Những bản dịch Thơ ngụ ngôn La Fontaine sang tiếng Việt

Gần năm thế kỷ trôi qua, những bài học đạo đức ý nghĩa được truyền tải một cách dí dỏm và hấp dẫn trong Thơ ngụ ngôn La Fontaine dường như vẫn còn giá trị trong thời hiện đại. Sau bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh được in thành sách lần đầu tiên vào năm 1916, một số dịch giả khác, trong đó có Nguyễn Trinh Vực, tiếp tục chuyển ngữ những vần thơ của thi hào Pháp một cách thuần Việt hơn và hợp với truyền thống Việt Nam. Kể từ đầu những năm 1980, nhiều nhà xuất bản như Giáo Dục, Kim Đồng, Văn Học, Thế Giới, Mỹ Thuật, luôn quan tâm tái bản Thơ Ngụ ngôn La Fontaine của hai dịch giả trên.

Tháng 01/2017, sau hơn 100 năm bản dịch sang tiếng Việt đầu tiên được phát hành, nhà xuất bản Nhã Nam và Hội Nhà Văn cho tái bản tác phẩm song ngữ Việt-Pháp Thơ Ngụ ngôn La Fontaine (dịch ra văn vần) do dịch giả Nguyễn Trinh Vực thực hiện với phần tranh minh họa của họa sĩ Mạnh Quỳnh và được nhà xuất bản Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) phát hành năm 1945.

Trả lời RFI tiếng Việt, anh Nguyễn Xuân Minh, trưởng phòng bản quyền của NXB Nhã Nam, giải thích lý do chọn ấn bản song ngữ này :

“Nhã Nam được thành lập bởi bốn người rất yêu sách và đam mê văn học mà trong số đó có một người sưu tầm sách cũ và sách cổ. Trong bộ sưu tập của anh đấy có cuốn Truyện cổ La Fontaine do dịch giả Nguyễn Trinh Vực dịch và họa sĩ Mạnh Quỳnh minh họa. Ngoài ra cũng có bản của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh, cũng do họa sĩ Mạnh Quỳnh minh họa. Nhưng vì bản dịch của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh đã có rất nhiều nhà xuất bản khác của Việt Nam tái bản rồi và bản dịch của Nguyễn Trinh Vực cũng là một bản dịch xuất sắc không kém cho nên Nhã Nam muốn giới thiệu lại bản dịch này cho độc giả, với các hình minh họa rất đẹp và đậm đà chất Việt Nam của họa sĩ Mạnh Quỳnh”.

Đúng vậy, những vần thơ tiếng Pháp được dịch giả Nguyễn Trinh Vực tài tình chuyển sang các thể thơ dân gian Việt Nam quen thuộc, dễ đi vào lòng người như lục bát, song thất lục bát, lục bát gián thất hay thơ năm chữ, với nhiều điển tích cổ của Việt Nam. Nội dung câu chuyện lại rất đỗi bình dị, được hư cấu từ những nhân vật chính là những con vật thân quen, cùng với phần tranh minh họa gần gũi với văn hóa Việt của họa sĩ Mạnh Quỳnh càng lôi cuốn người đọc. Chính vì điểm này, Nhã Nam quyết định tôn trọng bản gốc năm 1945.

“Ấn bản 2017 của Nhã Nam xuất bản Truyện cổ La Fontaine tôn trọng hoàn toàn bản được xuất bản lần đầu tiên. Tuy nhiên, có một số quy tắc chính tả đã thay đổi rất nhiều nên chúng tôi chỉ chỉnh sửa một chút xíu phần chính tả và dựa theo quy tắc chính tả hiện hành. Ngoài ra, các cách thức trình bày, minh họa và cách đặt minh họa từng trang, kể cả phần song ngữ, đều hoàn toàn tôn trọng theo ấn bản xuất bản lần đầu tiên”.

Ấn bản năm 1945 chỉ được in mầu ở trang bìa đầu và cuối, còn bên trong là hình vẽ đen trắng. Đáng tiếc là có rất ít thông tin về sự nghiệp của Nguyễn Trinh Vực. Còn họa sĩ Ngô Mạnh Quỳnh (1917-1991) được biết đến như một họa sĩ tiên phong trong lĩnh vực sáng tác truyện tranh của Việt Nam. Ông là cây cọ chủ lực cho tờ báo nhi đồng đầu tiên Cậu Ấm – Nhi đồng giáo dục (02-05/1935), sau này được đổi thành Cậu Ấm Cô Chiêu (1935-1937). Khi minh họa cho Thơ Ngụ ngôn La Fontaine, những con vật hiện ra ngộ nghĩnh, thân quen dưới nét vẽ của Mạnh Quỳnh. “Ngay cả con vật dữ tợn như sư tử, sói… cũng đều biết cười ! Và trông nét mặt chúng đáng yêu làm sao !”, như một nhà bình luận từng viết.

Bìa Truyện Ngụ ngôn La Fontaine, bản dịch của Nguyễn Trinh Vực năm 1945, NXB Nhã Nam tái bản năm 2017.NXB Nhã Nam

Dịch tác phẩm nước ngoài để làm giầu văn học và chữ quốc ngữ

Trước bản dịch của Nguyễn Trinh Vực, cần phải nhắc đến bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh. Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiều trí thức cựu học nhưng theo xu hướng cởi mở và trí thức tân học rất chú ý đến văn học Pháp. Với họ, dịch các tác phẩm Pháp là cơ sở để sáng tác văn học Việt Nam. Vì thứ nhất văn xuôi (văn vần) còn chưa phổ biến, ngoại trừ các thể loại thơ. Thứ hai, chữ quốc ngữ còn nghèo nàn và chỉ được một bộ nhỏ trí thức và quan lại sử dụng. Vì vậy, viết báo và dịch văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học Pháp, là các cách hiệu quả để cải thiện và làm giầu chữ quốc ngữ.

Lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, thi sĩ La Fontaine được phiên âm qua Hán-Việt là Lã Phụng Tiên. Khi làm chủ biên tờ Đại Nam Đăng Cổ Tùng báo, ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch nhiều bài trong tuyển tập Thơ Ngụ ngôn La Fontaine và lần lượt đăng trên báo từ năm 1907, như Con ve và con kiến hay Con sói và con chiên con (con cừu)…

Năm 1916, Nguyễn Văn Vĩnh cho xuất bản hai tập Thơ Ngụ-ngôn của La Fontaine tiên-sanh diễn quốc âm trong nhóm III của tủ sách “Phổ thông giáo khoa thư xã” (Bibliothèque franco-annamite de vulgarisation) do François-Henri Schneider, ông chủ nhà in kiêm nhà xuất bản cùng tên, thành lập. Cũng trong nhóm III, chuyên về Văn Học, Nguyễn Văn Vĩnh còn cho in thêm một số tác phẩm văn học dân gian khác của Pháp, như Truyện trẻ con của Perrault tiên-sanh diễn nôm (les Contes de Perrault), Télémarque phiêu lưu ký (les Aventures de Télémarque), Bil Blas de Santillane, Guilliver phiêu lưu ký (le Voyage de Guilliver)

Năm 1928, lần đầu tiên tập Thơ Ngụ ngôn La Fontaine gồm 44 bài của Nguyễn Văn Vĩnh được họa sĩ Mạnh Quỳnh minh họa trong ấn bản do NXB Trung Bắc Tân Văn phát hành. Đến năm 1943, tập thơ được NXB Alexandre de Rhodes tái bản. Trong phần “Mấy lời của dịch giả”, nhà trí thức Nguyễn Văn Vĩnh viết :

“Tập dịch-văn này tôi làm ra kể đã lâu năm lắm rồi, khi còn ít tuổi, chưa làm văn vần bao giờ, mà đọc qua thơ La Fontaine cũng phải cảm-hứng, chấp chảnh nên vần, tuy lắm câu văn còn lấc-cấc lắm, nhưng các bạn độc-giả, cũng nhiều ông xét quá rộng cho là dụng công dịch lấy đúng. Đúng đây là đúng cái tinh-thần, chứ không có nề gì những chữ “hổ” đổi làm “sư-tử”, “cái gậy” đổi ra “con chó”, khiến cho những người thắc-mắc được một cuộc vui, ngồi soi-bói từng câu từng chữ, mà kể được ra có ba bốn chỗ dịch lầm…”

Bản dịch Thơ Ngụ ngôn La Fontaine của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh in lần đầu năm 1916, bản microfiche lưu tại BNF.RFI / Tiếng Việt

Sức lôi cuốn gần 5 thế kỷ…

Thơ ngụ ngôn La Fontaine nằm trong số những tác phẩm nổi tiếng thế giới dù đã gần… 500 tuổi ! Nhiều ấn bản đặc sắc, có minh họa hay sách đọc, vẫn thường xuyên được tái bản tại Pháp dành cho độc giả nhí từ 6 tuổi.

Jean de La Fontaine sáng tác thơ ngụ ngôn (Fables) trong khoảng những năm 1668 đến 1696, dưới triều đại vua Louis XIV, nổi tiếng thịnh vượng trong vương triều Pháp. Văn hóa cổ đại, đặc biệt là văn học Hy Lạp-La Mã, rất được ưa chuộng trong giai đoạn này. La Fontaine sử dụng một loại hình văn học thuần cổ đại, đó chính là truyện ngụ ngôn, để dạy dỗ hoàng tử.

Toàn bộ tác phẩm của La Fontaine được chia thành ba tập và lần lượt được đề tặng cho ba người thân cận của nhà vua : tập thứ nhất (xuất bản năm 1668) được dành cho thái tử kế nghiệp ; tập thứ hai (1678) dành cho Quý bà Montespan, ái phi được nhà vua sủng ái từ bốn năm qua ; tập cuối (1693) được đề tặng cho Louis de France, công tước vùng Bourgogne và là cháu của vua Louis XIV.

Các câu chuyện ngụ ngôn, được kể bằng văn vần hay bằng thơ, miêu tả cỗ máy hoạt động của chính thể chuyên chế thông qua biện pháp nhân cách hóa một số loài vật, như con hổ tượng trưng cho vương quyền. Thông qua những đoạn hội thoại và khéo léo sử dụng nghệ thuật trào phúng giữa những con vật, các câu chuyện có dụng ý “uốn nắn những phong tục, tật xấu bằng tiếng cười” với một bài học đạo đức rút ra sau mỗi câu chuyện hoặc được giải thích ở cuối hay ngay đầu bài.

Tôn trọng nguyên bản tập thơ được dịch từ năm 1945, NXB Nhã Nam giúp độc giả so sánh quá trình cải tiến của tiếng Việt, giới thiệu một tác phẩm văn học nổi tiếng của Pháp, song cũng qua đó, khẳng định những lời khuyên đầy ý nghĩa trong tập thơ ngụ ngôn vẫn còn giá trị trong xã hội hiện nay.

“Khi tái bản hiện nay, thì sách song ngữ Anh-Việt sẽ phổ biến hơn rất nhiều. Tuy nhiên, chúng tôi cũng có rất nhiều người yêu văn học Pháp và yêu Pháp ngữ nên chúng tôi vẫn quyết định tái bản song ngữ Pháp-Việt, một phần là dành cho các học sinh học tiếng Pháp có thể trau dồi thêm. Ngoài ra, chúng tôi nghĩ khi đã tái bản một ấn bản cũ thì nên tôn trọng ấn bản đó và chỉ chỉnh sửa tối thiểu có thể. Tôi nghĩ là tác phẩm này vẫn được độc giả Việt Nam đón nhận, dù có nhiều người không biết tiếng Pháp, thì họ vẫn có thể đọc phần tiếng Việt và xem phần tranh minh họa mà bỏ qua phần tiếng Pháp. Còn những người quan tâm đến phần dịch và biết tiếng Pháp thì vẫn có thể tham khảo”.

