Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Nằm ngay giữa khu dân cư đông đúc, ngôi nhà của anh Vinh như một thế giới khác.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Ngôi nhà của anh Vinh ở thành phố Nha Trang có diện tích đất rộng (117 m2) nhưng lại nằm trong khu dân cư đông đúc, ven một trục đường có mật độ xe lớn. Khác với các gia đình tận dụng tối đa nhà mặt phố để cho thuê, anh chị sẵn sàng lùi mặt đứng vào trong để tạo khoảng đệm cây xanh cho nơi ở.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Công trình không chỉ thu hút vào ban ngày với những mảng cây xanh dịu mát khắp các tầng mà còn bắt mắt ngay cả lúc đóng cửa hoặc khi màn đêm buông xuống. Những khung cửa sắt đục lỗ hình cây tạo ra bóng đổ lung linh vào mọi thời điểm trong ngày.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Các KTS Lê Minh Quang, Nguyễn Ái Thy (MW archstudio) đề xuất ý tưởng: “Ngôi nhà lấy đất của tự nhiên thì sẽ trả lại cho tự nhiên bằng những mảng cây xanh”.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Cây xanh trong công trình là các loại rau hay dược liệu tốt cho sức khỏe, có cách chế biến đơn giản. Các loại cây này cũng dễ tìm tại địa phương.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Ngoài phục vụ nhu cầu của các thành viên trong nhà, cây xanh còn góp phần cải thiện khí hậu, tạo ra sự cân bằng giữa con người, công trình với môi trường xung quanh.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Nước thải sạch, nước mưa được tận dụng để tưới cây nên giảm được nguồn chất thải ra môi trường.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Ý tưởng bố trí các khoảng vườn rau, thuốc này cũng bắt nguồn từ thói quen của người dân Việt: Luôn có sẵn vườn trồng cây thuốc đơn giản để trị bệnh dễ mắc khi cần.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Nhà có thiết kế hợp lý để tận dụng gió, ánh sáng tự nhiên nên không cần bật đèn vào ban ngày, không dùng điều hòa, chỉ bật đèn led tiết kiệm điện vào ban đêm.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Đa số vật liệu xây dựng đều rẻ và có sẵn tại địa phương. Nhờ vậy, nhà được hoàn thành có giá thành thấp hơn và có nhiều tiện ích so với các công trình cùng quy mô.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Phần mái hiên rộng cùng khoảng đệm cây xanh giúp gia chủ có thể thường xuyên rộng mở cửa đón nắng gió.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Ngôi nhà giải quyết được vấn đề an ninh, riêng tư nhưng vẫn thông thoáng và kết nối được với bên ngoài qua các lớp cửa.

Nhà phố giống như ốc đảo xanh ở Nha Trang

Theo KTS Lê Minh Quang, tại địa phương, có nhiều ngôi nhà gần đó đang cải tạo hay xây mới theo xu hướng ngôi nhà của anh Vinh.

Ban Mai /Ảnh: Hiroyuki Oki

Nước Mỹ không phải là một nền dân chủ và đó là điều tốt đẹp

Nước Mỹ được xây dựng là một nền Cộng hòa, và sẽ luôn luôn là như vậy.

Năm xưa khi Benjamin Franklin rời khỏi hội nghị về Hiến pháp, một phụ nữ đã đến hỏi ông rằng: “Ngài đã để lại cho chúng tôi những gì?”

Franklin ngay lập tức trả lời: “Một nền Cộng hòa, thưa bà, nếu bà và con cháu bà có thể bảo vệ được nó”.

United States, Pennsylvania, Philadelphia, Franklin Institute, Benjamin Franklin National Memorial, Statue of Benjamin Franklin

Tượng Benjamin Franklin tại Bảo tàng Quốc gia Benjamin Franklin, bang Pennsylvania

Hầu hết người Mỹ và khắp nơi trên thế giới hiện nay đã bị thuyết phục rằng hệ thống chính phủ của Mỹ là một nền Dân chủ, cái tên nền Cộng hòa đã bị rơi vào quên lãng và trở nên khó hiểu. Sự khác biệt giữa 2 hệ thống chính trị này là căn bản để hiểu được chủ nghĩa biệt lệ Mỹ (Americanism) và tại sao nước Mỹ lại có một lịch sử thành công nhất thế giới.

Phân loại các hệ thống chính trị

Rất nhiều người phân loại dải phổ chính trị thành 2 phe, từ cực tả đến cực hữu: Chủ nghĩa Cộng sản nằm ở cực tả (bên trái), chủ nghĩa Phát xít nằm ở cực hữu (bên phải), ở giữa là các hình thức chính phủ ôn hòa hay trung dung. Tuy nhiên, cách phân chia các hình thức chính phủ chính xác hơn là nên dựa theo tiêu chí chính phủ sử dụng quyền lực ra sao. Ở bên phải, chính phủ nắm càng ít quyền lực đến mức không còn chính phủ (chủ nghĩa vô chính phủ), càng về phái trái, chính phủ càng nắm nhiều quyền, đến mức độc tài.

Phân loại hệ thống chính trị theo cách 1
Dải phổ chính trị phân loại theo quyền lực chính phủ

Ở cực bên phải, không còn chính phủ hay vô chính phủ, ở bên trái là các chính phủ toàn trị, bao gồm: Chủ nghĩa Cộng sản, Chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa Phát xít, Chủ nghĩa Quốc gia Xã hội v.v. Những người tuyên bố chủ nghĩa Phát xít (Nazi) cũng thuộc về cánh hữu chưa bao giờ đưa được ra định nghĩa chính trị phù hợp của mình.

Ở giữa của dải phổ chính trị này là hình thái nhà nước giới hạn trong nhiệm vụ đúng đắn của nó: Bảo vệ quyền của người dân. Đây chính là mục đích của Hiến Pháp Mỹ, và những người cổ vũ hình thức này của chính phủ này tạm gọi là “ôn hòa hợp hiến”.

Các hình thức chính phủ

Hình thức chính phủ gồm: Quân chủ – cai trị bởi một người; Đầu sỏ chính trị (Tập quyền – oligarchy); Dân chủ – đa số cai trị; nền Cộng hòa – cai trị bằng pháp luật; và cuối cùng là Vô chính phủ – không có ai cai trị.

Đầu tiên cần bàn đến nền Quân chủ hay Độc tài một người. Hình thức chính trị này thực sự không tồn tại trên thế giới ngày nay. Thực tế các nền Quân chủ trên thế giới từ trước tới nay luôn luôn là một nhóm nhỏ đưa một người lên cầm quyền. Vua luôn có hoàng tộc, hội đồng cố vấn và những nhà độc tài luôn vây quanh bởi những kẻ đứng sau cánh gà.

Tập quyền chính trị là hình thức chính phủ phổ biến nhất trên thế giới ngày nay. Hầu hết những quốc gia trên thế giới được cai trị bằng một nhóm nhỏ người nắm quyền vượt lên mọi giới hạn của luật lệ.

Ở điểm cực hữu là chủ nghĩa Vô chính phủ. Một số người quan sát lịch sử và nhận thấy rằng gần như tất cả các tội ác kinh khủng nhất của nhân loại đều được gây ra bởi chính phủ, vì thế xóa bỏ chính phủ có thể là giải pháp. Nhưng đây là một lựa chọn sai lầm. Bởi như câu danh ngôn nổi tiếng của Hy Lạp: “Không có luật lệ thì không có tự do”, Vô chính phủ gây ra loạn lạc, bạo lực và cuối cùng lại dựng lên những chế độ tập quyền độc tài.

