuộc địa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là lạc hậu nhất, của Anh Pháp tốt hơn, và của Hà Lan, Bỉ thì kém cỏi, ít được đầu tư.

Ngoài việc truyền đạo, khai hóa và kiến thiết, các chế độ thực dân cũng tàn phá văn hóa bản địa, bóc lột nô lệ và còn gây tội ác diệt chủng như ở Brazil.

Nhưng khi Pháp sang Việt Nam vào thế kỷ 19, văn minh tại châu Âu và ý thức về dân quyền cũng đã được nâng cao.

Paris cho sang Đông Dương không ít nhà cai trị có uy tín về văn hóa, khoa học.

GS Trịnh Văn Thảo trong ‘L’ecole francaise en Indochine’ nói Gustave Domoutier, Paul Bert đều là những nhà cải cách theo trường phái Jules Ferry.

Ông Domoutier, giám đốc Viện Viễn đông Bác Cổ, không chỉ nghiên cứu về núi Ba Vì, về Cổ Loa, Hoa Lư bằng tiếng Pháp mà còn soạn ‘Bài tập tiếng Annam’.

Cùng thời, Paul Bert trước khi sang làm Thống sứ Trung kỳ và Bắc Kỳ đã là nhà khoa học lỗi lạc, cha đẻ của y học không gian (aviation medicine).

Ngày nay, của công trình mang tính tiên phong của ông về ảnh hưởng về mặt sinh lý của áp suất không khí và dưới nước vẫn được áp dụng cho hàng không vũ trụ.

Sau đó, toàn quyền Paul Doumer sang Đông Dương từ 1897 đến 1902 tiếp tục các công trình xây dựng Hà Nội và cải tổ hệ thống giáo dục.

Nhưng phải đến khi Albert Sarraut sang làm toàn quyền Đông Dương hai lần (1911-14, 1916-19) thì chữ Quốc ngữ mới thực sự khởi sắc.

Theo Keith Taylor, nhờ ‘Kỷ nguyên Albert Sarraut’ mà tiếng Việt, văn hóa và sách báo Quốc ngữ được nâng cao chưa từng có.

“Ông mời các trí thức Việt Nam đến để cùng khai thác, định nghĩa thế nào là văn hóa Việt Nam ở thể thức có thể cùng tồn tại hài hòa với văn hóa Pháp….Cùng việc bỏ hệ thống khoa cử và chữ tượng hình, chữ Quốc ngữ được đẩy lên để đóng vai trò phương tiện chuyển tải và quảng bá văn hóa.”

Cô giáo Pháp dạy các nữ học sinh Việt - ảnh tư liệu của C.A.O.Mhình ảnhC.A.O.M.
Cô giáo Pháp dạy các nữ học sinh Việt – ảnh tư liệu của C.A.O.M

Ý tưởng ban đầu muốn xóa toàn bộ tiếng Việt và áp dụng tiếng Pháp cho toàn Đông Dương như đã làm ở châu Phi bị bác bỏ.

Mặt khác, các trí thức như Trương Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh đã thuyết phục được người Pháp rằng tiếng Việt không phải là một thứ thổ ngữ (Patois) mà chuyển tải được các tư tưởng văn minh, tiến bộ.

Để người Việt dùng Quốc ngữ, chính quyền Pháp cũng đạt mục tiêu là phá bỏ quá khứ Hán hóa và xóa dần ảnh hưởng Trung Hoa ở Việt Nam.

Từ thời Albert Sarraut, Quốc ngữ thành ngôn ngữ hành chính bên cạnh tiếng Pháp và Hán văn.

Mô hình ba ngôn ngữ này được ông Hà Ngại, một vị quan triều Nguyễn kể lại trong cuốn ‘Tiếng Tơ Đồng’:

“Đến Tòa sứ Quy Nhơn, tôi được Công sứ Pháp Fries phái đến dịch án với các ông Phán toà. Án hình và án hộ do tỉnh đệ đến Tòa, bằng chữ Hán và Quốc ngữ, phải dịch ra chữ Pháp cho Công sứ duyệt. Các bản án nào cũng có một bản chữ Hán và một bản Quốc ngữ…”

Đây mới là điều độc đáo bậc nhất trong lịch sử thế giới: ba ngôn ngữ cùng tồn tại và được sử dụng tại Việt Nam cho cả mục đích hành chính và truyền thông.

Nam Phong
Image captionTạp chí Nam Phong đã đóng vai trò quan trọng để quảng bá Quốc ngữ

Hệ thống trường Pháp không chỉ dạy lịch sử Việt Nam ‘từ Hồng Bàng đến nhà Nguyễn’, và ‘Chuyện đời xưa’ (Trương Vĩnh Ký) mà còn dạy Việt văn gồm cả Chinh phụ ngâm khúc, Truyện Thuý Kiều (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim)…

Sách Quốc văn Giáo khoa thư đã thành nền tảng giáo dục cho nhiều thế hệ học sinh.