Advertisements

“Chiến tranh không mang một khuôn mặt đàn bà”

Một đêm đầu tháng Ba năm 1971, người ta dúi vào tay nữ hộ lý Bùi Thị Đoán một đứa trẻ đỏ hỏn.

Đêm ấy, chị Đoán đang trực ở bệnh viện tỉnh Thái Bình. Người phụ nữ lớn tuổi trình bày rằng ai đó đã gửi đứa trẻ cho bà để đi vệ sinh, rất lâu rồi không thấy quay lại. Mọi người hoảng hốt đốt đèn bão đi các gốc cây xung quanh để tìm. Rồi họ nhận ra: người mẹ đã cố tình bỏ đứa con ở lại.

Đoán từng là thanh niên xung phong. Ở cái tuổi lỡ thì, cô mang trong mình mặc cảm của một phụ nữ không bao giờ dám sinh con. Nhiều người đến tìm hiểu, nhưng Đoán không muốn lấy chồng. Cô sợ phải sinh ra những đứa con tật nguyền – nhiều đồng đội từ chiến trường của cô đã như thế.

Đoán muốn nhận cháu bé làm con. Bệnh viện không cho. Đoán cố nài. Cô đặt tên em bé là Tuấn. Những ngày tháng đói khổ ấy không có gì cho con ăn, chỉ có nước cơm vắt bằng vải màn, cho thêm chút đường. Cô làm cả giấy khai sinh cho con.

Tờ giấy khai sinh ghi tháng 5 năm 1971, đến bây giờ người mẹ vẫn giữ kỹ dưới đáy tủ, chưa một vết rách nào. Phía dưới, còn dòng ghi chú: “Con bỏ ngoài bệnh viện tỉnh. Chị Đoán cam đoan nuôi cháu như con đẻ. Phần cha bỏ trống”.

Ước mong làm mẹ của người nữ thanh niên xung phong ấy không kéo dài được lâu. Chỉ hai tháng sau, đứa trẻ ốm, rồi qua đời.

Năm 1981, chị Đoán được cho nghỉ mất sức. Trở về quê, không có nơi nương tựa, chị tìm đến cửa Phật. Đã hơn 30 năm, bây giờ sư Đoán là trụ trì chùa Văn – ngôi chùa làng nhỏ nằm trong xã Phú Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Thái Bình là mảnh đất đưa ra mặt trận nhiều thanh niên xung phong nhất trong chiến tranh chống Mỹ. Và chắc chắn không phải sự vô tình, bây giờ ở mảnh đất ấy, có đến gần 20 ngôi chùa có những nhà sư, từng là nữ thanh niên xung phong. Số phận của những người như Bùi Thị Đoán, trở thành một dạng điển hình.

Họ trở về từ chiến trường, trên mình mang mảnh đạn còn sót lại, hay là chất độc hóa học. Họ đã để lại tuổi đôi mươi trên những cung đường huyền thoại. Cô độc, ốm yếu và thậm chí mang cả nỗi ám ảnh. Họ tìm đến nơi cửa Phật.

Đôi khi, là sau những ước mơ cuối cùng của người phụ nữ không thành

Trong bão lửa

Ga Gôi, Nam Định, 4 giờ chiều 20/8/1966.

Đoàn tàu quân sự vừa tập kết xong hàng hóa, chuẩn bị đi Thanh Hóa chi viện cho chiến trường. Máy bay Mỹ ập tới, bắn tên lửa và thả bom. Đoàn tàu bốc cháy.

Các chiến sĩ thanh niên xung phong thuộc C895 và C894 xông vào cứu số hàng, trong đó có hai cô gái Bùi Thị Đoán và Nguyễn Thị Phương.

50 năm không khiến cho ký ức về ngày hôm đó phai nhạt. Họ kể cùng một câu chuyện. Những thùng hóa chất bén lửa, tỏa khói nồng nặc. Những thùng hàng trên vai mà các cô cố vác ra khỏi đoàn tàu, cũng đã vỡ, hóa chất chảy lên đầu, lên cổ. Da họ cháy. Nhiều người xỉu tại chỗ.

Đoán và Phương tỉnh dậy tại bệnh viện đường sắt ngoài Hà Nội. Hình ảnh cuối cùng họ còn nhớ là đồng đội nằm la liệt trên sân đình Gôi. 23 người chết, 256 người bị thương và nhiễm độc.

Bây giờ Ga Gôi vẫn còn bia tưởng niệm. Hằng năm, cứ đến ngày 20/8, nhiều đồng đội lại về đây thắp hương.

Cuộc đời người sống sau trận Ga Gôi rẽ theo nhiều hướng. Người vào chiến trường B, người thì chuyển ngành. Họ đều không thoát được dấu vết của trận đánh.

Sư Đoán trong sân chùa Văn

Đoán bị tâm thần. Bây giờ sư không thể nhớ được những ngày ấy nữa, chỉ biết đồng đội thỉnh thoảng về thăm vẫn kể là bị nặng, cứ lang thang, ra đồng mò cua bắt ốc ăn – đơn vị phải cử người chăm sóc.

Tỉnh táo được một chút, về quê làm hộ lý ở bệnh viện tỉnh, cô cũng nay ốm mai đau, ngất lên ngất xuống. Cô không lấy chồng. Nhiều đồng đội của cô không cưỡng được mong muốn làm mẹ và đã có hơn 20 đứa trẻ mang di chứng chất độc hóa học sinh ra từ buổi chiều Ga Gôi ấy.

