Giải mã thủ thuật tuyên truyền của Napoleon

Danh tướng Napoleon Bonaparte của nước Pháp không chỉ giỏi về quân sự mà còn “rất biết” cách tuyên truyền, cả trước và sau khi lên nắm quyền.

Napoleon Bonaparte là một tài năng lớn, một vị tướng đầy kỹ năng, một chính trị gia lão luyện, và là một vị lãnh đạo đầy lôi cuốn với binh sĩ. Bên cạnh các yếu tố này, còn có một lý do khác khiến hình ảnh của Napoleon khắc sâu vào lịch sử – đó chính là khả năng lớn của ông trong lĩnh vực tuyên truyền.Đưa tin từ Italy

Hoạt động tuyên truyền quy mô lớn đầu tiên của Napoleon là trong chiến dịch quân sự do ông chỉ huy ở Italy từ năm 1796-1797. Khi ấy uy tín chỉ huy quân sự của Napoleon đang lên. Ông muốn mọi người biết được mình đã lập được những chiến công gì. Một cơ hội hoàn hảo để ông mở rộng các tham vọng của mình.

Tuy nhiên đó không phải là động cơ duy nhất của Napoleon. Vị tướng này nhận ra giá trị của truyền thông trong việc phản ánh chiến tranh. Hoạt động phản ánh đó có thể làm tăng sự ủng hộ từ phía dân chúng, nâng cao tinh thần chiến đấu của binh sĩ và làm sa sút ý chí của đối phương.

Các tờ báo do quân đội Pháp lập ra để phục vụ chính quân đội đã trở thành một đặc điểm của đời sống quân sự nước Pháp thời kỳ này. Napoleon lập ra 2 tờ ở Italy, tờ thứ nhất là Courrier de l’Armée d’Italie, tờ thứ 2 là La France Vue de l’Armée d’Italie.

Napoleon chủ trương lưu hành hai tờ báo này trong các quân nhân Pháp, nhưng đối tượng độc giả của ông không dừng lại ở đó. Vị tướng này cho gửi nhiều số báo về Paris. Các đoạn trích từ các tờ báo đó đã được đăng trên báo chí chủ lưu ở thủ đô.

Các tờ báo quân đội nói trên có hai điểm đáng lưu ý. Một là chúng đề cao các thành tựu của Napoleon, nhấn mạnh tới các thành công của ông và lờ đi các thất bại. Hai là, các tờ báo đó duy trì một sự cân bằng tinh tế giữa các luồng tư tưởng chính trị. Tờ Courrier có sức hấp dẫn đối với tầng lớp cách mạng còn tờ La France lại hợp khẩu vị với giới bảo thủ. Hai tờ báo vì thế vừa làm hài lòng bộ phận cấp tiến vừa khiến nhóm bảo thủ cảm thấy yên tâm.

Vượt qua ngôn từ

Khi thủ đô Paris ngập tràn các câu chuyện về chiến công của Napoleon, không có gì ngạc nhiên khi các nghệ sĩ cũng lấy cảm hứng từ nhân vật này. Các thi sĩ bắt đầu viết thơ ca ngợi Napoleon. Các nhà viết kịch thì đưa các cuộc phiêu lưu của viên tướng này lên sân khấu. Các nhà điêu khắc sáng tác những bức tượng bán thân về Napoleon. Các họa sĩ thì tô vẽ những bức họa về vị tướng và những trận chiến kịch tính do ông chỉ huy.

Ngay từ đầu, Napoleon đã khuyến khích điều này. Ông nhận thức rõ tác động của nhà hát vào tình cảm con người và ông giữ liên hệ với những gì diễn ra tại đó. Napoleon cũng cố gắng thu hút sự chú ý của giới họa sĩ. Antoine-Jean Gros là một người được Napoleon ưa thích và người này đã trở thành nhà khắc họa chân dung (bán chính thức) của Napoleon.

Họa sĩ Antoine vẽ bức chân dung Napoleon đầu tiên vào năm 1797. Ông cũng là tác giả của bức họa nổi tiếng ghi lại hình ảnh Napoleon trên cầu Arcole để kỷ niệm một trong các chiến thắng của vị tướng này. Cả hai bức họa đều được chuyển thể thành các bức chạm khắc rao bán khắp nước Pháp cũng như ngoài lãnh thổ nước này, làm cho danh tiếng Napoleon cũng nổi hơn.

Khi đã trở thành quan tổng tài thứ nhất và sau đó là Hoàng đế Pháp, Napoleon có đủ điều kiện để sử dụng các nghệ sĩ lớn nhất thời ông, như là Jacques-Louis David. Lễ đăng quang của Napoleon, gia đình ông và các trận đánh của ông – tất cả đều sẽ trở nên bất tử nhờ vào những bức sơn dầu hay chạm khắc. Ngay từ đầu, ông đã chủ động dùng sức mạnh của cả hình ảnh và ngôn từ.

Báo chí từ Ai Cập

Thành công rực rỡ nhất của Napoleon về mặt tuyên truyền là trong chiến dịch ở Ai Cập. Tại đó, trình độ tuyên truyền của ông đã đạt tới mức độ siêu phàm, khiến cho cả một chiến dịch vốn là thất bại lại trông cứ như một chiến dịch thành công vang dội. Với các thông tin ông kể từ Ai Cập, Napoleon đã khoác lên mình một vẻ vừa lạ lẫm vừa học thuật.

Ngay từ trước lúc viễn chinh sang Ai Cập, Napoleon đã biết mình phải phản ánh cuộc chinh chiến này ra sao. Ông đã tuyển hơn 160 học giả các lĩnh vực khác nhau đi theo mình. Tất nhiên Napoleon cũng đam mê lịch sử và Trung Đông nhưng việc này còn là để phục vụ mục tiêu tuyên truyền. Theo đó, Napoleon sẽ xuất hiện với tư cách một người khai sáng, gửi về quê nhà những khám phá mới.

Cũng giống ở Italy, ông đã lập ra ở xứ sở Kim tự tháp 2 tờ báo với các góc độ khác nhau.

Tờ Courrier de l’Egypt hướng tới độc giả là binh sĩ và dân thường ở quê nhà. Nó giới thiệu về văn hóa phong phú của Ai Cập, các thành công ngoại giao của Pháp và các thắng lợi quân sự của Napoleon. Tờ này bác bỏ các tin đồn (thường là đúng) về các thất bại quân sự của ông.
Trong khi đó, tờ La Décade Egyptienne lại mang tính học thuật nhiều hơn, tập trung vào các phát hiện trí tuệ từ cuộc viễn chinh.

Một Napoleon vừa đời thường vừa có chiều sâu trí tuệ được thể hiện qua các báo cáo gửi về Pháp. Kết quả là khi phải từ bỏ cuộc chinh chiến và quay về Pháp, bỏ lại đằng sau một đội quân bệnh tật và bị cô lập, Napoleon vẫn trong tư thế người chiến thắng.

Kiểm soát báo chí

Trong quá trình bước lên đỉnh cao quyền lực, Napoleon đã tận dụng tốt báo chí tự do. Ông sử dụng quyền tự do báo chí để cho in ấn những điều mà ông muốn tạo dựng cho hình ảnh của ông trước công chúng. Nhờ có báo chí, ông tác động vào cách nhìn của công chúng Pháp đối với thực tế.

Khi đã trở thành Hoàng đế, Napoleon quay lại chống tự do báo chí. Ông thiết lập chế độ chuyên chế kiểm soát mọi khía cạnh chính của xã hội. Vị quân vương này không thể để cho các đối thủ sử dụng sức mạnh của truyền thông để chống lại ông.

Kết quả là sự ra đời của Cục Định hướng Lĩnh vực Sách. Cơ quan này giám sát mọi khía cạnh của hoạt động xuất bản bên trong Đế chế Pháp. Mọi cơ sở in ấn, xuất bản và người bán sách đều bị giám sát. Mọi nội dung xuất bản đều bị kiểm duyệt gắt gao.