4. Đông Kinh Nghĩa Thục và sự tự ý thức

Nhưng sự phổ biến văn hóa Âu và chữ Quốc ngữ chưa lan ra cả nước vì phản ứng chống Pháp vẫn còn trong giới Nho học.

Phải đợi đến phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1917) thì Quốc ngữ mới được chấp nhận “toàn tâm toàn ý” để quảng bá tư tưởng dân tộc.

Nhưng ở Nam Kỳ, các báo Quốc ngữ của Diệp Văn Kỳ, Trương Vĩnh Ký, Sương Nguyết Án đã có mặt hàng chục năm trước, cụ thể là Gia Định Báo có từ 1865.

Từ những năm 1880, Trương Vĩnh Ký (1837-1898) và người Pháp trong Cơ quan Học chánh Nam kỳ đã soạn sách giáo khoa dạy Quốc ngữ ở cấp tiểu học.

Bởi thế Đông Kinh Nghĩa Thục ở miền Trung và miền Bắc là phong trào tự thức tỉnh của các nhà Nho để không bị thời cuộc bỏ rơi chứ họ không đi tiên phong.

Tuy nhiên, ý nghĩa chính trị của phong trào là xóa mặc cảm cuối cùng để giành lấy một phương tiện ngôn ngữ nhằm tự nâng mình lên.

Đông Kinh Nghĩa Thục cũng thúc đẩy tạo ra một thế hệ tư sản dân tộc là dùng Quốc ngữ, những người sẽ có đóng góp to lớn cho công cuộc độc lập sau này.

Cùng lúc, đây là thời kỳ thoái trào của Hán học.

Năm 1919, vua Khải Định cho bỏ khoa cử, coi chữ Quốc ngữ thành chữ viết chính thức của quốc gia.

Nhưng sự kiện quan trọng nhất cho sự phát triển của Quốc ngữ phải kể đến là sự ra đời của Nam Phong tạp chí năm 1917.

Nam Phonghình ảnhNAM PHONG
Trích báo Nam Phong

Lần đầu tiên, các tư tưởng Đông Tây, kim cổ, lịch sử Việt Nam, Trung Hoa, cải cách Minh Trị ở Nhật Bản, hệ thống chính trị Mỹ, Pháp, vấn đề triết học Đức, nữ quyền ở Đông Dương… được Nam Phong chuyển tải hoàn toàn bằng Quốc ngữ đến người Việt Nam.

Nhà báo, học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) có viễn kiến coi Quốc ngữ là phương tiện để nâng dân tộc lên hàng văn minh và Nam Phong tạp chí đóng vai trò đó hết sức xuất sắc.

C.A.O.M
 hình ảnhC.A.O.M
Các thầy giáo Pháp và học sinh Việt trường Petrus Ký, Sài Gòn – ảnh tư liệu C.A.O.M

Sau khi Pháp thua Nhật, vào tháng 4/1945, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ Trần Trọng Kim soạn các sách giáo khoa, gồm cả sách toán, kỹ thuật lần đầu bằng tiếng Việt.

Bộ Quốc văn Giáo khoa thư vào áp dụng ngay trong niên học 1945-46 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Sau đó, Chính phủ VNDCCH từ tháng 9/1945 tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch xóa nạn mù chữ ở nông thôn bằng sắc lệnh ‘Bình dân học vụ’ nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ 1948 đến 1955, chính phủ Quốc gia Việt Nam dù phụ thuộc người Pháp vẫn lấy tiếng Việt Quốc ngữ làm ngôn ngữ số một.

Tổng quan mà nói, chữ Quốc ngữ tuy không quá đặc biệt về mặt kỹ thuật La tinh hóa, nhưng qua thăng trầm lịch sử, nhờ nỗ lực của nhiều nhân vật độc đáo, cùng chính sách Đông-Tây hội tụ đúng lúc nên đã bén rễ và còn có sức sống vượt qua chiến tranh để kết nối cả một quốc gia như ngày nay.

BBC

10 bài học cuộc sống cần ghi nhớ mà không trường học nào dạy bạn

Trường học là nơi dạy bạn kiến thức, tuy nhiên có rất nhiều bài học không có ngôi trường nào dạy bạn cả, điều bạn cần là tự lĩnh hội và tự đúc rút cho mình trong quá trình trưởng thành.