Nguyễn Thị Phương ở đơn vị khác, cứu một toa tàu không bốc cháy, di chứng không nặng nề như Đoán, nhưng cũng đau yếu luôn luôn.

Sư thầy Thích Đàm Phương bây giờ là trụ trì chùa Cau Đẻ, ở huyện Vũ Thư. Bà không còn muốn nhắc lại chuyện xưa. Bốn mươi năm theo Phật, bà dường như đã tìm thấy tịnh độ. Sư chỉ than thở chuyện cơ thể đau nhức, không đi thăm được đồng đội nữa. “Nhưng sống được đến tuổi này, cũng là nhờ Phật rồi”.

Hỏi về ký ức, thầy bảo “ông Phạm Tiến Duật đã viết rồi”. Hóa ra, cuộc đời bà đã thành một tứ thơ.

Sư thầy Thích Đàm Phương trong buổi tụng kinh chiều

“Chiến tranh Phương trở về quê mẹ

Năm năm rồi mười năm lặng lẽ

Ngày mưa ngày nắng, ngày ốm ngày khỏe

Phương thành cô giữ trẻ cho làng

Rồi một buổi mai chỉ còn váng nắng

Nghe tin Đạt hy sinh ngoài mặt trận

Nguyễn Thị Phương vào chùa, cắt tóc đi tu…

Phương thành sư thầy Đàm Phương là thế

Nửa đời trước hy sinh

Nửa đời sau nữa, lại hy sinh…”

Bản thân các thầy cũng không biết tại sao đất Thái Bình lại có nhiều nữ thanh niên xung phong xuất gia như thế. Chỉ biết, họ gặp lại nhau khi cùng xuống tóc.

Trong cửa thiền

Họ tìm thấy điều gì nơi cửa Phật?

Sư Dậu không thể diễn giải một cách mạch lạc câu hỏi ấy. Đầu bà có vết sẹo lớn và cả mảnh bom bên trong. Câu chuyện của bà không trôi chảy, chỉ có những mảnh ký ức vụn ghép lại. Sư hay đau đầu, và người ta kể, thỉnh thoảng vẫn bỏ đi lang thang.

Sư cũng chẳng trở thành trụ trì được. Bây giờ sư được giao trông một ngôi chùa cũ, thật ra là một cái miếu có thờ Phật ở huyện Đông Hưng. Làng nghèo, chùa cũng xác xơ. Đến bữa, sư nấu cơm trắng, hái rau trong vườn chấm muối ăn.

Nhưng sư thích kể chuyện. Sư đem ra mấy quả chuối cũ, mời phóng viên ăn, rồi nhẩn nha kể chuyện. Câu trước là chiến trường biên giới phía Bắc những năm 80, đến câu sau đã là sự đùm bọc của đồng bào Tây Nguyên những ngày chống Mỹ. Và sư kể nhiều về một thanh niên tên Trác – một con nghiện, sư nuôi trong chùa này mấy năm trước.

Trác là Chí Phèo của Đông Các. Vào tù ra tội, không nhà không cửa, lúc lên cơn nghiện, Trác đi quấy phá, dọa nạt, xin đểu trong chợ làng. Nhưng sư Dậu kể, lúc hết cơn, Trác rất ngoan: hắn xin vào chùa để quét tước, giúp việc. Rồi sư bảo Trác ở lại hẳn trong chùa.

Sư cho Trác một chỗ ngủ trong miếu, một cái nồi cơm và gạo riêng. “Ai cho cái gì sư cho nó cái nấy”. Sư dạy Trác, ra chợ muốn ăn cái gì thì chắp tay xin, đừng đi ăn cướp. Bà con cũng hiểu, coi hắn như người của nhà chùa đi khất thực. Cứ thế, Trác sống được nửa năm cùng sư Dậu.

Nhưng rồi Trác vẫn lên cơn, cầm dao dọa sư, phá phách trong chùa. Sư không bận lòng. “Tôi chết mà người làng được sống yên thì mới có ý nghĩa. Tôi sống mà người ta chết thì chẳng nghĩa lý gì”, bà nói với chính quyền. Mọi việc Trác làm, sư cứ lờ đi. Trác đi bậy trong chùa, sư theo dọn. Trác dùng loa đàn hát giữa đêm, sư lại nhờ người gỡ cái loa ấy xuống.

“Ở chiến trường tôi còn chẳng sợ”, sư cười.

Đêm nọ, Trác tưới xăng khắp chùa, cầm dao vào phòng sư. Hắn đòi một tỷ, nếu không sẽ giết sư và đốt chùa. Sư bảo, nếu giết, sư phải cảm ơn anh. Rồi bà ngồi trên giường niệm Phật.

Cái giường bây giờ vẫn để nơi góc chùa. Đã cháy đen. Trác châm lửa đốt chùa thật. Rạng sáng ấy trời mưa và người làng đến kịp.

Sư Dậu bên chiếc giường đã cháy đen

Cậu Chí Phèo chùa Đông Minh ấy đã đi tù. Nhưng sư kể chuyện vẫn hồn nhiên – và vẫn khen – là ngày thường thằng ấy ngoan lắm, vẫn quét sân ở kia. Bà chỉ tay vào gốc mít, nơi vẫn còn vết cháy đen.

“Hình như nó mãn hạn tù, ra mấy tháng rồi”, một người làng ngồi trong sân chùa chêm vào.

Sư vẫn cười.

Không đi học giới luật để trở thành trụ trì, cũng không thể diễn giải những khái niệm cao siêu của Phật pháp, nhưng sư có thể kể chuyện thằng Trác.

Sư Đoán không phải cô gái duy nhất ngày ấy khước từ quyền làm vợ, làm mẹ của mình.