Những nhà lập quốc Hoa Kỳ đồng ý rằng cần một mức độ chính phủ phù hợp và đó là lực lượng cần thiết tại bất cứ một xã hội văn minh có trật tự nào. Trái lại trong tình trạng Vô chính phủ, mọi người đều phải tự vũ trang và bảo vệ tài sản và tính mạng của mình và người thân trong mọi thời điểm. Do đó việc di chuyển không còn được tự do mà bị kiềm kẹp nghiêm trọng bởi vì lo sợ tài sản có thể bị cướp bóc. Vô chính phủ đi kèm vô luật lệ. Khi một lực lượng được thuê để bảo đảm pháp luật công bằng thì người ta trở nên tự do hơn. Người dân có thể rời khỏi nhà cửa, đi làm ở cánh đồng, trong công xưởng hoặc đi giao thương buôn bán. Việc đảm bảo có một quy mô chính phủ phù hợp giúp mọi người tự do hơn.

Những người vận động Vô chính phủ không phải là họ thực sự muốn hình thái chính phủ này, mà vì họ không thích chính phủ hiện tại của họ. Họ dùng Vô chính phủ làm công cụ để tiến hành thay đổi cách mạng. Những kẻ cổ súy Vô chính phủ toan tính dùng bạo lực, cướp bóc, khủng bố để đánh đổ chính phủ hiện tại. Và bị kịch là chính những người dân sống trong cảnh hỗn loạn ấy lại thường quay sang ủng hộ những người có khả năng nhất để chấm dứt hiện trạng này, và cầu xin họ nắm quyền để lập lại trật tự. Ai là người phù hợp nhất để chấm dứt hỗn loạn? Chính những kẻ bắt đầu nó.

Những kẻ Vô chính phủ tạo ra vấn đề rồi tạo ra chính phủ do họ lãnh đạo – Tập quyền chính trị, nơi mà họ có quyền lực tuyệt đối. Đây chính là điều đã xảy ra tại Nga dẫn đến việc Lenin nắm quyền, và đội quân áo nâu SA của Hitler gây ra hỗn loạn để khiến ông ta trở thành lãnh đạo tại Đức. Nhưng Vô chính phủ không phải là một hình thức chính phủ ổn định, nó là một trạng thái chuyển tiếp ngắn ngủi từ một hình thức chính phủ đã có tới một hình thức khác – tập quyền do những kẻ thèm muốn quyền lực lập

Adolf Hitler (1889 - 1945), chancellor of Germany, is welcomed by supporters at Nuremberg.  (Photo by Hulton Archive/Getty Images)

Adolf Hitler (1889 – 1945), Quốc trưởng Germany, được người ủng hộ chào đón tại Nuremberg. (Ảnh: Hulton Archive/Getty Images)

Tiếp theo là nền dân chủ. Từ Dân chủ – Democracy – có nguồn gốc từ 2 chữ tiếng Hy Lạp: Demos – người dân và Kratin – cai trị, Dân chủ có nghĩa là người dân làm chủ hay số đông cai trị. Điều này nghe thì rất hay, nhưng nếu số đông người dân muốn cướp lấy cơ sở kinh doanh, nhà cửa hay con em của một nhóm thiểu số thì sao? Quyền lực này rõ là cần phải có giới hạn. Thiếu sót của nền Dân chủ nằm ở chỗ số đông không bị kiềm chế. Trong nền Dân chủ, nếu có người thuyết phục được hơn một nửa số người dân muốn một điều gì đó, bất kể điều đó sai trái như thế nào, thì nó sẽ trở thành sự thực.

Khác với Dân chủ, từ Cộng hòa – Republic – đến từ 2 từ tiếng La-tinh: Res – điều, thứ và Pulica – của chung, công cộng. Hai từ gộp lại có nghĩa là điều của chung, trong nền Cộng hòa, điều của chung này chính là luật pháp. Một nền Cộng hòa thực sự là hình thức chính trị trong đó chính phủ bị giới hạn bởi luật và không can thiệp vào sự vụ của người dân. Những nhà lập quốc của nước Mỹ có một cơ hội kiến tạo hình thức chính phủ bắt đầu từ con số không. Họ hoàn toàn có thể lập chế độ Tập quyền, thực sự là có một số người đã muốn George Washington làm Vua. Nhưng những bài học từ lịch sử đã khiến họ lựa chọn cho người dân Mỹ một quốc gia cai trị bằng pháp luật trong một nền Cộng hòa, chứ không phải cai trị bằng số đông trong một nền Dân chủ. Tại sao lại như vậy?

Lấy ví dụ trong bối cảnh của miền Viễn Tây hoang dã: 40 chàng cao bồi đuổi một tên trộm có súng. Họ bắt được tên trộm và bỏ phiếu 40/1 để treo cổ hắn. Nền Dân chủ đã được áp dụng và chúng ta có ít hơn 1 người có thể bỏ phiếu. Bây giờ lấy cùng ví dụ này nhưng trong nền Cộng hòa, 40 cao bồi bắt được 1 tay súng. Cuộc bỏ phiếu được lập ra, kết quả 40/1 đồng ý treo cổ hắn ta. Nhưng cảnh sát trưởng đến và ông ta nói: “Các vị không thể giết ông ta, ông ta có quyền được xét xử công bằng trước một tòa án”. Do đó họ mang tên trộm về thị trấn, một Bồi thẩm đoàn từ công dân trong thị trấn được chọn ra, và họ được cho xem cả bằng chứng buộc tội cũng như lời bào chữa cho kẻ cầm súng, Bồi thẩm sẽ quyết định liệu hắn ta có bị treo cổ hay không. Quyết định của Bồi thẩm đoàn cũng không được đưa ra theo kiểu số đông quyết định. Tên trộm chỉ bị luận tội khi tất cả thành viên Bồi thẩm nói anh ta có tội, nếu không anh ta được tự do. Quyền của tay súng không do số đông chi phối, mà do pháp luật chi phối. Đây là cốt lõi của một nền Cộng hòa.

Những người nói Mỹ là nền dân chủ lớn nhất thế giới chưa bao giờ hiểu rõ lịch sử đất nước này. Thậm chí rất nhiều người Mỹ ngày nay sẽ ngạc nhiên khi biết rằng từ “Dân chủ – Democracy” không hề xuất hiện trong Tuyên ngôn Độc lập hoặc Hiến pháp liên bang Hoa Kỳ, hoặc trong bất kỳ hiến pháp của toàn bộ 50 bang. Những nhà lập quốc đã làm mọi thứ họ có thể để người Mỹ không tồn tại một nền Dân chủ. James Maddison, người được biết đến như là “cha đẻ” của Hiến Pháp Mỹ đã viết trong bài viết số 10 của cuốn Liên Bang Thư Tập (The Federalist Papers: “… các nền Dân chủ đều đã tồn tại trong những tình cảnh hỗn loạn và bất hòa, đã được phát hiện là không phù hợp với an toàn cá nhân hay quyền tư hữu và nhìn chung đều chết yểu trong những cảnh tượng bạo lực tại thời điểm cái chết của nó”.

