Lính Việt Nam thời Pháp !

Lính Annam trên quân trường St Raphael

Saint Raphael là một thị trấn ven bờ Địa Trung Hải, thuộc tỉnh Var trong vùng Provence-Alpes-Côte d’Azur ở phía đông nam nước Pháp. Thời kì thế chiến thứ nhất nơi đây được coi là một tổng kho tiếp vận với ga xe lửa đầu mối, đường ô tô. Nó cũng là một quân trường khổng lồ với những trại lính dưới chân núi. Với sự thuận lợi về khí hậu của vùng đất có đường bờ biển dài 36 km, Saint Raphael ngày nay trở thành một khu nghỉ mát nổi tiếng. Dưới đây là loạt ảnh những người lính Việt tại Tổng trạm Saint Raphael, chụp năm 1916, lúc Thế chiến thứ nhất đang vào hồi quyết liệt. Chú thích ảnh theo bình luận của những người lính diễn đànDựng nước – Giữ nước
 photo 434_005_zps4d3422f6.jpg
Những người lính An Nam xuống ga đầu mối Saint Raphael. Tầu hỏa thời bấy giờ khá sang trọng, mỗi toa được chia thành nhiều khoang có cửa lên xuống riêng.
 photo 434_001b_zps9f30c69d.jpg
Quân trang, quân phục tươm tất: ghệt da, áo buông ngoài quần, thắt lưng, ba lô vuông với chiếc nồi cá nhân dùng thay bát. Thứ lạ lẫm nhất đối với mấy nhân viên hỏa xa có lẽ là chiếc nón chóp của những người lính.
  photo 434_004_zpsaa356821.jpg
Hình thể những người lính Việt khá to cao và đồng đều, chứng tỏ họ được tuyển lựa khá kĩ càng.

 photo 434_009_zps2c91c255.jpg

Nghỉ giải lao trên đường ke nhà ga Saint Raphael. Chiếc điếu cày mang theo từ quê nhà cho phỏng đoán người lính này đến từ một miền quê Bắc Bộ.
 photo 434_008_zpsbadc0882.jpg
Những chiếc chiếu cói bên những chiếc ghế đi văng mây
 photo 434_001a_zpsa78ef73e.jpg
Những người lính bốc dỡ hàng từ các toa tầu xuống xe tải. Trời nóng một lính bỏ ghệt cho thoáng chân.
 photo 434_011_zpse2a09c3a.jpg
Cận cảnh những chiếc xe tải thời thế chiến thứ nhất. Có vẻ đó là xe của trung tâm huấn luyện cử ra đón hàng của đơn vị mới đến.
 photo 434_010_zps5e3a28f7.jpg
Người dân tò mò nhìn theo.
 photo 434_015_zps1a46b360.jpg
Những người lính theo xe tải đến một kho hàng trong khu vực nhà ga
 photo 434_012_zpse893f670.jpg
Họ băng qua thị trấn quân vụ
 photo 434_002_zps97c17d2a.jpg
Những người lính Việt hành quân ra khỏi ga, về trung tâm huấn luyên. Cùng lúc một tiểu đoàn khác, kết thúc khóa huấn luyên, hành quân ngược lại, ra ga. Họ đang ý ới gọi nhận đồng hương.
 photo 434_003_zpsaeb9d365.jpg
Những người đi cuối hàng quân bên trái tấm hình, với chiếc mũ ‘quả dưa hấu’ cài dắt vào ba-lô là các sĩ quan người Pháp. Có lẽ đơn vị trên đường ra chiến trường. Từ phía sau hàng rào mấy người dân địa phương ngó nghiêng dõi theo những người lính.
 photo 434_007_zps3fae3665.jpg
Đơn vị lính Việt đang tập kết ở sân ga, chuẩn bị lên tầu quân sự. Mặt trận nào là nơi họ đến?
 photo 434_006_zps25e8a66f.jpg
Những người lính đã ổn định trên tầu quân sự, chuẩn bị khởi hành ra mặt trận.
 photo 434_013_zps3d9e0cc5.jpg
Đơn vị lính mới đến hành quân về quân trường. Dân địa phương ra xem.
 photo 434_014_zpsb84ba5ba.jpg
Thiếu người đứng ngoài hàng quân chỉnh đốn, đơn vị này hành quân có vẻ lộn xộn
 photo 434_0202_zps86206335.jpg
Ngày đầu ở trung tâm huấn luyện. Những người lính tập trung nghe cấp chỉ huy phổ biến kỷ luật đơn vị. Những dãy núi xa mờ kia, chiều chiều những người lính hẳn vẫn hoài vọng nhớ thương về cố quốc.
 photo 434_019_zps177efc8b.jpg
Đội ngũ sẵn sàng trên bãi tập
 photo 434_021_zpseef71076.jpg
Tư thế tác phong chuẩn. Những người lính Việt được phép để râu, búi tóc.
 photo 434_0195_zps2eedbf91.jpg
Ra thao trường luyện tập
 photo 434_0196_zps901cfb51.jpg
Ngày đầu, không thể thoát bài tập đội ngũ chân có lạt, chân không có lạt
 photo 434_001c_zps512efc00.jpg
Sau khi thuần thục, chuyển sang học chiến thuật bộ binh. 

 photo 434_0191_zpsf086ff68.jpg

Đội hình chiến thuật “Ô vuông” nổi tiếng một thời? Nhưng thời điểm này (1916) trên chiến trường đã khá phổ biến đạn pháo. Đội hình bộ binh kiểu này “nướng” hết quân, một khi dính pháo địch.
  photo 434_0193_zps8c7d4eca.jpg
Vận động dưới làn hỏa lực súng máy.
 photo 434_0192_zps489a2d75.jpg
Mấy người lính chẳng để ý đến sĩ quan huân luyện chỉ nhìn ông phó nháy
 photo 434_0194_zps12fe46cc.jpg
Xung phong

Travailleurs  photo 434_016_zps029fa1e5.jpg
Người tập cứ tập, người làm cứ làm. Mùi rơm rạ gợi nhớ về những cánh đồng quê hương giờ xa tít chân trời.

Travailleurs  photo 959_026b_zpse35eee91.jpg

Một trong nhiều bức ảnh Văn phòng chiến tranh Pháp quốc cung cấp cho tạp chí The Illustrated War News của Anh.  Ngay tại thời điểm đó tạp chí cũng chỉ phỏng đoán đây là một kiểu bếp dã chiến.
Travailleurs  photo 435_001b_zpsd680086e.jpg
Nhà bếp Đại đội. Cơm được nấu trong những chiếc nồi trên những chiếc lò gang đốt củi. Mấy anh nuôi tranh thủ ăn trước để còn kịp chia cơm cho lính. Họ sử dụng thìa dĩa thay cho đũa. Mấy chiếc ghế con tự đóng rất thuần Việt.
 photo 434_0201_zps8af65732.jpg
Những người lính tập trung trước sân nhà ăn trước khi vào đánh chén cơm trưa. Họ cầm theo những chiếc ca tráng men, vì đứng nghe phổ biến nghị quyết nên những chiếc ca được giấu ra sau đít.
Travailleurs  photo 434_020_zps874e59ce.jpg
Mỗi người nhận khẩu phần ăn của mình vào một chiếc xoong nhỏ  rồi tuỳ nghi tìm chỗ đánh chén. Quang cảnh khu vực bếp ăn khá ồn ào. Có thể phân biệt được những người lính và cấp chỉ huy thông qua quân phục (tham khảo phụ ảnh cuối bài)
Travailleurs  photo 9521079259_f7176f8f93_o_zps47b4914a.jpg
Hai người này là lính thợ hay hạ sĩ quan. Họ tự bắc bếp nấu ăn.  Chiếc nồi đồng điếu đít rộng, cổ thắt trong câu ca dao quê nhà  Tiếc thay hạt gạo Tám thơm, Thổi nồi Đồng điếu, lại chan nước cà… Ta có thể gặp những chiếc nồi này trong nhiều bức ảnh những người lính Việt trong Thế chiến thứ nhất trên những nẻo đường hành quân khắp các mặt trận châu Âu.  Để ý, ta thấy nó  hơi khác với nồi truyền thống bởi sợi dây thép buộc ngang miệng nồi. Điều này rất hữu dụng, đặc chất lính. Khi cần, nó được buộc dây làm gàu múc nước, buổi tối làm sẵn một nồi nước, sáng ra có nước đánh răng rửa mặt, khỏi cần chen nhau. Khi không có gạch, đá kê bếpcó thể treo lên là đun được liền.
 photo 434_0203_zps6c7567e7.jpg
Giờ ăng trưa nên một số lính cởi bỏ áo ngoài vắt lên cành cây. Áo lót kẻ ngang của lính thuỷ quân lục chiến. Đa số nhóm lính này vẫn chưa đổi những chiếc nón chóp được phát từ quê nhà sang những chiếc mũ bê rê kiểu biệt kích.
Travailleurs  photo 9529061954_f4141e02d3_o_zpsea4845f2.jpg
Mỗi người một xoong, họ ngồi xổm trên mặt đất dùng thìa xúc đồ ăn
 photo 435_001c_zps682de6d9.jpg
les-tirailleurs-annamites-troupes-coloniales-1914-1918(2)
Phụ ảnh về quân phục của binh sĩ An Nam:  (1). Quân phục lính doanh trại (2). Quân phục tham gia chiến dịch khoảng năm 1910 (3). Quân phục lính doanh trại tại Pháp khoảng 1915 (4). Quân phục lính khoảng năm 1916 (5). Quân phục lính lao động khoảng năm 1916 (6). Quân phục lính lao động khoảng năm 1917 (7). Hạ sĩ quan (8). Quân phục tham gia chiến dịch 1917-1918
Những tấm bưu thiếp hiện diện người lính Việt ở quân trường Gallieni, St Raphael
 photo 109_001_zps103e2e0d.jpg

