VUA CHÚA VIỆT KHI LÊN NGÔI ĐÃ TUYÊN THỆ NHỮNG ĐIỀU GÌ

Image may contain: 4 people

Ảnh : Các đào nương Vietnam ngày xưa
1 – LÝ THÁNH TÔNG KHÔNG MUỐN DÂN BỊ OAN SAI
Năm 1055, năm đầu tiên sau khi lên ngôi, vua Lý Thánh Tông đã ban những chiếu chỉ thể hiện đường lối cai trị nhân đức của mình, trong đó đặc biệt chú trọng tới việc xét án và các tội nhân. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: Mùa đông, tháng 10, rét lắm, vua bảo các quan tả hữu rằng: “Trẫm ở trong cung nào lò sưởi ngự, nào áo lót cầu còn rét như thế này, nghĩ đến người tù giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa biết ngay gian, mà ăn không no bụng, áo không kín mình, gió rét khổ thân, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy hạ lệnh cho hữu ty phát chăn chiếu và mỗi ngày hai lần phát cơm”.
Thương người tù tội nên nhà vua muốn các quan khi xét án nên khoan giảm hình phạt. “Sử ký toàn thư” chép: Mùa hạ, tháng 4 (năm 1066), vua ngự điện Thiên Khác xử kiện. Khi ấy công chúa Động Thiên hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa bảo ngục lại rằng: “Ta yêu con ta, cũng như lòng ta làm cha mẹ dân, nhân dân không biết mà mắc vào hình pháp, ta rất lấy làm thương. Từ năm nay về sau, không cứ gì tội nặng hay nhẹ, đều nhất loạt khoan giảm”.Đáng nói hơn, nhà vua còn cấp thêm bổng lộc cho các quan lại coi việc hình ngục để họ không nghèo đói mà sinh ra ăn hối lộ làm oan sai cho dân. Điều này trong Sử ký toàn thư, sử thần Ngô Sĩ Liên có ghi nhận: “Thánh Tông lo rằng tù giam trong ngục, hoặc có kẻ không có tội, nhân đói rét mà đến chết, thì cấp cho chiếu chăn ăn uống để nuôi cho sống; lo rằng quan lại giữ việc hình ngục hoặc có kẻ vì nhà nghèo nhận tiền đút lót, thì cấp thêm bổng và thức ăn, đề nhà được giàu đủ; lo rằng nhân dân thiếu ăn thi xuống chiếu khuyến nông; lo rằng năm sau đại hạn đói kém thì ban lệnh chẩn cấp người nghèo, trước sau một lòng đều là thành thực”.
2 – LÊ THÁI TỔ CHỦ TRƯƠNG NHÂN ĐẠO VÀ THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT
Lê Thái Tổ là vị vua khai sáng cơ nghiệp nhà Lê. Ông đã mệt nhọc dãi nắng dầm mưa 10 năm mới đuổi được giặc Minh để giành lại độc lập cho dân tộc. Năm 1428, sau khi quân Minh rút hết về nước, Lê Lợi lên ngôi vua đã sai Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô Đại Cáo” để bố cáo cho thiên hạ biết. Bản bố cáo này có thể coi là một bản tuyên ngôn độc lập, cũng có thể coi là một lời tuyên bố về đường lối chính trị của vua Lê Thái Tổ.
Ngay mở đầu bài cáo đã nói đến tư tưởng của nhà vua là “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Sau đó, tư tưởng nhân nghĩa lại được nâng lên ở câu “lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”.
Đường lối chí nhân của Lê Thái Tổ được thể hiện ra ở ngay trong việc ông đã tha cho toàn bộ quân tướng nhà Minh khi chúng đâu hàng. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Tháng 12, ngày 12 (năm 1427) Vương Thông nước Minh sai quân bộ qua sông Lô đi trước, quân thủy theo sau. Bấy giờ tướng sĩ và người nước ta rất oán người Minh giết hại cha con họ hàng, rủ nhau khuyên vua giết cả. Vua dụ rằng: “Trả thù báo oán là thường tình của mọi người, mà không thích giết người là bản tâm của người nhân. Vả lại người ta đã hàng rồi mà giết thì việc bất tường không gì lo bằng. Để thỏa lòng giận trong một buổi mà mang tiếng giết người đầu hàng mãi muôn năm, chi bằng tha mạng cho ức vạn người mà tuyệt mối chiến tranh sau này, sử xanh ghi chép, tiếng thơm muôn đời há chẳng lớn sao!”.
Bên cạnh đó, Lê Thái Tổ cũng là vị vua ngay từ đầu đã chủ trương chú trọng luật pháp để trị nước. “Sử ký toàn thư” chép rằng ngay trong tháng 1/1428, khi còn chưa làm lễ đăng quang ngôi vua, Lê Thái Tổ đã hạ lệnh ho các quan tư không, tư đồ, tư mã, thiếu úy, hành khiển bàn định luật lệ trị quân và dân, cho người làm tướng biết mà trị quân, người làm quan ở các lộ biết mà trị dân, để răn dạy cho quân dân đều biết là có phép, phàm các công việc đều có người phụ trách.