Từ bé đến lớn, mỗi chúng ta đều từng học ở rất nhiều ngôi trường khác nhau, mỗi ngôi trường lại mang đến cho chúng ta những tri thức ở nhiều lĩnh vực, bộ môn khác nhau. Thế nhưng càng trường thành, chúng ta càng nhận ra cuộc sống vốn dĩ phức tạp hơn tưởng tượng cả chúng ta rất nhiều. Những kiến thức, lý thuyết sách vở chúng ta từng học không phải lúc nào cũng phù hợp và hỗ trợ được chúng ta, bởi suy cho cùng, có vô số điều mà không trường học nào có thể dạy bạn cả, tất cả yêu cầu bạn phải tự lĩnh hội, tự vấp ngã rồi lại tự học hỏi, đúc rút ra kinh nghiệm từ sai lầm của mình.

Mọi sự so sánh giữa người với người đều là khấp khiễng bởi mỗi chúng ta có một quan niệm, một mục tiêu, một thái độ sống riêng. Sống thế nào miễn cho mình thấy vui vẻ và hạnh phúc, vậy là đủ

10 bài học cuộc sống cần ghi nhớ mà không trường học nào dạy bạn - Ảnh 1.

Trên đời này, không có ai mất đi một ai mà không sống được cả, đừng sống mãi trong quá khứ bởi bạn còn có hiện tại để trân trọng và tương lai để hướng về

10 bài học cuộc sống cần ghi nhớ mà không trường học nào dạy bạn - Ảnh 3.

Cuộc sống ở chốn văn phòng công sở cũng giống như một xã hội thu nhỏ – nơi bạn sẽ gặp gỡ rất nhiều kiểu người, nơi sẽ diễn ra rất nhiều biến cố và bạn phải đủ mạnh mẽ để vượt qua nếu không muốn chìm nghỉm trong nó

10 bài học cuộc sống cần ghi nhớ mà không trường học nào dạy bạn - Ảnh 5.

Ganh ghét, thù hằn không làm bạn tốt đẹp hơn mà chỉ mang đến cho bạn những cảm xúc tiêu cực, chính vì thế, hãy cứ vị tha và bao dung nếu bạn có thể

10 bài học cuộc sống cần ghi nhớ mà không trường học nào dạy bạn - Ảnh 7.

Thẳng thắn cũng phải tùy trường hợp, nên nhớ lời nói một khi đã thốt ra rồi sẽ không thu lại được nữa

10 bài học cuộc sống cần ghi nhớ mà không trường học nào dạy bạn - Ảnh 9.

Mọi tình cảm dù là tình yêu hay tình bạn đều dựa trên quan hệ công bằng, nếu chỉ có một bên níu giữ, vun vén thì mối quan hệ ấy rồi sẽ chẳng đi đến đâu cả

10 bài học cuộc sống cần ghi nhớ mà không trường học nào dạy bạn - Ảnh 11.

Khi yêu, đừng chỉ yêu bằng trái tim, hãy yêu bằng cả lý trí nếu không muốn đến sau cùng, bản thân phải chịu đựng tổn thương

10 bài học cuộc sống cần ghi nhớ mà không trường học nào dạy bạn - Ảnh 13.

Chẳng ai muốn yêu một người mà đến bản thân mình người ấy cũng không biết trân trọng, yêu thương. Nếu bạn không biết yêu chính mình, bạn lấy đâu ra tư cách nói yêu người khác và đòi hỏi người đó cũng yêu lại bạn?

10 bài học cuộc sống cần ghi nhớ mà không trường học nào dạy bạn - Ảnh 15.

Chỉ có bố mẹ là yêu thương, bao dung chúng ta vô điều kiện, vậy nên đừng vì một người không đáng mà khóc lóc ỉ ôi, đòi sống đòi chết. Sống suy cho cùng, không vì gia đình thì cũng phải vì mình

10 bài học cuộc sống cần ghi nhớ mà không trường học nào dạy bạn - Ảnh 17.

Chính bởi vậy, hãy luôn sống thật tốt, hãy đối xử với người khác như cách mà bạn muốn người khác đối xử với mình

10 bài học cuộc sống cần ghi nhớ mà không trường học nào dạy bạn - Ảnh 19.

Độc đáo kiến trúc nhà thuyền trên sông, vừa nghỉ ngơi vừa ngắm mây trời

Nằm trên bờ sông Fuchun ở thành phố Jiande (Trung Quốc), những ngôi nhà có thiết kế giống chiếc thuyền chắc chắn sẽ mang đến cho khách du lịch nhiều trải nghiệm thú vị.

