Bài diễn thuyết dậy sóng sinh viên Bắc Kinh: “Tự do là một trách nhiệm”

Bài phát biểu của ông Trương Duy Nghênh, nhà nghiên cứu kinh tế học Trung Quốc với chủ đề “Tự do là một trách nhiệm”, đã trở thành bài viết được sinh viên trường Đại học Bắc Kinh cũng như cư dân mạng muốn đọc nhất, và đã gây ra những tranh luận mạnh mẽ.

Hồi tháng 7/2017, nhà nghiên cứu kinh tế học Trung Quốc Trương Duy Nghênh đã tham dự lễ tốt nghiệp của Viện nghiên cứu phát triển quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh. Trong buổi lễ, ông có bài phát biểu đại diện cho giáo viên với chủ đề “Tự do là một trách nhiệm”, ông nói đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm đến vận mệnh của đất nước.
Bài phát biểu này được đăng trên Wechat của viện, tuy nhiên nó đã bị xóa trong chưa đầy 12 giờ sau khi đăng tải. Toàn văn bài phát biểu sau khi được đăng trên trang sohu.com, cũng đã bị gỡ xuống trong 24 giờ.
Những lời nói xúc động của ông Trương Duy Nghênh đã trở thành bài viết được sinh viên trường Đại học Bắc Kinh cũng như cư dân mạng muốn đọc nhất, bên cạnh đó cũng có nhiều tranh luận của cư dân mạng xoay quanh bài phát biểu này.
Dưới đây là nội dung bài phát biểu của ông Trương Duy Nghênh được lưu truyền trên internet:
Chào các em sinh viên! Đầu tiên xin chúc mừng các em đã tốt nghiệp!
“Người Bắc Đại” là một vầng sáng, kèm theo đó là trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm đối với dân tộc chịu bao khổ nạn chịu bao chà đạp của chúng ta.
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh cổ xưa trên thế giới, đồng thời cũng là nền văn minh cổ xưa duy nhất được duy trì cho đến ngày nay. Trung Quốc thời cổ đại có sự phát minh sáng tạo đầy huy hoàng, có đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. Nhưng 500 năm qua, về phương diện phát minh sáng tạo thì Trung Quốc không có gì nổi trội để khen.
Chúng ta hãy dùng con số để nói rõ hơn. Theo thống kê của học giả Jack Challoner thuộc Bảo tàng Khoa học Anh, trong khoảng thời gian từ thời kỳ đồ đá (2,5 triệu năm trước) đến năm 2008, đã có 1001 phát minh lớn làm thay đổi cả thế giới, trong đó, Trung Quốc có 30 phát minh, chiếm 3%.
30 phát minh này đều là xuất hiện từ trước năm 1500, chiếm 18,4% trong 163 phát minh lớn trên toàn thế giới trước năm 1500. Trong đó, phát minh cuối cùng là bàn chải đánh răng được phát minh năm 1498, đây cũng là phát minh to lớn duy nhất trong triều đại nhà Minh. Từ sau năm 1500, hơn 500 năm toàn thế giới có 838 phát minh, trong số đó không có phát minh nào đến từ Trung Quốc.
Kinh tế tăng trưởng nhờ những sản phẩm mới, công nghệ mới, ngành nghề mới không ngừng xuất hiện. Trong xã hội truyền thống chỉ có vài ngành nghề như nông nghiệp, luyện kim, làm đồ gốm, thủ công mỹ nghệ. Trong đó nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo.
Hiện giờ chúng ta có bao nhiêu ngành nghề? Theo sự tiêu chuẩn phân loại đa tầng quốc tế, chỉ riêng sản phẩm xuất khẩu, số ngành có mã 2 chữ có 97 ngành, 4 chữ là 1222 ngành, 6 chữ là 5053 ngành, và vẫn không ngừng tăng thêm. Những ngành mới này đều những ngành ra đời từ cách đây 300 năm, mỗi một sản phẩm mới đều có thể tra được nguồn gốc phát triển của nó.

Từ sau năm 1500 tất cả những phát minh lớn đều không đến từ Trung Quốc
Trong số các ngành mới, lấy ngành sản xuất ô tô làm ví dụ. Ngành ô tô được những người Đức như Karl Benz, Daimler và Maybach sáng lập vào khoảng giữa những năm 1880, sau đó trải qua hàng loạt cải tiến về công nghệ, chỉ từ năm 1900 đến 1981, đã có hơn 600 mẫu đổi mới quan trọng (theo Albernathy,Clark and kantrow, 1984).
Trung Quốc hiện nay là nước sản xuất ô tô lớn nhất thế giới, nếu như bạn viết một bộ lịch sử về sự tiến bộ của ngành ô tô, trên danh sách sẽ có hàng vạn nhà phát minh có tên tuổi, trong đó có người Đức, người Pháp, người Anh, người Italy, người Mỹ, người Bỉ, người Thụy Điển, người Nhật, nhưng sẽ không có người Trung Quốc.
Dù là những ngành nghề truyền thống mà Trung Quốc từng dẫn đầu từ trước thế kỷ 17 như luyện kim, làm gốm, dệt may, những phát minh lớn cách đây 300 năm, không có phát minh nào là của người Trung Quốc.
Tôi muốn nhấn mạnh sự khác nhau trước và sau năm 1500. Trước năm 1500, thế giới phân chia thành những khu vực khác nhau, mỗi khu vực về cơ bản đều trong trạng thái đóng cửa, một kỹ thuật mới xuất hiện ở một nơi, thì sức ảnh hưởng của nó tới nơi khác là rất nhỏ, và cống hiến của nó đối với nhân loại cũng rất hạn chế.
Ví dụ như, năm 105, ông Thái Luân thời Đông Hán đã phát minh ra kỹ thuật sản xuất giấy, nhưng đến năm sau 751, kỹ thuật sản xuất giấy mới được truyền tới nước Hồi giáo, trải qua 300 – 400 năm mới truyền tới tây Âu.
Nhưng sau năm 1500, toàn cầu đã bắt đầu nhất thể hóa, không những tốc độ phát minh kỹ thuật mới được tăng nhanh, mà sự phổ biến của kỹ thuật cũng gia tăng, một công nghệ mới xuất hiện ở nơi này, nó sẽ nhanh chóng được mang tới nơi khác, và sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhân loại.
Ví dụ, năm 1886, người Đức phát minh ra ô tô, 15 năm sau, nước Pháp trở thành nước đứng đầu sản xuất ô tô, qua 15 năm nữa, nước Mỹ thay thế Pháp trở thành cường quốc về sản xuất ô tô. Đến năm 1930, tỷ lệ phổ biến của ô tô Mỹ lên đến 60%.
Do đó, sau năm 1500, sáng tạo mới đã thực sự có tính so sánh giữa các nước, chất lượng ai tốt ai không tốt chỉ nhìn là biết ! Trong 500 năm trở lại đây, Trung Quốc không có một phát minh mới nào đáng ghi trong sử sách, điều đó có nghĩa là chúng ta chưa làm được gì để cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại! So với tổ tiên thì chúng ta kém xa!
Tôi còn muốn nhấn mạnh vấn đề về dân số, dân số có nước nhiều nước ít, so sánh đơn giản giữa các nước về phát minh sáng tạo của ai nhiều sẽ không chính xác.

Sự sáng tạo mới phải tỷ lệ thuận với dân số, tại sao Trung Quốc không thế?

Sự sáng tạo mới phải tỷ lệ thuận với dân số, tại sao Trung Quốc không thế? (Ảnh: Pinterest)

Về lý luận mà nói, trong một điều kiện khác, một nước có dân số đông, thì sự sáng tạo sẽ nhiều, tiến bộ về kỹ thuật sẽ nhanh. Hơn nữa, tỷ lệ sáng tạo và tỷ lệ dân số là mối quan hệ chỉ số, không phải đơn giản là mối quan hệ tỷ lệ tương ứng. Có 2 nguyên nhân: thứ nhất, tri thức ở phương diện sản xuất có tính kinh tế và hiệu ứng lan tỏa quan trọng; thứ 2, tri thức ở phương diện sử dụng sản phẩm không có tính ngăn cản người khác sử dụng nó.
Những phát minh cống hiến cho nhân loại của người Trung Quốc không tương xứng với tỷ lệ dân số của Trung Quốc. Dân số Trung Quốc gấp 4 lần dân số Mỹ, gấp 10 lần Nhật, gấp 20 lần Anh, gấp 165 lần Thụy Sĩ. 

Nhưng thực tế, trong 500 năm, về phương diện phát minh sáng tạo, sự cống hiến của Trung Quốc gần như con số 0, chưa cần so sánh với nước Mỹ, nước Anh, ngay cả con số lẻ của Thụy Sĩ cũng chưa đạt đến. Người Thụy Sĩ phát minh ra kìm phẫu thuật, máy trợ thính điện tử, dây an toàn, công nghệ chỉnh hình, màn hình LCD, v.v.
Công nghệ mực chống giả được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc dùng để in tiền là công nghệ của Thụy Sĩ, bột mỳ Trung Quốc sản xuất có 60%-70% máy móc gia công của công ty Bühler của Thụy Sĩ.
Nguyên nhân do đâu? Lẽ nào là do gen của người Trung Quốc? Hiển nhiên là không phải! Nếu không, chúng ta không có cách nào giải thích được sự huy hoàng của Trung Quốc cổ đại.
Hiển nhiên là do thể chế và chế độ của chúng ta. Sức sáng tạo là dựa vào sự tự do! Sự tự do về tư tưởng và tự do về hành vi. Đặc điểm cơ bản của thể chế của Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, nó đã bóp nghẹt tính sáng tạo, giết chết tinh thần của các nhà khởi nghiệp. Người Trung Quốc có sức sáng tạo nhất đó là vào thời Xuân Thu và thời Tống, đây không phải là ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là thời đại người Trung Quốc tự do nhất.
Trước năm 1500, phương Tây không sáng sủa, phương Đông thì mờ mịt, sau năm 1500, một số nước phương Tây trải qua cải cách tôn giáo và vận động phổ cập kiến thức mới, họ đã dần dần hướng tới tự do và pháp trị, còn chúng ta lại đi ngược đường với họ.