Lệnh của Thái Tổ nói rõ: “Từ xưa đến nay, trị nước phải có pháp luật, người mà không có phép để trị thì loan. Cho nên bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật, để dạy các quan, dưới đến nhân dân, cho biết thế nào là thiện ác, điêu thiện thì làm, điều ác thì lánh, chớ có phạm pháp”.
3 – QUANG TRUNG CHÚ TRỌNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ CẢI CÁCH GIÁO DỤC
Khác với Lý Thánh Tông lên ngôi trong buổi hòa bình và Lê Thái Tổ lên ngôi sau buổi dẹp loạn, Nguyễn Huệ đăng quang giữa lúc thù trong giặc ngoài đang căng thẳng. Ngày 22/11/1789, ông lên ngôi vua lấy hiệu là Quang Trung khi gần 30 vạn quân Thanh đã kéo tới Thăng Long. Quyết định lên ngôi, Quang Trung muốn có danh chính ngôn thuận để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Thanh của nhân dân ta.
Trong bản chiếu lên ngôi, vua Quang Trung nói rõ chí hướng: “… mấy năm gần dây, Nam Bắc gây việc binh đao, nhân dân rơi vào chốn bùn than. Trẫm là người áo vải ở Tây Sơn, không có một thước đất, vốn không có chí làm vua, chỉ vì lòng người chán ngán đời loạn, mong mỏi được vua hiền để cứu đời yên dân, vì vậy trẫm tập hợp nghĩa binh, mặc áo tơi đi xe cỏ để mở mang núi rừng…”
Sau các phần nói về thế sự, vua Quang Trung nói thẳng vào các vấn đề mà nhà vua phải giải quyết và phương hướng giải quyết. Trước hết vua tuyên bố các khoản thuế trong nước ông thu một nửa chỉ trừ các nơi bị nạn binh hỏa thì các quan đến nơi xét thấy đúng mới miễn. Đúng ra các vua khi đăng quang thường miễn thuế và đại xá thiên hạ nhưng lúc này đang đối mặt với mấy chục vạn quân Thanh nếu không thu thuế của dân thì triều đình không có lương thực nuôi quân đánh giặc.
Thứ hai, lúc này còn nhiều quan lại cũng như dân chúng của nhà Lê cũ, phải làm sao để tranh thủ sự ủng hộ hoặc hạn chế đến mức thấp nhất sự chống phá của họ. Để giải quyết việc này, vua Quang Trung tuyên bố: “Bầy tôi và nhân dân cựu triều hoặc bị vạ lây đã phải kết tội nặng, trừ tội đại nghịch bất đạo, còn thì đều cho đại xá… quan viên văn võ cựu triều, hoặc vì tòng vong trốn tránh, cho phép được về nguyên quán, người nào không muốn ra làm quan cũng cho tùy tiện”.
Những tuyên bố trong chiếu đăng quang này nói chung cũng chỉ là một giải pháp trước mắt. Nhưng ít ngày sau, khi gặp gỡ các nhân sĩ trí thức, vua Quang Trung đã bộc lộ hoài bão rất sâu xa về vấn đề xây dựng đất nước sau khi thắng giặc.
Sách La Sơn phu tử của tác giả Lê Trọng Hoàn cho biết khi Quang Trung hành quân ra đến Nghệ An có dừng lại tuyển mộ thêm lính và tổ chức duyệt binh lớn. Một ngày trước khi duyệt binh, vua đã gặp Nguyễn Thiếp để tham khảo ý kiến. Vua nói: “Quân địch đông quân ta ít. Phu tử tinh thông lý số, xin bảo cho quả nhân cách đánh thắng quân giặc”.
Nguyễn Thiếp nói đại khái rằng địch tuy đông nhưng đường xa mỏi mệt lại không rõ binh lực của ta cũng như địa hình địa vật trong khi ta biết rõ địch và dũng khí có thừa. Ta lại rút hết về Tam Điệp khiến giặc kiêu ngạo. Nhằm lúc chúng không đề phòng hoàng thượng dùng binh thần tốc, đánh cho chúng không kịp trở tay. Nếu thế hoàng thượng đi ra chuyến này, không quá 10 ngày quân Thanh sẽ bị dẹp tan.
Nhà vua nghe xong rất mừng nói: “Phu tử nói phải! chuyến này quả nhân sẽ đánh cho quân nhà Thanh không còn mảnh giáp. Sau thắng lợi, đất nước yên bình, quả nhân sẽ mời phu tử làm thầy dạy học. Có nghĩa là phu tử sẽ giúp triều đình chấn hưng học vấn trong nước. Vua quan không học thì không biết trị nước. Dân chúng không học thì không biết bổn phận làm dân, không hiểu kỷ cương nhà nước. Cho nên đạo học phải được coi trọng”.
Sau này khi đã thắng giặc, vua Quang Trung đã bắt tay ngay vào việc cải cách giáo dục và mời Nguyễn Thiếp ra giúp nhưng tiếc rằng vua mất sớm nên sự nghiệp này dở dang.
Ba vị vua nói trên chỉ là một vài điển hình về các đường lối trị quốc an dân của cha ông ta. Tuy rằng mỗi thời mỗi khác nhưng các câu chuyện lịch sử này cũng cho chúng ta nhiều điều đáng để suy ngẫm.
@ Kiến thức