Alexander Hamilton đồng ý với quan sát này và ông khẳng định:

Chúng ta là chính phủ Cộng hòa. Tự do thực sự không bao giờ được tìm thấy trong chế độ chuyên quyền hay trong sự cực đoan của một nền Dân chủ”.

Samuel Adams, một người ký tên trong Tuyên ngôn Độc lập nói: “Nền Dân chủ không bao giờ tồn tại lâu dài. Nó sẽ tự phí phạm, kiệt quệ và tự giết chính mình. Những nhà khai quốc này có lý do khi xem lại quá khứ để nhìn vào cái xưng danh nền Dân chủ với một thái độ ghẻ lạnh. Bởi họ biết những nền Dân chủ sớm của Hy Lạp đã tạo ra những chính phủ với quy mô thừa thãi không thể tưởng tượng được. Trong tất cả các trường hợp, các chính phủ này đều tiêu vong cùng với cướp bóc, hỗn loạn, vô chính phủ và cuối cùng là sinh ra một chế độ độc quyền của thiểu số. Trong thời gian đó tại thành Athen, có một chính khách tên là Solon, người đã vận động tạo ra một cơ quan pháp luật cố định, không bị ảnh hưởng bởi những ý tưởng hoang đường bất chợt của số đông. Trong khi Hy Lạp không bao giờ chọn dùng lời khuyên khôn ngoan đó, người La Mã đã học theo. Dựa theo ý tưởng của Solon, họ tạo ra 12 Cột trụ của Luật pháp La Mã và theo đó xây dựng một chính phủ Cộng hòa với quyền lực giới hạn và không can thiệp vào quyền tự do của cá nhân.

Proposing a law. Group with power to convene Plebeian Council (People's Assembly)  and propose legislation before it.  Illustration on Liebig collectible card. Early 20th century. Series title: 'La Rome Antique' ('Rome in Antiquity).  (Photo by Culture Club/Getty Images) *** Local Caption ***

Nhà nước La Mã từng xây dựng được một nền Cộng hòa thịnh vượng.

Khi chính phủ giới hạn, người dân được tự do sản xuất với đảm bảo rằng họ được quyền giữ lại thành quả lao động của mình. Chẳng mấy chốc, La Mã trở nên giàu có và là sự ganh tị của thế giới. Nhưng qua thời gian, trong sự giàu sang của mình người La Mã lại quên mất cái giá của việc đảm bảo tự do do là gì, họ quên mất căn bản của tự do là phải giữ cho chính phủ ở một mức độ giới hạn phù hợp. Khi quyền lực của chính phủ càng lớn, tự do cá nhân càng thu hẹp. Khi người La Mã không đề phòng, những chính trị gia thèm khát quyền lực bắt đầu mở rộng vai trò của họ được quy định trong Hiến pháp La Mã. Một số người phát hiện ra rằng họ có thể bầu cho những chính trị gia để dùng quyền lực nhà nước để lấy tài sản từ người này chia cho người khác. Trợ cấp nông nghiệp được đưa ra, tiếp sau là các chương trình trợ cấp nhà ở và phúc lợi xã hội. Tăng thuế là không thể tránh được và nhà nước bắt đầu kiểm soát chặt chẽ khu vực tư nhân. Chẳng bao lâu sau những hộ sản xuất tại La Mã đã không còn đủ tiền trang trải, họ phá sản và gia nhập đội quân xin trợ cấp. Năng suất lao động sụt giảm, lương thực thiếu hụt và những băng nhóm bắt đầu tụ tập tràn ra đường phố yêu cầu chính phủ cung cấp bánh mỳ. Rất nhiều người đã đồng ý từ bỏ tự do lấy cái lợi trước mắt và cuối cùng cả hệ thống chính trị La Mã sụp đổ. La Mã đi từ một nền Cộng hòa tới Dân chủ và cuối cùng kết thúc là Tập quyền dưới chân Julius Caesar.

Chính vì thế Dân chủ cũng không phải là hình thức ổn định của một chính phủ, nó là sự chuyển tiếp lâu dài từ chính phủ giới hạn tới sự toàn trị của những kẻ độc tài tập quyền. Hiểu biết được điều này, người dân nước Mỹ chỉ có hai sự lựa chọn: Bảo vệ nền Cộng hòa giống như ngài Franklin đã nói, hay cuối cùng sẽ phải sống dưới sự chuyên quyền của những kẻ đầu sỏ chính trị.

Nhật Minh/TrithucVN

1% những người giàu nhất tạo ra 82% của cải trên thế giới năm 2017

Người dân đi trên một ván gỗ để vượt qua một con sông nhỏ chứa đầy rác ở Manila

Người dân đi trên một ván gỗ để vượt qua một con sông nhỏ chứa đầy rác

ở Manila ngày 17/1/2018 (Ảnh: AFP)

Liên minh Oxfam ngày 22/1 cho biết 1% dân số giàu nhất thế giới đã chiếm tới 82% tổng số tài sản được tạo ra vào năm ngoái, trong khi một nửa số người nghèo nhất không nhận được gì.

Một báo cáo mới từ tổ chức này cũng cho thấy rằng tỷ lệ tài sản của các tỷ phú so với người lao động bình thường đã tăng gấp 6 lần kể từ năm 2010, theo Japan Today.

Oxfam sử dụng khảo sát để vẽ ra bức tranh về một nền kinh tế toàn cầu, trong đó số ít những người giàu có kiếm được nhiều tiền hơn trong khi hàng trăm triệu người “đang phải vật lộn để sống sót”.

Giám đốc điều hành Oxfam Winnie Byanyima cho biết: “Sự bùng nổ tỷ phú không phải là dấu hiệu của một nền kinh tế thịnh vượng, mà là một dấu hiệu của một nền kinh tế thất bại”.

Oxfam cũng nhấn mạnh thực trạng của lao động nữ, họ luôn kiếm được ít tiền hơn nam giới và thường có mức lương thấp nhất. Họ cũng có ít công việc an toàn nhất. Chín trong số 10 tỷ phú đều là nam giới.

Báo cáo có tiêu đề “Khen thưởng công việc, không phải của cải” đã sử dụng dữ liệu từ Credit Suisse để so sánh lợi nhuận giữa các giám đốc điều hành, các cổ đông với những người lao động phổ thông.

Cũng theo báo cáo, tổng thu nhập các giám đốc điều hành của 5 thương hiệu thời trang hàng đầu thế giới trong 4 ngày làm việc bằng tổng thu nhập của công nhân may mặc ở Bangladesh kiếm được trong suốt cuộc đời họ.

Ông Byanyima nhận định: “Những người may quần áo cho chúng ta, lắp ráp điện thoại cho chúng ta và trồng thực phẩm cho chúng ta đang bị khai thác để đảm bảo cung cấp hàng hóa giá rẻ và tăng lợi nhuận cho các tập đoàn và các nhà đầu tư tỷ phú”.

Để chống lại bất bình đẳng ngày càng tăng, Liên minh Oxfam kêu gọi các chính phủ hạn chế lợi ích của các cổ đông và các nhà quản lý hàng đầu, chống lại việc tránh đánh thuế và tăng chi ngân sách cho y tế và giáo dục.

Khảo sát này đã được công bố một ngày trước khi diễn ra cuộc họp của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm nay tại Thụy Sĩ. Diễn đàn năm nay sẽ tập trung vào cách làm thế nào để tạo ra “một tương lai chung trong một thế giới bị rạn nứt”.