Thể chế Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, cũng hạn chế luôn cả sức sáng tạo
Tôi cần phải nhấn mạnh, tự do là một chỉnh thể không thể tách rời, khi tâm hồn không tự do, thì hành động cũng không được tự do; khi không có tự do ngôn luận, thì tư tưởng không thể tự do được. Chỉ có tự do, thì mới có sự sáng tạo.
Lấy một ví dụ để nói rõ về điểm này. Ngày nay, rửa tay trước khi ăn cơm và sau khi đi vệ sinh đã trở thành thói quen. Nhưng năm 1847, khi bác sĩ nội khoa người Hungari Ignaz Semmelweis đề xuất bác sĩ và y tá phải rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ, ông đã xúc phạm đến đồng nghiệp, vì thế mà bị mất việc, và chết trong một bệnh viện tâm thần lúc 47 tuổi.
Quan điểm của Ignaz Semmelweis dựa trên sự theo dõi về sốt hậu sản, khi đó tại bệnh viện của ông có 2 phòng sinh, một phòng để phục vụ người giàu, do các bác sĩ và y tá giỏi chăm sóc, những bác sĩ này luôn đổi công việc giữa đỡ đẻ và giải phẫu; một phòng khác là để phục vụ người nghèo, do bà mụ đỡ đẻ. Ông phát hiện, tỷ lệ người giàu bị sốt hậu sản nhiều gấp 3 lần người nghèo. Ông cho rằng nguyên nhân là do bác sĩ không rửa tay. Nhưng cách nhìn nhận vấn đề của ông lại mâu thuẫn với lý luận khoa học thời đó, ông cũng không thể đưa ra những luận chứng khoa học để thuyết minh cho phát hiện của mình.
Thói quen vệ sinh của nhân loại thay đổi thế nào? Việc này có liên quan tới phát minh máy in
Những năm 1440, Johannes Gutenberg đã phát minh ra phương pháp in dấu. Loại máy in sử dụng phương pháp in này đã khiến cho sách vở bắt đầu phổ biến, nhiều người bỗng phát hiện, thì ra họ bị “viễn thị”, thế là nhu cầu về kính lại tăng cao. 100 năm sau khi máy in được phát minh, châu Âu xuất hiện hàng ngàn nhà sản xuất kính mắt, đồng thời cũng làm dấy lên cuộc cách mạng về công nghệ quang học.
Năm 1590, công ty sản xuất kính mắt Janssen Hà Lan đã lắp vài chiếc kính trong một cái ống tròn, và họ phát hiện những sinh vật quan sát qua những chiếc kính này được phóng to lên, từ đó họ phát minh ra kính hiển vi. Nha khoa học người Anh Robert Hook đã sử dụng kính hiển vi để phát hiện ra tế bào, từ đó tạo nên cuộc cách mạng khoa học và y học.
Nhưng kính hiển vi thời đầu không cho hiệu suất cao, cho đến những năm 1870, công ty Carl Zeiss của Đức đã sản xuất ra loại kính hiển vi mới, nó được chế tạo dựa trên công thức toán học chính xác. Nhờ vào loại kính hiển vi này, bác sĩ người Đức Robert Koch đã phát hiện ra vi khuẩn mà mắt người không nhìn thấy, và cũng chứng minh cho quan điểm của bác sĩ người Hungari Ignaz Semmelweis, từ đó lý luận về vi sinh vật và vi khuẩn học ra đời. Nhờ sự ra đời về vi khuẩn học này mà con người đã dần dần thay đổi thói quen, và tuổi thọ của con người cũng được kéo dài.
Chúng ta thử nghĩ: nếu lúc đầu máy in bị cấm sử dụng, hoặc là chỉ cho phép in ấn những gì đã được kiểm duyệt, vậy sách báo sẽ không được phổ cập, nhu cầu về kính mắt cũng sẽ không lớn, kính hiển vi và kính viễn vọng cũng sẽ không được phát minh nữa, ngành vi sinh vật học cũng không được ra đời, tuổi thọ dự tính của con người cũng sẽ không tăng từ 30 lên 70, càng không thể nào mơ tới thám hiểm không gian vũ trụ.

Không bảo vệ tự do thì không xứng với danh hiệu “người Bắc Đại”
Newton mất 30 năm để phát hiện ra lực vạn vật hấp dẫn, tôi mất 3 tháng để làm rõ định luật vạn vật hấp dẫn này, nếu tôi nói mình dùng thời gian 3 tháng để đi hết con đường của Newton, mọi người có thể cảm thấy buồn cười. Ngược lại, nếu tôi quay sang cười Newton, vậy thì chỉ có thể nói tôi quá vô tri!
Chúng ta thường nói, Trung Quốc dùng 7% diện tích đất có thể trồng trọt để nuôi sống 20% người dân thế giới, nhưng chúng ta cần hỏi lại: Trung Quốc liệu có thể làm được việc đó không? Nói đơn giản, chính là sử dụng lượng lớn phân hóa học. Nếu không sử dụng phân hóa học, e là một nửa người Trung Quốc sẽ chết đói.
Công nghệ sản xuất phân đạm đến từ đâu? Hơn 100 năm trước, nhà khoa học người Đức Fritz Habe và kỹ sư Carl Bosch của công ty BASF đã phát minh ra, chứ không phải Trung Quốc phát minh ra. Năm 1972, sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Nixon, Trung Quốc và Mỹ đã có thương vụ hợp tác đầu tiên, chính là mua 13 giàn thiết bị sản xuất Ure quy mô lớn nhất, hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ, trong đó có 8 giàn máy là của công ty Kellogg.
Trải qua 50 năm, 100 năm nữa khi viết lại lịch sử phát minh trên thế giới, liệu Trung Quốc có thể có tên trong đó. Chỉ có tự do, thì mới làm tinh thần và sức sáng tạo của doanh nghiệp của người Trung Quốc mới phát huy hết khả năng, biến Trung Quốc trở thành điển hình về sáng tạo cái mới.
Do đó, đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm tới vận mệnh của đất nước, và là sứ mệnh của người của trường Đại học Bắc Kinh! Không bảo vệ tự do, thì không xứng với xưng hiệu “người Bắc Đại”.
Tuệ Tâm (s/t)

Bê bối tình ái và tiền bạc bao phủ ‘Học viện mỹ nhân’

Học viện Điện ảnh Bắc Kinh nổi tiếng là ngôi trường sản sinh ra hàng loạt các “nam thần, ngọc nữ”. Tuy nhiên, danh tiếng này đang bị chính các thầy cô giáo ở đây tự hủy hoại bởi những bê bối tiền bạc và tình dục.

Bê bối tình ái và tiền bạc bao phủ ‘Học viện mỹ nhân’

Học viên trong lễ tốt nghiệp Học viện điện ảnh Bắc Kinh. Ảnh: DF.

Học viện Điện ảnh Bắc Kinh là ngôi trường quốc lập nổi tiếng của Trung Quốc trong lĩnh vực điện ảnh. Những năm gần đây, Học viện được đánh giá là một trong những trường có tiếng nhất ở châu Á về điện ảnh với nhiều học viên thành danh ở tầm quốc tế.

Học viện này còn nổi tiếng là ngôi trường sản sinh ra hàng loạt các “nam thần, ngọc nữ”. Tuy nhiên, danh tiếng này đang bị chính các thầy cô giáo ở đây tự hủy hoại bởi những bê bối tiền bạc và tình dục.

Khám phá “Học viện mỹ nhân”

Trường điện ảnh Bắc Kinh được mệnh danh ”Học viện mỹ nhân” với những sinh viên tài năng, xinh đẹp. Học viện Điện ảnh Bắc Kinh (BFA) là đại học công lập ở Trung Quốc được thành lập năm 1950. Với việc đề cao yếu tố ngoại hình trong quá trình tuyển sinh, trường còn được biết đến với tên gọi “Học viện mỹ nhân”, nơi quy tụ những trai xinh gái đẹp khắp mọi miền Trung Quốc.

Những cái tên gần đây đã thành danh ở BFA có thể kể đến là Triệu Vy, Từ Tịnh Lôi, Dương Mịch, Lưu Diệc Phi… Họ là những diễn viên được xếp vào danh sách những bông hoa đẹp nhất của Trung Quốc. Những bông hoa này đều tốt nghiệp đại học ngành Diễn xuất và cao học ngành Đạo diễn (khóa 2006) từ BFA. Trường cũng là nôi đào tạo nhiều nghệ sĩ hàng đầu Trung Quốc như bộ ba đạo diễn nổi tiếng Điền Tráng Tráng, Trần Khải Ca, Trương Nghệ Mưu; các diễn viên kỳ cựu Trương Thiết Lâm, Đường Quốc Cường.

Bên cạnh đội ngũ giảng viên dày dạn kinh nghiệm, ”Học viện mỹ nhân” lớn nhất châu Á thường xuyên mời các giáo sư thỉnh giảng nổi tiếng như đạo diễn James Cameron cùng những tên tuổi lớn khác trong ngành công nghiệp điện ảnh. Đứng đầu về chất lượng giảng dạy, quy mô cơ sở vật chất, mỗi năm Học viện Điện ảnh Bắc Kinh thu hút tới hàng trăm nghìn sinh viên dự thi, nhưng chỉ một số ít xuất sắc trong đó được nhập học. Năm 2017, BFA vẫn là một trong những đại học có tỷ lệ trúng tuyển thấp nhất, khi trường chỉ tuyển 499 người trong số 38.144 thí sinh. Diễn xuất là ngành có tỷ lệ cạnh tranh gay gắt hàng đầu.

Ngôi trường nghệ thuật này luôn là tiêu điểm chú ý của những phóng viên, nhà báo và các nhiếp ảnh gia mỗi dịp tựu trường hay lễ tốt nghiệp do ở đây hội tụ vô cùng nhiều sinh viên có ngoại hình nổi bật. Đây là ngôi trường luôn nằm trong top những học viện tập trung nhiều “trai xinh gái đẹp” nhất Trung Quốc. Hàng năm các phóng viên đều đổ xô về đây nhằm chụp được những tấm hình đẹp nhất từ lứa sinh viên “đẹp hơn hoa” này.

Vì đặc thù của ngành này là ngoại hình phải thực sự đẹp, vì thế các học viên bắt buộc phải chăm chút sắc đẹp từng li từng tí, từ gương mặt đến trang phục, kiểu tóc. Nhà trường cũng có những quy định khắt khe như không được phẫu thuật thẩm mỹ dưới bất kỳ hình thức nào. Thí sinh ghi danh khi thi tuyển nếu có những điều chỉnh nhất thời như niềng răng thì vẫn chấp nhận được, miễn là không có bất kỳ sự thay đổi trong cấu trúc xương hoặc hình dạng mũi – một giáo sư ở đây cho biết. Nhiều người ủng hộ quyết định của Học viện. Họ cho rằng phẫu thuật thẩm mỹ là chống lại các nguyên tắc về công bằng và công lý.

“Những thay đổi trên khuôn mặt hoặc các bộ phận khác trên cơ thể có thể nảy sinh nhiều vấn đề khi phối hợp các động tác và những vết sẹo để lại gây ảnh hưởng đến diễn xuất”, ông Vương Tấn Tống, Phó khoa diễn xuất của Học viện, cho biết.

Cuộc đua để thành “sao”

Sẽ có rất ít thí sinh được nhận; và một số ngành thậm chí chỉ tuyển…1%, đồng nghĩa với việc 99% sẽ bị loại. Diễn xuất là ngành có tỷ lệ “chọi” cao nhất, chỉ tuyển 30 chỉ tiêu trong tổng số 4.392 hồ sơ. Theo ông Lu – cán bộ báo chí của học viện, những thí sinh chọn ngành diễn xuất sẽ có gần một tháng tham gia ba vòng phỏng vấn. Giám khảo sẽ kiểm tra hình thức, giọng nói, khả năng đọc lời thoại, và các kỹ năng biểu diễn của thí sinh. Vì đặc thù nghề nghiệp, thí sinh không được phép trang điểm trong các vòng phỏng vấn đó.

Phóng viên Sina gặp Lưu Thành 19 tuổi, quê ở tỉnh Cam Túc và người mẹ để hỏi chuyện, được bà mẹ cho biết: Lưu Thành có hứng thú với nghiệp diễn kể từ tháng 5 năm ngoái, dù cậu không hề có nền tảng trong lĩnh vực nghệ thuật. “Ban đầu, tôi không muốn con trai theo nghề này. Nhưng vì các trường cao đẳng nghệ thuật thường yêu cầu kết quả học tập thấp hơn, và nếu họ có thể cấp một tấm bằng như ĐH thì sao lại không thử chứ?”, bà Lệ Yến mẹ của Lưu Thành nói.