Ngôi nhà giống như góc trời Âu ở vùng quê Khánh Hòa

Ngôi nhà giống như góc trời Âu ở vùng quê Khánh Hòa

Chỉ cao 1,5 tầng nhưng ngôi nhà của chị Quyên – anh Phương ở huyện Cam Lâm (Khánh Hòa) vẫn thu hút sự chú ý của những người đi ngang qua. Trên diện tích đất hơn 400 m2, gia chủ chỉ xây dựng 200 m2 nên nhà thoáng đãng, có khuôn viên đẹp.

Sân vườn rộng được quy hoạch ngăn nắp với lối đi trên thảm cỏ xanh. Gia đình không ham trồng nhiều cây to mà bố trí tre trúc, cây cảnh để nhà có màu xanh nhưng vẫn gọn đẹp.

Đây là ngôi nhà thứ 2 mà chị Quyên xây dựng trong vòng 5 năm. Bởi vậy, chị tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm. Với chị, việc chọn được kiến trúc sư giỏi, có tâm đã là thành công 50%. Vợ chồng KTS Bùi Sĩ Nguyên cũng là bạn thân đã giúp chị có được nơi ở như ý muốn.

Không gian sống của gia đình gồm phòng khách, bếp, 3 phòng ngủ, 3 WC, garage đều nằm ở tầng một. Trên tầng lửng có phòng thờ. Các phòng dùng khung cửa kính lớn để nhận tối đa nắng gió và có góc nhìn đẹp ra bên ngoài.

Chị Quyên xây nhà vào đúng thời “bão giá” vật liệu xây dựng. Dự đoán trước giá sẽ tiếp tục tăng nên chủ nhà đề nghị ký hợp đồng “một giá” suốt thời gian thi công.

Để tiết kiệm chi phí, gia đình không thuê trọn gói mà tách riêng phần thô và hoàn thiện. Bố chồng của chị Quyên từng là thợ giỏi nên đã giúp các con giám sát công trình.

 

Áo dài chơi Tết du xuân dáng nào cũng mặc đẹp

Những ngày xuân, áo dài là lựa chọn hoàn hảo cho phái đẹp. Áo dài không những kín đáo, lịch sự mà còn rất duyên dáng. Để chọn một bộ áo dài đẹp, chị em cần khéo léo về kiểu dáng, màu sắc và phù hợp dáng người.

Người thấp bé nhẹ cân

Nếu bạn thuộc những người nhỏ nhắn, hãy chọn những họa tiết nổi bật. Nếu thích màu sáng thì chọn màu pastel để cảm giác thân hình đầy đặn hơn. Nếu là gam màu tối hãy chọn có họa tiết sọc ngang.

Bí quyết chọn áo dài chơi Tết du xuân dáng nào cũng mặc đẹp - Ảnh 1

Nên chọn chất liệu dày như cotton, lụa hay gấm có độ phồng cứng tương đối để trông bạn đầy đặn hơn.

Với kiểu dáng, hãy chọn áo dài có vạt ngang gối hoặc chỉ qua đầu gối một chút, không nên chọn vạt áo dài sẽ làm cho bạn bị lọt thỏm trong đó.

Tuyệt đối không nên chọn áo dài có ống tay loe hoặc cổ thuyền sẽ trông ngắn hơn.

Bí quyết chọn áo dài chơi Tết du xuân dáng nào cũng mặc đẹp - Ảnh 2

Với những người thấp bé nhẹ cân, hãy tạm biệt những loại quần rộng. Nên diện quần ống côn tôn dáng. Cũng nên chọn quần cùng tông màu áo để tạo sự liền mạch, cải thiện chiều cao hơn.

Cuối cùng là các cô nàng nên đi giày cao gót, không nên chọn đế thuyền cao, để dáng dấp trông thanh thoát hơn.

Người thấp béo lùn

Với những chị em có dáng người đầy đặn chỉ nên chọn những chiếc áo dài ít họa tiết, đơn giản.

Bí quyết chọn áo dài chơi Tết du xuân dáng nào cũng mặc đẹp - Ảnh 3

Nếu bạn thích họa tiết, có thể chọn hoa văn có kiểu dáng dài, chạy dọc hai bên tà hoặc hoa dài, uốn lượn để tạo cảm giác eo ót và thanh thoát hơn.

Với màu sắc, nên chọn các màu tối hoặc trung tính để thân hình gọn gàng hơn, cấm kị các màu sáng bóng lấp lánh.

Với kiểu dáng, không nên chọn những kiểu cổ tròn bởi sẽ lồ lộ khuyết điểm cổ ngắn và vòng 1 to.

Bí quyết chọn áo dài chơi Tết du xuân dáng nào cũng mặc đẹp - Ảnh 4

Hãy chọn những kiểu cổ chữ V hoặc ổ thuyền. Cũng không nên chọn các kiểu áo dài bó chặt người, hãy chọn kiểu áo dài cách tân, hơi rộng một chút để có thể thoải mái và thanh thoát hơn.

Người cao gầy

Dáng người gầy và cao quá cũng không hề dễ chọn áo dài như mọi người nghĩ.

Bí quyết chọn áo dài chơi Tết du xuân dáng nào cũng mặc đẹp - Ảnh 5

Nếu bạn thuộc dạng mảnh mai thì có thể chọn vải họa tiết rực rỡ, hoặc ôm đồm thêm vải ren hoặc tay bồng để trông người bạn dày mình hơn.

Với màu sắc thì người gầy dễ chọn hơn những chị em mũm mĩm. Nếu có nước da không được sáng, thì chọn những chiếc áo dài màu sắc trung tính như màu vàng nhạt, màu xanh bạc hà.