An Bình /Daikynguyen

Cận cảnh người yêu cũ xinh đẹp và quyền lực của Chủ tịch Kim Jong Un

Người yêu cũ xinh đẹp của Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong Un tiếp tục trở thành chủ đề ‘hot’ trên các phương tiện truyền thông thế giới, sau khi bà vừa có chuyến thăm đến Hàn Quốc để thực hiện một nhiệm vụ quan trọng. Đây là lần thứ hai chỉ trong vòng khoảng 1 tuần, bà này đến Hàn Quốc.

Cận cảnh người yêu cũ xinh đẹp và quyền lực của Chủ tịch Kim Jong Un - Ảnh 1

Người yêu cũ của Chủ tịch Kim Jong Un cũng là người đứng đầu ban nhạc nổi tiếng nhất Triều Tiên Moranbon – bà Hyon Song Wol hôm qua lại vừa xuất hiện tại Hàn Quốc

 

 

 

 

 

 

 

Cận cảnh người yêu cũ xinh đẹp và quyền lực của Chủ tịch Kim Jong Un - Ảnh 9

 

Cận cảnh người yêu cũ xinh đẹp và quyền lực của Chủ tịch Kim Jong Un - Ảnh 11

Người yêu cũ của Chủ tịch Kim Jong Un cũng là người đứng đầu ban nhạc nổi tiếng nhất Triều Tiên Moranbon – bà Hyon Song Wol ngày hôm qua (21/1) đã đi qua khu vực biên giới được canh phòng cẩn mật giữa hai miền liên Triều để đi vào Hàn Quốc, trong chuyến thăm chính thức nhằm thực hiện một nhiệm vụ quan trọng. Chuyến đi của bà Hyon Song Wol đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm lớn của truyền thông thế giới và dư luận. Hình ảnh bà xuất hiện dày đặc khắp các mặt báo. Người ta đã thấy bà đi thị sát những khu vực tiềm năng có thể là nơi Ban nhạc của bà biểu diễn trong Thế Vận hội Olympics sắp tới ở Hàn Quốc.

Xuất hiện trong một chương trình được phát trực tiếp trên đài truyền hình Hàn Quốc, bà Hyon Song Wol không nói gì khi đi qua đám đông các phóng viên, những người đứng xem và lớp lớp dày đặc các máy quay đang chĩa vào bà, trước khi bà bước lên một con tàu cao tốc ở sân ga của Seoul để lên đường đến thành phố phía đông Gangneung. Đây là nơi ban nhạc mà bà Hyon Song Wol dẫn dắt dự kiến sẽ có buổi biểu diễn trong Thế Vận hội Olympics Pyeongchang.

Bà Hyon đang là chủ đề “nóng bỏng” trên truyền thông Hàn Quốc, kể từ sau khi bà có mặt trong cuộc đàm phán liên Triều đầu tiên trong hơn hai năm qua ở khu vực biên giới giữa hai nước. Trong cuộc gặp đặc biệt và hiếm hoi đó, giới chức Seoul và Bình Nhưỡng đã đạt được thỏa thuận về việc đội biểu diễn nghệ thuật Samjiyon gồm 140 thành viên của Triều Tiên sẽ có hai buổi biểu diễn ở Hàn Quốc, một ở thủ đô Seoul và một ở Gangneung. Đây là nơi một số sự kiện Olympics sẽ diễn ra.

Đài truyền hình Hàn Quốc phát đi hình ảnh bà Hyon đi trên xe buýt ở những con đường của Seoul trước khi bà đến sân ga. Tại đây, hàng trăm cảnh sát được huy động để duy trì trật tự. Trong các hình ảnh được phát đi, người ta còn thấy bà Hyon tươi cười bắt tay các quan chức Hàn Quốc khi đến khu vực biên giới.

Chuyến thăm của bà Hyon được thực hiện sau khi Ủy ban Olympics Quốc tế cho phép 22 vận động viên của Triều Tiên đến tham dự Thế Vận hội Olympics.

Chính phủ Hàn Quốc coi việc Triều Tiên tham gia vào Thế Vận hội sắp tới ở nước họ – cả trong các sự kiện thể thao và cả trong các cuộc trao đổi văn hóa – là một cách để làm dịu căng thẳng đang leo thang từng ngày ở khu vực bán đảo Triều Tiên do các vụ thử hạt nhân và tên lửa liên tiếp của Bình Nhưỡng trong thời gian vừa qua cũng như do cuộc khẩu chiến gay gắt giữa Triều Tiên và Mỹ.

Không khí hóa dịu hiện nay giữa Triều Tiên và Hàn Quốc có được sau khi Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un trong thông điệp đầu năm mới 2018 đã bất ngờ thể hiện mong muốn sẵn sàng cải thiện quan hệ với Hàn Quốc và cử một đoàn sang tham dự Thế Vận hội Olympics.

Những người chỉ trích bên ngoài cho rằng, hành động “chìa tay” làm lành bất ngờ của ông Kim Jong Un thực chất chỉ là một chiến thuật nhằm lợi dụng mối quan hệ liên Triều để làm suy yếu các biện pháp trừng phạt mà Mỹ đang dẫn dắt nhằm vào chương trình tên lửa và hạt nhân của Triều Tiên.

Bà Hyon là lãnh đạo của Ban nhạc Moranbong rất được Bình Nhưỡng coi trọng và người ta tin rằng mọi thành viên trong ban nhạc này đều được ông Kim Jong Un đích thân lựa chọn. Sau cuộc đàm phán hồi tuần trước, Triều Tiên tuyên bố, bà Hyon cũng sẽ là người dẫn đầu đội biểu diễn nghệ thuật Samjiyon đến Hàn Quốc. Đây sẽ là lần đầu tiên có một nhóm nghệ thuật của Triều Tiên đến biểu diễn ở Hàn Quốc kể từ năm 2002.

Bà Hyon là một ca sĩ nổi tiếng trước khi được giao trọng trách đứng đầu ban nhạc nữ nổi tiếng nhất Triều Tiên – một ban nhạc được cho là có nhiệm vụ làm “công tác tuyên truyền” cho chính quyền của Chủ tịch Kim Jong Un, là cánh tay “quyền lực mềm” của Chủ tịch Kim Jong Un.

Kiệt Linh(tổng hợp) / Nguồn: VnMedia

VN trả giá mô hình qua vụ Thăng – Thanh?

Tiến sỹ Jonathan London
 hình ảnhFB JONATHAN LONDON
Tiến sỹ Jonathan London cho rằng Việt Nam đang trải qua một quá trình chính trị, chứ không phải là vấn đề pháp luật, đằng sau phiên tòa xét xử các ông Thăng và Thanh, và quá trình này đặt ra nhiều câu hỏi về tầm nhìn của Việt Nam

Vụ án và phiên tòa xét xử các ông Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh và những người khác tại Hà Nội cho thấy Việt Nam đang phải ‘trả một giá’ cho những vấn đề ở nội bộ và thể chế có nguồn gốc ít nhất từ 20-30 năm trước, một nhà nghiên cứu chính trị Việt Nam từ Amsterdam nói với BBC.

Trao đổi với Bàn tròn thứ Năm của BBC Việt ngữ hôm 18/01/2018 từ Amsterdam, Tiến sỹ Jonathan London từ Đại học Leiden, Hà Lan, cũng bình luận về khía cạnh có hay không ‘pháp quyền’ qua phiên tòa này, ông nói:

 

“Ai mà nghĩ là Việt Nam có pháp quyền thì chẳng biết gì về pháp quyền. Pháp quyền thì bộ máy tư pháp hoàn toàn tự chủ, chắc chắn Việt Nam chưa có cái đó.