 photo 768_001_zps3100fe83.jpg

 photo 1726_zps7f8c9027.jpg

.
Advertisements

Kỷ luật Đinh La thăng: Chưa phải cao trào của bản giao hưởng

Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng (trái) đến dự lễ khai mạc kỳ họp Quốc hội tại Hà Nội ngày 20 tháng 10 năm 2016.

Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng (trái) đến dự lễ khai mạc kỳ họp Quốc hội tại Hà Nội ngày 20 tháng 10 năm 2016.Ảnh AFP

Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Đảng đề nghị Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương xem xét, thi hành kỷ luật đối với ông Đinh La Thăng, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh vì những vi phạm trong giai đoạn 2009-2015, khi làm Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam PVN.

Lật lại chuyện cũ

Thông báo vừa được phát đi, ngay sau đó, truyền thông chính thống trong nước gần như đồng loạt “mở chiến dịch đánh Đinh La Thăng”, theo cách nói của nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng. Ngay cả đó là những tờ báo từng ca ngợi Đinh La Thăng sau Đại hội 12 diễn ra nửa đầu năm 2016.

Với “bản luận tội’ do Uỷ ban kiểm tra Trung Ương Đảng đưa ra, ông Đinh La Thăng bị đề nghị kỷ luật vì những sai phạm trong thời gian làm Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam PVN trong giai đoạn từ 2009 – 2011.

Một câu hỏi được Giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam đặt ra trong vụ kỷ luật này, không chỉ liên đới với cá nhân người bị kỷ luật là ông Đinh La Thăng. Vấn đề ông đưa ra, Tập đoàn dầu khí quốc gia chính là quả đấm thép có tính chất quyết định, giữ một vị trí rất quan trọng trong ngân sách, thuế và lợi nhuận. Thế nhưng, câu hỏi ông đặt ra là “trong ngần ấy năm, một ngành dầu khí theo như kể tội của Uỷ ban kiểm tra này đưa ra nặng nề như thế, thì các vị lãnh đạo làm gì và chịu trách nhiệm đến đâu?”

Điều kỳ lạ là ông ta (Đinh La Thăng) chịu trách nhiệm về các vi phạm, với tư cách là nguyên Bí thư Đảng uỷ, nguyên Chủ tịch Hội đồng Tập đoàn dầu khí Việt Nam giai đoạn 2009 – 2011, thì lý do gì đến Đại hội thứ 12, người ta lại bầu ông vào trong Bộ chính trị, là cơ quan cao nhất của Đảng? Đó là logic gì? Tại sao khuyết điểm kéo dài như thế, tổn hại đến nền kinh tế quốc gia lớn thế mà lại không kỷ luật hồi ấy? mà vẫn đưa làm Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải?

Vì lý do gì đến bây giờ lại lôi cái kỷ luật cũ, trách nhiệm cũ để yêu cầu kỷ luật và thuộc phạm vi của Bộ chính trị xử lý?”

Vào tháng 2 năm 2016, Đinh La Thăng từ Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải trở thành Bí thư thành ủy TP HCM theo quyết định điều động nhân sự của Bộ Chính trị. Điều này từng gây tranh cãi rất lớn trong dư luận thời gian đó. Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng nhận xét tính chất của sự việc liên quan đến “dàn xếp về mặt chính trị và nhân sự”.

“Nhiều người cũng cho rằng có một thoả thuận ngầm giữa ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Tấn Dũng tại Đại hội 12, để sau đó ông Nguyễn Tấn Dũng rút. Và những người của Nguyễn Tấn Dũng như Đinh La Thăng, Nguyễn Văn Bình ở lại và lọt vào Bộ Chính Trị. Giới chính trị thường có những thoả thuận ngầm như vậy.”

Lý do để cho đến tận hôm nay, thời điểm gần kề của Hội nghị Trung ương 5, Uỷ ban kiểm tra Trung Ương Đảng lật lại những sai phạm của Ban thường vụ Đảng ủy Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam trong giai đoạn từ 2009 – 2015, theo nhà báo Phạm Chí Dũng, có phần liên quan đến vụ án ngân hàng Đại Dương Ocean bank.

“Trong thời gian đó, có xảy ra vụ Tập đoàn dầu khí Việt Nam góp vốn 800 tỉ đồng vào ngân hàng Đại Dương Oceanbank của ông Hà Văn Thắm. Số tiền đó sau này đươc cho là không cánh mà bay, không thu hồi được, và đưa vào cái án của Hà Văn Thắm luôn. Đó chính là lý do mà tôi cho là nguồn cơn, đồng thời là cái cớ để đưa lại vụ ông Đinh La Thăng từ thời Tập đoàn dầu khí quốc gia.”

Thanh toán quyền lực

000_Hkg10250109-400.jpg
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ (thứ hai từ trái) và Bí thư Thành ủy TPHCM Đinh La Thăng (thứ hai từ phải) tại lễ bế mạc Đại hội đảng lần thứ 10 hôm 27/1/2016. AFP photo

Cũng theo nhà báo Phạm Chí Dũng, từ năm trước, Uỷ ban Kiểm tra Trung Ương Đảng đã âm thầm có những kiểm tra đối với hoạt động của Tập đoàn dầu khí quốc gia đặc biệt đến thời của Đinh La Thăng 2006-2011 và đã có kết luận. Và thời điểm xảy ra vụ Trịnh Xuân Thanh, cũng chính là thời điểm có nhiều nguồn tin nói về áp lực rủi ro của ông Đinh La Thăng đang dần tăng lên.

Những ai theo dõi sát sao tình hình chính trị trong nước từ Đại hội Đảng 12 đều nhận thấy cuộc từ giã chính trường của Nguyễn Tấn Dũng chưa thật sự kết thúc. Điều này, như nhà báo Phạm Chí Dũng phân tích, ông Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn nhận biết điều đó.

“Ông Trọng thừa hiểu Nguyễn Tấn Dũng về, nhưng thật ra cái bóng của Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn ở lại. Người của Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn đó, và trở thành một cản trở lớn đối với quyền lực của Tổng bí thư. Nếu còn những lực cản như vậy thì ông Trọng không thể ăn ngon ngủ yên. Bản thân sinh mạng chính trị của ông ấy sẽ không được đảm bảo. Chỉ còn cách là ông phải thanh lý, thanh toán những người, những dây của Nguyễn Tấn Dũng.”

Kỷ luật, là theo cách gọi của Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Đảng, nhưng Giáo sư Tương Lai, một lần nữa nói rằng vấn đề kỷ luật không liên quan gì đến trách nhiệm hay tổn hại đối với đất nước.