Độc đáo kiến trúc nhà thuyền trên sông
Tọa lạc trên dòng xanh ngắt của thành phố Jiande, những ngôi nhà hình chiếc thuyền được thiết kế bởi các kiến trúc sư nổi tiếng tại Hàng Châu. (Ảnh: Archdaily)
Độc đáo kiến trúc nhà thuyền trên sông
Khung cảnh trong xanh, yên bình đã thôi thúc các nhà thiết kế tạo nên những ngôi nhà đặc biệt.
Độc đáo kiến trúc nhà thuyền trên sông
Ngôi nhà trên thuyền được lấy ý tưởng từ phong tục của người Minh – Thanh xưa. Những gia đình ven sông đã tự tay làm thuyền và sống thành cụm dân cư, tạo nên một nền văn hóa độc đáo.
Độc đáo kiến trúc nhà thuyền trên sông
Xung quanh hồ, rất nhiều ngôi nhà thuyền được dựng lên cho khách du lịch thuê. Nghỉ ngơi ở đây sẽ mang đến cho bạn những trải nghiệm thú vị.
Độc đáo kiến trúc nhà thuyền trên sông
1 bộ bàn ghế, 1 ấm trà nhâm nhi, vài người tri kỷ là đủ cùng bạn thả hồn vào thiên nhiên, tận hưởng cuộc sống yên bình.
Độc đáo kiến trúc nhà thuyền trên sông
Mỗi căn nhà thuyền rộng khoảng 50 m2 và được dựng lên chủ yếu bằng chất liệu gỗ. Ở đây có đầy đủ các vật dụng cần thiết như một căn nhà kiên cố như hệ thống cầu thang, lối ra vào, máy giặt được đặt ở phần đuôi thuyền.
Độc đáo kiến trúc nhà thuyền trên sông
Phần mái vòm được lắp đặt chắc chắn tạo cảm giác vừa an toàn vừa ấm cúng.
Độc đáo kiến trúc nhà thuyền trên sông
Nhà trên thuyền thiết kế nhiều cửa sổ để mọi người có thể ngắm nhìn mây trời, núi non, tận hưởng bầu trời, ánh nắng, tán cây rợp bóng, hay những chú chim đang bay trên trời cao…
Độc đáo kiến trúc nhà thuyền trên sông
Khi đêm xuống, tất cả các ngôi nhà thuyền đều lên đèn tạo nên không gian lãng mạn, ấm cúng. (Ảnh: Archdaily)

Nguyễn Hiệp / Daikynguyen

Sự thật “thú vị lẫn kinh hoàng” về chính mình khiến bạn phải ngỡ ngàng

Cơ thể con người luôn có những điều kỳ lạ mà không phải ai trong chúng ta cũng biết.

Cơ thể chúng ta được hình thành bởi rất nhiều mảnh ghép hệ thống khác nhau. Mỗi mảnh ghép này đều là “bộ máy” hoàn hảo nhất của tạo hóa, thế nhưng ẩn trong đó là vô vàn điều kì diệu mà đôi khi bạn phải ố, á khi nghe thấy.

Và đây là 1 vài hiện tượng tuyệt vời xảy ra trong cơ thể chúng ta. Check ngay để biết bạn đã hiểu hết về cơ thể mình?

1. Lưỡi là cơ quan linh hoạt nhất trong cơ thể người

Trông bé nhỏ vậy thôi nhưng lưỡi thật sự phi thường và có sức chịu đựng tuyệt vời khi được dùng thường xuyên cho việc ăn, nói, nuốt mà không bao giờ cảm thấy mệt mỏi.

Đó là do toàn bộ lưỡi là cơ. Thế nhưng lưỡi không phải là 1 cơ duy nhất mà được hình thành từ 8 loại cơ khác nhau, cuộn chặt với nhau tạo thành 1 ma trận linh động.

Cùng với sự liên kết chắc chắn, lưỡi còn thể hiện sự nhanh nhẹn, linh hoạt khi kết hợp với môi, răng để biến âm thanh từ dây thanh âm thành âm tiết và lời nói.

Khả năng nói nhanh, chậm, chuẩn hay không cũng phụ thuộc nhiều vào sự linh hoạt cao độ của lưỡi. Trong một phút, lưỡi có thể sản xuất hơn 90 từ đấy.

2. Da của chúng ta thực sự đàn hồi

Bạn có hay biết rằng, 2,54cm da có thể kéo dài gấp 2 – 3 lần kích thước thực của nó không? Và người đàn ông đến từ nước Anh – tên Gary Stretch Turner đã lập kỷ lục Guinness thế giới với bộ da co dãn nhất thế giới.

Sự thật thú vị lẫn kinh hoàng về chính mình khiến bạn phải ngỡ ngàng - Ảnh 2.

Da của anh lỏng lẻo đến mức có thể kéo ra cách xa cơ thể mình tới 16cm. Theo các chuyên gia, Gary mắc căn bệnh di truyền hiếm gặp mang tên hội chứng Ehlers-Danlos , chỉ ảnh hưởng tới 1/10.000 người.