“Và đại đa số người Việt Nam có đọc, có biết, có tìm hiểu thì cũng biết rất rõ và vấn đề là dân không phải chờ để nhà nước và đảng cố gắng tìm một giải pháp nào đó, mà toàn xã hội phải nỗ lực hơn nữa để gây áp lực cho cả nước Việt Nam để có thể đề cập vấn đề này.

“Bởi vì tương lai của Việt Nam tùy thuộc vào khả năng của người dân, không chỉ là đảng và nhà nước, để đề cập vấn đề tham nhũng một cách hệ thống, hiệu quả và như thế thì mới được.”

Các phóng viên tác nghiệphình ảnhGETTY IMAGES
Các phóng viên tác nghiệp đưa tin về phiên tòa được bắt đầu từ ngày 08/01/2018

Đang trả một giá

Đưa ra quan sát về Việt Nam thông qua vụ án và phiên tòa đang xét xử các ông Thăng, Thanh và những người khác, ông Jonathan London, người hiện là Giáo sư tại Đại học Leiden, Hà Lan, cho rằng Việt Nam ‘đang trả một giá’, ông nói tiếp với Bàn tròn:

“Tôi thấy Việt Nam hiện nay đang trải qua một quá trình chính trị. Những gì mà chúng ta đang thấy tiếp diễn không phải là vấn đề pháp luật, nó là một chuyện chính trị, một quá trình chính trị. Nó cũng là một cách thức và một hậu quả của một quá trình đã kéo dài khoảng 20 hoặc 30 năm, đó là những nỗ lực của nhà nước và đảng Cộng sản Việt Nam để nuôi một giai cấp kinh doanh trong nội bộ bộ máy.

“Và như chúng tôi đã thấy, vì có một số hạn chế của các thể chế trong cả nước, đã có khá nhiều vấn đề, từ vấn đề tham nhũng cho đến vấn đề ngân hàng v.v… [điều] đó cũng đã được phản ánh trong những cạnh tranh trong những vấn đề chính trị ở Việt Nam. Và hiện nay như các nhận xét khác đã đưa ra rồi, Việt Nam đang trả một giá. Tất nhiên, Việt Nam phải cố gắng đề cập [xử lý] vấn đề tham nhũng, nhưng rất nhiều người đã nói đó là một vấn đề hệ thống, một vấn đề không thể được xử lý qua một chiến lược mà chỉ mất vài người.

“Hơn nữa, chúng tôi thấy có một số rủi ro không chỉ đối với chính trị, mà còn đối với nền kinh tế của đất nước, chẳng hạn vấn đề ‘bắt cóc’ Trịnh Xuân Thanh ở bên Đức có khả năng có hậu quả với hiệp định thương mại giữa Việt Nam và châu Âu, là một hiệp định vô cùng quan trọng cho nền kinh tế của Việt Nam, có thể nó sẽ bị mất.”

Theo nhà nghiên cứu này, Việt Nam đang đứng trước nhiều câu hỏi, ông nói:

Tòa án Việt Nam
 hình ảnhGETTY IMAGES
Các ông Thăng và Thanh đang đối diện với những bản án nghiêm trọng, theo truyền thông Việt Nam

“Do đó có nhiều câu hỏi mà Việt Nam cần phải trả lời, một là làm sao đề cập vấn đề hệ thống, tham nhũng không phải chỉ là vài người, nó liên quan đến thể chế và thứ hai nữa là dù ai cũng đồng ý phải xử lý vấn đề tham nhũng, thì tầm nhìn về tương lai của Việt Nam là như thế nào?

“Nên cả nước Việt Nam đang thấy một quá trình dù là quan trọng, dù có ý nghĩa lịch sử, nhưng chưa rõ lắm nó sẽ ảnh hưởng tới tương lai của Việt Nam như thế nào, mà chỉ có lo lắng liệu Việt Nam có đủ năng lực để giải quyết một vấn đề liên quan khá sâu đối với thể chế và làm sao những người trong và ngoài bộ máy nhà nước Việt Nam có quan tâm đến vấn đề tham nhũng có thể tác động.

“Bởi vì hiện nay tôi và những người khác lo rằng quá trình chính trị chúng ta đang chứng kiến chưa chắc sẽ giải quyết một cách hiệu quả vấn đề tham nhũng mà đã có một giá rất cao ở Việt Nam,” TS. Jonathan London nêu quan điểm với BBC Tiếng Việt.

BBC

Đinh La Thăng bị phạt 13 năm tù, Trịnh Xuân Thanh án chung thân

HĐXX nhận định bị cáo Đinh La Thăng đủ dấu hiệu cấu thành tội cố ý làm trái, không phải tội danh khác như bị cáo và luật sư nêu.

Đinh la thăng
Bị cáo Đinh La Thăng.

Sáng nay (22/1), sau 14 ngày xét xử và nghị án, TAND Hà Nội tuyên án với ông Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh cùng 20 đồng phạm trong vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng’’  ‘‘Tham ô tài sản” xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng công ty Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC). Trong đó, bị cáo Trịnh Xuân Thanh, Chủ tịch HĐQT PVC và Vũ Đức Thuận, nguyên Tổng Giám đốc PVC bị cáo buộc với cả hai tội danh trên.

HĐXX tuyên phạt:

  • Bị cáo Đinh La Thăng 13 năm tù;
  • Bị cáo Trịnh Xuân Thanh 14 năm tù về tội Cố ý làm trái, tù chung thân về tội Tham ô tài sản. Tổng hợp hình phạt là tù chung thân;
  • Các bị cáo khác là Phùng Đình Thực (nguyên Tổng giám đốc PVN); Nguyễn Quốc Khánh (nguyên Phó Tổng giám đốc PVN); Nguyễn Xuân Sơn (nguyên Phó Tổng giám đốc PVN) cùng lĩnh 9 năm tù về tội Cố ý làm trái quy định nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng.
  • Cựu kế toán trưởng PVN Ninh Văn Quỳnh bị phạt 7 năm tù;
  • Cựu tổng giám đốc PVC Vũ Đức Thuận bị phạt 22 năm tù;
  • Bị cáo Vũ Hồng Chương – nguyên Trưởng ban QLDA Điện lực dầu khí Thái Bình 2 bị phạt 3 năm tù treo;
  • Nguyễn Mạnh Tiến – Phó Tổng giám đốc PVN bị phạt 6 năm;
  • Trần Văn Nguyên – Kế toán trưởng ban Quản lý dự án (QLDA) Điện lực dầu khí Thái Bình 2 thuộc PVN bị phạt 30 tháng treo;
  • Nguyễn Ngọc Quý – nguyên Phó Chủ tịch HĐQT PVC bị phạt 6 năm tù;
  • Nguyễn Anh Minh – nguyên Phó tổng giám đốc PVC bị phạt 16 năm;
  • Phạm Tiến Đạt – nguyên Kế toán trưởng PVC bị phạt 4 năm 6 tháng;
  • Lương Văn Hòa – nguyên Giám đốc Ban điều hành dự án Vũng Áng – Quảng Trạch bị phạt 10 năm;
  • Bùi Mạnh Hiển – Giám đốc PVC bị phạt 10 năm;
  • Nguyễn Thành Quỳnh – Giám đốc kỹ thuật công nghệ Tổng công ty CP Miền Trung – Công ty CP Đà Nẵng bị phạt 8 năm;
  • Lê Đình Mậu – nguyên Phó trưởng Ban QLDA Điện lực dầu khí Thái Bình 2 thuộc PVN bị phạt 4 năm 6 tháng;
  • Lê Thị Anh Hoa – Giám đốc Công ty TNHH MTV Quỳnh Hoa bị phạt 3 năm tù treo;
  • Bị cáo Nguyễn Đức Hưng – nguyên trưởng phòng Tài chính, kế toán Ban điều hành dự án Vũng Áng – Quảng Trạch được tuyển trả tự do ngay tại tòa nếu không bị giam trong vụ án khác với mức phạt 3 năm treo, thử thách 5 năm;
  • Bị cáo Lê Xuân Khánh – Trưởng Phòng Kinh tế – kế hoạch bị phạt 3 năm tù treo, được trả tự do cho bị cáo ngay tại tòa nếu không bị giam theo tội khác;
  • Bị cáo Nguyễn Lý Hải – nguyên trưởng Phòng Kỹ thuật, Ban điều hành dự án Vũng Áng – Quảng Trạch bị phạt 3 năm tù treo, trả tự do ngay tại tòa;
  • Bị cáo Trương Quốc Dũng –  nguyên Phó Tổng giám đốc PVN bị phạt 17 tháng tù, tính từ tháng 9/2016.