“Tôi cho rằng cuộc đấu này là cuộc đấu giữa các thế lực chính trị giành giựt cái ghế quyền lực, chả có liên quan gì đến các vấn đề khác. tuỳ theo tương quan lực lượng của cuộc đấu tranh của các thế lực giằng co, lúc nào người ta đưa ra, lúc nào người ta thụt vào.”

Thêm nữa, ông có nhận xét không khác với nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng khi cho rằng việc kỷ luật Đinh La Thăng đã được định đoạt từ trước. Vấn đề chỉ là thời gian.

“Bản dạo đầu đánh Đinh La Thăng đã có từ một bài báo của một nhà báo ‘Thanh hay Thăng’ cách đây khá lâu. Như vậy, bản dạo đầu của ban Kiểm tra này đã có từ xa xưa. Người ta đã bật đèn xanh cung cấp tư liệu cho một nhà báo để viết những chuyện mà hôm nay Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Đảng đưa ra.”

Chưa đến cao trào

Cách đây không lâu, vào ngày 24 tháng 2 vừa qua, trong bài phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Đảng năm 2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật; kỷ luật một vài người để cứu muôn người.”

Trước và sau đó, dư luận có thể chứng kiến hàng loạt những vụ xử lý vi phạm bằng hình thức khác nhau. Từ vụ Vũ Huy Hoàng, đến Trịnh Xuân Thanh, và nay là Đinh La Thăng. Theo nhà báo Phạm Chí Dũng, rất khó để đoán biết những động thái nào khác trong tương lai, nhưng, một vấn đề đều được cả Giáo sư Tương Lai, và nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng nhìn thấy, đó là sự việc này chỉ mới là luyến láy ở phần dạo đầu của một bản giao hưởng.

“Đinh La Thăng chưa phải cao trào. Mà có lẽ, theo dư luận nhận định, cao trào là Nguyễn Tấn Dũng chứ không phải Đinh La Thăng.”

Bản giao hưởng số 5 của Beethoven, theo cách ví von của nhà báo Phạm Chí Dũng, sẽ được trình diễn trong tơng lai rất gần, sẽ “ghê gớm, khủng khiếp như sóng cuồn cuộn, cả mặt biển sôi trào, và lúc đó có thể hình dung nền chính trị Việt Nam như thế nào?”

Cát Linh, phóng viên RFA/RFA

Người cha nát rượu biến cậu bé ăn cắp vặt trở thành ông chủ ‘đế chế’ Starbucks ra sao?

Đó là một ngày mùa đông lạnh lẽo năm 1961. Trong mắt một cậu bé đó là ngày buồn bã vô cùng. Sau khi người cha lái xe tải bị tai nạn và mất đi một chân, kinh tế gia đình cậu mất đi hoàn toàn chỗ dựa. Mỗi bữa ăn tối, trên bàn ăn của gia đình chỉ toàn là những món khó nuốt, là rau mẹ cậu nhặt nhạnh ngoài vườn và cafe gần hết hạn được giảm giá.

Từ ngày bị mất việc làm do tai nạn lao động, cha cậu cũng mất luôn cả niềm tin vào cuộc sống. Mỗi ngày chỉ biết mượn rượu giải sầu, và trở thành một con ma men. Bởi sẵn có men rượu trong người nên chỉ cần cậu hơi không nghe lời cha liền nổi giận lôi đình, và cũng từ đó trận đòn tra tấn của cha diễn ra hằng ngày như cơm bữa.
Đó là một đêm Noel năm cậu 12 tuổi, trong khi các gia đình đang quây quần vui vẻ bên bàn ăn với những món thơm ngon nức mũi trong ánh nến lung linh huyền ảo thì cảnh nhà cậu lại hoàn toàn khác biệt. Mẹ cậu vì không mượn được tiền đang cau mày rầu rĩ ngồi ở góc nhà, còn cha cậu thì đang nổi trận lôi đình mắng nhiếc những người kia là kẻ ngu ngốc. Người mẹ bất lực của cậu không còn cách nào khác chỉ đành biết đuổi mấy anh em cậu ra phố chơi.

Trong khi các gia đình đang sum vầy – thì gia đình cậu cha đang say rượu nổi cơn lôi đình, mẹ đành bảo mấy anh em ra ngoài phố chơi/ Ảnh theo shutterstock.com.

Ba đứa trẻ bụng đói cồn cào đành đi ra phố, vừa ra tới cổng ba anh em phát hiện một cửa hàng tổng hợp đang bày la liệt các loại đồ ăn và nước ngọt. Mấy anh em cậu thèm rỏ rãi. Một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu. Cậu bé liền bảo em trai và em gái mình về nhà trước, còn bản thân thì đứng nhìn chăm chú vào một lon cafe được đóng gói cầu kỳ đẹp mắt ở đó. Cậu rất muốn làm một điều gì đó để giúp cha vui vẻ hơn.
Nhìn ngó một hồi đợi đúng thời cơ, cậu bé nhanh chóng lấy lon cafe đó nhét vào túi áo bông. Tuy nhiên thật không may là cậu lại bị ông chủ cửa hàng phát hiện. Ông ta hét lớn: “Bắt lấy kẻ trộm”. Cậu cắm đầu bỏ chạy một mạch về nhà và cứ nghĩ rằng đã thoát nạn. Cậu mang món quà nhỏ đó tặng cha. Khỏi phải nói nét mặt cha cậu khi đó vui mừng cỡ nào. Khi mở lon ra mùi thơm ngào ngạt của cafe bốc lên làm ông cứ hít hà mãi và nhắm mắt tận hưởng. Nhưng khi còn chưa kịp thưởng thức thì ông chủ cửa hàng tạp hóa đã đuổi tới tận nhà cậu bé. Sự việc bại lộ, cậu bé bị lãnh một trận đòn đau nhớ đời.
Đêm Noel năm đó đối với cậu thật sự vô cùng khó quên khiến cậu mãi khắc cốt ghi tâm. Khi cảm nhận được những dư vị của sự khốn khó và đau khổ tột cùng, cậu tự thề với mình sẽ nỗ lực hơn nữa để bằng mọi giá mua được loại cafe hảo hạng nhất, thay vì phải uống cafe sắp hết hạn như lúc này.
Để giảm gánh nặng kinh tế cho mẹ, sau giờ học, cậu tới làm thêm ở một quán ăn nhỏ và nhận giao báo sáng trước khi lên lớp. Nhưng số tiền ít ỏi mà cậu bé đáng thương kiếm được lại bị cha lấy cắp để mua rượu uống. Cậu trở nên oán giận và chán ghét cha. Hai cha con cậu vì thế mà càng ít nói chuyện hơn.