Biểu hiện của hội chứng Ehlers-Danlos đó là phần da, khớp trở nên lỏng lẻo, chảy xệ, các vết bầm tím xuất hiện ngay sau khi có tác động mạnh hay phần mạch máu dễ bị vỡ – do việc sản xuất collagen bất thường.

3. Không phải 1 mà chúng ta có tới 3 loại nước mắt

Theo Robert Provine – giáo sư thần kinh sinh học và tâm lý học tại ĐH Maryland (Mỹ), ta có 3 loại nước mắt.

Loại phổ biến nhất là “nước mắt cơ bản” – basal tear – loại nước luôn tồn tại trong mắt chúng ta. Nó giúp duy trì độ ẩm, cải thiện chức năng của mắt, và ngăn chặn khả năng nhiễm khuẩn.

Sự thật thú vị lẫn kinh hoàng về chính mình khiến bạn phải ngỡ ngàng - Ảnh 3.

Loại thứ 2 là “nước mắt kích ứng” – irritation tears. Đó là loại nước mắt tuôn ra khi mắt của bạn gặp tác nhân nào đó, kiểu như lúc thái hành, hay mắc bệnh về mắt. Nó giúp xoa dịu cảm giác đau nhức, kèm theo một số chất diệt khuẩn để mắt bạn nhanh lành hơn.

Cuối cùng là nước mắt cảm xúc – emotional tear – thứ nước mắt khi khóc. Đây chính là loại nước mắt bí ẩn nhất, vì các chuyên gia đến nay vẫn chưa thực sự hiểu hết về nó.

Mặc dù nó trông giống như một loại nhưng tất cả chúng đều khác nhau dưới kính hiển vi.

4. Mống mắt là 1 bó cơ nhỏ và ma quái

Dưới lăng kính hiển vi, phần mắt của chúng ta hiện lên ma quái. Phần màu đen chính là con ngươi, trong khi vùng đất sần sùi màu cam là mống mắt.

Sự thật thú vị lẫn kinh hoàng về chính mình khiến bạn phải ngỡ ngàng - Ảnh 4.

Những bó cơ trên mống mắt cũng biết mệt mỏi khi phải làm việc quá độ. Đó là lý do vì sao phản ứng với ánh sáng của ta sẽ chậm hơn vào cuối ngày làm việc.

5. Trước khi hình thành, khuôn mặt chúng ta ban đầu chỉ là 1 khối thống nhất

Gương mặt của ta bắt đầu hình thành trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Từ một cái hốc xấu xí ban đầu, chúng chụm lại ở vùng giữa của môi trên, tạo ra cái rãnh chính là phần nhân trung của mặt.

Vào khoảng tuần thai thứ 8 -10, khuôn mặt, mũi, môi trên của bé cũng đang hình thành. Da đã bắt đầu phát triển trên mắt tạo thành mí mắt. Phần chân răng đã bắt đầu nhú lên trong miệng.

Cho đến tuần thứ 12 thì cằm và mũi sẽ định hình rõ trên khuôn mặt, các xương trên khuôn mặt đã đầy đủ và trở nên cứng cáp hơn.

6. Răng của chúng ta luôn được bao phủ bởi 1 nền văn minh của vi khuẩn

Chúng ta biết rằng, mảng bám răng (plaque) luôn tồn tại và bám chặt trên bề mặt răng.

Đó là những thứ sẽ xuất hiện khi bạn ăn uống mà không chịu đánh răng sau đó. Tất nhiên là nó rất bẩn, thậm chí là tràn ngập vi khuẩn.

Sự thật thú vị lẫn kinh hoàng về chính mình khiến bạn phải ngỡ ngàng - Ảnh 6.
Sự thật thú vị lẫn kinh hoàng về chính mình khiến bạn phải ngỡ ngàng - Ảnh 7.

Dưới lăng kính hiển vi, bạn sẽ hiểu rằng mảng bám… thực chất chính là vi khuẩn, với tỉ lệ lên tới 100%. Đó là sản phẩm thừa của vi khuẩn khi tiêu thụ thức ăn bám trên răng.

Vài giờ đầu tiên, chúng trung hòa với nước bọt, sau đó, mảng bám trở nên dày hơn và nước bọt không thể xâm nhập vào bên trong. Axit ở mảng bám sẽ bắt đầu hòa tan men răng, gây căn bệnh sâu răng cho chúng ta.

theo Helino

Người Việt đã nói dối như thế nào?

Có người nói rằng, trong xã hội Việt Nam ngày nay, người ta “đồng lòng nói dối”…

Người Việt đã nói dối như thế nào?

Tất nhiên, có thể có người sẽ không đồng ý với quan điểm đó. Nhưng chúng ta hãy thử ngẫm xem, người Việt đã nói dối như thế nào?