Hâm mộ Julius Caesar từ bé, Napoleon quyết không lặp lại “sai lầm” của nhà lãnh đạo La Mã nổi tiếng này, đó là không để bị đâm sau lưng bởi chính các lực lượng đã giúp đưa ông lên vị trí quyền lực.

Hồi ký

Có lẽ do quá tin tưởng vào các hình ảnh vĩ đại của bản thân mà Napoleon đã căng mỏng lực lượng của mình ra và đế chế của ông sụp đổ. Nhưng ngay cả khi đối mặt với các thất bại quân sự và chính trị, ông vẫn không chịu thất bại trong cuộc chiến tuyên truyền.

Trong thời kỳ “Triều đại 100 ngày” năm 1815, Napoleon phần nào lấy lại hào quang và danh tiếng đã bị tổn hại. Sau đó khi bị lưu đày ở St Helena, ông vẫn cố “PR” cho hình ảnh của mình.

Tại nơi ông ở trên đảo này, Napoleon hay nói một thôi một hồi với những người hộ tống mình. Ông kể về những thành công và thất bại, và thường đổ lỗi cho người khác về các thất bại của mình. Ông tự vẽ lên hình ảnh một người có tầm nhìn nhất quát, cố gắng xây dựng một quốc gia ổn định và tự do.

Sau khi Napoleon chết, những chia sẻ này được đưa vào một số cuốn sách của các tác giả từng nghe ông tâm sự. Hồi ký của các vị này có thể xem là một thành công tuyên truyền cuối cùng của Napoleon, đóng góp thêm vào vinh quang của ông ngay cả khi ông đã nằm dưới mồ.

Theo VOV

Mark Zuckerberg – “Doanh nhân của năm” 2016

Mark Zuckerberg - “Doanh nhân của năm” 2016

Tốt nghiệp Đại học Harvard năm 2004, anh đến Thung lũng Silicon để khởi nghiệp. Ở giai đoạn sơ khai, startup của anh đã được định giá 100 triệu USD. Vây quanh anh là rất nhiều doanh nhân sẵn sàng mua lại công ty này với mức giá cao hơn, nhưng không có giá nào được chấp nhận, vì đơn giản – anh xây dựng công ty “không phải để bán”.

Tên anh có thể nhiều người không nhớ, nhưng “đứa con” của anh thì cả thế giới đều rành: Facebook. Anh là Mark Zukerberg – người vừa được Tạp chí kinh doanh Fortune bình chọn là “Doanh nhân của năm 2016”.

Facebook hiện nay – 11 năm sau ngày ra đời, không chỉ là cỗ máy truyền thông có quy mô 16.000 nhân viên, trị giá 350 tỷ USD mà còn là gã khổng lồ trong lĩnh vực quảng cáo – công nghệ. Mạng xã hội Facebook – sản phẩm cốt lõi của công ty sở hữu 1,8 tỷ người sử dụng.

Đi cùng mạng xã hội lớn nhất thế giới, Mark đã xây dựng nên một “gia đình các ứng dụng” đi kèm gồm công cụ chia sẻ hình ảnh Instagram, dịch vụ truyền thông liên lạc WhatsApp và 2 ứng dụng tự phát triển Facebook Messenger và Facebook Groups. Ngoài ra, Mark tin rằng công ty sản xuất kính thực tại ảo Oculus sẽ là khởi nguồn cho công cụ giao tiếp tiếp theo của con người.

Tất cả những thành công này đã đưa Mark Zuckerberg bước lên hàng siêu sao trong lĩnh vực kinh doanh thế giới, được so sánh ngang với Bill Gates – nhà sáng lập, Chủ tịch Tập đoàn Microsoft; Steve Jobs – nhà sáng lập, Chủ tịch, CEO Apple; và Jeff Bezos – nhà sáng lập, CEO Amazon.

Ở độ tuổi 30, cùng với vợ là Priscilla Chan, anh trở thành một trong những người hoạt động nhân đạo tích cực nhất thế giới. Gần đây, sau khi cô con gái đầu lòng của hai người chào đời, Mark đã quyết định đầu tư 3 tỷ USD vào các sáng kiến có khả năng chữa trị, ngăn chặn và kiểm soát tất cả các dịch bệnh có thể xảy ra trong suốt cuộc đời của một đứa trẻ.

Mark Zuckerberg “dạy bơi” cho con gái. Nguồn: Facebook

Năm 2016, Mark đã đưa Facebook đạt mức tăng trưởng vượt bậc với lợi nhuận đạt 27 tỷ USD, tăng 56% so với năm trước và lợi nhuận ròng tăng 166%.

Điều gì đã biến anh ấy trở thành một doanh nhân hiệu quả? Câu hỏi này đã được Fortune giải đáp bằng 3 yếu tố sau:

1. Tầm nhìn dài hạn

Mark là một trong những nhà tiên phong dịch chuyển doanh nghiệp theo dòng phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư. Trong đó, 3 ý tưởng quan trọng xuất phát từ tầm nhìn dài hạn của Mark đang được hiện thực hóa và tạo ra tác động đáng kể với tương lai của Facebook chính là: sự kết nối internet toàn cầu, trí tuệ nhân tạo và thực tế ảo.

Mike Vernal – cựu Trưởng nhóm nghiên cứu sản phẩm và thị trường của Công ty tin rằng chìa khóa thành công của Mark là tầm nhìn vượt qua nhiều thập kỷ và khả năng thiên phú khi biết được ý tưởng nào nên được đào sâu.

“Trong khi hầu hết mọi người chỉ suy nghĩ về ngày hoặc tuần tiếp theo sẽ như thế nào thì Mark nghĩ đến thế kỷ tiếp theo nhân loại sẽ ra sao”, Mike nói. Mike nêu ví dụ về sự táo bạo trong suy nghĩ của Mark bằng tham vọng có thể kết nối một nửa thế giới hiện chưa được phủ sóng internet trong 10 năm tới bằng các máy bay trực thăng hoạt động như trạm kết nối thông tin từ trên cao.

Bên cạnh cuộc đua sản xuất kính thực tế ảo phù hợp với mức tiêu dùng phổ thông với Samsung, HTC và Google, Mark nhìn thấy ý nghĩa của thực tế ảo phụ thuộc vào điều người dùng sẽ làm khi bước vào không gian này. Mark nhấn mạnh kính thực tế ảo chỉ là công cụ để người dùng bước vào không gian giao tiếp mới. Các ứng dụng phát triển sau này mới là trọng tâm của ngành công nghiệp thực tế ảo.

Điều này đã đưa Facebook mở ra hướng tiếp cận mới, tập trung những kỹ sư công nghệ giỏi nhất của Facebook thiết kế hàng loạt ứng dụng thực tế ảo cho người dùng từ năm 2016. Facebook đã đi tiên phong trong lĩnh vực phát triển các ứng dụng này.

Đi cùng với tầm nhìn dài hạn là khả năng phát hiện ra các ý tưởng lớn từ rất sớm và sẵn sàng thuyết phục để mua lại sản phẩm của người khác khi cần thiết của anh. Chẳng hạn, Mark thực hiện thương vụ mua lại Instagram vào năm 2012 với giá 1 tỷ USD. 2 năm sau, anh tiếp tục mua Công ty Oculus VR sản xuất kính thực tế ảo với 2 tỷ USD. Và cũng trong năm 2014, anh đã chi 19 tỷ USD để mua lại WhatsApp.

Instagram, với doanh thu dự đoán năm 2016 vào khoảng 2,5 tỷ USD hiện là thương vụ thành công nhất của Mark. Trong khi đó, Oculus và WhatsApp dần trở thành sản phẩm kinh doanh chiến lược. CEO của cả 2 công ty này đều đang làm việc dưới sự điều hành của Mark.

2. Quan điểm nhất quán

Trong mắt công chúng, Mark luôn xuất hiện với hình ảnh một “anh chàng công nghệ” sáng lán. Thực tế, anh là người thành công trong việc xây dựng một đội ngũ nhân sự giỏi mà anh vô cùng ngưỡng mộ.