Bí quyết chọn áo dài chơi Tết du xuân dáng nào cũng mặc đẹp - Ảnh 6

Nếu bạn có nước da trắng sáng thì chọn màu nào cũng có thể diện áo dài chơi xuân. Chỉ cần hạn chế những màu quá tối sẽ làm bạn gầy hơn.

Với những người cao gầy, hãy ưu tiên những kiểu áo cổ cao, phần tay kín đáo thanh lịch với các đường chiết eo vừa vặn, không nên quá bó sát để lộ thân hình gầy guộc của mình.

Theo Thanh Vân/Reatimes.vn

Nguồn: Tiêu Dùng Plus

Bi hài xét xử Trịnh Xuân Thanh

Người Buôn Gió 

50 năm Tết Mậu Thân 1968: Sống sót từ căn hầm bên hố bom

Mấy chục năm qua nhưng vết hằn năm tháng vẫn chưa thể xóa nhòa trong tâm trí của những người tuổi trẻ từng đi qua chiến tranh. Đấy là kỷ niệm để lại dấu ấn sâu sắc trong trái tim tôi khi hồi tưởng cuộc chiến Tết Mậu Thân năm 1968. Không ai sinh ra để chịu thương đau nhưng nào ai biết khổ nạn sẽ rơi xuống tình cờ trên bước đường nhân sinh như thế nào?

tet mau than 1968
Những người mẹ, người vợ mất chồng, con trong Tết Mậu Thân 1968. (Nguồn: Keith W. Nolan)

Hồi ấy tôi đang là sinh viên mới bước vào giảng đường đại học sư phạm. Chiến tranh vẫn là nỗi ám ảnh không nguôi của một thế hệ thanh niên nhưng việc học tập vì tương lai đã đẩy anh em chúng tôi miệt mài với sách vở ngập tràn. Nhưng Tết đến là những ngày vui bên gia đình êm ấm. Niềm vui được nhân lên khi biết được chiến tranh có những ngày hứa hẹn tắt đi tiếng súng theo một thỏa thuận của hai phe tham chiến. Một chút mừng vui hiếm hoi khi mà quê hương không ngừng chìm trong khói lửa.

Ngày lễ thiêng liêng ấy đã đưa tôi trở về với căn nhà nơi tôi lớn lên từ thuở tấm bé. Đó là một vùng quê êm đềm chỉ cách xa thành phố Huế chừng bảy cây số. Hương khói quê nhà cho tôi được thả hồn vào những ngày thanh bình năm xưa, ở đó tôi được rảo bước qua những con đường quanh co đầy bóng mát của tre xanh, được sống với những người làng quê dân dã, chân chất sao mà đáng yêu đến thế. Chỉ được ngày đầu năm yên ả trôi qua trên từng bước chân tung tăng của đàn em bé ngoài hiên nhà cùng vài tiếng pháo lẻ loi vang lên cuối xóm. Những cơn mưa phùn mang đến gió lạnh đầu năm khiến người dân nghèo thu mình trong từng mái tranh nhỏ nhoi nhưng nhưng đầy ấm cúng.

Nhưng đó cũng là lúc mà tiếng súng từ vùng núi xa dồn dập rót vào thành phố, chẳng mấy chốc làm đổ nát di tích trong cổ thành, nhà cửa tan hoang trên từng con phố và khói hương ngày Tết cũng chìm mất dưới làn khói đạn tơi bời. Khắp thành phố vang lên tiếng kêu thương, từng đoàn người lũ lượt bỏ nhà cửa rủ nhau chạy về vùng yên tĩnh. Nhưng có nơi nào mà không vang tiếng súng? Nhà cửa hoang tàn và những khuôn mặt thảng thốt lầm lũi trên những con đường loang dấu đạn bom. Chiến tranh đến tận từng ngôi nhà, từng con hẻm, từng am miếu bên đường. Bom đạn từng ngày vẫn không ngơi rơi xuống thành phố êm đềm và cổ kính của tôi. Lá cờ trên đỉnh Phú Văn Lâu đã thay đổi. Và trong mưa gió, ngọn cờ ấy tung bay được 25 ngày đêm để rồi cuối cùng không còn nữa. Lá cờ được kéo lên thì những phận người ngã xuống. Mà không chỉ đôi người, chục người, trăm người mà cả ngàn người tan tác chôn vùi thân xác đầy oan khiên. Trong cơn gió mùa xuân, những oan hồn lạnh lẽo nghe chừng như còn lẩn khuất đâu đây.

Huế của tôi năm Mậu Thân là như thế. Mà không chỉ có ở thành phố. Làng quê tôi một ngày kia cũng trở thành vùng đất dữ. Một buổi sáng mưa nhẹ, tôi bước ra xóm chơi, bỗng thấy một đoàn thiếu nhi cùng mặc áo xanh, quấn khăn rằn, đi qua. Chợt nhận ra anh bạn học luật khoa năm nào dẫn đầu các em. Đây là người đã bị cảnh sát săn lùng, tìm bắt ngay trong trường luật, nhưng anh ta khôn khéo leo ống nước xuống sân trường chạy trốn. Nhận ra tôi anh ta mỉm cười, thì ra đó là đội văn nghệ xung kích thiếu nhi lầm lũi đi trong mưa lạnh.