 

Blogger Nguyễn Ngọc Già kể chuyện đi tù

Blogger Nguyễn Ngọc Già

“Tôi luôn chọn đứng về công lý và sự thật để bênh vực cho người dân oan, tù oan, cũng như cố gắng đưa ra các biện pháp cụ thể để giải quyết những bất công trong xã hội và ứng phó với nhà cầm quyền Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông. Đảng Cộng sản Việt Nam nên cám ơn tôi thay vì bỏ tù tôi.” – Đó là tâm sự của blogger Nguyễn Ngọc Già, tên thật Nguyễn Đình Ngọc, người vừa mãn hạn tù hôm 27 tháng 12 năm 2017.

Blogger Nguyễn Ngọc Già bị chính phủ Hà Nội kết án tù 3 năm tù giam và 3 năm quản chế với cáo buộc‘tuyên truyền chống nhà nước’ theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam trong một phiên tòa vào cuối tháng 3 năm 2016. Ông là một blogger rất ‘kín tiếng’ như chính điều ông thừa nhận về mình là một người chọn cô đơn trong tự do tư tưởng để đi“. Kể từ khi mãn hạn tù, blogger Nguyễn Ngọc Già cũng không lên tiếng với báo chí nên có lẽ không có mấy người biết được những gì ông đã trải qua, đã chứng kiến trong tù.

Tuy nhiên, vào sáng ngày 18 tháng Một năm 2018, ông đã dành cho Đài Á Châu Tự Do cuộc nói chuyện kể lại một số điểm đáng chú ý trong thời gian phải thụ án tù mà ông cho là oan ức.

Cuộc nói chuyện với tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già do Gia Minh thực hiện.

Gia MinhÔng dùng từ ‘tù nhân nhân quyền’ cho bản thân, vậy xin ông  cho biết lý do?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Kính chào anh Gia Minh và kính chào quý khán thính giả đài RFA. Trước tiên cho tôi xin được nhắc lại là tôi là tù nhân nhân quyền bởi lẽ tôi chỉ thực hiện quyền con người của mình và vì thế tôi bị bắt phi pháp với án tù 3 năm tù giam và 3 năm quản chế. Tù nhân lương tâm là một khái niệm có từ cách đây khoảng 60 năm. Hiện nay thì tù nhân lương tâm vẫn đúng nhưng theo thiển ý của tôi tù nhân lương tâm chỉ có phạm vi hẹp bởi vì không chỉ những người bị bắt bởi điều 88, 258 hay 79, mà chúng ta biết được trong xã hội Việt Nam hiện nay rất nhiều người bị bắt vì quyền con người. Ví dụ trước đây có nông dân Đoàn Văn Vươn. Anh ấy chỉ đòi quyền đất đai mà bị kết án tù. Và mới đây thương tâm hơn đó là nông dân Đặng Văn Hiến cũng vì quyền đất đai mà nhận bản án tử hình trong phiên sơ thẩm vừa rồi.

Tôi nghĩ tất cả những người đó đều đang đòi quyền con người của họ và họ cũng nên được gọi là tù nhân nhân quyền. Thứ hai là những người đấu tranh khác họ cũng đòi quyền con người mà thôi. Có những người bị vu cho là trốn thuế, chống người thi hành công vụ, vu cho gây rối trật tự công cộng nhưng trên thực tế thì dư luận quốc tế và trong nước đều biết là họ chỉ thực hiện quyền con người. Và như vậy tôi nghĩ quyền con người mà gọi theo tiếng Hán Việt  là nhân quyền, là một cái phổ quát, cái căn bản nhất mà tất cả người  Việt Nam hiện nay đều đang thiếu trầm trọng. Và vì vậy tôi đề nghị hãy gọi chúng tôi là tù nhân nhân quyền.

Tôi muốn khẳng định một lần nữa là tôi không hề chống nhà nước. Tôi chỉ thực hiện quyền con người theo đúng hiến pháp, pháp luật và tất cả các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký cam kết.

Gia Minh:Từ khi ông bị bắt, bị kết án đến lúc mãn án tù; không có thông tin gì về trường hợp của ông được đưa ra ngoài; vậy ông có thể chia sẻ những điều gì đáng nêu ra về thời gian ở trong các trại giam giữ?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Vì tôi chọn con đường “cô đơn trong tự do tư tưởng để đi”, cho nên việc tôi bị bắt mà dư luận không hay biết cũng là bình thường. Tôi biết trước tôi bị bắt, bởi vì 3 bài viết “Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa”, “Bàn về câu chuyện lá cờ” và “Hội nhà báo Việt Nam độc lập mất đoàn kết?”, tôi đã cố tình cung cấp thông tin cho nhà cầm quyền Việt Nam. Có thể nói, tôi cung cấp đến 90% lai lịch của tôi, nên họ tìm ra không có gì là khó khăn. Tôi cam đoan cho đến nay, cả Sài Gòn chỉ có duy nhất gia cảnh của tôi là như vậy.

Việc tôi bị bắt không liên quan đến bất kỳ báo đài hay cá nhân nào cả. Tôi khẳng định để tránh những thông tin thất thiệt, nhằm nhiều mục đích, trong đó có mục đích làm ảnh hưởng đến báo, đài và ảnh hưởng đến danh dự của người khác.

Mặc dù tôi bị bắt đột ngột  đối với mọi người, nhưng tôi tin rất nhiều người và các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm đến tôi, dù không biết rõ tôi là ai vào lúc bấy giờ. Khi tôi về nhà đọc tin tức, đúng như tôi dự đoán. Đó cũng là niềm an ủi rất lớn đối với tôi, bởi lẽ nhiều năm viết báo lặng thầm, tôi viết bằng lương tri dựa trên 3 căn cứ: sự thật, pháp luật và sự bền bỉ.

Lẽ ra, nhà cầm quyền VN đã trả tự do cho tôi sau khoảng 4 tháng tạm giam, như đã thả ông Hồng Lê Thọ và Nguyễn Quang Lập. Điều này do chính thiếu tá Nguyễn Đình Tứ (trưởng nhà tạm giam số 4PĐL nói với tôi, vào một hôm tôi rất buồn, đề nghị gặp ông ta để nói chuyện (trước khi chuẩn bị ra tòa sơ thẩm), nhưng vì tôi không nhận tội, nên họ quyết giam tôi luôn cho đến ngày ra tòa.Tôi luôn chọn đứng về công lý và sự thật để bênh vực cho người dân oan, tù oan, cũng như cố gắng đưa ra các biện pháp cụ thể để giải quyết những bất công trong xã hội và ứng phó với nhà cầm quyền Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông. Đảng Cộng sản Việt Nam nên cám ơn tôi thay vì bỏ tù tôi.

Có lần (tôi nhớ khoảng cuối tháng 1 hay đầu tháng 2/2015) họ dẫn ông Lập đi ngang qua, ngang lại mấy lần trước phòng “đi cung” mà tôi ngồi nhìn ra phía cửa. Ông Lập có nhìn vào, tất nhiên, tôi biết ông Lập nhưng ông Lập không biết mặt tôi.

Ngày ông Lập được trả tự do, tôi biết (vì ở đó họ để tôi mua báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ). Ngay lúc sáng vừa mua báo đọc xong (tôi nhớ khoảng hơn 9 giờ, vì họ giao báo trễ lắm), họ gọi tôi ra và hỏi tôi có ý kiến gì không (tôi nghĩ họ gợi ý tôi nhận tội một cách khéo léo chứ không thẳng thừng, vì trong bài báo tuổi trẻ, ông Lê Đông Phong Giám đốc Công an TPHCM trả lời báo giới là ông Lập nhận tội rồi, nên được thả). Tôi trả lời, tôi vừa đọc báo thấy ông Lập được thả. Mừng cho ổng vì ổng không lành lặn, nên ở tù tội lắm Họ ngồi nói với tôi vài ba câu chuyện và sau đó để tôi đi vào.

Với nhiều biểu hiện lúc bấy giờ ở số 4 PĐL (như kể trên) cũng như đọc báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ và họ còn cho một người “nhảy sô” tên Hiệp (nhưng cậu ta nói với tôi là tên Tùng) vào ở với tôi (Lúc đó ở trong xà lim (có từ thời Pháp) sau 2 lớp cửa, chỉ khoảng 4m2/2 người,  trong 7 tuần lễ, không nắng, không gió, không ánh sáng tự nhiên, nước xài rất ít), qua nhiều lần nói chuyện với cậu Hiệp, với đại úy Nguyễn Lương Y, thiếu tá Nguyễn Đình Tứ v.v… tôi biết nếu ông Nguyễn Tấn Dũng còn ở lại sau đại hội XII, có lẽ họ sẽ thả tôi. Nhưng chính trị vốn khó lường, cho tới khi có kết quả Bộ Chính trị mới thì tôi cảm nhận là… “xong rồi”!

Một lần vào cuối tháng 4/2015, họ gọi tôi ra trong một phòng tươm tất hơn, có cả trà mời tôi uống và có cả camera chĩa vào tôi (tôi nghĩ để phòng bên cạnh theo dõi buổi nói chuyện, tất nhiên là những người mà tôi nghĩ họ quyết định thả hay nhốt tôi tiếp). Tôi đã nói với đại úy Long, đại úy Y và ông Vinh (bên Viện Kiểm sát thành phố) rất nhiều lần, tôi không chống nhà nước gì cả; hãy trả tự do tôi, bắt thêm một người như tôi cũng chẳng giải quyết được gì; điều 88 là điều luật chống lại nhân dân (lúc đó đại úy Trần Thanh Long còn hỏi tôi có chứng minh được không, tôi nói, nếu vậy tôi phải viết một bài) v.v…

Một hôm “đi cung” (khoảng tháng 5 hay tháng 6/2015), đại úy Trần Thanh Long nói với tôi: “Anh bị bắt không phải vì những bài viết của anh mà vì lý do khác”. Tôi im lặng, chờ xem cậu ta nói gì nữa. Khoảng 10 giây sau, không thấy tôi nói gì, cậu ta nhăn mặt và thốt lên, nghe rất ta thán: “Chính trị nhức đầu quá!”. Theo đánh giá của tôi, Trần Thanh Long là một người công an có lương tâm nhất ở số 4 PĐL. Tôi nói điều này để chuyển thông điệp đến nhà cầm quyền VN trong bối cảnh hiện nay, lúc mà Đảng cộng sản Việt Nam đang ngổn ngang “xây dựng và chỉnh đốn đảng”, những người như Trần Thanh Long đáng để cất nhắc ở cương vị cao hơn và quan trọng hơn. Bởi sau đó, tôi nói lại với đại úy Nguyễn Lương Y (cũng là một người hỏi cung tôi) về câu nói của Trần Thanh Long, cậu Long không còn tiếp tục “hỏi cung” tôi nữa mà chuyển về làm “phó nhà tạm giam”, phụ việc lặt vặt, thậm chí đẩy xe cơm tù. Bộ Công an nên xem lại điều này, chính những người như cậu Long mới góp phần khôi phục hình ảnh của giới Công an mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang rất cần hiện nay.