Sự lão luyện trong tuyển dụng nhân sự của Mark thể hiện rõ khi danh sách các vị trí điều hành chủ chốt của Facebook đều là những người hoặc đã gắn bó với Facebook trên 10 năm hoặc được thu hút từ Google, WhatsApp, Oculus VR. Đội ngũ này cũng là những nhà thẩm định tốt nhất cho các ý tưởng của Mark.

Chia sẻ trong chuyên mục Hỏi – Đáp trên Facebook cá nhân về quan điểm quản lý nhân sự, Mark cho biết: “Để thu hút nhân sự, tôi nghĩ một trong những điều quan trọng là thực sự sống với hệ giá trị bạn theo đuổi. Facebook không phải là công ty cho tất cả mọi người. Chúng tôi tin rằng thế giới sẽ tốt đẹp hơn khi con người có thể chia sẻ suy nghĩ, có khả năng kết nối với bạn bè xung quanh và kết nối với những phần khác của thế giới. Tôi tin tưởng mạnh mẽ về điều này và nếu bạn cũng có cùng niềm tin đó thì Facebook là công ty dành cho bạn. Nếu bạn không tin vào điều này, có thể bạn nên tìm đến công ty khác”.

Tư duy kỹ thuật là nền tảng chính cho quan điểm quản lý của Mark. Điều này đã được Mark chia sẻ với các chuyên gia phát triển phần mềm của Nigeria vào mùa hè năm 2016: “Với tôi, công nghệ bước vào cuộc sống với 2 ưu điểm chính: Một là tư duy nhìn nhận các vấn đề như một hệ thống, hai là phân tích vấn đề lớn ra thành từng mảng nhỏ. Khi áp dụng suy nghĩ này vào công việc điều hành doanh nghiệp, bạn sẽ phân chia các hệ thống vận hành phức tạp thành những nhóm nhân sự chức năng cụ thể. Thay vì quản lý các cá nhân, bạn sẽ quản lý các nhóm. Và nếu bạn áp dụng tốt tư duy này, bạn sẽ nhận thấy việc điều hành doanh nghiệp cũng không quá khác biệt với viết code”.

3. Kiên định với sứ mệnh công ty

Facebook phát triển với một sứ mệnh duy nhất là “trao cho con người sức mạnh để chia sẻ và biến thế giới thành nơi cởi mở và kết nối nhiều hơn”. Điều này được Mark liên tục lặp lại trong các bài nói chuyện trước công chúng lẫn các phần trả lời phỏng vấn với báo chí.

Sự lặp lại này nhấn mạnh thông điệp của Facebook với thế giới: Nếu Facebook không thể giải thích được sản phẩm mới phù hợp thế nào với sứ mệnh này thì sản phẩm đó không phù hợp với quan điểm phát triển của Công ty.

Không gian thực tại ảo được phát triển vì Mark cho rằng đây sẽ là nền tảng tiếp theo để con người giao tiếp với nhau trong tương lai. Suy nghĩ này tương tự với cách Mark nhìn nhận về website vào thời điểm phát triển Facebook. Mark quyết định chi một số tiền lớn để mua lại WhatsApp (sản phẩm đang thách thức Skype trong thị trường liên lạc quốc tế miễn phí) vì ứng dụng này phù hợp với sứ mệnh mở ra không gian kết nối và cởi mở cho người dùng.

Thành công đòi hỏi sự kiên nhẫn của người lãnh đạo. Mark đã chứng tỏ được giá trị của sự kiên nhẫn với Instagram, khi ứng dụng này không mang lại lợi nhuận cho Facebook ở thời gian đầu mua lại, song đến năm nay, Instagram đã bùng nổ. Và Mark đang tiếp tục cuộc chơi đường dài với WhatsApp.

Sự kiên định của Mark không chỉ thể hiện ở những điều anh đã làm mà còn ở những mảng anh đã không làm. Không giống như Alphabet hay Google, Facebook không xé nhỏ lợi nhuận kinh doanh của mình để theo đuổi các sản phẩm xa rời sứ mệnh của công ty, dù rằng đó là các sản phẩm dẫn đầu trong xu hướng đầu tư hiện tại như xe hơi tự lái.

Sau tất cả, điều khiến Mark trở thành hình mẫu doanh nhân thành công lý tưởng của Fortune là vì sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc. Khi Maxima – cô con gái đầu lòng chào đời vào Lễ tạ ơn năm 2015, Mark đã nghỉ việc 2 tháng để dành thời gian chăm sóc con.

Lâm Nghi

Khối tài sản gây choáng ngợp của hoa hậu Hà Kiều Anh

 Tuy nhiên, Hoa hậu Việt Nam năm 1992 tin rằng gia sản đồ sộ chỉ là phù du vì ‘hôm nay nhiều, ngày mai có thể mất đi’…

Hà Kiều Anh cùng Trương Ngọc Ánh và Ngô Mỹ Uyên là bộ ba hoa hậu giàu nhất Việt Nam. Song đủ sức so giàu với Ngô Mỹ Uyên thì chỉ có Hà Kiều Anh.

Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Hà Kiều Anh trẻ đẹp dù đã vào độ tứ tuần.
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Tài sản vô giá của hoa hậu Hà Kiều Anh.

Xuất thân từ dòng dõi trâm anh thế phiệt, Hà Kiều Anh từng là tiểu thư sống trong nhung lụa ở Hà Nội. Tuy nhiên, vì bố mẹ chia tay, cô theo mẹ vào Nam khi chỉ mới 3 tuổi. Thậm chí, vì bị say xe mà mẹ cô bị ăn cắp toàn bộ số tiền mang theo. Từ một tiểu thư đài các, Hà Kiều Anh phải tập làm quen cuộc sống thiếu thốn, khổ cực. Cô đi làm thêm đủ thứ nghề từ nhỏ: làm nhang, thừa khuyết, dệt len, đan lồng đèn… để phụ mẹ. Mỗi bữa thường chỉ có cơm trắng chan nước lã, bữa sung túc hơn thì có thêm quả trứng luộc chia đôi.

Năm 1992, Hà Kiều Anh đăng quang Hoa hậu Việt Nam khi chỉ mới 16 tuổi, vẫn còn đang theo học tại Nhạc viện TP HCM. Được mệnh danh là hoa hậu đẹp nhất trong các hoa hậu, cô có nhiều thuận lợi trong hoạt động nghệ thuật. Song Hà Kiều Anh vẫn chủ động đi theo con đường kinh doanh bất động sản từ rất sớm.

Dường như cô sở hữu nhạy cảm đặc biệt với công việc xây và trang trí nhà cửa. Khi hoàn tất, cô ướm được giá là bán ngay. Nghe ở đâu có đất đẹp, hoa hậu lại chạy đến, cân nhắc, suy tính đầu tư từng chút. Cứ như vậy, cô dần có những thành công nhất định, tích luỹ được tài sản riêng cho mình.

Chồng trước của Hà Kiều Anh là đại gia Nguyễn Gia Thiều song cuộc hôn nhân ngắn ngủi này sớm kết thúc. Chồng sau và cũng là ông xã cô hiện tại, ông Huỳnh Trung Nam, một doanh nhân thành đạt, nổi tiếng. Từ năm 2003 đến nay, ông Nam là tổng giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng quản trị một công ty lớn. Đây là một tập đoàn đầu tư phát triển trong lĩnh vực bất động sản, được thành lập từ năm 2003. Tập đoàn này đang sở hữu nhiều trung tâm thương mại, khách sạn và khu nghỉ dưỡng cao cấp, văn phòng cho thuê, căn hộ cao cấp, nhà hàng…

Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Chồng Hà Kiều Anh – ông chủ tập đoàn nổi tiếng trong lĩnh vực chính là kinh doanh bất động sản. Công ty của ông sở hữu nhiều công ty con, trong đó có: kinh doanh khách sạn và khu nghỉ dưỡng cao cấp…
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Kinh doanh trung tâm thương mại…
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
văn phòng cho thuê…
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
chuỗi nhà hàng món Hoa…
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
… đến hãng ô tô; khai thác, chế biến và kinh doanh đá cẩm thạch.