Cũng đến lúc làng quê sẽ điêu tàn khi thành phố đã được chiếm lại. Đó là một buổi chiều tôi thoáng thấy một đoàn người mặc thường phục dẫn nhau đi, theo sau mấy anh du kích. Họ là ai và đi đâu? Nhìn dáng người thiểu não, thất thần, có thể biết được đó chính là những công chức của chính quyền Sài Gòn. Họ bị bắt khi thành phố thất thủ. Họ đi xuyên qua làng quê tôi để đến một vùng xa hơn ở miệt biển. Có lẽ vì trải qua đoạn đường mệt mỏi nên tất cả được lệnh vào nghỉ chân ở đình làng vào buổi xế trưa. Chính vào thời điểm ấy một chiếc trực thăng quần thảo bên trên sân đình rồi những loạt súng vang lên. Không khí hoảng loạn đã đẩy đoàn người vừa đến bỏ chạy tán loạn ra bốn phía. Ngay sau đó, một máy bay chiến đấu được gọi đến; nó bay thấp từ đầu làng đến cuối xóm trong tiếng gầm thét đầy kinh hãi. Không phải những tiếng súng nữa mà từng loạt bom trút xuống những ngôi nhà chung quanh đình làng. Gia đình tôi vội vã chạy vào hầm trú ẩn được dựng sát ngay ngôi nhà rường cổ kính. Khi tám người vừa vào trong hầm thì một tiếng nổ lớn vang lên bên tai. Tôi không còn biết gì nữa, thì ra tôi đã bất tỉnh. Một lúc sau mới nhận ra tôi đang bị đè bẹp bởi lớp ván nặng trên lưng, căn nhà rường đã bị trúng bom và căn hầm trú ẩn đã đổ nhào xuống. Tiếng kêu la của ai đó không thoát ra nổi căn hầm giờ chỉ còn là mấy cây cột xiêu vẹo bên mấy thân người đổ gục kề nhau với đất đai vương vãi. Căn hầm bị thổi bay lớp đất dày hơn một mét, biến dạng và tối thui. Tôi thấy đau nhức cả mặt, cả đầu và sống lưng. Khi tỉnh ra thì chợt nghe tiếng đại bác dồn dập bắn vào làng từ phía biển. Đấy là những chiếc tàu hải quân từ cửa biển Thuận An rót vào. Sau những loạt đạn pháo là sự im lặng như nín thở của một làng quê đầy ắp người vui chơi rộn rã vào thời gian trước đó không lâu. Giờ đây cả làng quê chờ đợi phút giây không còn tiếng đạn bom để bước ra nơi trú ẩn để thở than nhìn xóm quê tan tác.

Tôi ngồi bệt trong không gian tăm tối và nóng bức, ngột ngạt và cảm thấy đuối sức không còn thở nổi. Chiếc áo ấm tôi đã xé từ lúc nào để tránh cái nóng hầm hập trong không gian kín bưng như thế. Chợt tôi liếc mắt nhìn nghiêng, một tia sáng nhỏ nhoi rọi xuống từ kẽ hở trên đầu. Tôi vội lấy sức tàn rút những sợi rơm lót trên bộ ván trước khi đổ lên đó một lớp đất dày, ôi mừng quá, vì nhận ra còn có chút không khí để thở. Dần dần vẳng lên tiếng nói của ai đó đến gần. Có tiếng khóc thút thít bên trên, tiếng mẹ tôi kêu gào hàng xóm đến giúp đỡ để lôi kéo những thân người từ dưới lớp đất lên trên. Chao ôi, trong số tám nhân mạng trong hầm giờ chỉ có năm người sống sót. Ba người đã trút linh hồn khi đất đá vùi dập họ ở ngay tại cửa hầm: ba mẹ con đã ra đi không một lời trăng trối. Căn nhà rường bề thế giờ đã tan hoang, thay vào nơi đó là một hố sâu xâm xấp nước và đủ rộng để có thể xoay trở một con đò. Tôi biết điều đó do mẹ tôi kể lại sau này, còn ngay lúc đó thân tôi mềm nhũn, ý thức mờ ảo, đôi mắt đỏ ngầu không mở được vì khuôn mặt sưng vù do cây cột va đập. Một người hàng xóm cõng tôi trên lưng đi về nhà người quen phía cuối xóm, xin tá túc qua đêm cũng trong một căn hầm khác. Ơn trời, chiều hôm đó mẹ tôi ra khỏi nhà để đến chơi với người quen nên được an toàn. Nhưng khi bước về nhà, nhìn chung quanh mẹ tôi thấy nhiều căn nhà cũng tan hoang như thế; có căn hầm chứa cả gia đình cũng hứng nguyên một trái bom, chục mạng người đều tan xương nát thịt trong tiếng khóc thảm thiết của người thân.