Ở Thái Bình bây giờ, người ta còn kể cho nhau nghe chuyện sư Thân ở chùa Đông Am. Người cùng hẹn ước thời thiếu nữ, tưởng đã hy sinh nơi mặt trận, bỗng một ngày trở về.

Mừng vui gặp lại người xưa, nhưng không đoàn tụ, cô gái Lương Thị Thân đã xuống tóc. Cô biết mình nhiễm chất độc da cam, không thể làm mẹ.

Người làng kể rằng người đàn ông ấy nhiều năm sau vẫn lên chùa mong sư thầy quay lại, nhưng đều bị chối từ.

Gần 20 nữ thanh niên xung phong không trở về với cõi trần ấy, chỉ là một ẩn dụ chiếu nhỏ của những gì Thái Bình đã cho đi và không nhận lại. Hàng nghìn thiếu nữ đã đi và để lại thanh xuân nơi chiến trường như thế, hoặc không bao giờ về quê nữa.

Họ đều không muốn nhắc nhiều chuyện xưa. Hơn ba mươi năm trong cửa thiền, mọi nỗi đau trở thành quá vãng.

Cũng có lúc họ nghẹn lời. Như sư Đoán, khi nói về đứa con năm xưa và mong ước làm mẹ.

Tấm giấy khai sinh 46 năm không một vết ố. Tôi vô tình nhìn thấy nó khi sư Đoán lần giở chồng giấy tờ cũ. Đằng sau tờ giấy, vẫn còn dòng bút phê: “Duyệt cấp sữa bồi dưỡng cho cháu”.

Đứa trẻ ấy đã mất mà không kịp uống hớp sữa nào trong đời.

VietnamNet

 

La Thăng, La Giáng, La Làng

 

Ngô Nhân Dụng

Dân Việt chẳng mấy ai quan tâm khi nghe tin ông Ðinh La Thăng bí thư Thành Ủy Sài Gòn, bị “kỷ luật.” La Thăng hay La Giáng, có thăng rồi có giáng, lên lên, xuống xuống chỉ là chuyện nội bộ của các tay chóp bu đảng Cộng Sản với nhau. Còn chế độ Cộng Sản thì tấn tuồng còn tiếp diễn.

Tới nay, đã có ba bốn ủy viên Bộ Chính Trị bị cảnh cáo kỷ luật như La Thăng, tuy nhiên lần này hơi khác. Trần Xuân Bách, Nguyễn Hà Phan được mời ra khỏi Câu Lạc Bộ Ba Ðình vì chính trị, hoặc khác biệt quan điểm, hoặc giành giựt địa vị. Trong bầy chó sói luôn luôn có một con đầu đàn, chúng sẵn sàng cắn cổ nhau chiếm ngôi thủ lãnh. Vụ La Thăng xuống thành La Giáng cũng có động cơ chính trị, vì Nguyễn Phú Trọng cần thủ tiêu các thủ hạ trong phe phái Nguyễn Tấn Dũng đang tan hàng. Nhưng nguyên do khiến Ðinh La Thăng sắp mất chức không hoàn toàn chỉ vì giành quyền lực. Lý do khác là Tiền, hàng triệu đến hàng tỷ đô la. Tiền là nguyên nhân lớn khiến bầy chó sói đang làm thịt lẫn nhau, vì bây giờ các đảng viên đều giác ngộ rằng có quyền là có tiền. Nắm quyền mà không biết biến hóa ra thành tiền thì thậm ngu, chí ngu, đám chúng sinh bên ngoài gọi là “Lú.”

Ðảng Cộng Sản đã thay đổi khiến nhiều đảng viên già tiếc quá khứ vàng son. Các đảng viên lớn tuổi hiện không có chức vụ, không nắm quyền hành, không có cơ hội tham nhũng làm giầu, bây giờ có thể đang ngồi thở than tiếc một thời “Ðảng còn trong sáng.” Thời đó, các đồng chí lãnh đạo chỉ giết nhau thôi! Ám sát, đầu độc, tai nạn xe cộ, tai nạn đi săn hay tai nạn tắm sông, quyết định hạ thủ các đồng chí do động cơ “hoàn toàn trong sáng!” Ðảng còn “giữ lý tưởng Cộng Sản” bởi vì cái “miếng đỉnh chung” hồi đó còn nhỏ quá, có chiếm cho một mình thụ hưởng cũng không ăn được mấy miếng. Dân chưa biết, có biết cũng chưa quen dùng đô la Mỹ. Vua quan được biếu vàng ôm nặng quá, cất giấu khó khăn. cùng lắm là đúc thành ghế, thành tượng vàng bày trong phòng khách, cũng bất tiện!

Bây giờ khác, kinh tế theo lối tư bản và đồng đô la Mỹ đã thay đổi mối tương quan giữa các đồng chí lãnh đạo. Vẫn nhờ chế độ độc quyền, độc đảng, nắm được quyền hành là sinh lợi lộc, điều này xưa nay ai cũng biết. Nhưng các đồng chí mới khám phá ra là lợi lộc có thể rất lớn, và rất “lưu hoạt” (tiếng ngân hàng Mỹ gọi là li-quýt) vì rất dễ cất giữ, dễ che đậy, không kềnh càng như vàng. Người khám phá ra vũ khí tiền bạc và mạnh tay sử dụng trong cơ cấu quyền lực đảng là Nguyễn Tấn Dũng. Thời Lê Ðức Thọ kéo Trường Chinh xuống hay Ðỗ Mười lật đổ Lê Khả Phiêu, họ phải dùng lý luận, nhân danh các chủ trương, đường lối, nhân danh cả “lý tưởng” và “ý thức hệ.” Nguyễn Tấn Dũng thay đổi sòng bài, không đánh tứ sắc mà đánh bài cào! Dũng làm chủ sòng, tận dụng thứ vũ khí mạnh hơn cả chủ nghĩa và lý luận: Tiền, trương mục ngân hàng, các ngân hàng nhận ký thác đồng tiền xanh, đô la Mỹ.