Ở tuổi 40, nhan sắc Hà Kiều Anh vẫn đẹp mặn mà, sống cuộc sống viên mãn, có chồng giàu, con ngoan; cùng chồng quản lý khối tài sản nghìn tỷ. Tuy nhiên chia sẻ với VietNamNet, Hà Kiều Anh cho rằng tiền bạc chỉ là phù du, hôm nay nhiều nhưng trong tích tắc có thể mất đi…

Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Gia đình Hà Kiều Anh sở hữu một căn penthouse ở phố biển Vũng Tàu, có diện tích 500 m2 với nội thất sang trọng, thiết kế theo phong cách hoàng gia. (Ảnh: photo An Trần)
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Căn hộ này có hai tầng, cả bốn mặt đều hướng ra biển và núi. Phòng khách, phòng ăn, nhà bếp, phòng ngủ, phòng tắm… đẹp tinh xảo. Vàng và trắng là hai gam màu chủ đạo của căn penthouse này. Nội thất hoàn toàn theo gu phương Tây cổ điển. (Ảnh: photo An Trần)
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Song đó vẫn chưa phải là đối tượng mà công chúng thường ca ngợi như ‘ngôi nhà đẹp nhất showbiz Việt’. Vì nơi mà gia đình Hà Kiều Anh đang sống là một căn biệt thự vườn rộng 500m2, tọa lạc ở khu biệt thự quận 2, TP HCM.
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Bất cứ ai từng ghé thăm dinh thự này đều không khỏi choáng ngợp trước vẻ đẹp xa hoa của nó.
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Một số chuyên gia nhà đất ước tính tổng trị giá căn biệt thự này khoảng 400 tỉ đồng song trong một lần trò chuyện với VietNamNet, Hà Kiều Anh đã phủ nhận thông tin này.
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Những không gian chính trong ngôi nhà mang vẻ đẹp cổ điển, sang trọng song vẫn mang đậm dấu ấn văn hoá Việt.
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Phòng tắm riêng của cô và ông xã được thiết kế đặc biệt với hồ tắm jacuzzi đẳng cấp.
Hà Kiều Anh, hoa hậu Hà Kiều Anh, sao Việt
Hà Kiều Anh sống cuộc sống viên mãn, hạnh phúc bên các con.

Gia Bảo/VietnamNet

Gạo cứu đói và công trình “hoành tráng mang tầm thế kỷ”

– Ai dám bảo đảm dự án công viên “không lắt nhắt” và “táo bạo”này sẽ thoát khỏi tư duy nhiệm kỳ, thoát khỏi số phận các dự án lãng phí tiền tỷ trước đó? Dù tham vọng của Thanh Hóa là không nhỏ- công trình văn hóa lớn nhất cả nước và mang tầm thế kỷ?

1-Dư luận xã hội mới đây bỗng bất ngờ vì thông tin trên các báo – 15 tỉnh xin nhà nước hỗ trợ 15000 tấn gạo cứu đói cho dân.

Không bất ngờ sao được. Bởi nếu là những năm thời bao cấp, đất nước còn rất nghèo, thì việc các tỉnh xin hỗ trợ gạo cứu đói, cứ đến hẹn lại lên, cũng là lẽ thường tình. Thế nhưng, đất nước đã qua 30 năm đổi mới, từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, và Việt Nam, dù còn những vấn đề phải bàn về chất lượng, giá cả, nhưng hạt gạo đã trở thành hàng hóa đứng thứ nhì thế giới về xuất khẩu mặt hàng này. Thì việc một số tỉnh tuần chay nào cũng có nước mắt – xin hỗ trợ gạo cứu đói cho dân- có gì đó thật khó… bình. Dù vậy, cứu đói cho dân là việc không thể chậm trễ.

xin  gạo cứu đói,  Thanh Hóa, công viên 2000 tỷ

Một hạng mục trong công viên 2000 tỷ của tỉnh Thanh Hoá

Ở con số 15 tỉnh đó, Thanh Hóa vẫn góp mặt- với 09 huyện và 15.400 hộ dân xin hỗ trợ 650 tấn gạo. Nói vẫn góp mặt là bởi, đã có những tỉnh như Quảng Nam, phải hứng chịu hai đợt lũ muộn, Thừa Thiên- Huế, bị mưa lũ liên tiếp, thậm chí là một trong 04 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển, nhưng trước Tết Đinh Dậu mới đây đã không xin hỗ trợ gạo cứu đói. Điều đó thể hiện sự cố gắng của tỉnh không…. ỉ lại vào nhà nước và cộng đồng. Ngược lại, tiếng là tỉnh lớn, Thanh Hóa năm nào cũng xin. Năm 2015, xin hỗ trợ gần 935 tấn gạo, năm 2014, xin hỗi trợ hơn 500 tấn.

Trong thực tế, ngân sách hàng năm thu được khoảng trên dưới 11. 000 tỷ đồng, không biết có phải là bóc ngắn cắn dài không nhưng mức chi thường xuyên của tỉnh thường trên 20.000 tỷ đồng. Thế nên, việc tỉnh vẫn góp mặt trong danh sách xin hỗ trợ cứu đói cho dân, cũng không lạ.

Lạ nhất, vào lúc còn chưa qua tháng Giêng âm lịch, gạo cứu đói trong bồ của người dân nghèo Thanh Hóa có lẽ còn chưa hết, dư luận xã hội đã xôn xao vì thông tin Thanh Hóa định xây công viên văn hóa hơn 2500 tỷ đồng.

Theo báo GDVN, ngày 22/2, công viên văn hoá này rộng 500.000 m2, dự kiến sẽ được xây dựng ở trung tâm thành phố với nhiều hạng mục có quy mô lớn. Có 02 phương án xây dựng: 1) Công viên sẽ có các hạng mục chính như khu đền thờ trăm họ, tháp vọng cảnh, đại đình làng Việt, khu dịch vụ tập trung…Tổng mức đầu tư khoảng 2.361 tỷ đồng (trong đó vốn ngân sách 713 tỷ đồng, ngoài ngân sách 1.648 tỷ đồng). 2) Ngoài các hạng mục trên, có thêm quảng trường và khu nhà điển hình các dân tộc thiểu số. Tổng mức đầu tư khoảng 2.520 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách gần 780 tỷ đồng, còn lại 1.740 tỷ đồng là ngân sách xã hội hóa.

Thú thật, người viết bài này, đọc thông tin mà… hoa cả mắt.

Ai đó có câu nói chí lý: Sự ấm no của người dân chính là thước đo chuẩn xác nhất về sự thành công của một quốc gia. Chưa cần một quốc gia, sự ấm no của người dân cũng chính là thước đo chuẩn xác nhất về sự thành công của một địa phương. Với tiêu chí đó, Thanh Hóa chưa phải địa phương… thành công lắm. Thậm chí ngược lại!

Đã vậy, để quảng bá cho dự án, ông Ngô Văn Tuấn, Phó Chủ tịch tỉnh còn khẳng định một cách tự tin: Nếu công trình này được triển khai và hoàn thành, nó sẽ là công viên văn hóa lớn nhất cả nước và mang tầm thế kỷ. Vấn đề là mình phải táo bạo mới có công trình lớn, hoành tráng. Còn cứ làm lắt nha lắt nhắt thì làm sao mà phát triển được? Và: Không phải vì dân nhận gạo cứu trợ mà không đầu tư phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa. Cái nào nó ra cái đó, cái làm thì vẫn phải làm! (GDVN, ngày 23/2)

2-Công bằng mà nói, công viên văn hóa, với bất cứ một quốc gia, đô thị, hay địa phương nào cũng là ý tưởng tốt. Bởi đó là không gian thiên nhiên hòa trộn với văn hóa, mang bản sắc văn hóa địa danh đó, là nơi để người dân thưởng ngoạn, sau những giờ lao động mệt nhọc. Và có thể còn có sức quyến rũ du khách du lịch trong nước, nước ngoài.