Trẻ con được giáo dục nói dối nhờ…

Những câu nói kiểu như: “Ăn nhanh lên không là bị ông ba bị bắt đó”.

Những câu chuyện dân gian kiểu “Nói dối như cuội”, ác độc và gian trá.

Những quan niệm kiểu như “thông minh” là khôn lỏi, biết gian dối.

Những bài thủ công, những tờ bích báo “của phụ huynh”.

Những giờ giảng mẫu, những bài thi giáo viên dạy giỏi được dàn dựng.

Những bài tập làm văn kiểu như “tả con mèo mà nhà em không nuôi”.

Những sách giải bài tập, sách làm văn mẫu.

Những giờ kiểm tra “thả cho chép”.

Những màn coi cóp không bị phát hiện.

Những lần phụ huynh đi thầy, đi cô, hay thậm chí là đi hiệu trưởng.

Những kỳ thi tốt nghiệp “không sợ giám thị, chỉ sợ thanh tra sở đến”.

Sinh viên tiếp nhận nói dối nhờ…

Những giờ trốn học, điểm danh hộ.

Những bài tập lớn, đề thi cóp từ khóa trên.

Những lần học hộ, thi hộ.

Những đồ án thuê.

 

Những “nghiên cứu khoa học” vô thưởng vô phạt.

Những lần sinh viên đi thầy, đi cô.

Rồi những thạc sĩ, tiến sĩ giấy.

Người đi làm chủ động nói dối nhờ…

Những trăm triệu bỏ ra để xin một chân nhà nước.

Những đi cửa sau, những mua quan bán chức.

Những hô khẩu hiệu, những làm báo cáo.

Người Việt đã nói dối như thế nào?
(Ảnh minh họa)

Những thủ đoạn tranh đấu hơn thua.

Những vụ đấu thầu quân xanh quân đỏ.

Những lợi ích mà người ta nói là phải “trả giá”.

Người có trách nhiệm đã buông lời nói dối qua…

Những vấn đề nhạy cảm nhưng bức thiết với người dân.

Những bài viết dẫn hướng dư luận.

Những thảm họa môi sinh.

Những sự kiện lịch sử đau lòng.

Những khuôn từ sáo rỗng về cái sự “đúng đắn”, “sát sao”.

Người ta buông xuôi, chấp nhận và chai lì với những lời nói dối…

Rồi người ta sinh con, trở thành phụ huynh.

Và những đứa trẻ lại được giáo dục như thế…

Nói đến đây, người ta không khỏi nhớ tới chi tiết “cái lò gạch cũ” lởn vởn như một thứ âm hồn bất tán trong tác phẩm Chí Phèo. Phải chăng cũng tương tự như thế, căn bệnh nói dối đã trở thành một cái vòng luẩn quẩn không có hồi kết trong xã hội ta?

Tất nhiên, ở đây chúng ta sẽ không vơ đũa cả nắm, rằng toàn bộ người Việt đều nói dối. Nhưng chúng ta cũng không thể lại dùng những câu chữ nói giảm nói tránh kiểu như “một số”, “thiểu số”, hay “một bộ phận nhỏ” được nữa. Nhìn nhận một cách thẳng thắn, chúng ta đều có thể thấy bản thân mình lờ đờ bên trong cái vòng luẩn quẩn đó, dù ít dù nhiều.

Làm thế nào để người Việt sửa mình đây? Đó quả là một câu hỏi khó. Nhưng xin được thiển đàm rằng, vấn đề đạo đức chỉ có thể được giải quyết nhờ giá trị đạo đức. Làm sao để chữ Chân trong văn hóa truyền thống quay trở lại với người Việt đã là một câu hỏi mà chúng ta cần phải suy ngẫm thật sự.

Quang Minh/Trithucvn

Việt Nam đánh mất cơ hội ‘dân số vàng’ có một không hai như thế nào?

Việt Nam đang – và sẽ bỏ lỡ thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” – cơ hội “có một không hai” trong lịch sử để tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội.

Kết quả Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 chỉ ra rằng Việt Nam đã bước vào thời kỳ mà các nhà nhân khẩu học và kinh tế gọi là thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”.

Trong thời kỳ này, ít nhất hai người hoạt động kinh tế sẽ hỗ trợ cho một người không hoạt động kinh tế. Đây được cho là cơ hội duy nhất, “có một không hai” trong quá trình quá độ nhân khẩu học của một quốc gia và ở Việt Nam sẽ kéo dài khoảng 30 năm.

thap dan so
Tháp dân số Việt Nam các năm 1979, 1989, 1999 và 2009. (Nguồn: portal.thongke.gov.vn)

Tuy nhiên, các con số của Tổng cục Dân số và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy giai đoạn “dân số vàng” của Việt Nam ngắn hơn nhiều so với các nước khác, chỉ vào khoảng 17 năm (tới khoảng năm 2025) do Việt Nam có thời kỳ “dân số vàng” và già hoá dân số diễn ra cùng một lúc. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ già hoá nhanh nhất thế giới.