Lần khác, khoảng đầu tháng 8/2015, cũng trong một lần “đi cung”, đại úy Nguyễn Lương Y bỗng nhiên đề cập đến con tôi theo cách: hãy nghĩ đến gia đình v.v… Tôi bình thản nói, trách nhiệm làm cha, tôi đã khá tròn bổn phận, tôi sống dân chủ, không áp đặt con cái v.v… Cho đến ngày 20/8/2015, giấy nhận hàng thăm nuôi đưa vào, qua lỗ nhỏ phòng giam, tôi giật mình khi nhìn thấy chữ viết và chữ ký của con trai út tôi. Tôi vừa vui mừng vừa lo âu đến trào nước mắt. Đó là lần đầu tiên và là lần cuối cùng sau 8 tháng tù, tôi nhìn thấy chữ viết và chữ ký của nó. Sau đó, con tôi qua đời ngày 28/8/2015. Ngày  25/9/2015 PA92 báo tin cho tôi là con tôi mất. Tôi không thể nào quên được cái ngày khủng khiếp đó, với cách báo tin mà tôi thấy thật tàn nhẫn vô nhân đạo, từ thượng tá Hoàng Văn Dũng, thượng tá Nguyễn Anh Tuấn, cho đến đại úy Nguyễn Lương Y và 2 người phụ trách về kỹ thuật internet mà tôi không biết tên.

Sau đó, tôi có làm “đơn xin nhận tội”, để mong về cúng 100 ngày cho thằng nhỏ rồi vào lại, nhưng họ cũng khước từ. Thượng tá Hoàng văn Dũng nói với tôi là: “Anh làm thì làm chứ tụi tui không cần”. Tuy thế, tôi vẫn làm mặc dù biết là không được. Lúc kết thúc điều tra rồi, ngày 31/12/2015, họ cũng không cho tôi gặp gia đình. Khoảng đâu 10 ngày sau, tôi giả bộ xin ra làm đơn, lừa lúc họ không chú ý, tôi chạy lên khoảng chục bậc thang gác, rồi nhảy xuống. May là không sao, chỉ đau lưng ê  ẩm khoảng 1 tuần. Sau đó, họ mới cho gia đình tôi vào thăm gặp. Từ đó, đổ đi mỗi tháng tôi được gặp gia đình 1 lần. Nhận đồ thăm nuôi thì 2 tuần 1 lần (như từ lúc tôi vừa bị bắt).

Qua Chí Hòa (ngày 20/4/2016), tôi gặp được thượng úy Lê Minh Phùng, cũng là người rất tốt, nhờ cậu Phùng mà 12 lời nhắn và 8 lời nhờ cậy của tôi được tạo điều kiện cho người bạn tù học thuộc lòng và mang ra bên ngoài, nên Dân Làm Báo và các báo đài v.v… mới biết mà lên tiếng cho tôi. 12 lời nhắn và 8 lời nhờ cậy, tôi cũng nhờ gởi cho báo Nhân Dân và Sài Gòn Giải phóng. Tôi nghĩ đó là những sự thật mà “các báo nhà nước” phải biết, dù tôi không tin họ lên tiếng, nhưng tôi chọn báo Nhân Dân và Sài gòn Giải phóng để gởi bởi vì đó là cách hay nhất bảo vệ cậu Lê Minh Phùng, trong thời cuộc ngày hôm nay. Công khai rộng rãi đúng thời điểm, đúng sự việc là cách tôi nghĩ phù hợp với bản thân mình.

Cũng vì 12 lời nhắn và 8 lời nhờ cậy và vì giúp bạn tù viết bài bào chữa, viết lời nói cuối cùng, đồng thời tôi tố cáo (bằng văn bản viết tay) thiếu tá Lê Văn Yên phó khu F dung dưỡng nạn đại bàng, vi phạm Luật thi hành án hình sự và có dấu hiệu ăn hối lộ, nên tôi bị trả thù bằng 2 lần đi cùm do thượng tá Nguyễn Văn Em và thượng tá Nguyễn Quang Quế, ký lịnh, nhưng họ không chịu đưa tôi quyết định cùm, mặc dù tôi có đòi, họ chỉ đưa tôi coi rồi lấy lại. Tôi còn bị đại tá Nguyễn Hoàng Tuấn – giám thị Chí Hòa làm công văn gởi Tòa án nhân dân cấp cao vu khống tôi “chống phá nhà nước”, nhằm mục đích tăng nặng tội tôi thêm. Công văn này, tôi biết được là nhờ Luật sư Hà Huy Sơn vào với tư cách luật sư của tôi đưa tập hồ sơ tôi xem, khi anh Sơn vào gặp tôi trước ngày ra tòa phúc thẩm. Khu F Chí Hòa còn vi phạm nội quy trại tạm giam, giam lẫn lộn người đã thi hành án và người đang chờ kháng cáo kháng nghị, tạo điều kiện cho đại bàng là Đỗ Viết Quế  (đã có án chính thức là 2 năm về tội “cố ý gây thương tích”, nhưng lo tiền để nằm lại trong phòng khỏi phải đi lao động) được thiếu tá Yên giao làm “đại diện buồng”, hắn bắt bạn tù phục dịch, chửi bới và hành hạ bạn tù rất nhiều. Đỗ Viết Quế còn khoe sẽ ra tù vào 2/9/2016 vì lo tiền. Và đúng y như vậy. Khi tôi tố cáo Đỗ Viết Quế, Chí Hòa mới lo sợ, họ vừa cùm tôi vừa chuyển tên này xuống ở khu của những người chuẩn bị tự do và sau đó, ra tù đúng dịp 2/9.

Gia Minh:Thực tế nhà tù Việt Nam từng được một số cựu tù nhân lương tâm/tù chính trị cho biết trước đây. Ông có thể đối chiếu và so sánh gì?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Tôi nhớ anh Điếu Cày từng nói, khi đã qua Mỹ: Nhà tù nào ở Việt Nam cũng ác, nhưng ở Cái Tàu – Cà Mau đúng là “trại súc vật”. Riêng tôi, tôi phải nói rằng “Mỗi nhà tù một kiểu, ác thì ngang nhau”. Lao động khổ sai, như tại Chí Hòa, tận mắt tôi chứng kiến, rất khổ và nguy hiểm, khi người tù phải khiêng “nước đá cây” mỗi ngày leo lên 4 tầng lầu, có khi nước đá rớt dập chân, làm hư và thúi móng chân. Người tù lao động bị đánh như cơm bữa. Không những thế còn bị đánh hội đồng rất dã man. Gắn camera ngoài hành lang chỉ là hình thức, công an lôi người tù vào góc khuất để đánh. Tôi nhớ, chiều ngày 22/5/2016, một nhóm công an khoảng 5 – 6 người cầm dùi cui và thay phiên nhau đánh một cậu bé (trong tù gọi là “cô nhi”, ám chỉ những người dưới 18 tuổi) rất dã man, ở tầng trệt khu BC. Tôi nhớ rõ như in, bởi ngày đó là ngày bầu cử quốc hội. Còn nhiều trận đòn khác nữa mà chính tôi chứng kiến ngay trong phòng 13 khu F tôi ở, khi người tù lén hút thuộc lào. Phải nói là bị đánh tơi tả. Rồi bị cắt thăm nuôi 1 tháng.

Còn ở trại Xuân Lộc, họ vi phạm quy trình, nội dung pháp lý và pháp luật. Khi nói với họ về luật, họ cứ trơ ra. Ngay cả thông tư 27 mới nhất của Bộ Công an có hiệu lực từ 6/10/2017, tôi nhắc nhưng họ vẫn coi như không. Đó là điều mà Bộ Chính trị , ông Tô Lâm, ông Nguyễn Ngọc Bằng (Tổng cục trưởng TC8) nên xem lại, trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập quốc tế, mà Việt Nam là nước vừa nhỏ vừa yếu, chứ không phải lớn và mạnh như Trung Quốc.

Trại Xuân Lộc cũng không phổ biến pháp luật  cho tù nhân. Mà đây lại là trách nhiệm của các trại tù.

Về luật Thi hành án hình sự, các cơ quan hành pháp và tư pháp đều vi phạm nghiêm trọng. Ví dụ như, không giao bản án phúc thẩm và quyết định thi hành án cho tôi. Tôi đã gửi thư đòi tòa giao cho tôi từ tháng 8/2017 sau hơn nửa năm trời yêu cầu giấy viết từ trại Xuân Lộc, mới viết được. Ban đầu họ làm lơ, khi tôi đòi quá, thì thiếu tá Nguyễn Thế Thung nói đó là nhiệm vụ của Tòa, nên mới đưa giấy viết cho tôi. Tuy nhiên,  từ đó đến nay, bên tòa cũng không hồi đáp gì cả. Hoặc cũng có thể trại Xuân Lộc không gởi thư của tôi đi. Tuy nhiên, tôi đã sử dụng “bản kiểm điểm” theo quy định pháp luật (nhằm để bình bầu cho việc giảm án) 6 tháng đầu và cuối năm để trình bày đầy đủ mọi việc rồi. Các bản kiểm điểm này là văn bản quy phạm pháp luật, nên tôi tin trại Xuân Lộc còn lưu.

Có một số bạn tù lại thực hiện tẩy chay, không viết bản kiểm điểm. Tôi nghĩ, quan trọng là chúng ta viết nội dung gì và có viết sự thật hay không trong bản kiểm điểm.

Đa số bạn tù của tôi đều giống nhau suy nghĩ, viết bản kiểm điểm chỉ là việc “nhận tội” hay “không nhận tội”,  một vài người thì nghĩ không nhận tội thì khỏi viết luôn.  Tôi hay nói với anh em tù: “Đòi thì chưa chắc được, nhưng không đòi thì không bao giờ được”. Tuy nhiên, bạn tù tôi lại có quan điểm khác: Đòi hay xin phải được mới đòi, mới xin. Nhưng biết có đòi, có xin không bao giờ được nên khỏi đòi, khỏi xin luôn. Đó thuộc về nhân sinh quan, nên rất khó thuyết phục.

Tôi đòi phổ biến luật thì họ đưa ra cho coi… bảng “nội quy trại giam”.  Đòi kiên trì, họ mới đưa ra thông tư (số  ngày gì đó, tôi không tài nào nhớ nổi),  trong đó, tôi thấy có việc “nhận tội” mới được giảm án. Nhưng, về nhà, tôi tìm trên mạng thấy thông tư liên tịch 02/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC “HƯỚNG DẪN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN” ban hành ngày 15/5/2013, có hiệu lực từ 01/7/2013, trong đó tại điều 6 chương 2 không hề quy định tiêu chuẩn để được giảm án là phải “nhận tội”.Ở điều 18, chương 5 nói rằng “Các văn bản trước đây của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trái với Thông tư liên tịch này đều bãi bỏ”. Tôi không nhớ rõ cái văn bản kia (chắc là văn bản hết hiệu lực).

Trên thực tế, các trại tù luôn đòi người tù (thường gọi là TNLT) phải nhận tội như là tiêu chuẩn số một để giảm án. Việc này vi phạm thông tư  liên tịch 02, không những vậy nó còn phản khoa học, vì “nhận tội” hay “không nhận tội” đó là “công đoạn” của quá trình điều tra và xử án, không phải của “công đoạn” thi hành án. Ngay cả những người đã ra tù, có lẽ cũng không để ý đến điều này.

Người ta cũng biết, Bộ luật tố tụng hình sự (mới) có điều 13 “Suy đoán vô tội”, nên việc “nhận tội” để được giảm án trở nên mâu thuẫn với luật mới này. Tôi nghĩ các luật liên quan nên đồng bộ với nhau.