Thế nhưng vừa xin hỗ trợ cứu đói cho dân, Thanh Hóa đã đưa ra dự án công viên tới 2500 tỷ, khiến dư luận xã hội phản ứng. Vì sao?

xin  gạo cứu đói,  Thanh Hóa, công viên 2000 tỷ

Đồ án công viên 2000 tỷ được tỉnh Thanh Hoá trưng bày

Vì con số 2500 tỷ đưa ra cho việc xây dựng một công viên vui chơi, vào lúc vừa xin cứu đói, nó có phần… không phải “đạo”, không phù hợp phép ứng xử, nhất là của một chính quyền ở một tỉnh dân đông, còn gặp không ít khó khăn trong đời sống và phát triển kinh tế.

Vì đặt trong bối cảnh vấn nạn tham nhũng vẫn ngang nhiên trông trời trông đất trông mây, mà một dự án hàng nghìn tỷ đồng, thì chắc chắn, hoa hồng đến kỳ hoa hồng nở. Có ai dám khẳng định với dư luận xã hội, là loại hoa hồng này không nở trên dự án, trên sắt thép, trong công viên thì sắp tới?

Vì tư duy nhiệm kỳ- một kiểu “vấn nạn” khác, khiến cho xã hội từ lâu hoài nghi sự “chính danh” của các dự án, theo kiểu muốn ăn thì làm dự án mà ăn.

Và ở một góc độ khác, phải nói rằng, sự lãng phí tài lực, vật lực tại các công trình của Thanh Hóa trong thì quá khứ, thì hiện tại là cũng không “lắt nhắt” chút nào. Nó muôn mặt đời thường, ở đủ các lĩnh vực.

Ví như mới đây, theo VnExpress, ngày 23/2, dự án tái định cư hơn 300 tỷ đồng thi công ì ạch, do UBND tỉnh làm chủ đầu tư, sau 06 năm (phê duyệt năm 2010) vẫn dở dang. Nhiều hạng mục xuống cấp, cỏ dại mọc um tùm biến thành bãi thả trâu bò, thậm chí còn là điểm tụ tập chích hút của dân nghiện ma túy.

Ví như, các dự án công nghiệp như Dự án Cụm các nhà máy máy sản xuất, lắp ráp ô tô, máy xây dựng Vinaxuki Song Lộc – Thanh Hóa do thiếu vốn đầu tư, chất lượng công trình hoen rỉ, xuống cấp, kéo theo gần 26 ha đất nông nghiệp màu mỡ thu hồi đã bị bỏ hoang. Rồi 27 ha đất giải phóng mặt bằng với chi phí đền bù lên hàng tỉ đồng, phục vụ dự án Khu biệt thự Hùng Sơn – Nam Sầm Sơn do Công ty Cổ phần Văn Phú Invest thực hiện nay cũng thành đất hoang (truyenhinhthanhhoa.vn, ngày 09/12/2016)

Trước đó, tháng 3/2016, báo Tài Nguyên Và Môi trường đưa tin, hàng loạt chợ của toàn tỉnh Thanh Hóa như chợ Già (xã Hoằng Kim), chợ Đức Sơn, xã Hoằng Đức (đều thuộc huyện Hoằng Hóa)…, đầu tư hơn 18 tỷ đồng, nhưng đến nay vẫn đắp chiếu “ngủ… hoang”, gây lãng phí ngân sách nhà nước và doanh nghiệp.

Cũng chẳng phải chỉ có các dự án chợ kinh doanh, buôn bán, dự án sản xuất công nghiệp, hay tái định cư, mà ngay cả các công trình thuộc Chương trình 135 của nhà nước cho các xã miền núi đặc biệt khó khăn, cũng rơi vào tình trạng lãng phí. Theo Thanh niên, ngày 22/12/2015, từ năm 2012 đến 2015, Thanh Hóa có 114 xã được nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng theo CT 135, tổng số vốn lên tới hơn 550 tỉ đồng. Nhưng không ít công trình khi đưa vào sử dụng đã nhanh chóng bị hư hỏng, hoặc không sử dụng được, gây lãng phí ngân sách nhà nước.

Mà đó toàn là tiền tỷ, xét cho cùng, là tiền thuế của dân.

Ai dám bảo đảm dự án công viên “không lắt nhắt” và “táo bạo”này sẽ thoát khỏi tư duy nhiệm kỳ, thoát khỏi số phận các dự án lãng phí tiền tỷ trước đó ? Dù tham vọng của Thanh Hóa là không nhỏ- công trình văn hóa lớn nhất cả nước và mang tầm thế kỷ?

Thanh Hóa có nên nhớ câu thành ngữ liệu cơm gắp mắm?

Nếu không có “thực” (tài lực, vật lực, năng lực), sao … vực được công viên?

Kỳ Duyên

Người gây quỹ ngầm cho Clinton tiết lộ bí mật động trời vì lo sợ bị ám sát

Johnny Chung chụp hình cùng gia đình Clinton. Bức ảnh có chữ ký của Hillary Clinton. (Ảnh: Daily Mail)

Tóm tắt bài viết

  • Một video tự ghi của người gây quỹ ngầm cho Clinton, ông Johnny Chung, được gửi đến báo Daily Mail (Anh), tiết lộ mối quan hệ Trung Quốc và chính quyền Clinton.
  • Johnny Chung là người tham gia vụ bê bối Chinagate năm 1996, khi tuồn tiền của Trung Quốc cho quỹ vận động tranh cử của Clinton.
  • Johnny Chung tự ghi video vì lo sợ bị ám sát, giống như các trường hợp khác.
  • FBI từng lôi kéo ông Chung vào một âm mưu ám sát
  • Trung Quốc có nhiều đầu mối khác để dùng tiền chi phối các chính phủ nước ngoài.

Nội tình quan hệ ám muội giữa Clinton và chính quyền Trung Quốc được tiết lộ.

Johny Chung là một doanh nhân Mỹ gốc Trung Quốc từng đóng vai trò trung tâm trong vụ bê bối tài chính của chiến dịch tranh cử Bill Clinton. Ông đã bí mật ghi lại một băng video như “vật bảo hiểm” để đề phòng bị sát hại.

Trong cảnh phim được cung cấp cho báo Daily Mail (Anh), Johnny Chung kể chi tiết về cách ông chuyển tiền phi pháp từ các quan chức Trung Quốc cho chiến dịch tái tranh cử của Bill Clinton vào năm 1996.

Ông là người gây quỹ ngầm cho Clinton và đã ghi lại câu chuyện bí mật này trong khi đang ẩn náu vào năm 2000. Johny Chung chuyển băng video cho những người bạn tin cậy và cho gia đình, dặn họ công bố cho truyền thông trong trường hợp ông bị hại chết, vì ông tin bản thân mình có nguy cơ bị ám sát.

Johnny Chung được cho rằng vẫn đang sống ở Trung Quốc.

1

Người gây quỹ ngầm Johnny Chung. (Ảnh: Video/Daily Mail)

Trò chơi vương quyền

Băng video được gửi đến nhà sử học Doug Wead khi ông viết cuốn sách “Trò chơi vương quyền”, trong đó tiết lộ chiến dịch tranh cử không thành công của Hillary Clinton năm 2016. Cuốn sách còn cho biết chính quyền Trung Quốc đã vận động để gây ảnh hưởng đến chính trị nước Mỹ trong thời gian dài.

Tác giả Wead đã cung cấp những trích đoạn của video cho báo Daily Mail. Bạn của ông Chung, Bob Abernethy là người quay video này, cũng xác nhận thông tin.

Trong đoạn phim, Johnny Chung mô tả ông lo sợ thế nào cho mạng sống của mình, sau khi ông thừa nhận đã tuồn tiền của các quan chức Trung Quốc cho chiến dịch tranh cử của cựu Tổng thống Bill Clinton vào năm 1996.

Ông cũng nói những người của đảng Dân chủ đã gây sức ép với ông phải im lặng về những phi vụ với gia đình Clinton và nói rằng FBI đã thử tuyển ông để ám sát một tướng quân đội Trung Quốc tại sân bay Los Angeles.