Từ sau ngày đó, để kiếm tiền cậu đã làm thêm rất nhiều việc: kéo da thú trong một công ty sản xuất áo da, xử lý sợi ở công ty sản xuất giầy thể thao… Chỉ có một điều mâu thuẫn giữa hai cha con cậu mãi không thay đổi. Trải qua vô số khó khăn, chông gai, cuối cùng cậu bé cũng xuất sắc thi đỗ đại học.
Cảnh nhà nghèo khó, cha kiên quyết không cho cậu vào đại học mà muốn cậu đi làm kiếm tiền. Cậu gào lên: “Cha không có quyền quyết định cuộc sống của con. Con không muốn sống những ngày tháng không có mơ ước, không có động lực phấn đấu, ăn bữa nay lo bữa mai như của cha. Cuộc sống của cha làm con cảm thấy thật hổ thẹn”.
Khi vào học đại học bắc Michigan, để tiết kiệm tiền lộ phí và có tiền trang trải học hành trong, trong kỳ nghỉ hầu như cậu không về nhà mà đều đi làm thêm. Mỗi tháng cậu bé đều viết thư về cho mẹ nhưng chưa bao giờ hỏi thăm về tình hình của cha mình. Sau khi tốt nghiệp cậu trở thành một nhân viên kinh doanh xuất sắc. Tất cả mọi cố gắng phấn đấu trong cuộc sống của cậu chỉ là vì muốn chứng minh cho cha cậu hiểu rằng lựa chọn của mình không sai lầm.
Năm đó nhờ làm việc chăm chỉ, cậu kiếm được một món tiền khá lớn. Lần này phá lệ cậu quyết định mua cho cha mình một hộp cafe đen của Brazil loại hảo hạng. Cậu cứ nghĩ cha sẽ rất vui khi nhận món quà đó, nhưng nào ngờ cậu lại bị cha chế nhạo tới ức phát khóc. Ông nói với cậu: “Con dốc sức học hành chỉ là vì để mua loại cafe này thôi à?”. Để không bị cha xem thường hơn nữa, cậu quyết tâm đạt thành tích tốt hơn để chọc tức ông.
Nhiều năm sau, mẹ điện cho cậu nói cha nhớ và muốn gặp cậu. Từ trước tới nay chưa bao giờ cha cậu nói với cậu những lời như vậy. Cậu có đôi chút ngạc nhiên và khó hiểu. Dù vậy, vì đang bận đàm phán với khách hàng nên cậu từ chối không về, cũng không nói chuyện điện thoại với cha. Vì những bận rộn công việc, hai tuần sau cậu mới về nhà được. Khi này, cậu mới hay cha đã mất rồi…
Sau đó khi sắp xếp lại những di vật còn sót lại của cha, cậu phát hiện có một lon cafe đã rỉ sét lốm đốm. Cậu nhận ra ngay đó là lon cafe mình đã ăn cắp năm lên 12 tuổi. Trên đó là nét chữ của cha: “Món quà của con trai yêu quý, Noel 1964’”. Trong đó còn có một bức thư ngắn gửi cho cậu: “Con trai yêu quý, cha xin lỗi, vô cùng xin lỗi con. Cha là một người cha thất bại. Cha đưa con đến với thế giới này nhưng lại không thể mang lại cho con một cuộc sống đầy đủ tốt đẹp. Nhưng cha cũng có ước mơ của mình. Ước mơ lớn nhất của đời cha là có một quán cafe nhỏ và cha có thể nhàn nhã pha cafe cho mọi người yêu thích cafe. Nhưng tiếc là cha đã không thể thực hiên được. Cha hi vọng cón có thể trải nghiệm niềm hạnh phúc đó”.
Trong giây phút ngập tràn đau thương ấy, cậu bé bỗng phát hiện ra những trận đòn đánh mắng của cha chính là một ký ức đáng trân quý. Sau khi nghe cậu kể lại câu chuyện, Shirley vợ cậu đã động viên: ‘”Nếu cha đã có nguyện vọng như vậy thì chúng ta hãy thực hiện mơ ước này của ông đi”. Vừa hay khi đó quán Seattle Cafe lại muốn chuyển nhượng, cậu đã từ bỏ công việc mới mức lương  75.000 đô la/ năm để mua lại quán cafe đó.
Đây chính là cậu chuyện cuộc đời của ông chủ đế chế cafe Starbucks, người khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng nổi tiếng thế giới.

Howard Schultz ông chủ của đế chế café Starbucks. Ảnh theo bizua.org

Sinh ra ở Brooklyn, New York, vào ngày 19/7/1953, Howard Schultz tốt nghiệp Đại học Bắc Michigan với bằng cử nhân Thông tin trước khi trở thành Trưởng phòng tiếp thị và bán lẻ 1982 của Starbucks. Sau khi thành lập công ty cà phê Il Giornale, vào năm 1987, ông mua Starbucks và trở thành Giám đốc điều hành và chủ tịch của công ty.
Năm 2000, Schultz công khai từ chức Giám đốc điều hành của Starbucks. Tuy nhiên, 8 năm sau ông đã trở về để lãnh đạo công ty. Tính đến năm 2012, Starbucks có hơn 17.600 cửa hàng với vốn cơ bản lên tới 35,6 tỷ USD.
Kiên Định biên dịch / Daikynguyen

Lịch sử có nợ gì Tướng Dương Văn Minh?

Nhà báo Pháp Paul Dreyfus là một trong 25 nhà báo Pháp có mặt tại Sài Gòn vào giờ phút cuối cùng của tháng Tư năm 1975.

Tổng thống Dương Văn Minh (đeo kính, cúi đầu) bị bộ đội cộng sản đưa đi ảnhGETTY IMAGES
Tổng thống Dương Văn Minh (đeo kính, cúi đầu) bị bộ đội cộng sản đưa đi

Trong cuốn sách của mình với tựa đề “và Sài Gòn sụp đổ” (Et Saigon tomba – Collection Témoignages 1975), tác giả đánh giá sự kiện Sài Gòn thất thủ là sự kiện ‘quan trọng nhất’ với hệ thống cộng sản châu Á sau cuộc tiến vào Bắc Kinh năm 1949 của Mao.

Ông thuật lại những cảm nhận cá nhân qua những lần tiếp xúc với đại tướng Dương văn Minh, tổng thống cuối cùng của miền Nam, theo giới thiệu sau qua lời dịch của nhà báo Phạm Cao Phong từ Paris:

Theo Paul Dreyfus, tướng Minh là “một người minh mẫn và nắm vững tình hình”.

Những tâm sự của tướng Minh thời điểm đó mang lại một cách đánh giá đa chiều về nhân vật gây nhiều tranh cãi.

“Tôi thích sống trong ngục tù của tổ quốc tôi còn hơn tự do ở nước ngoài.”

Nhà báo Pháp viết trong cuốn sách:

“Tôi gặp tướng Minh vào ngày thứ hai, trong một villa rộng lớn, yên bình, không bày biện xa hoa, bao bọc xung quanh bởi một vườn hoa, nơi ông sống từ nhiều năm, ở giữa Sài Gòn. Trong một cuộc phỏng vấn kéo dài hơn một giờ, ông nói cho tôi biết cơ hội mỏng manh về đàm phán với phía bên kia ra sao.

Ông mô tả xúc động về tình trạng kiệt quệ của quân đội, những tướng lĩnh mất tinh thần, những kho đạn và chiến cụ gần như trống rỗng, vật tư bị bỏ mặc, bộ máy hành chính bất lực, dân chúng lo lắng và những người của Thiệu không làm gì khác là cất giấu đô la, vàng, trang sức cùng những tác phẩm nghệ thuật của họ…

 

Tướng Minh có giọng nói chậm rãi và nhẹ nhàng. Cặp mắt không chớp sau cặp kính gọng kim loại, nhưng người ta nhận thấy rõ rệt ông bối rối sâu sắc trước hiện tình đất nước ông.”

Không ra nước ngoài

Cuốn sách 'Và Sài Gòn sụp đổ' của Paul Dreyfus
ảnhCAOPHONGPHAM@YMAIL.COM
Cuốn sách ‘Và Sài Gòn sụp đổ’ của Paul Dreyfus

“Thế nào đi nữa, ông nói với tôi, tôi sẽ không đi đâu cả. Hạnh phúc hay bất hạnh đó vẫn là tổ quốc tôi. Tôi đã sống những năm định cư ở Bangkok. Tôi không thiếu thốn gì. Nhưng tôi cảm thấy rất bất hạnh. Tôi thích sống trong ngục tù của tổ quốc tôi còn hơn tự do ở nước ngoài.”

Cuối cuộc phỏng vấn, tôi hỏi ông thẳng thắn rằng, ông nghĩ sao sắp tới sẽ đóng một vai trò quan trọng của một nhân vật chính trị.

“Nếu để làm bù nhìn, thì chắc chắn không. Nhưng nếu tôi có thể hữu ích hay có thực quyền thì tôi sẽ không từ chối.” Từ cách nhìn của tôi, từ thời điểm này, tướng Minh đã sẵn sàng.

Hôm nay (24/4/1975), ông già không có chút sinh khí (chỉ tổng thống Hương) đã đến gặp tướng Minh nêu ra một vai phụ số hai : đó là chức Thủ tướng. Vai trò mà một người tiền nhiệm vừa bỏ lại sáng nay.”

Minh cự tuyệt, vì ông không có toàn quyền. Ngày mai, ông sẽ có tất cả.

Nếu không, Việt Cộng sẽ bắt đầu đặt quyền cai trị lên Sài Gòn.”