Về quy trình bình bầu để được xét giảm án, trại tù Xuân Lộc cũng không hề phổ biến. Ngay cả những bạn tù của tôi ở 18 – 21 năm cũng không hề biết và không hề quan tâm đến quy trình, khi tôi hỏi mấy anh em “quy trình xét bình bầu”, họ còn nhầm lẫn là “tiêu chuẩn xét bình bầu”. Không ai biết “quy trình bình bầu” và cũng không ai hiểu rõ “tiêu chuẩn bình bầu”. Tất cả “tiêu chuẩn” hay “quy trình” chỉ là truyền miệng giữa người tù cũ và mới.

Trong quy trình xét bình bầu để được giảm án hay không, luôn phải có chữ ký “đội trưởng” (lẽ ra do anh em tù trong đội bầu lên) trong việc tổ chức họp bình bầu, bởi vì mẫu bản kiểm điểm (là văn bản quy phạm pháp luật, do Bộ Công an ban hành) có chữ ký đội trưởng trong đó và đội trưởng là khâu đầu tiên phải trải qua trong việc bình bầu.

Tôi ở Xuân Lộc 1 năm, nhưng Xuân Lộc không bao giờ tổ chức họp theo quy định, họ chỉ phát bản kiểm điểm, ai viết thì viết , ai không viết thì thôi. Viết xong, họ thu về. Tôi đòi nhiều lần họp đội để “đội trưởng” trình diện cho anh em biết. Họ phớt lờ cho đến lúc tôi kiên trì đòi, thiếu tá Nguyễn Thế Thung mới vội vã đưa ra quyết định giao ông Phan Thanh Liêm (bạn tù của chúng tôi) làm đội trưởng cho tôi coi, nhưng tôi hỏi ông Liêm, ông ấy nói không hề làm đội trưởng. Tôi nghĩ họ ngụy tạo vì QĐ ban hành vào tháng 6/2017, trước đó chẳng có ai làm đội trưởng cả.

Vấn đề “nhận tội” hay “không nhận tội” lại là một đề tài khá tế nhị, bởi từ đó mà bạn tù rất dễ chia rẽ, kỳ thị lẫn nhau và cả dư luận bên ngoài cũng xét nét vấn đề này nhiều lắm. Mặt khác, trại tù cũng vin vào đó là “căn cứ số 1” để muốn cho ai giảm án, giảm bao nhiêu thì giảm, nên những người nhận tội hầu như sống lặng lẽ, như một cái bóng, không hề dám mở miệng dù là việc rất nhỏ, vì sợ mất lòng cai tù, rồi  bị “múa bút” phết vào “kém” là coi như năm đó không được giảm án tháng nào.

Mặc dù, tôi không nhận tội, nhưng tôi thấy rất thương những người nhận tội. Họ như những chú mèo, luôn sợ hãi mọi thứ chung quanh. Sợ cả bạn tù, sợ cả công an cai tù, sợ ngay cả những tù thường phạm lao động. Nói chung họ sống với nỗi sợ hãi thường trực cùng tâm trạng phập phồng, nơm nớp. Nói đúng hơn là họ tồn tại như những “xác sống biết đi”, chứ không phải con người bình thường.

Tất cả những việc muốn giảm bao nhiêu tháng, giảm hay không giảm hoàn toàn tùy thuộc vào giám thị, phó giám thị và các trưởng phân khu. Có thể hình dung, các giám thị như là một lãnh chúa cai quản một “lãnh địa”. Giám thị muốn gì làm nấy, như một thứ “luật bất thành văn”.

Tôi thấy trại Xuân Lộc làm việc mờ ám và vi phạm luật nhiều lắm. Ví dụ như: tôi ở đội 32 chỉ có mười mấy người, họ nhốt cách ly chúng tôi sau 3 lớp cửa, cứ 2 người 1 phòng, cứ 4 người có 1 sân chung nhỏ chừng vài bước chân cho mỗi bề ngang và bề dọc, cứ 2 người thì có một ô đất nhỏ chừng 2,5 mét vuông để ai muốn trồng gì thì trồng, có một góc bếp để tự nấu ăn.  Chúng tôi bị nhốt như thế suốt ngày đêm như trong sở thú. Sáng khoảng 5h30 đến 6 giờ họ mở lớp cửa thứ 2 và thứ 3, cho chúng tôi ra khoảng sân nhỏ như thế, đến 11 giờ trưa họ khóa lớp cửa thứ 2, đến 1 giờ rưỡi mở ra, rồi đến 5 giờ chiều thì chúng tôi vào trong phòng cho đến sáng hôm sau.  Cứ mỗi lớp cửa họ gắn 1 camera để giám sát chúng tôi, một cái ở cửa 1 (cửa 1 chỉ được bước ra lúc lấy cơm), một cái ở cửa 2 (cửa 2 trưa đóng lại) và 1 cái ở cửa 3 (tức ngay phòng ngủ). Camera ở cửa 3 chĩa vào ngay chỗ ngủ rất trơ trẽn, anh em tù phản đối nhưng họ cứ phớt lờ, riêng tôi viết một lá thư gởi cho giám thị – đại tá Thái Duy Hồng nói thẳng là phải xức thuốc ghẻ ở chỗ kín, các ông gắn camera vậy, tui thấy kỳ quá! Chúng tôi đâu phải con thú. Tất nhiên, đáp lại là sự im lặng.

Có 1 cái TV chỉ cho coi VTV1 và VTV3. Từ chỗ ở ra đến chỗ thăm nuôi, tôi phải qua 5 lớp cửa tù (3 lớp như kể trên, sau đó đi qua 1 khoảng sân dài chừng 50 mét) tới lớp cửa thứ 4, sau đó khi một khoảng sân nữa cũng chừng 50 mét là lớp cuối cùng. Từ lớp cuối này đi khoảng 20 mét ra phòng thăm nuôi. Vấn đề thăm nuôi cũng lắm gian nan…

Trại Xuân Lộc muốn người tù sống lặng lẽ như thế;  không đòi hỏi, không mong muốn, không thắc mắc, không khát khao, không cần suy nghĩ gì cả, đến giờ ăn thì ăn, đến giờ ngủ thì ngủ, ai muốn tập thể dục thì tập; TV có đó, cứ coi; ngồi chờ đến ngày về, đừng “cự cãi”, “đừng xin xỏ”, “đừng thắc mắc” gì hết v.v…. Và tất cả đều câm lặng, lầm lũi sống như vậy. Tôi nghĩ hầu hết mọi bạn tù của tôi như là những “cái xác sống di động”! Tôi nói thật,  không hề có ý mỉa mai gì cả, trại Xuân Lộc hoàn toàn thành công khi biến những con người bình thường trở thành những “phế nhân tinh thần” (kể cả những người không nhận tội cũng đầy sợ hãi và nghi kỵ lẫn nhau).

Tất cả bạn tù ở chung với tôi, đa số đều ở tù rất lâu, hầu như không ai hiểu biết về pháp luật, nên trại tù “múa” kiểu gì họ theo kiểu đó. Cũng bởi 2 hội chứng “stockholm và tự kiểm duyệt”, nên ngay cả những người “không nhận tội” cũng lạc hậu hoàn toàn và hầu như không quan tâm gì khác ngoài việc trông đến ngày về.

Ở tù rồi mới thấy  2 loại hội chứng nói trên rất đáng sợ. Hai hội chứng này phát triển nhanh và đúng về tâm lý. Hai hội chứng này không chỉ diễn ra ở tù thường phạm mà ngay cả những người bạn tù ở chung với tôi (về tội 84, 79, 88)  cũng bị rất nhiều.  Trong khuôn viên rộng lớn như K2 Xuân Lộc, nhưng nó giống như một nghĩa trang đìu hiu và vô cùng vắng lặng, thỉnh thoảng nghe tiếng kinh vọng vang từ xa xa (tôi nghĩ đó là dành cho những người vừa mới chết) và nhiều chi tiết khác, chính những điều này luôn tạo cho người tù sống trong bất an, một cái thở mạnh cũng không dám, một tiếng cười giòn tan, sảng khoái cũng không có, một câu chuyện tiếu lâm kể cho nhau cũng không. Hậu quả của những tháng năm trầm uất khiến người tù bị rất nhiều chứng bệnh, trong đó đặt biệt là đau dạ dày. Còn nhiều loại bịnh lắm: thận, tim, mắt, rụng răng, đau đầu kinh niên, viêm đa khớp v.v…

Có anh Phạm Xuân Thân (án chung thân vì ám sát đoàn tiền trạm của Giang Trạch Dân từ hồi những năm cuối 90 thế kỷ trước, nghe ảnh nói nếu ảnh nhận tội thì đã về từ lâu, vì gia đình ảnh cũng hầu hết là công an), anh ấy bị viêm xoang rất nặng. Xin đi chữa, họ cứ làm ngơ. Bởi vì, đưa người tù ra chữa bịnh viện đời, rất khó khăn vì họ rất sợ trách nhiệm nếu tù nhân bỏ trốn. Tất cả công an ở tất cả trại tù vô cùng sợ trách nhiệm. Đây cũng là “bệnh chung” của cả bộ máy nhà nước bấy lâu nay, không chỉ riêng “lãnh vực ở tù”.  Tôi có đòi đưa anh Thân đi chữa viêm xoang vì nặng lắm, đứng gần ảnh nghe cả mùi hôi khi nói chuyện, nhưng tuyệt nhiên họ không đưa đi. Nói cho ngay, cũng vì trách nhiệm họ sợ quá, chứ cũng không phải họ không muốn. Bởi vì đi như thế, luôn luôn phải có công an đi cùng 24/24. Các sinh hoạt đều phải chịu sự giám sát. Ví dụ, đi toilet xong, ra là phải còng tay liền, đi chích thuốc, đi xét nghiệm v.v… cũng y như vậy. Nhiêu khê lắm, nên CA sợ lắm. Hãy nhớ lại thầy giáo Đinh Đăng Định là việc điển hình cho tính sợ trách nhiệm.

Nói chung, trại tù Xuân Lộc coi tất cả như thế là chẳng hề vi phạm quyền con người gì cả (!). Chắc họ nghĩ chỉ khi nào đánh đập, cùm chân, chửi bới, bỏ đói mới là … vi phạm Quyền Con Người (!). Ngay cả vấn đề giám sát hầu như không có. Tổng cục 8 xuống như “cưỡi ngựa xem hoa” (tôi gặp hai lần, 1 lần vào ngày 1/4/2017, thiếu tướng Phan Xuân Sơn, tôi chất vấn thì trả lời cách giam tù như vậy không có gì vi phạm quyền con người).

Trong tù, có câu ngạn ngữ: “Tù chỉ cần mình gục chứ không cần mình phục”!  Tôi nghĩ, giới công an nói chung, không phải không biết, nhưng chắc họ nghĩ  mình là tù, nên họ không muốn tạo thành tiền lệ (dù những đòi hỏi của tôi đều đúng theo pháp luật) để rồi kiểu như gọi là “được voi đòi tiên”.

Tóm lại, trại Xuân Lộc hành xử rất tùy tiện, khi thi hành công vụ, mặc dù tôi đã nhắc họ rằng ông Tô Lâm yêu cầu giới công an không được đứng trên và đứng ngoài pháp luật mà tôi đọc từ báo Nhân dân. Cũng có lẽ vì vậy, ông Nguyễn Xuân Phúc phải than “trên nóng dưới lạnh” hay trước đây ông Phan Văn Khải nói “trên bảo dưới không nghe”. Chính tình trạng này làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam dễ “sa lầy” trong mọi vấn đề, không riêng “vấn đề ở tù”. Điều này thì ai cũng thấy và biết rõ.