Video này được công bố trong khi dư luận đang quan tâm về việc các nước bên ngoài đã gây ảnh hưởng đến chính quyền Mỹ. Cụ thể là một số thành viên của chính quyền ông Donald Trump bị cho là có mối quan hệ với các quan chức Nga.

Đoạn phim cũng làm dấy lên tranh cãi vào giữa thập niên 90 khi có những chứng cứ về việc các quan chức Trung Quốc đổ nhiều tiền cho chiến dịch của ông Bill Clinton thông qua những nhà tài trợ Mỹ giả danh (bê bối Chinagate)

Bê bối Chinagate 1996

Johnny Chung là một trong những người dính vào vụ bê bối Chinagate này. Ông bị tố cáo góp hơn 300.000$ cho đảng Dân chủ vào năm 1996.

Năm 1998, Johnny Chung đã hợp tác với Bộ Tư pháp Mỹ trong quá trình điều tra, và bị tù treo 5 năm vì vi phạm tài chính tranh cử, gian lận ngân hàng và trốn thuế.

2

Johnny Chung điều trần trước một ủy ban của Nghị viện về vụ bê bối Chinagate

Theo cuốn sách “Trò chơi vương quyền” của ông Wead, Johnny Chung bị áp lực phải làm video này để tự bảo vệ mình sau khi một cựu quan chức chính phủ đến thăm ông và nói rằng Johnny Chung “còn sống sót là điều kỳ lạ”.

Lo sợ ám sát

Wead viết, một quan chức chính phủ đã nghỉ hưu và thân quen với FBI đã đến thăm Chung trong khi ông đang ẩn náu. Ban đầu FBI ở thành phố Los Angeles bảo vệ Johnny suốt cả ngày. Nhưng chỉ vài ngày trước khi Johnny Chung gặp bồi thẩm đoàn, FBI ở Washington đã rút lại việc bảo vệ và nói Chung cần phải tự mình lo liệu.

Trong video, Johnny Chung nói rằng Bộ Tư pháp Mỹ đã không quan tâm đến những lo lắng an toàn của ông. Một luật sư nói ông nên gọi cảnh sát 911 nếu cảm thấy bị đe dọa.

Chung nói: “Tôi gọi cho văn phòng FBI và muốn nói chuyện với trợ lý luật sư qua điện thoại. Nhưng ông ấy nói rằng vụ việc của tôi đã kết thúc. Và là một công dân Mỹ thì nên làm gì khi cảm thấy nguy hiểm? Hãy gọi 911”.

Khách quen của Clinton

Giữa thập niên 90, Chung gặp gỡ thường xuyên với các quan chức quan trọng của ông Clinton và những người của đảng Dân chủ, nhưng không ai nghi ngờ về việc một doanh nhân ít tên tuổi lại có thể viết những tấm séc tài trợ lớn như vậy.

Tổng cộng Johnny Chung đến Nhà Trắng 57 lần trong vòng 2 năm, trong đó có 8 lần gặp gỡ không có hẹn trước.

Phần lớn các cuộc gặp là với Hillary Clinton và nhân viên của bà. Một trong những cuộc gặp, Chung đã đưa tấm séc 50.000$ cho chánh văn phòng của Hillary Clinton là Maggie Williams.

Thậm chí Johnny Chung đã giúp sắp đặt cho Bill Clinton gặp một quan chức quân sự Trung Quốc, nơi cung cấp tiền bạc – tại một dịp gây quỹ ở Los Angeles.

Sau khi chính quyền liên bang để ý đến các hoạt động của Johnny Chung, những người Dân chủ nhanh chóng tránh xa ông.

Đảng Dân chủ vô can?

Khi ông Chung dính lao lý, các quan chức của đảng Dân chủ tuyên bố rằng Chung lừa dối họ và yêu cầu tòa án kết tội nặng cho ông. Nhưng tòa án từ chối và thậm chí ghi vào cáo trạng rằng “thật kỳ lạ” khi không ai của đảng Dân chủ bị điều tra vì nhận tiền gây quỹ phi pháp.

Thẩm phán quận Manuel L. Read nói: “Rất lạ là người đưa tiền nhận tội nhưng người nhận tiền lại vô tội”. Thẩm phán Real cũng nói rằng những các lãnh đạo của Đảng Dân chủ là “hai trong số những chính trị gia đần độn nhất mà tôi biết” nếu họ không biết gì về kế hoạch tài trợ của chiến dịch tranh cử.

Trong video, ông Chung nói rằng Đảng Dân chủ tự coi họ là “nạn nhân của Johnny Chung”.

Âm mưu của FBI

Chung tuyên bố rằng FBI cũng muốn đưa ông vào một âm mưu để bắt Tướng Trung Quốc Ji Shengde tại sân bay Los Angeles.

Chung nói: “Cùng lúc người ở FBI và Bộ Tư pháp gọi cho tôi, họ nói Tướng Ji đã đến thăm Mỹ mỗi năm một lần, và ông ấy có con đang ở Mỹ. Họ nghĩ sẽ đưa tôi đến sân bay ở Los Angeles và điều duy nhất tôi cần làm là chỉ ngón tay vào Tướng Ji”.

Chung sống ở California sau khi án tù treo kết thúc, nhưng rồi quay lại Trung Quốc. Tác giả Wead nói sau này ông không thể liên lạc được với Chung.

Bạn của Chung, ông Abernethy nói rằng, Chung lo lắng cho mạng sống vì 3 lần yêu cầu FBI bảo vệ, đồng thời đã chứng kiến những gì xảy ra với Ron Brown, Bộ trưởng Thương mại, người đã tham gia sâu vào việc dàn xếp các vấn đề thương mại của chính quyền Clinton với Trung Quốc.

Brown là người phụ trách chính sách thương mại của Clinton với Trung Quốc, đã bị thiệt mạng trong vụ tai nạn máy bay ở Croatia năm 1996. Một số người suy đoán rằng lúc đó ông Brown đang chuẩn bị tiết lộ các thông tin về vai trò của Trung Quốc trong chiến dịch tranh cử của Bill Clinton.

Chung chỉ là một trong những người liên quan đến vụ bê bối Chinagate (về việc chính phủ Trung Quốc chuyển một lượng tiền lớn cho đảng Dân chủ Mỹ).

Trung Quốc đổ tiền khắp nơi

Ng Lap Seng, một tỷ phú Macau có quan hệ với chính quyền Trung Quốc, bị tố cáo đã đổ 1 triệu $ cho chiến dịch tranh cử của Clinton.

3

Tỷ phú Ng Lap Seng đổ 1 triệu USD cho quỹ Clinton. (Ảnh: DNC)

Mặc dù Ng tránh được vụ điều tra nhưng ông ta lại xuất hiện tại sân bay New York, mang theo một vali tiền mặt vào năm 2015. Sau đó ông ta bị bắt và bị cáo buộc hối lộ các quan chức Liên Hợp Quốc. Ông hiện đang bị giam lỏng để chờ bị xét xử.

Quan chức Liên Hợp Quốc, người bị cáo buộc nhận tiền hối lộ, John Ashe, 61 tuổi, đã bất ngờ bị tử vong bởi một thanh tạ trong khi cử tạ vào mùa hè năm ngoái.

Trong cuốn sách của mình, Wead nói rằng văn phòng FBI ở New York đã muốn điều tra các mối quan hệ của ông Ng với Clinton vào năm ngoái, nhưng vụ việc bị Bộ Tư pháp của chính quyền Obama đóng lại.

Trong chiến dịch tranh cử năm 2016, ứng viên Tổng thống Donald Trump từng nhiều lần nói rằng Hillary Clinton là “dối trá”. Giờ đây những thông tin này hé lộ thêm những bí mật đằng sau mối quan hệ giữa gia đình Clinton và chính quyền Trung Quốc.

Dương Minh/Daikynguyen

Phong trào Saemaul Undong và sự ‘thần kỳ’ Hàn Quốc thế kỷ 20

Saemaul Undong đã trở thành nền tảng cho sự thịnh vượng và ghi dấu ấn như một dấu son, một bước ngoặt lịch sử trên con đường phát triển của Hàn Quốc.

Trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, Hàn Quốc vẫn giữ được nền văn hóa riêng biệt, giàu bản sắc của mình mà không bị ảnh hưởng bởi những biến cố lịch sử. Thế nhưng cuộc thôn tính của người Nhật cuối thế kỷ 19 và cuộc chiến tranh Triều Tiên đã cuốn đi tất cả.Tới cuối thập kỷ 60, xã hội Hàn Quốc đã thay đổi tới tận gốc rễ bởi sự bất đồng về tư tưởng và đói nghèo. GDP bình quân đầu người thời bấy giờ chỉ có 85USD/năm. Phần lớn người dân thậm chí không đủ ăn. Kinh tế Hàn Quốc thời đó chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp, trong khi khắp đất nước, lũ lụt và hạn hán liên tiếp hoành hành. Xã hội Hàn Quốc được nhận xét là một xã hội “thờ ơ, hỗn độn và vô vọng”.

Sau trận lụt năm 1969, người dân phải tu sửa lại nhà cửa và đường sá mà không có sự trợ giúp của Chính phủ. Đến năm 1970, 80% người dân nông thôn vẫn phải sống trong nhà mái lá và 80% không có điện thắp sáng mà vẫn phải dùng đèn dầu. Mối lo lớn nhất của Chính phủ là làm sao thoát khỏi đói nghèo.

Điều này làm Tổng thống Park Chung Hee suy nghĩ rất nhiều, làm sao tìm ra cách để giúp phát triển các vùng nông thôn. Park Chung Hee nhận ra rằng viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự giúp chính mình. Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn.

Những ý tưởng này chính là nền tảng của Saemaul Undong.

Saemaul Undong đã được thực hiện như thế nào?

Nguyên mẫu Saemaul Undong bắt đầu bằng việc Chính phủ giao quyền tự quản rộng rãi cho chính quyền xã. Bộ Nội vụ khi đó được giao đảm trách vấn đề này. Một số các cơ quan ban ngành khác của Chính phủ cũng tham gia hỗ trợ thực thi công cuộc này trong đó có cả chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp huyện. Hội đồng xã và thị trấn thành lập Ủy ban điều hành để đảm bảo kế hoạch được thực thi suôn sẻ. Các làng đều có một người lãnh đạo (nam hoặc nữ) song hành cùng với ban phát triển tự quản. Ban phát triển có hai phân ban chính của phụ nữ và thanh niên cùng với một số tiểu ban khác. Họ có nhiệm vụ lập kế hoạch và điều hành các tiểu ban để tăng được thu nhập xã và thúc đẩy những giá trị và tư tưởng tiến bộ. Các dự án Saemaul Undong do hội đồng cấp huyện quyết định và phải có sự nhất trí của Chánh án. Tiêu chí chọn dự án mới là sự cần thiết đối với người dân, điều kiện sống được cải thiện cho tất cả người dân trong vùng và lợi ích lâu dài của dự án.

Các dự án Saemaul Undong do hội đồng cấp huyện quyết định và phải có sự chấp thuận của Thị trưởng hoặc Quận trưởng. Tiêu chí chọn dự án mới là luôn phải xem xét, tính toán sự cần thiết của dự án đó đối với người dân. Những dự án được chọn lựa phải là những dự án cải thiện điều kiện sống của tất cả nhân dân trong vùng và có tiềm năng phát triển lâu dài.

Trước tiên chính quyền kêu gọi sự đóng góp từ phía người dân và xin nguồn trợ giúp bên ngoài dưới các hình thức vật liệu, tiền vốn và công nghệ. Mỗi tháng ít nhất hai lần có viên chức nhà nước tới để kiểm tra và hướng dẫn tiến độ của sáng kiến quốc gia theo chức trách. Lãnh đạo của các phân ban có nhiệm vụ báo cáo tóm tắt hàng tháng và tổng kết tiến độ hàng năm. Đánh giá từng giai đoạn là một bước rất quan trọng. Có ba báo cáo chính: báo cáo tiền dự án, báo cáo lâm thời và báo cáo tổng kết dự án. Hiệu quả của dự án trước được nghiên cứu rất kỹ lưỡng để phát triển tiếp những dự án mới. Các bản báo cáo tổng kết dự án được sử dụng rọng rãi trong chế độ bổ nhiệm cán bộ xã.

Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cho Saemaul Undong:

Sau một năm thực hiện kế hoạch, Chính phủ đã nhận ra tầm quan trọng của người lãnh đạo. Những nơi có người lãnh đạo có năng lực đã triển khai dự án rất tốt, theo đúng đường lối của nhà nước còn những nơi không có người lãnh đạo yếu kém về chuyên môn và đạo đức thì thường tiêu phí tài nguyên vô ích. Chính vì vậy, phải có người lãnh đạo tài năng và tận tâm.

Nhận ra được tầm quan trọng của người cầm đầu dự án, năm 1972, Chính phủ đã thành lập Học viện Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo Saemaul Undong. Mỗi xã được phép cử một cán bộ (nam hoặc nữ) đi học. Khoá học bồi dưỡng lãnh đạo nhấn mạnh vào sự cống hiến quên mình và nêu gương cho quần chúng. Họ học trong một lán trại chung và vì thế hiểu được cách làm việc theo nhóm trên tinh thần hợp tác.Trong mỗi buổi thảo luận nhóm, các thành viên chia sẻ kinh nghiệm làm việc và do đó có thể học tập lẫn nhau bên cạnh sự hướng dẫn và trợ giúp của giáo viên. Chính những học viên này sẽ là những người lãnh đạo và hướng dẫn cho dân làng.

Tại thời điểm bấy giờ, khi vai trò của phụ nữ còn chưa được coi trọng thì sự tham gia của một bộ phận nữ giới trong khoá học đã tạo ra sự khác biệt căn bản. Phụ nữ đứng ra gây quỹ cho địa phương, họ tiết kiệm thực phẩm và tham gia vào phong trào giữ sạch đẹp thành phố. Ngoài ra, họ còn góp phần tích cực trong việc ngăn ngừa và triệt xoá nạn rượu chè, cờ bạc. Số lượng các quán rượu bắt đầu giảm hẳn trong thời gian này.

Phương cách đào tạo cán bộ cho các dự án Saemaul đã có ảnh hưởng nhất định đến các chính trị gia, lãnh đạo các tôn giáo, giới báo chí và cả người nước ngoài. Những chính trị gia trước kia vẫn không mấy mặn mà lắm với Saemaul Undong cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phương cách đào tạo Saemaul Undong. Đây cũng là lý do ngân quỹ dự án tiếp tục tăng đồng thời nó cũng là tiền đề để Saemaul Undong phát triển trên toàn quốc.

Những chỉ đạo của chính phủ trong phong trào Saemaul Undong:

1. Hỗ trợ kinh phí:

Trong thập kỷ 70, Chính phủ không có kinh phí để thực hiện kế hoạch này. Tuy nhiên, với khoản viện trợ ít ỏi của Chính phủ, nhiều nhu cầu thiết yếu đã được giải quyết. Chính phủ đưa ra thử nghiệm 10 dự án lớn trong phát triển nông thôn, bao gồm mở rộng và nắn thẳng đường xá, làm lại mái nhà bếp và hàng rào, mở các dịch vụ giặt là.

Ba mươi lăm ngàn xã, trung bình mỗi xã được cấp miễn phí 355 bao xi măng. Toàn bộ kế hoạch đều do chính ủy ban xã đó quản lý. Kết quả là mười sáu ngàn xã tức là phân nửa số xã ở nông thôn đã được cải thiện rõ rệt. Kế hoạch triển khai trên quy mô toàn quốc và phần lớn dựa vào quỹ của xã và lực lượng lao động sẵn có.