Một đêm đau đớn kinh hoàng trong đời người. Cơn đau khiến tôi không thể nhúc nhích và nằm yên không ngủ được. Về khuya những tiếng súng đì đùng dội về từ xa trong tiếng côn trùng nghe thảm não. Và rồi đêm cũng qua mau trong niềm mong mỏi sẽ được chữa bệnh để trở về với bạn bè, lớp học. Từ sáng sớm, không còn gì ngoài bộ đồ dính bùn đất, tôi gắng gượng bước đi về nhà thương, một tay cầm gậy, tay kia tựa vào đứa em chừng 12 tuổi, cũng tự căn hầm bước ra. Hai anh em khó khăn cất từng bước chân nặng nhọc và đau đớn trên con đường đá vắng người. Chiến tranh từ thành thị đã lan ra vùng quê nên vài ngôi làng xa xa trên đường đi vẫn còn tiếng súng nổ vang và tiếng máy bay gầm thét. Tôi đã thấy một bé gái từ trong làng công giáo gánh trên vai đôi thúng, trong đó ở hai đầu là hai đứa bé chừng 2 tuổi, thân hình bị bỏng cháy sau một đợt bom napalm. Bé đi về nhà thương cũng như tôi. Ôi chao, xót xa nào bằng! Tôi cũng không hiểu được sức mạnh kỳ lạ nào đã cho tôi bước đi được trong tình trạng như thế. Hơn một tiếng đồng hồ sau, tôi qua đò ngang rồi cũng lê bước về bệnh viện. Vào đây thật không thể hình dung những người bị thương nhiều đến thế. Bệnh viện lớn nhưng không còn giường để nằm vì nạn nhân từ mọi nơi về quá đông. Tôi được đưa vào phòng quang tuyến X để chụp xương sống. Bác sĩ cho giấy chứng thương cùng toa thuốc, ghi bằng tiếng Pháp “fracture du 2ème vertèbre lombaire” (gãy xương sống lưng thứ 2), thương tật 61%. Tôi lủi thủi ra về, đi qua chiếc phà của quân đội đặt tạm gần cầu Trường Tiền vì cầu đã gãy một nhịp. tá túc nhà của người dì ở thành phố. Theo lời dặn của bác sĩ, tôi phải uống calcium corbière và nằm yên trên giường thêm một tháng rưỡi nữa. Trời ơi, đang học hành dở dang mà phải nghỉ dài ngày, quên hết chữ nghĩa. May mắn thay, ngôi trường của tôi vẫn còn nguyên vẹn nhưng trở thành nơi trú ngụ của hàng trăm nạn nhân chiến cuộc. Trong tình cảnh bom đạn ấy, nhiều bàn ghế của lớp học, sách vở của thư viện được làm củi đốt để người dân có miếng cơm lót lòng. Thật đau xót nhưng chiến tranh là như vậy. Thời điểm ấy, trường cũng chưa hoạt động trở lại nên khi xong bệnh thì cũng là lúc bạn bè vừa kịp ổn định cuộc sống và việc học hành. Nhìn quanh các lớp học thấy vắng đi một số bạn, Phan Như bị gãy xương vai, Thuận thì đã bỏ mình vì bom đạn, Yên Thi đi vào rừng, Hoàng Hòa sau đó cũng bị tù ở Côn Đảo…

Thời buổi chiến tranh mỗi người bị rơi vào một tình cảnh nghiệt ngã khác nhau, có thể họ có nhiều chọn lựa khác nhau. Nhưng trên hết, lý tưởng của lớp người trẻ là tâm nguyện được phục vụ đất nước với tấm lòng sắt son, mong ước góp phần đem lại tương lai tươi sáng cho quê hương sau ngày chinh chiến. Thế hệ chúng tôi trải nghiệm và ước vọng như thế đó, cho nên được sống sót sau trận bom là một ân huệ nồng thắm của số phận riêng tôi!

Nguyễn Phú Yên

Đăng lại từ bài viết đăng trên báo Người Đô Thị, Xuân Mậu Tuất 2018 dưới sự đồng ý của tác giả.

Bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu và trao đổi có thể liên lạc tác giả qua Facebook: Nguyễn Phú Yên.

Mậu Thân 1968: Sức mạnh của một bức ảnh

Hai người đã chết trong bức ảnh này. Vị tướng đã giết người tù còn tôi đã giết vị tướng –  Eddie Adams.

Cách đây đúng 50 năm, cuộc tổng tấn công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 xảy ra và là một sự kiện cột mốc đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong chiến tranh Việt Nam. Có nhiều lý do khiến Mỹ thất bại trong cuộc chiến hao tiền tốn của này, một trong số đó là tác động của truyền thông vào phong trào phản chiến đang bùng phát mạnh mẽ ở Mỹ, được thổi bùng lên vào năm 1968.

Chiến dịch tấn công âm thầm của Hà Nội vào dịp tết Mậu Thân, bất chấp một hiệp ước ngừng bắn đã khiến Huế, Sài Gòn và các tỉnh miền Nam bất ngờ, mặc dù lợi thế này không duy trì được lâu. Bất cứ một sử gia nghiêm túc nào cũng không thể phủ nhận chiến dịch này là một thất bại rõ ràng của quân Bắc Việt. Không nói đến mục tiêu đánh bại miền Nam trong chớp nhoáng đã thất bại hoàn toàn, chỉ cần so sánh số lượng thương vong, tính riêng giai đoạn 1: (30/1 – 28/3/1968), Quân đội Miền Nam tổn thất hơn 9.000 người trong đó quân Việt Nam Cộng Hòa mất gần 5.000, còn lại là quân Mỹ, Hàn, Úc, New zealand và Thái Lan); quân Bắc Việt và Việt Cộng mất xấp xỉ 17.000 người, tức là gần gấp đôi, mặc dù là bên tấn công. Tuy nhiên trên chiến trường truyền thông, đó là một chiến thắng cho phe cộng sản.