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên. Khi tỷ lệ người cao tuổi chiếm 7% tổng dân số thì dân số được coi là “bắt đầu già” và khi tỷ lệ này đạt 14% thì dân số được coi là “già”. Theo định nghĩa này, từ năm 2011, dân số Việt Nam đã bắt đầu già khi tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm 7% tổng dân số. Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, đến năm 2030, tỷ lệ dân số trên 65 tuổi của Việt Nam sẽ vào khoảng 12,9% và năm 2050 là 23%.

Điều đáng nói là hiện nay chỉ có khoảng 10% số người cao tuổi có tiền tích luỹ và 70% không có lương hưu.

Theo World Bank:“Tốc độ già hoá tại Việt Nam hiện nằm trong nhóm nhanh nhất thế giới, nhưng nó lại diễn ra trong bối cảnh mức thu nhập thấp hơn nhiều các nước cũng già hoá khác.”

Mặc dù có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh từ thập niên 90, nhưng thu nhập bình quân của người Việt năm 2017 ở mức gần 2.400 USD/năm (mức thu nhập trung bình thấp). Điều này dẫn tới gánh nặng “chưa giàu đã già”, trong khi nợ công tiếp tục tăng và đầy nguy hiểm, Việt Nam còn chịu mối lo gánh nhiều nợ nần.

Tất cả những điều này đặt ra hàng loạt thách thức cho Việt Nam trong việc tận dụng khai thác nguồn lực dân số, lao động cho phát triển kinh tế – xã hội.

Phần lớn các quốc gia đều tận dụng thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” để phát triển đất nước nhằm ứng phó với tình trạng dân số già sau đó.

Tận dụng “cơ cấu dân số vàng” là một trong những vấn đề quan trọng và ưu tiên chiến lược của chính phủ các quốc gia trong việc tăng trưởng và phát triển kinh tế gắn với dân số, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển.

Thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” sẽ không tất yếu mang lại các tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển con người. Theo kinh nghiệm thế giới, cơ hội dân số chỉ tạo ra điều kiện, còn môi trường chính sách mới là yếu tố quyết định, cho phép tận dụng được cơ hội “dân số vàng” mang lại.

Thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” được tận dụng khai thác như thế nào đòi hỏi sự vận hành của thể chế, sự điều hành của nền kinh tế vĩ mô, các chính sách đầu tư, đặc biệt là chính sách về giáo dục – đào tạo; chính sách lao động, việc làm; chính sách y tế nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và các chính sách về an sinh xã hội để chuẩn bị cho giai đoạn tiếp sau.

Tuy nhiên, tính từ nhiều năm trước năm 2009 cho đến hiện tại, các điều kiện và môi trường chính sách tại Việt Nam không cho thấy việc tận dụng cơ hội “có một không hai” này trong lịch sử nhân khẩu học của đất nước với rất nhiều những hạn chế về thể chế, điều hành nền kinh tế – tài chính quốc gia; tình trạng tham nhũng; thất bại trong cải cách giáo dục, giáo dục đại học, đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng, chất lượng cao…; các vấn đề về y tế và môi trường…

Nhìn về tương lai, vào tháng 3/2018, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum – WEF) công bố báo cáo về Mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai (Readiness for the Future of Production Report 2018).

Theo báo cáo của WEF, 100 quốc gia được đánh giá và phân loại theo 4 nhóm:

  • Nhóm Leading (lãnh đạo): có nền tảng sản xuất mạnh và có sự chuẩn bị tốt cho sản xuất trong tương lai;
  • Nhóm Legacy (kế thừa): có nền tảng sản xuất mạnh nhưng có một số hạn chế cho sản xuất trong tương lai;
  • Nhóm High Potential (tiềm năng cao): có nền tảng sản xuất hiện tại bị giới hạn nhưng có những tiềm năng để gia tăng sản xuất trong tương lai, phụ thuộc vào các ưu tiên trong nền kinh tế quốc gia;
  • Nhóm Nascent (mới chớm): có nền tảng sản xuất hiện tại nhỏ và mức độ sẵn sàng cho sản xuất trong tương lai thấp do những yếu kém và hạn chế ở các chỉ số về năng lực chủ động cho sản xuất.

Mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai của mỗi quốc gia được WEF đánh giá theo 2 nhóm chỉ số:

  • Cấu trúc sản xuất (gồm chỉ số về mức độ phức tạp của nền kinh tế và quy mô sản xuất);
  • Năng lực chủ động trong sản xuất (bao gồm các chỉ số về công nghệ – sáng tạo, nhân lực, thương mại – đầu tư toàn cầu, thể chế, các tài nguyên bền vững và môi trường tiêu dùng).