Nội dung chính vụ án xảy ra tại PVN, PVC

PVN được giao làm đầu mối đầu tư Dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, tổng mức đầu tư sau thuế hơn 31.505 tỷ đồng (gần 1,7 tỷ USD). Ngày 18/6/2010, bị cáo Thăng ký Nghị quyết giao PVC thực hiện gói thầu EPC dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 theo hình thức chỉ định thầu dù chưa làm thủ tục chọn nhà thầu.

Mặc dù tới ngày 11/10/2011, PVC mới chính thức là Nhà thầu để thực hiện dự án trên, nhưng từ ngày 28/4/2011 đến ngày 12/7/2011, PVN đã làm các thủ tục chi tạm ứng cho PVC hơn 6,6 triệu USD và hơn 1.300 tỷ đồng.

Sau khi PVC nhận tiền tạm ứng, các bị can Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đức Thuận (cựu tổng giám đốc PVC), Nguyễn Ngọc Quý (cựu phó chủ tịch HĐQT PVC), Nguyễn Mạnh Tiến, Phạm Tiến Đạt và Trương Quốc Dũng đều là cán bộ cốt cán của PVC sử dụng hơn 1.115 tỷ đồng vào mục đích khác. Đến ngày 22/11/2017, cơ quan chức năng mới thu hồi được gần 1.100 tỷ đồng. Hơn 119 tỷ đồng còn lại bị xác định là thiệt hại.

Trước khi HĐXX bước vào phần nghị án, sáng ngày 17/1, bị cáo Đinh La Thăng cùng các bị cáo nói lời sau cùng…. Tại tòa, bị cáo Đinh La Thăng xin HĐXX cho thay đổi biện pháp ngăn chặn để bị cáo được ăn cái Tết cuối cùng với gia đình và người thân trước khi chấp hành hình phạt. Bị cáo Trịnh Xuân Thanh mong HĐXX thận trọng xem xét cho mình về tội “Cố ý làm trái”.

Phiên toà sẽ tiếp tục được cập nhật…

Kim Long – Trần Tâm  / TrithucVN

Vì sao chủ nghĩa xã hội thất bại?

Paul R. Gregory (*)

Khi Liên bang Xô viết gần sụp đổ, Francis Fukuyama tuyên bố chế độ dân chủ tự do đã chiến thắng chủ nghĩa xã hội kế hoạch hóa trong bài nhận định năm 1989 của ông, “Điểm tận cùng của Lịch sử?”. Hơn một phần tư thế kỷ sau đó, Liên xô quả thực đã tan rã. Phần lãnh thổ Đông Âu của nó bây giờ thuộc về Liên minh Âu châu. Trung Quốc có một nền kinh tế thị trường cho dù đất nước vẫn bị cai trị bởi một đảng duy nhất. Còn các nhà nước “xã hội chủ nghĩa” Bắc Hàn, Cuba và Venezuela đang trong đống đổ nát về kinh tế. Giờ đây, ít ai ủng hộ việc “quay lại Liên xô”. Nhưng đồng thời, nhiều người vẫn coi chủ nghĩa xã hội là một hệ thống kinh tế hấp dẫn. Hãy xem trường hợp ông Bernie Sanders (**) – một người công khai thừa nhận ủng hộ một nước Mỹ xã hội chủ nghĩa – và rất nhiều người trẻ trưởng thành vào điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ ưa thích chủ nghĩa xã hội hơn chủ nghĩa tư bản.

Sự tương đồng về kỵ sĩ và con ngựa giải thích cho sự hấp dẫn kéo dài của chủ nghĩa xã hội. Những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chế độ xã hội chủ nghĩa đã chọn sai kỵ sĩ để cưỡi con ngựa xã hội chủ nghĩa đi tới chiến thắng xứng đáng với nó. Những kỵ sĩ tệ hại như Stalin, Mao, Fidel, Pol Pot và Hugo Chavez đã chọn những chiến thuật và chính sách dẫn con ngựa xã hội chủ nghĩa của họ đi trật đường. Nhưng trên thực tế, một cái nhìn vào cách thức Liên xô hoạt động lại bộc lộ rằng, chính bản thân con ngựa mới là vấn đề.

Sau khi giành được quyền lực một thế kỷ trước và nắm giữ quyền lực thông qua một cuộc nội chiến, những người cộng sản Liên xô có ý định xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Sở hữu nhà nước và kế hoạch hóa khoa học sẽ thay thế cho tình trạng vô chính phủ của thị trường. Lợi ích vật chất sẽ dồn về phía giai cấp lao động. Một nền kinh tế công bằng sẽ thay cho sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản và con người mới xã hội chủ nghĩa sẽ nổi lên, những người đặt ưu tiên cho lợi ích của xã hội lên trên lợi ích cá nhân. Chuyên chính vô sản sẽ bảo đảm quyền lợi của giai cấp lao động. Thay vì bóc lột giá trị thặng dư từ người lao động, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ lấy đồ cống nạp của các nhà tư bản để tài trợ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những nền tảng căn bản của “con ngựa” Xô-viết đã được thiết lập vào đầu thập niên 1930. Theo hệ thống này, Stalin và bộ chính trị của ông ta đặt ra những ưu tiên chung cho các bộ công nghiệp và ủy ban kế hoạch nhà nước. Các bộ và các nhà kế hoạch làm việc cùng nhau để soạn ra các kế hoạch kinh tế. Cán bộ quản lý của hàng trăm ngàn nhà máy, công xưởng, cửa hàng thực phẩm và ngay đến các nông trại đều bị pháp luật bắt buộc phải hoàn thành kế hoạch mà cấp trên giao cho.