Khi CIA giả danh Khmer Đỏ

“Thứ Sáu 25/4/1975. Sau khi Phnom Penh sụp đổ, CIA sử dụng một đài tiếp vận radio từ Okinawa, hòn đảo lớn phía Nam quần đảo Nhật Bản. Những nhân viên bí mật của Mỹ phát sóng dưới danh nghĩa những người Khmer. Họ đưa tin như từ chức năng quyền lực của Khmer Đỏ.

Đài phát thanh gián điệp này tung những tin thất thiệt, hướng vào cộng đồng dân chúng Campuchia, hy vọng gây những bất ổn cho những chủ nhân mới của đất nước.

Dinh Độc Lập trong ảnh chụp ngày 3/05/1975 ảnhGETTY IMAGES
Dinh Độc Lập trong ảnh chụp ngày 3/05/1975

Cũng là CIA, trong một buổi phát thanh đội lốt ngôi sao đỏ đã đưa tin, có một cuộc đảo chính tại Hà Nội và họ nói rằng đã có ba sư đoàn Bắc Việt rút về cứu nguy cho miền Bắc.”

Bình luận về việc xuyên tạc này, giám đốc CIA tại Sài Gòn hả hê với những ai muốn nghe:

“Đó thật sự là chương trình duy nhất hoạt động tốt.”

Thật khó tin, nhưng đúng như thế!

Tướng Minh và sứ mệnh bất khả thi

“Tối thứ Bảy, Thượng và Hạ viện nhất trí trao toàn quyền cho tướng Minh hoạt động ngõ hầu mang lại một ‘nền hòa bình trong danh dự’, trong lúc cả tối thứ Bảy và Chủ Nhật đạn pháo nã vào trung tâm quyền lực giữa Sài Gòn.

Người dân thủ đô sống trong thấp thỏm trước những đợt pháo kích ngày càng gia tăng. Những sư đoàn Bắc Việt và Việt Cộng được chiến xa hạng nặng hỗ trợ chỉ còn không đầy 30 km cách thủ đô VNCH. Những tướng lĩnh can đảm nhất cũng nói rằng tất cả đã mất.

“Bộ trưởng Quốc phòng, tướng Trần Văn Đôn u ám trước tấm bản đồ ngày càng đen tối. Các chuyến bay ‘Galaxia’ của không quân Mỹ hối hả chuyển những công dân Hoa Kỳ di tản. Tất cả như trong tình trạng như khi Byzance thất thủ, các chân tay thân cận của Thiệu theo chân chủ chạy trốn với những valy chật căng đô la, nữ trang, vật dụng quý giá, nhà băng đóng cửa , nền kinh tế sụp đổ.

Trong tình thế gần như tuyệt vọng, Lưỡng viện và ông tổng thống mắt lòa, chậm chạp với tuổi già vẫn còn loay hoay bàn cãi về thủ tục bàn giao chính quyền cho tướng Minh, mà không ‘vi hiến’.

Trong không khí nghẹt thở, lưỡng viện bỏ phiếu cho giải pháp tình thế hệt như trong buổi đẹp trời của Đệ Tam Cộng hòa. Cuối cùng, sau một ngày điên rồ, khi màn đêm đã buông xuống Sài Gòn, Lưỡng viện Quốc hội nhất trí chuyển giao hoàn toàn quyền lực cho tướng Minh.”

Một người cộng sự thân thiết của tướng Minh đã nói với tôi ngay từ hôm qua không úp mở:

“Chúng tôi nắm một sứ mệnh không thể thực hiện nổi.”

Thứ Tư, ngày 30/4/1975: ‘Tôi đợi các ông ở đây’

Bộ đội cộng sản đem cờ Mặt trận Giải phóng vào cắm ở Dinh Độc Lập 30/04/1975 ảnhGETTY IMAGES
Bộ đội cộng sản đem cờ Mặt trận Giải phóng vào cắm ở Dinh Độc Lập 30/04/1975

Cuốn sách mô tả tiếp giờ phút tiếp quản:

“Nhóm sĩ quan cấp cao nhảy xuống xe. Xung quanh họ là những binh sĩ đầy súng ống. Họ chạy nhanh qua những bậc thang rộng của Phủ Tổng thống, vượt qua phòng khánh tiết và gặp tướng Minh trong phòng làm việc của ông ta.

‘Tôi đã đợi các ông ở đây’, tướng Minh nói. Buổi sáng cùng ngày, lúc 10 giờ, ông đã cho phát trên radio lời tuyên bố gửi đến đối phương.

Minh từ căn phòng của Phủ Tổng thống đã ra lệnh cho tất cả các đơn vị Nam Việt Nam ngừng bắn. Rất trầm tĩnh, Minh trao đổi với các phụ tá và một vài bộ trưởng mà chỉ trong thời gian ngắn ông đã tìm được ra.

Các chiến binh Bắc Việt ngay lập tức vây quanh ông. Trong số những sĩ quan của đoàn quân chiến thắng có những Việt Cộng hoạt động bí mật tại Sài Gòn, không mặc quân phục, không mang quân hàm, quân hiệu, có người biết rất rõ tướng Minh. ”

Ông ta tiến gần và nói:

“Ông đã làm một việc lớn cho Việt Nam, ngăn không cho Sài Gòn bị phá hủy. Chúng tôi cám ơn ông, tướng Minh.”

Minh đáp lại rằng, ông hy vọng vào sự nghĩa hiệp của người chiến thắng.”

Nhà báo Paul Dreyfus cũng suy tư về chuyện ông Minh đã nghĩ gì:

“Có lúc nào, ở thời khắc ngắn ngủi những ngày trước, tướng Minh đã nghĩ là khả thi thỏa thuận được một cuộc đàm phán? Tôi không tin. Trong lần gặp gần nhất với ông, khi chưa nắm bộ máy quyền lực, tôi nhận thấy ông đã nghĩ rằng việc đầu hàng là không tránh khỏi. Song không nghi ngờ gì, tướng Minh hy vọng có thời gian để dàn xếp thể thức ra sao.

“Bằng việc gạt qua cá nhân mình, Minh đã chấp nhận trong con mắt của lịch sử, là một viên tướng đầu hàng không điều kiện, để tránh cho đất nước của ông những đớn đau không cần thiết.

Vai trò của ông đã hết.

Thật ngắn ngủi.

Song chúng ta nợ sự đánh giá lại về một con người tỉnh táo và can đảm này.”

Các đoạn trích do nhà báo Phạm Cao Phong từ Paris chuyển ngữ. Quý vị có ý kiến, bài vở về chủ đề 30/04 xin gửi vềvietnamese@bbc.co.uk.

Việt Nam Cộng Hòa và những định mệnh xui xẻo

Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa Đại Hàn Lý Thừa Vãn và Tổng thống Đệ nhất VNCH Ngô Đình Diệm vào năm 1958 ảnhGETTY IMAGES
Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa Đại Hàn Lý Thừa Vãn và Tổng thống Đệ nhất VNCH Ngô Đình Diệm vào năm 1958

Nhìn lại lịch sử, chúng tôi thấy câu ngạn ngữ “hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai” sao nó đúng quá: tai bay vạ gió thì luôn theo nhau mà đến với Việt Nam Cộng Hòa, còn những cái may mắn thì ít khi nó trở lại.

Thời Tổng thống Ngô Đình Diệm: sau bao nhiêu gian lao với Pháp, ông đã khai sinh ra nền Cộng Hòa.

Sau đó xây dựng được những thành tích vẻ vang của “Năm Năm Vàng Son 1955-1960,” (độc giả xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 13). Nhưng vừa tới năm 1961 thì ông phải đối đầu ngay với những giao động khôn lường: nửa năm đầu thì Tổng thống John F. Kennedy hết sức ủng hộ, tới nửa năm sau, bang giao Việt – Mỹ rơi vào khủng hoảng.

Sau cùng thì trong bối cảnh dầu sôi lửa bỏng vào dịp Lễ Phật Đản thứ 2507 (ngày 8/5/1963), TT Kennedy gửi ông Henry Cabot Lodge sang làm Đại sứ thay thế ĐS Frederick Nolting về hưu.