Nguyễn Tấn Dũng là người có “viễn kiến,” nhìn đâu cũng thấy tiền. Rừng, mỏ, đất đai, các hợp đồng khai thác hoặc thương mại là những thứ rất trừu tượng, tất cả đều có thể biến thành những dòng suối tuôn ra tiền, tích tụ suối thành sông, có thể chảy như thác. Nguyễn Tấn Dũng có đầu óc sáng tạo, bày ra nhiều cơ hội làm ra tiền hoàn toàn “trong vòng pháp luật.” Tất nhiên, chỉ có thứ pháp luật do một đảng độc quyền viết ra mới tạo được các cơ hội như vậy. Ruộng đất thuộc quyền làm chủ của tất cả nhân dân. Một câu như vậy viết trong Hiến Pháp rất trừu tượng cũng được biến hóa ra công cụ làm giầu. Bởi vì dân cầy không là chủ ruộng, họ chỉ được “nhân dân” cho quyền sử dụng, cho nên khi nào “nhân dân” lấy lại thì coi như đất được thu hồi! Bao nhiêu người bị cướp đất, cướp ruộng, nhưng trong ngôn ngữ lắt léo của đảng, những ruộng đất này chỉ “được thu hồi” mà thôi.

Thời đại Nguyễn Tấn Dũng đã sinh ra hai loại nhà giầu “mới lên.” Thứ nhất là những cán bộ nắm quyền ở địa phương, nhờ độc quyền của đảng thao túng ruộng đất làm giầu. Nhưng loại nhà giầu này chỉ làm ăn “quy mô nhỏ.”

Loại “nhà giầu mới” thứ hai không thèm “ăn quẩn cối xay” như thế. Ðám này nắm quyền ở trung ương, hoặc biết kinh doanh bọn quan lại đang cầm con triện và ký tên cấp giấy phép. Bọ họ làm ăn trên quy mô lớn. Những dự án bô xít, Formosa, cho thuê đất, thuê biển, thuê rừng đều nhân danh “chính sách lớn của đảng và nhà nước” và kinh tế toàn dân để biến tài người quốc gia thành những cái máng cho bầy heo tham lam vục mõm vào ăn. Các bộ trưởng và tướng lãnh thuộc quyền biết khai thác “đất quốc phòng” khắp nước, biến thành cơ sở kinh doanh, đã trở thành tỷ, tỷ phú. Những chính sách được công bố như tổng công ty, rồi lên tập đoàn kinh tế, chủ trương tập đoàn kinh doanh đa ngành của Nguyễn Tấn Dũng đều là các bộ máy chế hóa ra bao nhiêu tỷ, tỷ phú khác.

Tiêu biểu là Ðinh La Thăng, đứng đầu Tập Ðoàn Dầu Khí Việt Nam (PVN) từ năm 2005 đến 2011, đã thực hiện đường lối Nguyễn Tấn Dũng biến dầu khí thành đủ các món khác ra tiền bỏ túi. Năm 2008 mua 20% ngân hàng Ocean Bank, rồi tiền chuyển từ trong ngân hàng đi đâu không biết, cho tới lúc ngân hàng trống rỗng. Năm 2015, đảng và nhà nước đứng ra lãnh nợ, mua Ocean Bank với giá “zero đồng.” Thời Hồ Sỹ Thoảng đứng đầu PVN, cơ hội tham nhũng cũng nằm đầy trước mắt nhưng thế hệ đảng viên cũ này chưa biết cách khai thác. Cùng lắm là xây dựng một nhà máy lọc dầu 500 triệu Mỹ kim nhưng khai là tốn đến một tỷ. Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Tấn Dũng, với đầu óc sáng tạo, PVN trở thành một kho vàng hầu như vô tận cho các tham quan chia chác.

Loại “nhà giầu mới” thứ nhất kiếm tiền bằng cách chiếm đoạt ruộng đất ở địa phương, khi nhìn thấy loại thứ hai khai thác tài nguyên toàn quốc, chắc phải ganh tị. Tại sao mình là ủy viên trung ương mà lại “nghèo hơn” mấy thằng suốt đời chưa bao giờ lên tới cấp ủy? Chúng nó còn khinh mình là đám nhà quê gà què ăn quẩn cối xay! Bao nhiêu năm theo đảng để làm gì nếu không được đi vung vít chuyển hàng trăm triệu đô la đi gửi ở nước ngoài?

Nguyễn Phú Trọng đã khai thác mối bất mãn ngấm ngầm này khi lật đổ Nguyễn Tấn Dũng. Ðàn em theo Nguyễn Phú Trọng thấy cơ hội tham gia vào hàng ngũ nhà giầu mới thứ hai mở ra trước mắt. Nhưng trước hết, phải tiêu diệt đám tàn quân của Nguyễn Tấn Dũng. Anh nào, chị nào khôn hồn quay đầu hàng phục có thể được bao che. Anh nào nhanh chân chạy sớm thì hy vọng thoát. Nhưng những tay to đầu còn sống sót vẫn cần phải thanh toán. La Thăng biến thành La Giáng khi bị tập đoàn Nguyễn Phú Trọng dùng món võ La Lối, La Làng, dùng hệ thống báo đài của đảng tấn công trước, hạ bệ sau.

Nhưng người dân Việt Nam không thấy La Thăng bị giáng là chuyện đáng quan tâm. Vì khi nào còn chế độ độc quyền độc đảng thì sẽ còn cơ hội cho những tập đoàn La Lối, La Làng, La Hò, La Hét khác khai thác tài nguyên của dân tộc, kiếm đô la chia chác với nhau.