Nhà nước Xô-viết khởi động nền kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa của họ khi thế giới tư bản chủ nghĩa chìm sâu vào suy thoái, chiến tranh thương mại và lạm phát phi mã. Chính quyền Xô-viết khoe khoang về mức tăng trưởng chưa từng có trước đây. Các tổ hợp công nghiệp mới mọc lên từ số không. Các tạp chí đăng hình ảnh những công nhân vui sướng nghỉ ngơi trong những khu nghỉ mát đầy đủ tiện nghi. Thông điệp là: Phương Tây đang thất bại và hệ thống kinh tế Xô-viết là con đường đi tới tương lai.

Khi cuộc cạnh tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Liên xô trở nên rõ rệt trong thời Chiến tranh Lạnh, hoạt động nghiên cứu học thuật nghiêm túc về nền kinh tế Xô-viết cũng bắt đầu. Chương trình nghiên cứu bao quát của các học giả phương Tây nhắm vào “kế hoạch hóa khoa học” – những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chuyên gia kỹ trị có thể quản lý nền kinh tế tốt hơn là những lực lượng thị trường tự phát. Suy cho cùng, chẳng phải các chuyên gia thì hiểu biết hơn người mua người bán về chuyện cần sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai sử dụng hay sao?

Chính các nhà kinh tế học người Áo F.A. Hayek và Ludwig von Mises là những người chống lại niềm tin này quyết liệt nhất. Trong sự phê phán có tính biểu tượng của họ, được trình bày trong hàng loạt công trình nghiên cứu từ thập niên 1920 đến 1940, họ đi đến kết luận rằng chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại. Trong các nền kinh tế hiện đại, hàng trăm ngàn doanh nghiệp sản xuất ra hàng triệu sản phẩm. Quản lý một số lượng lớn như vậy là việc quá phức tạp mà không một cơ quan hành chính nào có thể phân bổ nguồn lực nổi, cho dù có sự trợ giúp của công nghệ máy tính tinh vi nhất. Kinh tế hiện đại do đó quá phức tạp và không kế hoạch hóa được. Không có thị trường và giá cả, các nhà hoạch định chính sách không biết được mặt hàng nào bị khan hiếm, sản phẩm nào dư thừa. Nếu tài sản thuộc về mọi người, thì những người quản lý tài sản cho xã hội sẽ phải theo những luật lệ nào?

Giải pháp của người Xô-viết cho những vấn đề về tính phức tạp và thông tin là một kế hoạch quốc gia đặt mục tiêu sản xuất cho những khu vực kinh tế lớn chứ không phải cho những giao dịch cụ thể. Nói cách khác, thay vì bắt buộc nhà máy A phải giao cho nhà máy B 10 tấn dây cáp thép, các nhà kế hoạch đặt mục tiêu tổng số tấn dây cáp được sản xuất trong cả nước. Chỉ có một số mặt hàng đặc biệt – chẳng hạn như dầu thô, quặng nhôm, than nâu, điện năng và toa vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt – mới được lập kế hoạch như những giao dịch thật sự. Còn tất cả những mặt hàng khác chỉ được kế hoạch hóa theo số lượng thô, chẳng hạn như đặt mục tiêu dệt ra vài triệu mét vuông vải. Các đặc điểm của sản phẩm, kế hoạch giao hàng và thanh toán tiền chỉ được vạch ra ở những cấp thấp, và thường dẫn tới những kết quả thảm hại.

Kế hoạch hóa khoa học kiểu Xô viết trong thực tế chỉ tác động tới một phần rất nhỏ sản phẩm. Vào đầu thập niên 1950, các cơ quan trung ương lập ra hơn 10.000 chỉ mục kế hoạch trong khi sản phẩm công nghiệp có đến hơn 20 triệu chỉ mục khác nhau. Các cơ quan trung ương lập ra những kế hoạch tổng quát cho các bộ công nghiệp, các bộ này lại đề ra những kế hoạch chi tiết hơn cho các “khu hành chính quan trọng”, nơi sẽ chuẩn bị kế hoạch cho các doanh nghiệp. Không bao giờ có yêu cầu các quan chức hàng đầu phải đưa ra kế hoạch sản xuất các sản phẩm đặc biệt nào đó.

Để làm cho vấn đề thêm phức tạp, gần như tất cả mọi kế hoạch đều chỉ là “dự thảo”, có thể được thay đổi bất cứ lúc nào bởi các quan chức của đảng và chính quyền cấp cao hơn. Sự can thiệp thường xuyên này, gọi là “giám sát”, là một điều phiền toái xảy ra từ ngày đầu tiên tới ngày cuối cùng của hệ thống Xô-viết, nhưng đó cũng là cột trụ cho công cuộc phân bổ nguồn lực.

Các nhà kế hoạch trung ương chuẩn bị những kế hoạch sơ bộ cho một bộ phận nhỏ của nền kinh tế. Những “kế hoạch dự thảo” này lại kích hoạt “những trận chiến giành kế hoạch” to lớn khi các bộ và các doanh nghiệp tìm cách hoàn thành mục tiêu sản xuất của họ và đáp ứng các định mức giao hàng; tất cả những chuyện này đều có thể thay đổi bởi các cán bộ đảng và cán bộ địa phương vào bất cứ lúc nào.

Như bộ trưởng công nghiệp nặng Sergo Ordzhonokidze than phiền vào năm 1930: “Tôi đoán họ nghĩ rằng chúng tôi là một lũ ngốc. Mỗi ngày họ cho chúng tôi từ nghị quyết này đến nghị quyết khác mà không có cơ sở nào cả”. Một nửa thế kỷ sau một nhà thầu quốc phòng ẩn danh cũng đưa ra lời than phiền tương tự: “Họ nhúng mũi vào mọi vấn đề. Chúng tôi bảo họ rằng họ đã sai, nhưng họ vẫn đòi phải làm theo cách của họ”.

Nhiệm vụ của người quản lý được cho là rất đơn giản: Kế hoạch là pháp lệnh, công việc của người quản lý là hoàn thành kế hoạch. Nhưng kế hoạch cứ tiếp tục thay đổi. Hơn thế nữa, nó bao gồm nhiều nhiệm vụ khác nhau, chẳng hạn như giao hàng, sản lượng và phân loại. Xuyên qua toàn bộ lịch sử của Liên xô, tổng sản lượng gộp (đo bằng tấn, mét hoặc toa hàng/dặm) là các chỉ tiêu kế hoạch quan trọng nhất và cũng dễ thao túng nhất. Các nhà sản xuất đinh chẳng hạn, mà sản lượng được tính theo trọng lượng, chỉ sản xuất các loại đinh to và nặng. Các nhà sản xuất máy kéo, cố gắng hoàn thành định mức máy kéo, bị phát hiện chỉ giao cho khách hàng những chiếc máy kéo không có động cơ; buộc khách hàng phải mua động cơ như mua phụ tùng. Các nhà sản xuất giày mà kế hoạch dựa trên số lượng giày làm ra chỉ sản xuất giày cùng một cỡ, cùng một màu, bất chấp nỗi khổ tâm của khách hàng. Những mục tiêu kế hoạch khác, chẳng hạn như áp dụng công nghệ mới hoặc làm giảm chi phí sản xuất, bị lãng quên vì bị coi là không có tác dụng giúp hoàn thành kế hoạch.

Dưới chế độ kế hoạch hóa khoa học, cung cầu phải gần ngang nhau – và do ác cảm của họ đối với tính lộn xộn của thị trường, các nhà kế hoạch Xô-viết không thể cân đối cung cầu bằng cách nâng giá hoặc hạ giá. Thay vì vậy, họ soạn ra cái gọi là “cân đối vật chất”, sử dụng phép kế toán cổ xưa để so sánh những vật liệu nào đang có sẵn với những vật liệu cần có theo một nghĩa nào đó.