Nolting là người ủng hộ ông Diệm. Ông Lodge là người mưu mô, nham hiểm, có nhiều thành kiến về ông Diệm. Vì tham vọng muốn lập thành tích để ra ứng cứ tổng thống vào năm 1964 cho nên ông đã dùng đủ mọi mưu lược triệt tiêu Tổng thống Diệm với hậu quả là phá nát nền Đệ Nhất Cộng Hòa mùa Thu 1963. Tôi gọi ông này là Đao phủ HENRY I.

Tới Đệ Nhị Cộng Hòa, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lại gặp ngay một tay HENRY nữa – Henry A. Kissinger. Về ông này, ta có thể đặt câu hỏi: ở một cường quốc vĩ đại như Hoa Kỳ, biết bao nhiêu người vừa tài, vừa đức, vừa có tâm, vừa có tầm mà lại không lên được tới địa vị quyền hành như ông Kissinger?

Ông này còn mưu lược, gian dối hơn Cabot Lodge gấp mấy lần. Kissinger đã đạo diễn chính sách của Hoa Kỳ về Việt Nam trong gần sáu năm rưỡi, tức là trên hai phần ba thời gian của Đệ Nhị Cộng Hòa.

Cái nguy hiểm cho cả Mỹ lẫn Miền Nam là ông này thích hành động bí mật và một mình.

Trong một cuộc phỏng vấn với nữ ký giả người Ý, bà Oriana Fallaci, ông giải thích rằng sở dĩ ông có sức mạnh là nhờ ở lối hành động một mình:

“Điểm chính là lúc nào tôi cũng hành động một mình. Người Mỹ thích cái đó vô cùng. Người Mỹ thích hình ảnh một gã chăn bò dẫn đầu một toán di dân, một mình trên lưng ngựa, đi đầu, thủng thẳng tiến vào một tỉnh lỵ, một thị xã; chỉ mình với ngựa thôi, không có gì khác. Có thể là không có cả súng nữa, là vì gã ta không cần bắn. Gã chỉ hành động bằng cách là ở đúng chỗ, vào đúng lúc, thế thôi. Nói gọn hơn, gã là một cao bồi miền Tây.”

Tôi gọi ông này là Đao phủ HENRY II.

Nhân dịp 30 tháng Tư, chúng tôi xin chia sẻ với đồng hương một vài cảm nghĩ về số phận long đong của cả hai nền Cộng Hòa vào lúc hoàng hôn thê lương ảm đạm.

Khi Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ

Những cái xui xẻo đã xảy ra liên tục cho Tổng thống Ngô Đình Diệm trong ba ngày cuối cùng của cuộc đời ông (xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 22).

Ngày 3/03/1963 Tòa Bạch Ốc gửi mật điện chỉ thị cho Đại sứ Lodge là: “phải thông báo đầy đủ cho Tướng Harkins (tư lệnh quân đội Mỹ ở Miền Nam) trong mọi giai đoạn, và sử dụng những khuyến cáo của cả Harkins lẫn Smith,” và “tất cả chỉ thị cho Conein (người trung gian với nhóm tướng lãnh đảo chính) cũng phải được thông qua ý kiến của Harkins và Smith.” Nhưng vào những giờ phút chót, ông Lodge đã trái lệnh Tổng thống, không chịu bàn bạc, thông báo gì với ông Harkins (vì Harkins hết sức bênh vực TT Diệm);

Cố vấn Ngô Đình Nhu, người bị sát hại cùng anh ông, Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa năm 1963
Cố vấn Ngô Đình Nhu, người bị sát hại cùng anh ông, Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa năm 1963

Cùng ngày 30/03, Đại sứ Lodge hoãn chuyến đi Washington. Ông đã định đi vào ngày 31 tháng 10. Chỉ thị từ Washington là khi ông Lodge đi vắng thì Tướng Harkins sẽ thay thế ông để điều khiển ở Sàigòn. Nếu ông Harkins ở lại thì khó có thể đảo chính. Sau cùng, Washington lại quyết định cho phép ông Lodge hoãn chuyến đi vài ngày. Lodge muốn ở lại Sàigòn để theo rõi đảo chính ngày hôm sau.

Ngày 31 tháng 10 là ngày trước đảo chính. Vì ngày đảo chính (mồng 1 tháng 11) là ngày Lễ Các Thánh, ngày lễ của người Công giáo, nên ông Diệm có thể đi kinh lý hoặc thăm viếng chỗ này chỗ kia. Cho nên Tướng Trần Văn Đôn đề nghị với TT Diệm là ông nên tiếp xã giao Đô đốc Harry Felt (Tư lệnh quân lực Mỹ Thái Bình Dương) vừa tới Sàigòn. Đề nghị như vậy là để có cớ thuyết phục TT Diệm ở lại Dinh Gia Long trong ngày đảo chính cho chắc ăn.

Chính ông Đôn đã viết lại trong cuốn hồi ký Our Endless War – Inside Vietnam:

“Sáng ngày 31 tháng 10, tôi vào dinh gặp Tổng thống Diệm để hỏi về vấn đề Đô đốc Felt đến Sàigòn, và dò hỏi xem có phải vì ông không có mặt ở Sàigòn vào ngày mai nên không tiếp ông Felt được hay không? Ông Diệm ngạc nhiên vì không biết tin ông Felt tới Sàigòn.”

Vì Tướng Đôn đề nghị, TT Diệm đã quyết định ở lại Sài gòn để tiếp Đô đốc Felt vào ngày 1/11.

Buổi sáng ngày 1 tháng 11, khi TT Diệm tiếp hai ông Felt và Lodge, ông bất chợt hỏi ông Lodge rằng ông biết đang có âm mưu đảo chính nhưng không biết rõ tướng tá nào muốn đảo chính. Ông Lodge trả lời một cách quanh co: “Tôi không nghĩ rằng Tổng thống phải lo ngại gì cả.” Như vậy là để đánh lừa ông Diệm;

Một chuyện nữa hết sức quan trọng, đó là cuối cùng, như đã đề cập trên đây, Tổng thống Diệm đã muốn làm một nghĩa cử ôn hòa với cả Đại sứ Lodge, cả Tổng thống Hoa kỳ. Vì biết ông Lodge sắp lên đường về Washington, ông dặn ông Lodge là khi về tới Washington thì nên gặp hai ông Colby (trưởng trạm CIA ở Sàigòn trước đây) và Nolting (cựu Đại sứ) để bàn bạc về vấn đề giải quyết chuyện ông Nhu cho ổn thỏa.

Rồi ông gửi một thông điệp cho TT Kennedy nói:

“Tôi bằng lòng chấp nhận tất cả những đề nghị của Tổng thống Kennedy một cách hết sức nghiêm chỉnh, và muốn thực sự thi hành những điều này, chỉ còn vấn đề thời gian tính.”

Tổng thống JF Kennedy bị ám sát ngày 22/11 cũng trong năm 1963 ảnhGETTY IMAGES
Tổng thống JF Kennedy bị ám sát ngày 22/11 cũng trong năm 1963 ở Dallas

Chắc ông Lodge cũng còn một chút lương tâm và cho rằng như vậy là đã có thể đi tới chỗ hòa hoãn với ông Diệm được rồi, nên ông có báo cáo về Washington thông điệp này.

Thế nhưng, vô tình hay hữu ý, theo Mark Moyar thì ông Lodge lại gửi điện tín này theo thủ tục ‘ưu tiên thấp nhất’ nên khi thông điệp này tới Washington thì tiếng súng đã bắt đầu nổ ở Sàigòn rồi. Theo một tác giả khác, James W. Douglas trong cuốn JFK and The Unspeakable thì Lodge đã trì hoãn để khi Kennedy nhận được điện tín này thì đã quá trễ.

Ngày 1 tháng 11 cũng là ngày sinh nhật của Đại tá Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Hải quân, là người trung thành với TT Diệm và đã cứu ông trong dịp đảo chính tháng 2 năm 1962.

Sau khi chơi quần vợt với một số đồng đội, họ mời ông dùng cơm trưa để mừng sinh nhật thứ 36 của ông. Thoạt đầu, ông đã từ chối. Buổi sáng hôm ấy, ông cũng đã chột dạ vì thấy có những cuộc chuyển quân hơi lạ nên muốn theo dõi để báo cáo cho ông Diệm. Nhưng rồi viên sĩ quan phụ tá cố nài ép nên ông nể lòng. Lúc đang trên đường đi tới một quán nhậu ở ngoại ô Sàigòn, ông đã bị sát hại. Như vậy là ông Quyền đã đi trước và dọn đường tới nghĩa trang cho hai ông Diệm-Nhu.