Tin tức và hình ảnh của cuộc chiến đẫm máu được các phóng viên hiện trường truyền đi khắp Mỹ và phương Tây, thổi lửa vào phong trào phản chiến đòi rút quân tại Mỹ. Trong số đó, bức ảnh “Hành quyết tại Sài Gòn” do phóng viên Eddie Adams chụp ngay trong ngày đầu tiên Sài Gòn bị tấn công đã trở thành biểu tượng ghê sợ cho sự tàn bạo, chết chóc và hỗn loạn của cuộc chiến tranh Việt Nam.

Bức Hành quyết ở Sài Gòn do Eddie Adams chụp

Bức ảnh chụp khoảnh khắc Tướng Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Loan bắn một tù binh Việt Cộng bằng khẩu súng ngắn đặt cạnh thái dương. Khuôn mặt gầy gò, méo mó như đang khóc mếu của người tù bị buộc tay sau lưng, sự bình thản của tướng Loan cùng nét mặt căng ra, nghiến răng vì sợ hãi và căng thẳng của một người lính khác góc trái khung hình đã gây ra hiệu ứng sốc trong tâm lý của người xem.

Biên tập viên BBC mô tả: “Thật khó để không cảm thấy ghê tởm, tội lỗi khi nhìn vào khoảnh khắc của cái chết”.

Ben Wright, giám đốc truyền thông tại Trung tâm Tư liệu về Lịch sử Hoa Kỳ Dolph, nói: “Có một cái gì đó trong bản chất của một bức ảnh tĩnh tác động sâu sắc đến người xem và đọng lại với họ.”

Trung tâm này đặt tại Đại học Texas, Austin, là nơi lưu trữ các bức ảnh, tài liệu và thư từ của Adams.

Các đoạn phim về cảnh nổ súng này, trong khi gây kinh ngạc, lại không gợi lên được cùng cảm giác về sự khẩn cấp và bi kịch “, Wright nhận xét.

Sau 50 năm, bức ảnh Hành quyết tại Sài Gòn vẫn còn nguyên giá trị biểu tượng cho một cuộc chiến. Tạp chí Time đã chọn nó là một trong 100 bức ảnh có ảnh hưởng nhất trong lịch sử.

Bức ảnh nhanh chóng lan truyền trên mọi hãng truyền thông, được in trên mọi tờ báo lớn phương Tây và trở thành bức hình có tác động nhất đến chiến tranh Việt Nam. Bức ảnh cùng với cuộc tấn công bất ngờ của quân Việt Cộng – lực lượng mà Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson từng mô tả là một đội quân ốm yếu, ô hợp khiến người Mỹ nghi ngờ khả năng sớm chấm dứt chiến tranh và đưa các chàng trai của họ về nhà trong vinh quang.

Phong trào phản chiến ở Mỹ đã xuất hiện từ năm 1965 sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ và Mỹ tuyên bố tham chiến ở Việt Nam, nhưng chỉ là ở tại các trường cao đẳng, đại học với phần lớn người tham gia là sinh viên và các giáo sư. Bức ảnh này dường như đã thổi bùng lên sự tức giận trong công chúng Mỹ.

Một khảo sát của hãng Gallup vào tháng 2/1968 cho thấy chỉ có 35% người Mỹ ủng hộ việc tổng thống Johnson tham chiến, 50% phản đối, còn lại không có ý kiến. Các cuộc biểu tình chống chiến tranh bắt đầu chỉ từ học sinh, sinh viên và những người thuộc phe tả, đã lan ra tới các cựu chiến binh. Những thành viên của tổ chức Cựu chiến binh Việt Nam chống chiến tranh, rất nhiều người ngồi trên xe lăn, chống nạng, bước ra biểu tình. Hình ảnh họ ném bỏ các tấm huân chương mà chính phủ trao tặng trong cuộc chiến đã tác động sâu sắc tới người Mỹ. Phong trào phản chiến đã được thổi bùng lên thành một cơn bão không thể dập tắt.

Tổng thống Nixon thắng cử năm 1969 và mặc dù sau nhiều năm “dãy dụa” tìm cách gửi nhiều binh lính hơn tới Việt Nam, các cuộc biểu tình biến thành bạo loạn trong nước đã buộc ông phải tuyên bố chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào miền nam Việt Nam năm 1973. Hai năm sau, Sài Gòn thất thủ.

Năm 2.000, vợ của người tử tù năm xưa trong cuộc phỏng vấn với tờ AP đã nói rằng bà cảm thấy bức ảnh này đã khiến người Mỹ chống lại cuộc chiến tranh.

Bức ảnh nổi tiếng đã đem lại cho Eddie tiền bạc và danh vọng. Giải thưởng Pulizer danh giá  một năm sau đó đã đóng đinh ông vào danh sách các những nhiếp ảnh gia nổi tiếng nhất thế giới. Ông đã chụp ảnh cho Ronald Reagan, Fidel Castro và Malcolm X, giành 500 giải thưởng lớn nhỏ trong suốt sự nghiệp cầm máy của mình, tuy nhiên bức ảnh hành quyết chưa bao giờ được nhắc đến với một sự tự hào.