Kế hoạch hóa cân đối-vật chất kiểu Xô-viết có rất nhiều khiếm khuyết. Ví dụ, chỉ có thể soạn ra một số sự cân đối – năm 1938 chỉ có 379 sự cân đối ở trung ương được chuẩn bị cho một thị trường có hàng triệu mặt hàng. Và rồi, những sự cân đối này lại dựa trên những thông tin méo mó. Các nhà sản xuất hàng hóa trong phép cân đối này vận động để được phân bổ những mục tiêu thấp, che giấu năng lực sản xuất thật của họ. Những người sử dụng sản phẩm công nghiệp trong phép cân đối, ngược lại, lại khai vống lên những gì họ cần để bảo đảm việc hoàn thành kế hoạch của riêng họ.

Hình dung ra một sự cân đối thích hợp là một công việc mệt mỏi – và các nhà kế hoạch Xô-viết không phải năm nào cũng sáng tác ra cái mới; thay vì vậy, họ áp dụng cách gọi là “kế hoạch hóa từ mức độ đã hoàn tất”, nghĩa là kế hoạch của mỗi năm là kế hoạch của năm trước đó cộng thêm một số điều chỉnh nhỏ.

Vào đầu thập niên 1930, các cơ quan cung cấp phân phối nguyên vật liệu dựa trên những gì họ đã làm trong năm trước đó. Lướt nhanh đến thập niên 1980, cũng vẫn thấy cung cách làm việc như vậy. Khi một nhà sản xuất vật liệu nghề hàn muốn sử dụng tấm kim loại mỏng hơn thì câu trả lời chính thức là: “Tôi không quan tâm tới công nghệ mới. Cứ làm như cũ để mọi sự vẫn như cũ”. Kế hoạch hóa cân đối vật chất là kẻ thù của sản phẩm mới và công nghệ mới bởi vì chúng đòi hỏi phải làm lại một hệ thống các cân đối vốn đã rất mong manh. Các nhà kinh tế học Mỹ nghiên cứu sản xuất công nghiệp của Liên xô trong thập niên 1950 hết sức ngạc nhiên khi thấy những cỗ máy đã sản xuất vài thập niên mà không hề được cải tiến gì cả, một chuyện chưa từng nghe thấy ở phương Tây.

Kế hoạch hóa cân đối vật chất là điểm yếu cơ bản nhất của hệ thống Xô-viết. Nó làm cho nền kinh tế Liên xô bị đông cứng lại. Sản xuất của mỗi năm là bản sao chép năm trước đó. Một cán bộ quản lý Liên xô năm 1985 sẽ cảm thấy hết sức thoải mái trong cùng doanh nghiệp đó vào năm 1935.

Ngoài kế hoạch hóa cân đối vật chất, ngân sách mềm (soft budgets) cũng tạo thành một khuyết điểm nghiêm trọng khác. Nhà kinh tế học Janos Kornai của trường Đại học Harvard lớn lên ở Hungary dưới thời xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa. Nghiên cứu của ông, dựa trên những trải nghiệm trực tiếp, tập trung vào những thất thoát kinh tế diễn ra cùng với những giới hạn của ngân sách mềm. Theo Kornai, nếu doanh nghiệp không phải đối mặt với nguy cơ phá sản, chúng sẽ không tìm cách cắt giảm chi phí và tìm những chiến lược sinh tồn khác. Từ ngày đầu tiên của hệ thống Xô-viết, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã hiểu rằng họ sẽ được tự động cứu nguy, nếu không nói là cứu ngay.

Nguyên nhân ban đầu của chính sách ngân sách mềm là do hệ thống Xô-viết dựa trên kế hoạch sản lượng. Đầu ra của doanh nghiệp này là đầu vào của doanh nghiệp khác. Nếu kế hoạch sản lượng bị đổ vỡ thì toàn bộ kế hoạch sẽ thất bại. Đưa một doanh nghiệp ra khỏi nền sản xuất do làm ăn kém cỏi không đơn giản là một sự lựa chọn.

Trong thực tế, các doanh nghiệp thua lỗ thường trả các khoản tiền hàng bằng trái phiếu ghi nợ (IOU). Các phiếu ghi nợ không được thanh toán đúng hạn sẽ nhiều lên dần rồi đạt tới quy mô khủng hoảng. Gosbank, tức ngân hàng nhà nước Liên xô – sẽ vào cuộc và giải quyết các hóa đơn chưa thanh toán bằng cách phát hành thêm tiền và tạo ra cái mà các quan chức ngân hàng Xô-viết gọi là “treo tiền” – đồng tiền chạy theo hàng hóa hơn là có hàng hóa để mua. Trong thực tế, việc kinh doanh chính của Gosbank trong những năm đầu tiên của hệ thống Liên xô là tổ chức những vụ cứu nguy tài chính. Khi một vụ cứu nguy này hoàn tất cũng là lúc bắt đầu tiến hành vụ cứu nguy kế tiếp.

Vấn đề của chủ nghĩa xã hội không phải là kỵ sĩ tồi mà là chính con ngựa. Hệ thống kinh tế Xô-viết mắc nhiều chứng bệnh cuối cùng sẽ làm nó ngã quỵ. Bắt đầu từ cuối thập niên 1960, kinh tế Liên xô rơi vào cuộc suy thoái kéo dài, về sau được gọi là “giai đoạn trì trệ”. Mikhail Gorbachev được chọn làm tổng bí thư đảng Cộng sản Liên xô năm 1985 với cam kết rằng ông, một nhà cải cách cấp tiến, sẽ đảo ngược đà suy thoái này.

Gorbachev đã thất bại vì cốt lõi của hệ thống kế hoạch hóa Xô-viết đã mục ruỗng. Bất chấp thiên hướng cải cách của ông, Gorbachev vẫn là một tín đồ của chủ nghĩa xã hội. Ông quyết tâm cứu vãn chủ nghĩa xã hội Xô-viết bằng cách làm cho nó giống với chủ nghĩa tư bản. Khi làm như vậy, ông đã tạo ra một nền kinh tế không phải là kế hoạch hóa, cũng không phải kinh tế thị trường – một cuộc tranh chấp đầy hỗn loạn, mà nhân dân Nga tới hôm nay vẫn buồn rầu gọi đó là “chủ nghĩa tư bản hoang dã”.

Nguồn: https://www.hoover.org/research/why-socialism-fails

(*) Paul Roderick Gregory lấy bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Harvard, làm nghiên cứu viên của Viện Hoover, giáo sư khoa kinh tế của Đại học Houston, Texas; giáo sư nghiên cứu tại Học viện Đức về nghiên cứu kinh tế ở Berlin; chủ tịch danh dự Ban Tư vấn quốc tế trường Kinh tế Kiev (Ukraine). Ông cũng đồng thời là giáo sư thỉnh giảng các trường Đại học quốc gia Moscow (Nga), Đại học Viadrina (Nga) và Đại học Tự do Berlin (Đức).

(**) Bernie Sanders: Thượng nghị sĩ Dân chủ bang Vermont, Hoa Kỳ, thất bại trong cuộc tranh giành với bà Hillary Clinton tư cách đại diện đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống Mỹ trong cuộc bầu cử tháng 11-2016.

Viet-Studies