Theo tác giả Mark Moyar (trong cuốn Triumph Forsaken) thì “khi cuộc đảo chính sắp bắt đầu, một viên sĩ quan chỉ huy lữ đoàn Lực lượng Đặc biệt đề nghị với Tổng thống Diệm cho ông dùng xe thiết giáp tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính để bắt trọn ổ số Tướng lãnh đang họp hành. Thành công là chắc chắn, viên sĩ quan cố thuyết phục ông Diệm, vì chỉ có một số lính đang tập sự đứng gác ở Tổng Tham Mưu, và đúng như vậy.

Nếu những tướng chủ mưu bị bắt thì quân đội đảo chính tất sẽ bị rối loạn.

Nhưng TT Diệm không cho phép, ông nói: “Quân đội phải tiết kiệm súng đạn để chống Cộng, và tránh đổ máu,” rồi thêm: “Chỉ cần bảo vệ Dinh Gia Long, nhà Bưu điện và Tổng Nha Ngân khố.”

GS Nguyễn Tiến Hưng gọi ông Henry Kissinger (bìa trái hình) là Đao phủ Henry II ảnhGETTY IMAGES
GS Nguyễn Tiến Hưng gọi ông Henry Kissinger (bìa trái hình) là Đao phủ Henry II

Như đề cập trên đây, sau khi tiếng súng đảo chính đã vang dội, Tổng thống Diệm gọi giây nói cho Đại sứ Lodge vào lúc 4 giờ 30 chiều (ngày 1 tháng 11) để hỏi về thái độ của Hoa kỳ. Ông Lodge trả lời lơ mơ là ông không biết gì để nói nhưng có đề nghị với ông Diệm là sẽ cho xe cắm cờ Mỹ đến Dinh Gia Long đưa ông Diệm ra phi trường, rồi dùng máy bay riêng của đại sứ để chở ông ra khỏi nước, nhưng TT Diệm từ chối. Nhưng trái với điều mà nhiều tác giả đã viết, cuộc điện đàm này không phải là trao đổi cuối cùng giữa hai người. Vẫn còn một cú điện thoại khác nữa.

Cú điện thoại thứ hai là lúc ở tại nhà thờ Cha Tam, ông Diệm đã gọi ông Lodge để yêu cầu giúp đỡ phương tiện để ra đi, vì ông Lodge đã hứa rằng “Nếu tôi có thể làm được gì để giúp cho an toàn của Ngài thì Ngài cứ gọi tôi.” Nhưng bây giờ ông Lodge lại trả lời là Tòa Đại sứ Mỹ chỉ có thể cho ông trú ẩn và bất cứ điều gì khác, nhưng không thể giúp phương tiện chuyên chở ông ra khỏi nước. Như vậy là trái hẳn với đề nghị của ông Lodge chiều hôm trước. Ông Mike Dunn, Phụ tá trưởng của đại sứ – là người đứng bên ông Lodge khi ông này nói diện thoại với ông Diệm – đã xin tự nguyện đến chở hai ông Diệm, Nhu đi để bảo vệ cho hai ông, nhưng ông Lodge đã không đồng ý! “Tôi thật ngạc nhiên là ta đã không làm gì để giúp cho hai anh em họ Ngô,” ông Dunn phàn nàn.

Một nhân chứng nữa cũng khẳng định về việc này là nhà báo Joseph Fried của tờ New York Daily News trong một báo cáo vào ngày 5 tháng 11, 1963.

Sau khi ông Lodge từ chối giúp đỡ, Tổng thống Diệm hoàn toàn thất vọng, khoảng 7 giờ sáng ngày mồng 2 ông quyết định gọi điện thoại cho Bộ Chỉ huy Đảo Chánh thông báo là ông đã ra lệnh cho lính phòng vệ Phủ tổng thống ngưng bắn và ông đầu hàng vô điều kiện.

Đây là một việc không may mắn nhất cho TT Diệm vì cho tới ngày đảo chính, nhóm tướng lãnh vẫn còn nghi ngờ nhau, chưa có sự tin tưởng và đồng ý hoàn toàn. Chính TT Thiệu đã kể lại (với Phụ Tá Nguyễn Văn Ngân) là “nếu ông Diệm và ông Nhu không ra trình diện (gọi điện thoại) vào sáng ngày 2 tháng 11, chỉ cần nán lại tới trưa cùng ngày thì các tướng lãnh sẽ lên máy bay chạy hết vì lo sợ và nghi ngờ lẫn nhau” là đã mắc mưu ông Nhu.

Trước đó, trong giai đoạn chuẩn bị đảo chính, Tướng Paul Harkins, Tư lệnh Mỹ ở Việt Nam cũng báo cáo về cho tướng Maxwell Taylor, Chủ tịch Tham Mưu Liên Quân về nhóm tướng lãnh:

Bà Nhu, Trần Lệ Xuân cùng con gái trong một chuyến công du nước ngoài ảnhGETTY IMAGES
Bà Nhu, Trần Lệ Xuân cùng con gái trong một chuyến công du nước ngoài

“Tôi thấy chúng ta có một tổ chức của nhóm người thật hoang mang trong đó mọi người nghi ngờ mọi người khác.”

Các tướng lãnh yêu cầu Conein sắp xếp máy bay, nhưng CIA trả lời là cần 24 giờ thì mới thu xếp được, nhưng thật ra là đã có sẵn một chiếc máy bay ở Sàigòn để chở Đại sứ Lodge về Washington và ông này đã hoãn chuyến đi. Dù sao, khi nghe thấy nói đến 24 giờ, Tướng Minh gắt lên “Chúng tôi không giữ họ lâu thêm được nữa.”

Sau này, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó là Đại tá) còn kể lại với chúng tôi rằng:

“Khi được lệnh đánh Dinh Gia Long, ông đã có ý định tìm TT Diệm và mời ông lên xe jeep mở mui để về Bộ TTM rồi đưa ông đi ra ngoại quốc, nhưng khi chiếm Dinh xong thì thấy ông Diệm đã đi rồi. Ông Thiệu thêm: “Nếu như TT Diệm đi xe jeep mui trần như vậy thì không ai dám sát hại ông…”

Đến khi ông Thiệu được tin TT Diệm gọi điện thoại về Bộ Tổng Tham Mưu, ông còn đề nghị với Tướng Minh để cho ông đi đón TT Diệm từ nhà thờ Cha Tam, nhưng ông Minh gạt đi và nói “Khỏi phải lo, đã có người rồi.”

Bất hạnh cuối cùng của Đệ Nhị Cộng Hòa

Tháng 2/1972, TT Nixon đi Bắc Kinh gặp Chủ tịch Mao. Dịp này ông đã đảo ngược “chính sách ngăn chặn Trung Quốc” (containment of China). Khi mở cửa Bắc Kinh thì ông đóng cửa Sàigòn, và khi bắt tay với ông Mao thì buông ngay tay ông Thiệu (như chúng tôi đã viết trong cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu).

Sau đó Nixon – Kissinger áp lực Miền Nam ký Hiệp Định Paris (1/1973). Từ đó những cái xui xui xẻo tới dồn dập:

Ngược lại với những cam kết của TT Nixon là sẽ tiếp tục viện trợ, VNCH vừa ký kết một hiệp định hết sức bất lợi thì lại bị cắt xén viện trợ thật bất ngờ và thật nhanh;

Còn được chút ít viện trợ thì lại bị ngay cú ‘sốc’ siêu lạm phát (do chiến tranh Israel – Ai Cập vào tháng 10/1973) làm tiêu hao mãi lực của viện trợ. Một thùng dầu thô đang từ 4USD vọt lên 12 USD.

Tới khi viên trợ bị cắt hết, Miền Nam xoay xở đi vay Quốc Vương xứ Saudi để mua tiếp liệu. Vua Saud al Faisal vừa đồng ý cho vay 300 triệu USD thì lại bị người cháu ruột hạ sát thê thảm ngay trong hoàng cung. Ông nằm xuống vào đúng ngày cố đô Huế bị bỏ ngỏ.