Việt Nam nằm trong nhóm 4 (nhóm mới chớm) tức mức độ sẵn sàng cho sản xuất trong tương lai là thấp nhất (chưa sẵn sàng), cùng nhóm với Campuchia, Indonesia, Pakistan, Mông Cổ, Sri Lanka, Bangladesh, Ethiopia… Điểm trung bình của Việt Nam cho chỉ số cấu trúc sản xuất là 4,96 điểm (xếp thứ 48/100) và năng lực chủ động trong sản xuất được 4,93 điểm (xếp thứ 53/100).

Trong khi đó, xếp hạng của một số quốc gia khác cùng trong khu vực Đông Nam Á/ Châu Á là:

  • Nhóm 1 (lãnh đạo): Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Malaysia;
  • Nhóm 2 (kế thừa): Thái Lan, Philippines, Ấn Độ;
  • Nhóm 3 (tiềm năng cao): Hồng Kông;
  • Các quốc gia khác như: Lào, Myanmar, Bruni, Đông Timor không có trong bảng đánh giá.

Theo đánh giá của WEF, Việt Nam có thứ hạng rất thấp trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ – sáng tạo, đào tạo – chất lượng nguồn nhân lực, môi trường, thuế.

Cụ thể, về công nghệ – sáng tạo, Việt Nam chỉ được 3,1 điểm (xếp thứ 90/100), với các chỉ số:

  • Phủ sóng mạng LTE: xếp thứ 96/100;
  • Bảo mật an ninh mạng: xếp thứ 90;
  • Số người dùng Internet trên dân số: xếp thứ 76;
  • Hấp thụ công nghệ: xếp thứ 78;
  • Chuyển giao công nghệ và FDI: 73;
  • Tác động của CNTT, viễn thông đến sản phẩm, dịch vụ mới: 70;
  • Chi phí cho R&D (%GDP): xếp thứ 84;
  • Ấn phẩm Khoa học Công nghệ: 74;
  • Hợp tác đa phương: 72;
  • Có 128 điện thoại di động trên 100 dân: xếp thứ 39.

Về nguồn nhân lực, Việt Nam chỉ được 4,5 điểm (xếp thứ 70), với một số chỉ số:

  • Lao động có chuyên môn cao: xếp thứ 81;
  • Chất lượng đào tạo nghề: xếp thứ 80;
  • Chất lượng các trường đại học: 75;
  • Chất lượng kỹ sư và nhà khoa học: 70.

Mặc dù chỉ số chung về Thương mại và đầu tư toàn cầu của Việt Nam được 7,0 điểm (xếp thứ 13/100) nhưng hàng rào phi thuế quan của Việt Nam quá phức tạp nên được 3,9 điểm (xếp thứ 87);

  • Thuế thương mại: xếp thứ 76;
  • Logistics: 57;
  • Thu hút FDI: 27;
  • Cơ sở hạ tầng: 51.

Tình trạng tham nhũng78/100.

Về các tài nguyên bền vững, Việt Nam chỉ được thứ hạng 87, trong đó có những chỉ số về môi trường rất thấp:

  • Nồng độ khí CO2: xếp thứ 90/100;
  • Xử lý nước thải: xếp thứ 89;
  • Nồng độ khí CH4: 82;
  • Nồng độ khí N2O: 79;
  • Xử lý nước thải: 89.

Các đánh giá này của WEF phần nào vừa phản ánh các kết quả mà Việt Nam đã thực thi trong suốt thời gian qua về môi trường chính sách trong kinh tế, kinh doanh, công nghệ – sáng tạo, giáo dục – đào tạo, nguồn nhân lực, môi trường… vừa cho thấy bước chuẩn bị cho sản xuất trong tương lai. Các hạn chế này, trong một thời gian ngắn (những năm còn lại của thời kỳ “dân số vàng”), là khó có thể cùng được cải thiện rõ ràng.

Việt Nam có thu nhập trung bình thấp, dân số đang già hoá nhanh, năng suất lao động thấp, nợ công tăng gấp 3 lần mức độ tăng trưởng (62,4% GDP năm 2016) dẫn đến tình trạng “chưa giàu đã già, lại nợ nần nhiều”.

Tài nguyên thiên nhiên đã cạn kiệt, các nguồn nhân lực bị cạn kiệt bởi dân số già hoá.

Việt Nam đang – và sẽ bỏ lỡ thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” hiếm có. Điều này sẽ để lại vô số tiếc nuối và thách thức rất lớn trong lịch sử phát triển kinh tế – xã hội của dân tộc.

Trithucvn