Tướng Loan, người cầm súng trong bức ảnh đó đóng một vai trò quan trọng trong quân đội Sài Gòn, ông là người lãnh đạo một đội quân bảo vệ thủ đô khỏi những kẻ tấn công. Cùng với sự nổi tiếng của bức ảnh, ông Loan cũng được biết đến như một sát nhân máu lạnh, vô nhân tính, là biểu tượng của sự phi nghĩa trong chiến tranh dưới ngòi bút của các tác giả phản chiến. Eddie Adams cũng nghĩ như vậy trong khoảnh khắc đó, nhưng những ngày tháng theo chân Tướng Loan đã khiến ông nghĩ khác.

“Bức ảnh không nói lên toàn bộ câu chuyện. Nó không nói nguyên nhân tại sao”, Eddie nói sau đó.

Tướng Loan giải thích hành động bắn chết tù nhân của mình: “Ở trong trường hợp này, nếu bạn do dự, bạn không thực hiện nhiệm vụ của mình, binh lính sẽ không nghe theo”.

Người tử tù được cho là Nguyễn Văn Lém, bí danh Bảy Lốp, đại úy đặc công quân Giải phóng miền Nam. Trong cuộc tấn công Sài Gòn, ông Lém đã giết vợ và 6 người con của một binh sĩ miền Nam.

Họ đã giết rất nhiều người của tôi và rất nhiều đồng bào của ông”, Tướng Loan nói với Adams sau vụ hành quyết và bỏ đi.

Tại lễ trao giải Pulitzer, Eddie Adams đã cay đắng nói: “Tôi kiếm được tiền từ việc trưng ra cảnh một người giết chết một người khác. Hai cuộc đời đã bị hủy hoại, và tôi được trả tiền cho nó. Tôi được gọi là anh hùng.”

Nhưng Adams và Tướng Loan vẫn giữ liên lạc nhiều năm sau đó và thậm chí còn trở thành bạn của nhau.

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, ông Loan tới Mỹ xin tị nạn. Chính phủ Mỹ đã muốn trục xuất ông vì bức ảnh trên và họ đã tìm đến Adams để làm chứng chống lại ông. Adams đã từ chối và thậm chí còn lên tiếng ủng hộ ông Loan trên các phương tiện truyền thông, nói rõ hoàn cảnh ra đời của bức ảnh.

Quốc hội Mỹ sau đó đã hủy bỏ lệnh trục xuất và ông Loan được ở lại Mỹ. Ông mở một cửa hàng ở ngoại ô Washington.

“Tôi không nói rằng việc ông ấy làm là đúng, nhưng ông ấy đang chiến đấu trong một cuộc chiến và ông phải chống lại một số người khá là xấu xa”, Adams nói. Ông cho rằng “2 mạng người đã bị hủy hoại trong ngày hôm đó – của Lốp và của Loan – và tôi không muốn hủy hoại cuộc đời của bất kỳ ai. Đó không phải là việc của tôi”.

Khi ông Loan qua đời năm 1998 do ung thư, Eddie Adams viết:

Có hai người đã chết trong bức ảnh đó. Thiếu tướng giết một người Việt Cộng, còn tôi giết ông ta bằng máy ảnh của mình“.

Trong nghiên cứu khoa học siêu hình có một hiện tượng gọi là “hiệu ứng cánh bướm”: một lần đập cánh của con bướm dưới các xúc tác phù hợp có thể gây ra cơn bão tại bờ kia của Thái Bình Dương, một bức ảnh theo đó cũng có thể quyết định vận mệnh của một cuộc chiến, rẽ ngang hướng đi của một dân tộc cùng hàng triệu người sống trong đó. Gọi là siêu hình bởi chẳng có ai có thể khảo sát cho rõ ràng: liệu cánh bướm kia có phải là nguyên nhân khởi nguồn dẫn đến cơn bão hay bức ảnh của Adams có thực là lý do khiến Sài Gòn thất thủ 7 năm sau, và nếu không có bức ảnh này thì kết cục của chúng ta có khác đi không? Đặt ra câu hỏi này, tôi phải xin lỗi người đọc, vì quả thực chẳng có ích gì ngoài khiến người ta phải chịu dày vò đau đớn như mở lại những vết thương quá sâu, có thể đã lên da nhưng vẫn nhức nhối trong những ngày trái gió. Con người chúng ta dường như quá nhỏ nhoi trong dòng chảy vô tình của lịch sử, ngoài những lúc dãy giụa để rồi tự tổn thương, ta có thể làm gì? Cái ta có chỉ là cách ta đối diện với nó.

Nhưng khi được chứng kiến những người như tướng Loan và Eddie, một người mà cuộc đời bị hủy hoại bởi cái đã mang đến cho người kia tất cả tiền bạc và danh vọng, có thể trở thành bạn hữu và giúp đỡ nhau, thì tôi còn nhìn thấy hy vọng trong con người; chừng nào ta còn có những người sống vì sự chính trực và thiện lương.

Eddie Adams đã qua đời vào năm 2004. Sinh thời ông thường xuyên nhắc rằng ông tự hào nhất là về những bức ảnh hậu chiến vào năm 1977 mà ông chụp những người chạy trốn khỏi Việt Nam. Những bức ảnh này đã gây ảnh hưởng khiến chính phủ Mỹ chấp nhận hơn 200.000 người Việt tị nạn.

Trần Minh / TrithucVN