Tổng thống Johnson và Tổng thống ThiệuBản ảnhGETTY IMAGES
Tổng thống Johnson và Tổng thống Thiệu tại hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Việt 20/07/1968 ở Honolulu

Trên chiến trường, lúc bị tấn công, Ban Mê Thuột gọi không quân đến yểm trợ. Phi vụ vừa tới thả bom thì một trái rơi trúng ngay Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23;

Mất Ban Mê Thuột, có lệnh rút Pleiku. Ngày 18 tháng 3, quân dân hoảng hốt rút trên con đường 7B đẫm máu. Vừa về tới Phú Bổn thì bị kẹt ngay vì công binh chưa làm xong cây cầu nổi như đã dự tính: đoàn người di tản chịu thêm một trận pháo kích bên bờ sông Ea Pha. Sau này Tổng Thống Thiệu kể lại cho tôi rằng ông vẫn còn thắc mắc về chuyện tại sao Công Binh không làm xong cái cầu nổi? Đại tướng Viên cũng cho rằng “Sư đoàn 320 của cộng sản sẽ không bao giờ truy kích kịp đoàn quân nếu chúng ta có được cầu qua sông thiết lập đúng lúc, và giữ đuợc trật tự trong đoàn dân quân di tản.” Vì cầu không xong, cho nên:

Hai ngày sau mới rời đuợc Hậu Bổn. Đoàn dân quân vừa tiến được chừng 20 cây số là khựng ngay, vì “trước mặt đoàn di tản là Phú Túc đả bị địch chiếm.”

Khi không quân tới cứu,”một trái bom nữa rơi vào đoàn quân đi đầu, gây thương vong cho gần một tiểu đoàn Biệt Động Quân.”

Tôi đang dự một buổi họp đầy căng thẳng tại Dinh Độc Lập sau cuộc rút lui thảm hại này thì Đại Tá Cầm (Chánh Văn phòng Tổng Thống) bước vào đưa một tin bất hạnh: ông Paul Léandri, trưởng phòng thông tấn xã Agence France Presse ở Sàigòn bị cảnh sát bắn chết.

Léandri loan tin “có số lính người Thượng (Montagnards) đã nổi loạn ở Hậu Bổn, chống lại quân đội VNCH’. Nha Cảnh Sát mời ông đến để thẩm vấn. Sau vài tiếng đồng hồ bị giữ lại, Leandri bỗng nhiên bước ra khỏi phòng, nhảy lên xe và lái vút đi. Khi cảnh sát huýt còi ngừng, ông cứ tiếp tục phóng. Cảnh sát rút súng bắn vài phát vào bánh xe để giữ lại. Chẳng may một viên đạn lạc trúng ngay vao người. Leandri gục chết tại chỗ.

Phóng viên ngoại quốc vô cùng phẫn uất, phản kháng kịch liệt. Trong một tình hình vô cùng bất lợi cho Miền Nam về tất cả mọi phương diện quân sự, chính trị, kinh tế, và bộ mặt Miền Nam đã bị bôi nhọ bởi những hình ảnh dã man, độc tài, tham nhũng, bây giờ hình ảnh Leandri bị bắn gục chết lại phóng đi khắp thế giới! Tổng Thống Thiệu nghe tin này đã tái mặt. Ông liền chấm dứt, bước ra khỏi phòng họp.

Mấy ngày hôm sau, trong một phiên họp khác ở Văn Phòng Thủ Tướng, lại có tin chiếc máy bay vận chuyển C-5A chở đám trẻ em mồ côi vừa cất cánh ở Tân Sơn Nhất đã bị nổ tan. Chết trên 200 trăm em bé! Vào chính lúc đó lại đang có những chống đối ngay tại Washington về việc di tản người Việt Nam bằng máy bay Mỹ.

Ôi sao tin tức nó dồn dập, bi đát đến thế vào lúc con thuyền Miền Nam nghiêng ngửa sắp chìm đắm!

Suy gẫm như vậy, nhiều nguời trong đó có tác giả, cũng chỉ còn có cách là nghĩ đến chữ ‘mệnh’.

…Ngày nay nhìn lại, riêng phần tác giả thì cũng chỉ có một mong ước, đó là những thế hệ con cháu được sống trong thời đại kỹ thuật, có nhiều phương tiện và hoàn cảnh thuận lợi để liên lạc nên sẽ có thể gần gũi nhau hơn, thông cảm nhau hơn để rồi từng bước có thể giúp cho vận mệnh đất nước trở nên tươi sáng hơn, tốt đẹp hơn.

Chúng tôi nghĩ rằng đây cũng là niềm hy vọng của đại đa số người dân Việt Nam hôm nay.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Ông là tác giả cuốn ‘Khi Đồng minh Tháo chạy’ và là đồng tác giả cuốn The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh. Hiện ông định cư tại Virginia, Hoa Kỳ.

Mỹ đổi giọng, tuyên bố sẵn sàng đàm phán trực tiếp với Triều Tiên

Ngoại trưởng Mỹ bất ngờ tuyên bố nước này sẵn lòng đàm phán trực tiếp với Triều Tiên.

Ngoại trưởng Mỹ Tillerson thăm làng đình chiến Panmunjom (Bàn Môn Điếm) ở khu phi quân sự liên Triều. Một binh sĩ Triều Tiên đằng sau chụp ảnh ông. Ảnh: Reuters

Một binh sĩ Triều Tiên chụp ảnh Ngoại trưởng Mỹ Tillerson thăm làng đình chiến Panmunjom (Bàn Môn Điếm) ở khu phi quân sự liên Triều hôm 17/3. Ảnh: Reuters

Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson hôm qua cho biết chính quyền Tổng thống Donald Trump muốn đàm phán trực tiếp với Triều Tiên về việc chấm dứt chương trình hạt nhân, thể hiện sự thay đổi chính sách trong cách giải quyết điều mà Mỹ coi là mối đe dọa đang gia tăng, theo Washington Post.

“Hiển nhiên đó là cách chúng tôi muốn để giải quyết vấn đề này”, ông Tillerson nói trong một cuộc phỏng vấn với tổ chức truyền thông NPR, dự kiến phát sóng hôm nay. Trong khi đó, Mỹ đang nhóm họp cấp cao bất thường tại Liên Hợp Quốc về mối đe dọa đến từ kho vũ khí hạt nhân của Triều Tiên.

“Tuy nhiên Triều Tiên phải quyết định rằng họ sẵn sàng đàm phán với chương trình nghị sự đúng đắn. Đó không chỉ đơn giản dừng ở những việc vài tháng, vài năm qua mà phải là chương trình nghị sự 20 năm qua”, ông Tillerson nói.

Ngoại trưởng Mỹ không cho biết cụ thể hơn, song ông phác họa cách tiếp cận ngoại giao của chính quyền Mỹ là tập trung áp lực quốc tế và thúc đẩy áp lực kinh tế của Trung Quốc với đồng minh Triều Tiên.

Ông Tillerson nói với kênh Fox News rằng Mỹ không tìm cách “thay đổi chế độ” ở Triều Tiên, hoặc tìm một “cái cớ” cho đồng minh Hàn Quốc thống nhất bán đảo.

“Chế độ của Triều Tiên trong quá khứ cho thấy lý do họ theo đuổi vũ khí hạt nhân vì họ cảm thấy đó là cách duy nhất đảm bảo sự tồn tại của chế độ. Chúng tôi muốn thay đổi cách nhìn của họ”.

“Chúng tôi nói với họ rằng con đường tồn tại và bình an là xóa bỏ các vũ khí hạt nhân, chúng tôi cùng các nước khác sẽ chuẩn bị giúp họ trên con đường phát triển kinh tế”, Ngoại trưởng Mỹ nói.

Các nhà ngoại giao Mỹ cho biết phiên họp của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc hôm nay dự kiến sẽ ra tín hiệu cảnh báo với Triều Tiên rằng Mỹ không phải là nước duy nhất đánh giá mối đe dọa vũ khí hạt nhân của Bình Nhưỡng đã đạt đến điểm khủng hoảng.

VanViet/VNExpress