 

Những dự án tai tiếng thời ông Đinh La Thăng làm chủ tịch Tập đoàn Dầu Khí

(GDVN) – Trong số nhiều nội dung được Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề cập, vụ góp vốn vào OceanBank bị đánh giá là trái quy định, gây thiệt hại rất nghiêm trọng.

Ngày 26/4/2017 Ủy ban Kiểm tra Trung ương phát đi thông tin về một số vi phạm của Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) giai đoạn 2009 – 2015, trong đó đề nghị xem xét, thi hành kỷ luật đối với ông Đinh La Thăng hiện đang giữ chức vụ Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong báo cáo của Ủy ban Kiểm tra đã nhắc đến những dự án đầu tư thua lỗ của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam giai đoạn 2009-2011 khi ông Đinh La Thăng giữ vai trò Chủ tịch Hội đồng thành viên; thậm chí có những vấn đề bị đánh giá là “rất nghiêm trọng”.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị xem xét kỷ luật ông Đinh La Thăng. ảnh: NQ.

PVC thời Trịnh Xuân Thanh

Theo Ủy ban kiểm tra, Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí Việt Nam giai đoạn 2009 – 2015 đã thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; Chấp hành không nghiêm ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng trong việc kiểm điểm trách nhiệm để Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) thua lỗ nghiêm trọng.
Tổng doanh thu của riêng công ty mẹ chỉ vỏn vẹn hơn 510 tỷ đồng, trong khi lỗ lũy kế tính đến thời điểm 31/6/2013 lên tới hơn 4.212 tỷ đồng. Tổng lỗ lũy kế hợp nhất của toàn công ty lên tới 3.274 tỷ đồng.Tính đến hết tháng 6/2013, dưới thời ông Trịnh Xuân Thanh (Trịnh Xuân Thanh được bổ nhiệm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam năm 2009), tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của công ty này cực kỳ khó khăn.

Tính đến nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã khởi tố 12 đối tượng về hành vi Cố ý làm trái quy định… và tham ô tài sản, liên quan đến vụ thua lỗ và thất thoát gần 3.300 tỷ đồng xảy ra tại Tổng công ty xây lắp dầu khí Việt Nam. Trịnh Xuân Thanh bỏ trốn đi nước ngoài và bị truy nã quốc tế.

Trịnh Xuân Thanh thời còn làm việc tại Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) – ảnh nguồn PVC

Liên quan đến thua lỗ xảy ra tại Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam và đặc biệt những vi phạm của Trịnh Xuân Thanh, trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu IV cho rằng, Trịnh Xuân Thanh có liên quan tới nhiều sai phạm tại doanh nghiệp có vốn nhà nước, thua lỗ hàng nghìn tỷ đồng mà vẫn được luân chuyển qua nhiều chức vụ, làm đến Phó Chủ tịch một tỉnh là không thể chấp nhận được.

Tôi đề nghị, tất cả những ai có trách nhiệm trong việc dung túng cho ông Thanh đều phải được làm rõ.Tướng Thước nêu quan điểm: “Một mình Trịnh Xuân Thanh không thể nào gây ra những sai phạm dẫn tới thua lỗ hàng nghìn tỷ đồng.

Kể cả những ai đã nghỉ hưu mà có liên quan, ở mức độ nào thì cũng phải làm rõ để công bố chính thức cho toàn dân biết”.

Tại cuộc họp mới đây của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đưa ý kiến chỉ đạo yêu cầu phải tiếp tục tập trung lực lượng điều tra mở rộng vụ án xảy ra tại Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam; truy bắt, dẫn độ Trịnh Xuân Thanh về nước phục vụ điều tra, xử lý vụ án.

Dự án xơ sợi Đình Vũ “đắp chiếu”

Dự án xơ sợi Đình Vũ – Hải Phòng là minh chứng rõ nhất cho những sai lầm trong điều hành, chỉ đạo, phê duyệt dự án đầu tư của ông Đinh La Thăng thời còn làm lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí.

Trong kết luận của Ủy ban kiểm tra Trung ương không dưới 2 lần nêu vi phạm của ông Đinh La Thăng và Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam giai đoạn 2009 – 2015.

Một góc Nhà máy Sản xuất xơ sợi polyester Đình Vũ (PVTex, Hải Phòng) – nguồn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).

Ủy ban kiểm tra khẳng định, ông Đinh La Thăng có trách nhiệm trong việc ban hành chủ trương, quyết định đầu tư phân tán, dàn trải; thiếu kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện các dự án ở thời kỳ làm lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp;

Một số dự án phải dừng, giãn, hoãn tiến độ, thua lỗ kéo dài, gây thất thoát, lãng phí, mất vốn đầu tư, gây hậu quả rất nghiêm trọng (trong đó có Dự án Nhà máy sản xuất xơ sợi Polyeste Đình Vũ và các dự án nhiên liệu sinh học).

Dự án xơ sợi Đình Vũ là một trong 5 dự án thua lỗ đứng đầu của ngành Công Thương. Dự án có vốn đầu tư gần 7.000 tỷ đồng do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nắm giữ trên 75% vốn cổ phần, dự định dùng nguyên liệu từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất để chế biến thành xơ sợi, mục đích giúp Việt Nam tự chủ một phần nguyên liệu dệt may.

Tuy nhiên, chỉ sau hơn một năm hoạt động, nhà máy này phải liên tục “đắp chiếu”, lỗ hơn 1.700 tỷ đồng và đứng trước nguy cơ phá sản.

Việc thua lỗ tại dự án này có phần trách nhiệm của Vũ Đình Duy – người tự ý đi nước ngoài vào cuối năm ngoái, đến nay vẫn mất hút. Vũ Đình Duy được giao trọng trách là Tổng giám đốc từ tháng 7/2009. Đến tháng 2/2014, Vũ Đình Duy rời chức vụ này và được bổ nhiệm ở nhiều chức vụ khác.