Hoàn cảnh xã hội VN hiện nay, bi đát và tan nát về mọi mặt, nhất là về “nhân tâm”, Bộ Chính trị nên suy ngẫm và thay đổi cung cách quản lý và tuân thủ pháp luật ở các trại tù, chứ cứ như hiện nay góp phần rất nhiều trong việc bôi nhọ “danh dự uy tín” của Đảng Cộng sản Việt Nam bên cạnh vấn đề tham nhũng, mà giám thị và phó giám thị trại Thạnh Hòa bị kỷ luật tháng 7/2017 là một ví dụ về chính sách “nhân đạo và khoan hồng” của nhà cầm quyền VN bị trại tù làm hoen ố.

Tôi nghĩ, đe dọa sự tồn vong của chế độ này, không chỉ từ tham nhũng – như ông Nguyễn Phú Trọng đã thừa nhận – mà còn từ tình trạng bắt người phi pháp và thi hành án vô nhân đạo – tức là một trong các Quyền Con Người bị chà đạp (tình trạng này nói chung cho cả tù thường phạm chứ không chỉ riêng những người bất đồng chính kiến hay hoạt động XHDS), sau đó mới đến vấn đề Biển Đông.  Đây là trách nhiệm của ĐCSVN, cụ thể là của Bộ Chính trị và Ban chấp hành trung ương đảng bởi điều 4 hiến pháp quy định “… Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về mọi quyết định của mình” mà trong điều 4 hiến pháp cũ không có.

Gia Minh: Từ sau đại hội đảng cộng sản Việt Nam vào đầu năm 2016 và sang những tháng đầu năm 2017, cơ quan chức năng Việt Nam tiến hành chiến dịch đàn áp mạnh tay đối với giới bất đồng chính kiến, các tiếng nói đối lập, các nhà hoạt động vì dân chủ- nhân quyền. Một số đã bị tuyên án nặng với các cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN’ và ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’; ông có nhận định gì về các biện pháp đó?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Trước tiên, tôi xin phép chia sẻ suy nghĩ về  các loại xử án, tôi nghĩ có 5 loại: Xử theo thành kiến, xử theo thái độ, xử theo dư luận, xử theo thời cuộc và loại thứ năm là loại hỗn hợp của hai đến ba hoặc bốn loại trên. Ông Đinh La Thăng và các ông khác hiện đang bị xử loại năm (với sự pha trộn giữa loại 3 và loại 4). Hoặc như chị Mẹ Nấm (là loại 1 + loại 2 + loại 3 + loại 4), chị Trần Thị Nga cũng giống vậy, hoặc như trước đây là Đoàn Văn Vươn là loại 3 + loại 4. Tôi muốn nói rõ để tránh hiểu lầm. Khi xử theo loại 2, loại 3 và loại 4, có cả 2 chiều, có thể tốt lên hoặc cũng có thể xấu đi, ví dụ vụ Đoàn Văn Vươn là tốt lên hay Huỳnh Văn Nén được minh oan và đền bù, đó là tốt lên

Cũng như nhiều người đã nói, tăng cường bỏ tù phản ánh câu nói của Marx “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”. Càng đấu tranh nhiều thì bị bỏ tù càng nhiều. Đó là đúng theo quy luật. Tất nhiên chẳng ai muốn ở tù. Nhưng ngoài biện pháp bỏ tù, sách nhiễu, đàn áp nhiều cách khác nhau, có lẽ Đảng Cộng sản Việt Nam không tìm ra được biện pháp nào tốt hơn. Nếu chúng ta đặt mình vào vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam, phải nói thật là cũng rất khó, vì tình hình bấy lâu nay, giống như căn bịnh trầm kha mà “lờn thuốc” rồi. Do đó, ngoài chữ “bế tắc chính trị”, tôi không biết còn có từ nào phù hợp hơn không.

Gia Minh: Theo ông sự lên tiếng can thiệp của các tổ chức quốc tế và Liên Hiệp Quốc cho các trường hợp tù nhân lương tâm có tác dụng đến đâu và nên tiến hành thế nào?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Nói về Liên Hợp Quốc, thì đó là tổ chức lớn nhất hành tinh, với sự tham gia tự nguyện của hàng trăm quốc gia. Chính vì tự nguyện tham gia nên tất cả các công ước đều theo “cơ chế tự nguyện”. Các quốc gia ký cam kết và nếu tự nguyện thực thi thì tốt, nếu không cũng không có gì ràng buộc.

Hồi tôi ở Xuân Lộc, đâu khoảng tháng 3/2017, coi VTV sáng có tin Ngoại trưởng Rex Tillerson tuyên bố “Hoa Kỳ sẽ rút khỏi Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc nếu tổ chức này không tiến hành cải cách lớn” và sau đó khoảng đâu tháng 9 hay 10 gì đó, VTV có đưa tin  Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres nói là (hình như) thúc đẩy chương trình cải cách toàn diện để tăng cường hiệu quả của Liên Hợp Quốc. Không biết bây giờ ra sao rồi nữa.

Các tổ chức phi chính phủ thì chức năng của họ như là người quan sát, dõi theo và lên tiếng cho chúng tôi. Có lẽ cũng chỉ dừng lại đó, dù rất là biết ơn các tổ chức này, nhưng tôi hiểu giới hạn của họ là chừng mực.

Gia Minh: Nhân câu chuyện đầu năm 2018 này, ông có điều gì muốn tâm tình cùng quí khán, thính giả của Đài Á Châu Tự Do?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Tôi viết bằng lương tri dựa trên 3 căn cứ: sự thật + pháp luật + sự bền bỉ. Có lẽ vì thế mà tôi được độc giả thương mến. Chúng ta có thể “lừa” độc giả qua vài bài viết, chứ lên đến cả trăm bài, không “lừa” được độc giả đâu. Nói điều này để nhắn với các nhà báo, blogger, facebooker rằng: “Văn là Người”, nếu quý vị nào còn nghĩ rằng, có thể “lừa” được độc giả thì lầm to. Độc giả có thể không viết được như chúng ta, nhưng họ hiểu hết và cảm nhận được hết.

Thông tin, theo tôi biết, người ta chỉ phân loại tin giả mạo hay tin trung thực. Còn các bài bình luận, phân tích thì để độc giả người ta đánh giá. Tôi chỉ viết với 3 căn cứ nêu trên và không bao giờ gieo rắc hận thù, bạo lực hay bóp méo, xuyên tạc.

Tôi chân thành cám ơn RFA đã dành cuộc phỏng vấn này cho tôi và kính chúc quý độc giả xa gần năm mới nhiều sức khỏe.

Gia Minh:Một lần nữa xin thay mặt quí thính giả Đài Á Châu Tự Do, chân thành cám ơn ông đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn đặc biệt này.

(RFA)

Gửi tới fan của Bitcoin: Tiền số chỉ là một giấc mộng

Gửi tới fan của Bitcoin: Tiền số chỉ là một giấc mộng

Không ít người dành nhiều thập kỷ để chờ đợi một ai đó sáng chế ra một loại tiền cho các giao dịch trực tuyến. Và hiện nay, họ vẫn đang phải tiếp tục chờ đợi…

Bitcoin khiến nhiều con tim tan vỡ. Không phải bởi họ đã bỏ lỡ đợt tăng giá đột biến của Bitcoin. Cũng không phải bởi họ lo sợ bong bóng Bitcoin sẽ vỡ tan một ngày nào đó. Lý do thực sự là bởi trong nhiều thập kỷ, họ đã chờ đợi một người sáng chế ra một loại tiền số thuần tuý, một loại tiền tệ cho các giao dịch trực tuyến mà không cần liên kết với thẻ tín dụng.

Vì vậy, khi Bitcoin lần đầu tiên xuất hiện, nhiều người hi vọng Bitcoin sẽ trở thành loại tiền tệ trên. Trong cuốn sách “Digital Gold” (Vàng Số) về nguồn gốc của Bitcoin, Nathaniel đã trích dẫn một đoạn email từ Satoshi Nakamoto, nhà sáng chế Bitcoin đầy bí ẩn: “Tôi đang nghiên cứu một hệ thống tiền điện tử mới dùng trong giao dịch trực tiếp, không cần một bên thứ ba đáng tin cậy.”

Những người đam mê Bitcoin thời kỳ đầu thường cho rằng Bitcoin là một loại tiền tệ cho phép khách hàng mua hàng mà không cần sự can thiệp của hệ thống ngân hàng hay chính phủ các nước. Tuy nhiên, hiện nay, đối với họ, Bitcoin chỉ là một thất bại tiền điện tử khác.

Vào giữa những năm 1990, David Chaum, một nhà toán học và mật mã học xuất sắc, đã sáng chế ra tiền điện tử hay e-cash. Tiền điện tử cũng có chức năng tương tự Bitcoin hiện nay, đó là cho phép người dùng sử dụng tiền ảo lưu trữ trong máy tính để mua hàng và gửi tiền cho người khác.

Chaum đã có một sáng chế đi trước thời đại. Ông đã thành lập công ty DigiCash 5 năm trước khi Amazon hay Netscape ra đời. Tuy nhiên, vào năm 1998, DigiCash phá sản.

Tiếp sau sự kiện này là thời kỳ “thông tin muốn được tự do” ngắn ngủi. Napster, ra đời vào năm 1999, sử dụng công nghệ đồng đẳng cho phép người yêu nhạc tải nhạc bất hợp pháp. Các trang báo không có paywall (thu phí độc giả xem nội dung); do đó, nhiều người cho rằng tin tức là miễn phí. Nhiều người có thể ngang nhiên tải nhạc và phim miễn phí dù biết điều đó là vi phạm pháp luật. Với họ, đó là cách thức hoạt động trong thời đại Internet.

Đồng thời, khi thương mại điện tử phát triển, phương thức thanh toán duy nhất là dùng thẻ tín dụng. Đây chính là một khuyết điểm: Mỗi khi muốn mua một thứ gì đó, khách hàng phải điền đầy đủ thông tin thẻ tín dụng, địa chỉ thanh toán và địa chỉ nhận hàng. Và điều này khiến hacker dễ dàng đánh cắp thông tin người dùng.

Tiền điện tử (e-cash) có thể giải quyết những vấn đề này. Nếu trước đây khách hàng sở hữu tiền số, thì Napster có thể đã tiến hành thoả thuận cùng các công ty thu âm và tính phí tải nhạc. Và có lẽ khách hàng cũng rất sẵn lòng trả phí. Và rõ ràng e-cash có thể giúp nền thương mại điện tử hoàn hảo hơn.

Vào năm 2000, một bài báo trên tạp chí Money từng trích dẫn phát biểu của một giám đốc điều hành của một công ty Internet: “Chúng ta đã tới gần thời điểm mà nền kinh tế Internet cần e-cash.”

Tuy nhiên, e-cash chưa bao giờ trở thành hiện thực. Thay vào đó, các doanh nhân và doanh nghiệp tạo ra một loạt các giải pháp thay thế.

Nổi tiếng nhất là PayPal, một ứng dụng truy cập vào tài khoản ngân hàng hoặc thẻ tín dụng của khách hàng và tiến hành giao dịch hoặc gửi tiền. Apple và Amazon cũng đưa ra những biện pháp thanh toán đơn giản hơn chỉ bằng một lần click chuột. Dù vậy, khách hàng vẫn cần phải điền thông tin thẻ tín dụng khi muốn mua sắm trực tuyến.