Nói về nguyên nhân thua lỗ tại Dự án xơ sợi Đình Vũ, Tiến sĩ Cao Sỹ Kiêm – nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nhận định: “Nguyên nhân dẫn đến quản lý yếu tại Dự án xơ sợi Đình Vũ do quy định pháp luật, cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất cập, nhiều kẽ hở.

Bên cạnh đó năng lực quản lý của cán bộ công chức, viên chức trong doanh nghiệp nhà nước chưa theo kịp với yêu cầu của kinh tế thị trường, vẫn còn dáng dấp của kinh tế bao cấp”.

Chung nhận định, Phó Giáo sư – Tiến sĩ Phạm Quý Thọ (nguyên Trưởng khoa Chính sách công, Học viên Chính sách và phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho rằng, sai phạm, thua lỗ ở dự án xơ sợi Đình Vũ rất rõ, dù xử lý cá nhân nhưng gánh nặng để lại cho Chính phủ trong việc tái cơ cấu nhà máy này đang rất lớn.

Loạt dự án nhiên liệu sinh học dang dở

Trong kết luận Ủy ban Kiểm tra Trung ương ngoài dự án xơ sợi Đình Vũ – Hải Phòng, 3 dự án nhiên liệu sinh học đang gặp khó khăn là ethanol Dung Quất (Quảng Ngãi), dự án Ethanol Phú Thọ, Ethanol Bình Phước được Tập đoàn Dầu khí phê duyệt đầu tư cũng được nhắc đến.

Theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ông Đinh La Thăng cùng lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam giai đoạn 2009 – 2015 đã thiếu kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện các dự án, dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp; một số dự án phải dừng, giãn, hoãn tiến độ, thua lỗ kéo dài, gây thất thoát, lãng phí, mất vốn đầu tư.

Một góc dự án Nhà máy nhiên liệu sinh học Bio-Ethanol Dung Quất (một trong 3 dự án nhiêu liệu sinh học Bio-Ethanol không hiệu của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) – Ảnh Báo Đầu tư.

Trước đó từ tháng 10/2007 đến tháng 3/2009, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã quyết định chủ trương đầu tư, chỉ đạo các đơn vị thành viên góp vốn thành lập 2 công ty cổ phần và 1 công ty liên danh để thực hiện đầu tư 3 dự án sản xuất ethanol nhiên liệu tại 3 miền gồm: Nhà máy nhiên liệu sinh học tại Phú Thọ, Khu kinh tế Dung Quất – Quảng Ngãi và tại Bình Phước.

Mỗi nhà máy có công suất 100 triệu lít/năm, nguồn vốn đầu tư do các cổ đông góp 30% và 70% phải đi vay ngân hàng.

Tuy nhiên, qua thanh tra, Thanh tra Chính phủ nhận định: Cả 3 dự án này tính đến nay, đều không đạt hiệu quả về đầu tư. Vác nhà máy đi vào hoạt động đều thua lỗ lớn và hầu như không vận hành thương mại.

“Toàn bộ vốn đầu tư vào 3 dự án với tổng số tiền đã thanh toán tính đến tháng 11.2014 là 5.401 tỷ đồng chưa có hiệu quả”, Thanh tra Chính phủ khẳng định.

Thị sát, nắm bắt tình hình tại một số Nhà máy nhiên liệu sinh học ethanol Dung Quất, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh: “Phải xử lý kiên quyết, khẩn trương, nhà nước không bỏ thêm tiền cho các dự án này”.

Phó Thủ tướng chỉ đạo Ban Quản lý dự án Ethanol Quảng Ngãi… khẩn trương tính toán sự cần thiết, chi phí bỏ ra so với lợi ích thu về… để tái khởi động nhà máy do đã ngừng hoạt động trong thời gian dài.

Mất 800 tỷ vào OceanBank

Trong báo cáo, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm của ông Đinh La Thăng và dàn lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí giai đoạn 2009 – 2015 trong việc góp vốn vượt mức quy định vào OceanBank, trái quy định của luật Các tổ chức tín dụng, gây thiệt hại rất nghiêm trọng cho Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam.

Trước đó, cơ quan cảnh sát điều tra đã khởi tố, bắt tạm giam ông Hà Văn Thắm (42 tuổi, nguyên chủ tịch Hội đồng Quản trị OceanBank). – ảnh nguồn Tuổi Trẻ

Năm 2008, với mục tiêu xây dựng một tập đoàn đa lĩnh vực, Tập đoàn Dầu khí bắt đầu đầu tư vào Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Dương (Oceanbank).

Theo đó tập đoàn này tham gia với vai trò cổ đông chiến lược đóng góp 20% cổ phần tại Oceanbank. Nhưng với sự sụp đổ của Oceanbank cùng vụ án Hà Văn Thắm, việc góp vốn vào OceanBank đã khiến Tập đoàn Dầu khí Việt Nam mất trắng 800 tỷ đồng.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận, trong việc góp vốn tại Oceanbank, ông Đinh La Thăng đã vi phạm Quy chế làm việc Hội đồng quản trị Tập đoàn trong việc ký thỏa thuận tham gia góp vốn tại Văn bản số 6934, ngày 18/09/2008 giữa đồng chí Đinh La Thăng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn và Chủ tịch Hội đồng Quản trị Oceanbank (có nội dung: Tập đoàn tham gia góp vốn 20% trở lên; cử cán bộ tham gia quản trị, điều hành; đề nghị các đơn vị thành viên sử dụng dịch vụ của Oceanbank) trước khi Hội đồng Quản trị Tập đoàn họp thống nhất nội dung trên.

Ngày 8/3, Tòa án Hà Nội đã quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung đại án kinh tế xảy ra tại Oceanbank. Một trong những lý do được nêu ra trong quyết định trả hồ sơ là liên quan đến số tiền thất thoát 800 tỷ đồng của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Mai Anh /Giaoduc