Trong khi đó, mọi nỗ lực sáng chế tiền điện tử đều “chìm xuồng”. Đầu những năm 2000, e-gold ra đời với nhiều tiềm năng; tuy nhiên, đối tượng sử dụng e-gold chủ yếu lại là tội phạm. Tới năm 2008, nhà sáng lập e-gold đã nhận tội rửa tiền.

Theo trang web 99bitcoins.com, có 89 công ty tuyên bố chấp nhận Bitcoin là một loại tiền tệ, bao gồm Subway, nhà sách thuộc Viện Công nghệ Massachusetts và Bảo tàng Coastal Bend tại Victoria, Texas.

Tuy nhiên, có lẽ vẫn chưa có ai thực sự dùng Bitcoin để mua bán. Liệu ai sẽ dùng Bitcoin để thanh toán khi chỉ 10 phút sau đó, giá Bitcoin có thể tăng vọt 500 USD? Và người bán nào sẽ nhận Bitcoin từ khách hàng khi giá của loại tiền số này có thể giảm 500 USD chỉ 10 phút sau đó?

Dù mục đích ban đầu là gì, hiện nay Bitcoin đã biến thành một loại tài sản với chỉ một mục tiêu duy nhất: đầu cơ. Pete Kight, một nhà đầu tư fintech đã thành lập Checkfree vào năm 1981, cho biết: “Đơn giản là không có cách nào dự đoán được giá trị của nó [Bitcoin]”. Bitcoin sẽ là một sai lầm chết người nếu được dùng như một loại tiền điện tử.

Bên cạnh đó, một thiếu sót khác của Bitcoin được nhiều người ủng hộ yêu thích là loại tiền số này vận hành độc lập với hệ thống tiền định danh của chính phủ. Kight cho biết: “Tôi gọi đó là sự tàn bạo của trí tuệ. Khi bạn làm việc trong lĩnh vực fintech, bạn sẽ thấy những thiên tài kỹ thuật bị lệch pha so với những gì diễn ra trong thế giới thực.”

Với Bitcoin, Kight cho biết: Có một thứ gọi là Cục Dữ trự Liên bang (Fed). Nhiệm vụ đầu tiên của Fed là bảo hộ hệ thống tài chính của Mỹ. Nếu muốn thành công, thì tiền số phải thuyết phục được Fed rằng nó sẽ không phá hoại hệ thống ngân hàng.

Sau khi bong bóng vỡ, có thể Bitcoin vẫn sẽ tiếp tục được giao dịch. Và có lẽ một vài loại tiền số khác cũng sẽ có quỹ đạo tương tự (dù cuối cùng phần lớn đều sẽ tan biến). Tiền số dường như có một vài đặc điểm khá tương tự với nền kinh tế: phát triển trong một số môi trường nhất định và suy yếu trong những môi trường khác.

Ở kịch bản tích cực, Bitcoin có thể sẽ được nhìn nhận như phiên bản số của vàng. Còn về một loại tiền điện tử thực sự, có lẽ còn cần một khoảng thời gian rất dài nữa.

Theo Tri thức trẻ

Năm 2018, xuất khẩu 110.000 lao động

Năm 2018, xuất khẩu 110.000 lao động

Năm 2018, ngành LĐ-TB&XH đặt mục tiêu đưa 110.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài (lao động nữ chiếm 40%), giữ vững được một số thị trường truyền thống như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan.

Đánh giá về công tác năm 2017, Phó cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước Nguyễn Gia Liêm cho biết, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra, cả nước đã đưa được 134.751 lao động đi làm việc (vượt 28,3% kế hoạch). Một số thị trường xuất khẩu lao động chính tiếp tục có nhu cầu tuyển dụng lao động Việt Nam cao như thị trường: Đài Loan, Nhật Bản. Các thị trường khác vẫn có nhu cầu tiếp nhận ổn định, riêng thị trường Nhật Bản nhu cầu tiếp nhận lao động Việt Nam ngày càng tăng, đa dạng về ngành nghề.

Một số thị trường có nhu cầu tuyển dụng một số nhóm ngành nghề mới mà Việt Nam có khả năng đáp ứng tốt, có nhu cầu đưa đi như điều dưỡng, hộ lý và lao động trong một số lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, lao động có tay nghề, kỹ thuật cao, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động khi lựa chọn phương án đi làm việc ở nước ngoài. Năm qua, một số thị trường châu Âu đang có nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài như: Rumani, Ba Lan, Na Uy bước đầu có lời mời hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực y tế, điều dưỡng.

Năm 2018, ngành LĐ-TB&XH đã đề ra mục tiêu đưa 110.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài (lao động nữ chiếm 40%). Nhiều giải pháp đã được đề ra như: Giữ vững ổn định một số thị trường chính như Đài Loan, Nhật Bản; nâng cao chất lượng nguồn lao động đưa đi làm việc tại nước ngoài đảm bảo mức thu nhập và tính cạnh tranh. Cùng với đó là phối hợp chặt chẽ với giáo dục nghề nghiệp từ khâu đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ, kỹ năng tay nghề, giáo dục định hướng cho lao động trước khi xuất cảnh.

Đặc biệt, cần tăng cường công tác quản lý đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài; hoàn thiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tăng cường công tác thanh, kiểm tra, xử lý phát sinh liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động…

Theo Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Doãn Mậu Diệp để xuất khẩu lao động năm 2017 đạt được con số kỷ lục, ngành LĐ-TB&XH đã nỗ lực trong việc hoàn thiện thể chế, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước như hoàn thành dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 126/2007/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cũng như sửa đổi, bổ sung Quyết định 1465/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm ký quỹ… Tích cực đàm phán ký kết các văn kiện hợp tác quốc tế  với Nhật Bản, Campuchia, Lào. Bên cạnh đó, việc cấp và cấp đổi giấy phép chặt chẽ hơn. Công tác phát triển thị trường lao động về cơ bản giữ vững được một số thị trường truyền thống như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan.

Về phương hướng năm 2018, Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp đề nghị Cục quản lý lao động ngoài nước cần tập trung triển khai một số công việc như: Phối hợp với Vụ Pháp chế trong việc sửa đổi Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Công tác thanh tra chuyên ngành cần có đổi mới. Đồng thời, đẩy mạnh việc quản lý doanh nghiệp, chấn chỉnh hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài với 3 tiêu chí chọn đúng người, minh bạch và có kế hoạch khi lao động quay trở về nước.

Khuyến khích xuất khẩu lao động giúp gia tăng lượng kiều hối

Một báo cáo của Ngân hàng Thế giới khuyến nghị Việt Nam cần đánh giá các chính sách hiện hành về khuyến khích xuất khẩu lao động nhằm gia tăng lượng kiều hối.

Báo cáo “Di cư tìm cơ hội” mới được Ngân hàng Thế giới công bố cho biết giảm bớt hạn chế về lao động nhập cư sẽ làm tăng phúc lợi cho người lao động và đẩy nhanh hội nhập kinh tế trong khu vực ASEAN.

Hiện tượng di cư nội khối ASEAN đã tăng đáng kể trong giai đoạn 1995-2015 và đã biến Malaysia, Singapore, và Thái Lan trở thành trung tâm di cư trong khu vực với 6,5 triệu dân di cư, chiếm 96% tổng số lao động di cư trong khối, báo cáo cho biết.

Trong năm 2015, các nước trong khối đã nhận được tổng cộng 62 tỷ USD kiều hối. Kiều hối chiếm đến 10% GDP tại Philippines, 7% tại Việt Nam, 5% tại Myanmar, và 3% tại Campuchia.

Theo báo cáo, quy định nhập cư trong khu vực ASEAN còn hạn chế. Những chính sách hạn chế này bắt nguồn từ suy nghĩ rằng lao động nhập cư có thể có ảnh hưởng tiêu cực lên các nước nhận lao động.

Nhưng bằng chứng cho thấy điều ngược lại. Kết quả tính toán cho thấy, nếu con số tăng thuần lao động nhập cư là 10% thì sẽ kéo theo GDP tăng 1,1%. Tại Thái Lan, nếu không có lao động nhập cư, GDP sẽ giảm 0,75%.

Nếu lao động được tự do di chuyển thì tác động của nó lên phát triển kinh tế khu vực sẽ rất lớn do người lao động từ các nước thu nhập thấp sẽ có thêm cơ hội tăng thu nhập của mình, đồng thời làm tăng lượng kiều hối cho nước xuất khẩu lao động.

Theo Thu Cúc? Chinh phủ VN

**************

[Infographic] Khuyến khích xuất khẩu lao động giúp gia tăng lượng kiều hối - Ảnh 1.

Theo Minh Anh

BizLive

Việt Nam 2018: Tìm cơ hội và tránh rủi ro

Nguyễn Quang Dy / Viet-Studies

hn1

Ảnh :  Đường phố Hanoi

Năm Đinh Dậu (2017) sắp qua và năm Mậu Tuất (2018) đang tới, là lúc người Việt thường nhìn lại năm cũ để rút kinh nghiệm và chuẩn bị đón năm mới, với tất cả hy vọng và lo âu lẫn lộn. Nếu năm Đinh Dậu có những điểm sáng và khoảng tối chồng chéo, với những diễn biến bất thường đầy kịch tính, thì năm Mậu Tuất cũng sẽ có nhiều cơ hội và rủi ro lẫn lộn. Việt Nam đang trải qua những năm tháng đầy sóng gió của thời kỳ hội nhập và chuyển đổi còn dang dở và hỗn độn, với chiến dịch chống tham nhũng ngày càng quyết liệt. Nhưng năm mới ai cũng mong điều tốt lành và nuôi hy vọng trong họa có phúc, trong nguy có cơ, trong âm có dương, để “cùng tắc biến, biến tắc thông”.

NHỮNG ĐIỂM SÁNG VÀ KHOẢNG TỐI NĂM ĐINH DẬU

Theo Tổng cục Thống kê, Việt Nam đã đạt và vượt cả 13 chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội. Tăng trưởng GDP trong quý III/2017 đạt mức 7,46% so với 5,15% (quý I) và 6,28% (quý II), tính cả năm tăng 6,7% (cao nhất trong 10 năm qua). Khu vực nông lâm thủy sản tăng 2,78% so với năm trước (là 0,62%) trong khi khu vực dịch vụ tăng 7,25% so với năm trước (là 6,67%). Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mức 400 tỷ USD, riêng xuất khẩu nông thủy sản đạt mức 36 tỷ USD. Vốn FDI vượt mức 16 tỷ USD (cao nhất từ trước đến nay). Đó là những điểm sáng đầy ấn tượng của năm 2017.

Tuy thành tích nói trên không thể phủ nhận, nhưng cũng gây tranh cãi. Các chuyên gia kinh tế có những cách lý giải và đánh giá hơi khác nhau. Tiến sĩ Trần Đình Thiên (Viện trưởng Viện Kinh tế) lý giải trong năm 2016 vốn đầu tư của khu vực tư nhân tăng 48% đã “trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP trong năm 2017… Khi nguồn vốn nhà nước gặp khó khăn thì nguồn vốn của tư nhân đã bù đắp cho động lực tăng trưởng”. Trong chín tháng đầu năm 2017, tuy vốn đầu tư của tư nhân tiếp tục tăng 43,5%, nhưng xu hướng này chậm lại có thể tác động đến tăng trưởng GDP năm 2018. Tuy tăng trưởng GDP trong mấy năm vừa qua không tồi (trung bình trên 6%), “nhưng cơ cấu tăng trưởng vẫn chậm thay đổi, nên kinh tế chậm trưởng thành, làm doanh nghiệp chậm lớn”.

 hn7

Ảnh : những người bán hàng rong

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thành (Giám đốc Phát triển, trường Đại học Fulbright Việt Nam) cho rằng “chưa năm nào có sự cải thiện tăng trưởng từ quý I đến quý III như năm nay… Với dự kiến quý IV còn cao hơn nữa… Có lẽ không cần đợi số liệu thực tế vào cuối năm, chính phủ đã có thể báo cáo ngay với Quốc hội là mục tiêu tăng trưởng 6,7% của 2017 sẽ đạt được”.  Ông Nguyễn Xuân Thành phân tích (trong 9 tháng đầu năm 2017) “trong khi điện chỉ tăng 8,3%, thì làm sao công nghiệp chế biến – chế tạo tăng được 12,8%?”. Theo quy luật và kinh nghiệm những năm trước, khi GDP tăng 6 – 6,5%, và công nghiệp chế biến-chế tạo tăng 11 – 12% thì điện phải tăng 11 – 12%.

Trong khi dư luận mừng thì các chuyên gia kinh tế quan tâm đến chất lượng tăng trưởng. Liệu tăng trưởng GDP cao hơn có phản ánh đúng thực chất bức tranh kinh tế?  Ông Lưu Bích Hồ (nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển) nhận xét chỉ số tăng trưởng cao trong quý III/2017 “rất khó hiểu và khó lường”. Tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội (12-10-2017) Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Tăng trưởng GDP 6,7% nhưng tăng thu ngân sách so với dự toán chỉ 2,3%? Giải ngân vốn đầu tư thì chậm mà tăng trưởng lại cao, điều này nghe có mâu thuẫn?” (Tăng trưởng kinh tế ấn tượng dựa vào đâu? Thanh niên 13-10-2017).

Theo thông báo chính thức, Chính phủ sẽ mời TBT Nguyễn Phú Trọng đến dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị mở rộng tổng kết năm 2017 với các địa phương (28/12/2017). Đây là một sự kiện chưa từng có tiền lệ từ trước tới nay, như một dấu hiệu “nhất thể hóa Đảng và Chính phủ”, tiếp theo Hội nghị TW 6 đã mở màn chủ trương “nhất thể hóa” với triển vọng thay đổi về nhân sự trong hai năm tới. (VNEconomy 15-12-2017).

 hn4

Ảnh : Khách sạn bốn mùa

Trong bốn động lực tăng trưởng chính của Việt Nam (kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, nông nghiệp và FDI), chỉ có khu vực FDI là “ăn nên làm ra”. Tiến sĩ Võ Trí Thành (nguyên Viện phó Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương) cho rằng Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP 6,7% chủ yếu nhờ vào tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu của Samsung. Theo chuyên gia thống kê Vũ Quang Việt, “nếu thống kê theo tiêu chí của Liên Hiệp Quốc thì xuất khẩu của Samsung, Intel, Nike, v.v. thực chất là xuất khẩu của Hàn Quốc và Mỹ, không được ghi là của Việt Nam. Đây là hàng hóa thuộc sở hữu của nước ngoài do họ định giá và gửi tới khách hàng của họ ở nước khác, và họ chỉ trả phí gia công cho Việt Nam. Như vậy, Việt Nam chỉ xuất 5-10% phí gia công trên tổng số 41 tỷ USD hàng điện thoại di động của Hàn Quốc xuất khẩu từ Việt Nam”.

Bức tranh kinh tế năm 2017 có những khoảng tối, trong đó có sự kiện trạm thu phí BOT Cai Lậy đã đặt sai chỗ và tận thu phí khiến người dân bức xúc nên đã phản ứng quyết liệt. Giống như sự kiện Đồng Tâm, Cai Lậy đã trở thành một sự kiện truyền thông lớn được báo chí cả nước lên tiếng. Nhưng câu chuyện BOT giao thông không phải mới xảy ra mà đã âm ỷ suốt mấy năm qua. Nó không chỉ liên quan đến ngành giao thông, mà còn làm bộc lộ những góc khuất của cơ chế độc quyền đã bị các nhóm lợi ích thân hữu thao túng để làm giàu bất minh, làm khủng hoảng lòng tin của nhân dân.

Một sự kiện khác gần đây làm dư luận xôn xao là EVN vừa quyết định tăng giá điện lên 1.720,65 đồng/kwh (bằng 6,08%) từ 1-12-2017. Đợt tăng giá lần này diễn ra trong bối cảnh giá than trên thế giới tăng cao làm các nhà máy nhiệt điện chạy than (gây ô nhiễm môi trường) bị thua lỗ (do phải nhập than giá cao). Nhưng nếu không tăng giá để “bù lỗ vào dân” do hệ quả kép của chủ trương đầu tư trái ngành (trước đây) và vào nhiệt điện (gần đây) thì EVN có thể phá sản (vì nợ gần 487,000 tỷ VNĐ).

CƠ HỘI VÀ RỦI RO NĂM MẬU TUẤT

 hn12

Mặc dù có nhiều dự báo thế giới tiếp tục chu kỳ tăng trưởng trong năm 2018-2019, nhưng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2018 vẫn là một bài toán đố khó giải, vì năm mới còn nhiều ẩn số. Hầu hết các chuyên gia kinh tế đều cho rằng khả năng bứt phá trong năm 2018 chắc không thuận lợi bằng năm 2017. Rủi ro vĩ mô có thể đến từ việc làm thế nào giữ được tăng trưởng bền vững trong môi trường lạm phát thấp. Họ khuyến nghị cần xử lý hài hoà giữa tăng trưởng ngắn hạn và tái cấu trúc thể chế, đồng thời chú ý đến diễn biến phức tạp trên thế giới và khu vực, vì thách thức lớn nhất thường đến từ bên ngoài. Có lẽ vì vậy mà Quốc hội đã thận trọng đặt ra mục tiêu tăng trưởng cho năm 2018 ở mức 6,5 – 6,7% (thấp hơn hoặc tương đương với mức tăng trưởng năm 2017).

Theo ông Trần Đình Thiên, động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trước đây đã cạn kiệt, phải thay bằng động lực mới. Cần tái cơ cấu và đổi mới thể chế làm nền tảng cho tăng trưởng, nhưng mấy năm qua vẫn chưa làm được. Hiện vẫn còn 5.719 giấy phép kinh doanh và các doanh nghiệp muốn thành lập vẫn phải xin mấy chục thứ giấy phép. Sắp tới phải tập trung dọn dẹp các cơ chế và điều kiện kinh doanh trói buộc doanh nghiệp. Trong ba năm tới Chính phủ cần cải cách thể chế, tập trung vào các mục tiêu cơ bản dài hạn, không nên ưu tiên phát triển ngắn hạn bằng mọi giá (The Leader 11-12-2017).

Về câu chuyện cổ phần hóa, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nói “đây là chủ trương đúng, song khi thực hiện không nên cố làm bằng mọi giá…cứ được giá là bán mà không tính đến nguy cơ để mất những thương hiệu lớn”. Việc bán “thành công” 53,59% cổ phần Sabeco cho Thai Beverage là một ví dụ về “lợi bất cập hại” chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không tính đến thiệt hại lâu dài (như “khôn nhà dại chợ”). Nếu muốn phát triển bền vững thì đừng “tham bát bỏ mâm”. Nhà báo Vũ Kim Hạnh đặt câu hỏi, “đây là bước đi tình cờ hay cái bẫy thâu tóm?” sau khi Berli Jucker đã thâu tóm cả hệ thống bán lẻ Metro C&C. Sau Vinamilk là Sabeco, và sau Sabeco chắc là Habeco.

Việc xử lý 12 dự án trọng điểm của ngành công thương trong năm 2017 tuy có một số kết quả bước đầu, nhưng chưa đủ quyết liệt nên các tồn đọng chắc được chuyển sang năm mới. Năm 2018 không hứa hẹn điều gì tốt lành cho những “sân sau” của các nhóm lợi ích thân hữu thao túng nền kinh tế. Nếu Chính phủ quyết liệt triển khai kế hoạch “tái cơ cấu ngân hàng”, một số ngân hàng yếu kém sẽ đứng bên bờ vực phá sản.

hn6

Ảnh : các cô gái Vietnam.

Nợ công của Việt Nam gần đây dường như đang “đi vào ổn định” khi số nợ của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước (khoảng 230 tỷ USD) không được đưa vào tổng số nợ công quốc gia, vì vậy mức nợ công chính thức của Việt Nam chỉ “sát trần” (65% GDP), mặc dù nếu tính theo thông lệ của Liên Hợp Quốc (như ông Vũ Quang Việt đã đề cập) thì nợ công của Việt Nam vào khoảng 450 tỷ USD (bằng 210% GDP).

Sang năm 2018, quan hệ Việt-Trung vẫn phức tạp. Trung Quốc không chỉ theo đuổi tham vọng kiểm soát Biển Đông mà còn muốn từng bước kiểm soát kinh tế Việt Nam bằng cách đầu tư vào các dự án trọng điểm, mua lại cổ phần các doanh nghiệp lớn, lập các khu hợp tác kinh tế qua biên giới theo mô hình “hai nước một khu vực thương mại” (khép kín). Theo ông Vũ Quang Việt, cho đến nay không có hiệp định thương mại nào quy định về tự do mua bán doanh nghiệp vì bán hay không là quyền của mỗi nước. Vì vậy không nên để cho nước ngoài (đặc biệt là Trung Quốc) mua và kiểm soát các doanh nghiệp lớn (ảnh hưởng đến an ninh kinh tế). Đến nay, cũng chưa có nước nào trong khu vực cho phép tư nhân nước ngoài làm chủ đất đai (nguy hại đến chủ quyền quốc gia).

Theo Bộ Công Thương (năm 2016), trong khi Việt Nam xuất siêu sang Mỹ 29,4 tỷ USD thì nhập siêu của Trung Quốc 28 tỷ USD (chưa tính qua đường tiểu ngạch gần 20 tỷ USD). Tuy xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam ngày càng quan trọng, nhưng hiện nay nông nghiệp của Việt Nam lạc hậu khoảng 20 năm so với Trung Quốc. Hầu hết hàng hóa nhập từ Trung Quốc thường là các loại vật tư nông nghiệp đã lạc hậu khoảng bảy đến mười năm. Hơn nữa, việc buôn lậu và gian lận thương mại được bảo kê bởi các ban ngành chức năng cùng với thương lái, đang giết chết dần sản xuất trong nước.

Tuy Việt Nam vẫn phải làm ăn với Trung Quốc nhưng phải thận trọng và cảnh giác. Cần tạo dựng lòng tin với các đối tác chiến lược khác (như Mỹ, Nhật, Ấn, Úc) làm đối trọng để cân bằng và đa dạng hóa quan hệ. Chiến lược đa phương hóa của Việt Nam là đúng nhưng cần vận dụng linh hoạt để tập hợp lực lượng và xây dựng lòng tin (qua TPP-11 và EVFTA) nhằm đối phó hiệu quả hơn với tham vọng của Trung Quốc.