Tới năm thứ hai, Chính phủ quyết định tiếp tục giúp đỡ những xã đã tự biết giúp chính mình bằng cách cấp thêm cho mỗi xã 500 bao xi măng và một tấn thép. Nhà tranh vách đất được dần thay thế bằng nhà mái ngói và tường xây. Khắp nơi trên các làng xã, đường xá được mở rộng, đê điều được tu bổ và cầu cống được xây dựng. Làng xã phát triển chóng mặt, người dân nông thôn lấy lại được sự tự tin vốn có, những người trước đây sống rất thờ ơ giờ cũng bắt tay xây dựng lại ngôi làng của chính mình. Nông thôn Hàn Quốc hiển hiện những dấu hiệu của sự phát triển và đô thị hóa.

Năm thứ ba, dựa theo mức độ phát triển của các làng xã, Chính phủ quyết định chia ba mươi lăm ngàn xã thành ba mức độ: CỞ SỞ, TỰ LỰC và TỰ LẬP tuy theo tốc độ phát triển và mỗi lĩnh vực lại nhận được khoản tiền trợ cấp khác nhau.

2. Chỉ đạo các dự án môi trường:

Chính phủ luôn đóng vai trò cốt yếu trong việc gia tăng thu nhập cho người dân nông thôn thông qua các dự án về giao thông, môi trường.

Đường ống nước và các phương tiện công cộng khác cũng được tái thiết để phù hợp với nông thôn đổi mới. Người ta cho xây dựng các khu bếp và nhà tắm hiện đại cùng với đường nước mới. Ngoài ra, còn có khu trung tâm xã, trung tâm giải trí đa chức năng, nhà tắm công cộng, cửa hàng và các dịch vụ công cộng khác. Thành công của các dự án môi trường mở đường cho các dự án tăng sản lượng. Đường sá được mở rộng đồng nghĩa với việc xe cơ giới có thể đi đến tận đồng ruộng. Năm 1974, sản lượng lúa tăng đến mức độ có thể tự cấp tự túc.

Các dự án lớn như làm đường, cống thoát nước được tiến hành theo cách liên kết với các xã lân cận để tiết kiệm chi phí. Chính phủ còn cho xây dựng các nhà máy ở nông thôn để gia tăng thu nhập. Các nhà máy Saemaul đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhiều phụ nữ. Kết quả là thu nhập ở nông thôn tăng đều đặn. Tới năm 1974, thu nhập ở nông thôn còn cao hơn ở thành thị. Năm 1977, 98% các xã đã có thể độc lập về kinh tế.

3. Phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác:

Tập quán trồng lúa và lúa mạch xưa kia đã được thay thế triệt để bằng các phương pháp canh tác tổng hợp. Còn có các khu liên hiệp nông nghiệp trồng các sản phẩm đem lại lợi nhuận cao như nấm, thuốc lá để gia tăng tổng thu nhập. Với các khu nhà kính, nông dân giờ đây có thể thu hoạch rau sạch ngay giữa mùa đông. Khi làm việc tập thể, người nông dân cũng giảm được các chi phí không cần thiết so với làm việc đơn lẻ. Nuôi lợn, bò, gà cũng đem lại lợi nhuận đáng kể. Các làng chài cũng chuyển từ đánh bắt sang nuôi trồng thủy sản. Thêm vào đó, phát triển hệ thống thủy lợi, làm sạch sông ngòi, đồng ruộng cũng là các nhân tố quan trọng để tăng sản lượng nông nghiệp.

4. Phát động các chiến dịch tinh thần và chống tham nhũng:

Thành công của Seamaul Undong ở nông thôn còn lan tới các vùng không làm nông nghiệp như trường học, công sở, thành phố, nhà máy với nhiều lĩnh vực khác nhau. Các thành phố bắt đầu các dự án chống tham nhũng và xây dựng một đô thị hoàn hảo. Ba chiến dịch Seamaul Undong bao gồm 3 thành phần: Chiến dịch tinh thần, chiến dịch cư xử và chiến dịch môi trường.

– Chiến dịch tinh thần bao gồm mối quan hệ thân thiện hơn với láng giềng, kế thừa và phát huy những truyền thống dân tộc dựa trên lòng hiếu thảo và nâng cao ý thức cộng đồng. Tại nơi làm việc, kế hoạch tập trung chủ yếu vào việc tạo ra các giá trị và niềm tin lành mạnh cùng với cung cách ứng xử xã hội đúng mực giữa những người đồng nghiệp. Mục tiêu chính của kế hoạch là tạo ra sự thống nhất và kỷ cương, giúp phát triển nông thôn và giúp người vô gia cư.
– Chiến dịch cư xử nhấn mạnh tới trật tự công cộng trên đường phố, những cách ứng xử tích cực, hành vi nơi công cộng và cấm say rượu dẫn tới cư xử không đúng đắn.
Chiến dịch môi trường nhấn mạnh vấn đề vệ sinh khu vực đang sống và làm việc, gìn giữ môi trường đường phố và phát triển màu xanh ở thành phố cũng như các con sông.

Tại nhà máy, Seamaul Undong hướng tới khôi phục niềm tin và sự yêu mến của khách hàng và công chúng nói chung. Việc củng cố nền tảng cho sự ổn định của các ngành công nghiệp được chú trọng bằng cách thu hẹp khoảng cách về hệ thống giá trị giữa công nhân và giới chủ và xây dựng những quy tắc ứng xử lành mạnh. Thêm vào đó, dịch vụ công cộng ở nông thôn cũng là một cách để xây dựng những quy tắc đạo đức đúng đắn.

Các trường học kiểu Saemaul là cơ sở của tinh thần Saemaul Undong. Học sinh được học về Saemaul Undong và đóng góp của Saemaul Undong cho xã hội. Các làng xã và xí nghiệp đều được trang bị thư viện Saemaul Undong và các phương tiện vui chơi giải trí khác. Đặc biệt, thư viện ở nông thôn đều có sách về các phương pháp canh tác mới. Đây là bước đột phá lớn ở nông thôn và là nguyên nhân chính gia tăng thu nhập cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân vào những năm cuối thập niên 70 của thế kỷ 20.

Ý nghĩa của phong trào Saemaul Undong:

Thực ra lúc đầu Saemaul Undong không phải là một dự án lớn. Sau ba năm đưa vào thực tế, Chính phủ nhận thấy nếu không có nỗ lực của người dân, Saemaul Undong sẽ thất bại. Saemaul Undong không đơn thuần là một kế hoạch hành động mà còn là cả một cuộc cải tổ về ý thức dựa trên tinh thần. Về cơ bản, mục tiêu của Saemaul Undong là xây dựng một quốc gia thống nhất, hoà bình và kỷ cương cho tất cả mọi người. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, chính phủ Hàn Quốc đã đề cao ba phẩm chất mấu chốt trong phong trào Saemaul Undong: cần cù, tự lực và hợp tác.

– Cần cù mang lại tính chân thật, không cho phép sự giả tạo và thói kiêu căng ngạo mạn.
Tính tự lực giúp cho con người biết tự lực cánh sinh, nếu không sẽ phải chịu thiệt thòi “trâu chậm uống nước đục”. Ai cũng có thể làm chủ được số phận của mình một khi họ hoàn toàn độc lập, không phải nhờ cậy đến bất kỳ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài.
Hợp tác phải dựa trên mong muốn phát triển chung cả cộng đồng, và sự phát triển đó có được là nhờ nỗ lực tập thể “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.

Có thể thấy, ba nguyên tắc rường cột của Saemaul Undong cũng chính là hạt nhân của công cuộc xây dựng một xã hội tiên tiến và một quốc gia thịnh vượng. Sự thịnh vượng ở đây không chỉ bó hẹp ở ý nghĩa vật chất, nó còn bao hàm cả ý nghĩa tinh thần, không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho cả con cháu mai sau. Và mục tiêu của Saemaul Undong là xây dựng nền tảng cho một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi gia đình, làng xã góp phần vào sự tiến bộ chung của cả quốc gia.

Thành công và bất cập của Saemaul Undong

Có hai lý do giải thích cho thành công của Saemaul Undong:

– Lý do thứ nhất là chính sách cạnh tranh của chính phủ đã tạo ra động lực thu hút sự tham gia của khu vực nông thôn. Chính đội ngũ lãnh đạo đầy sáng tạo và trợ cấp của Chính phủ đã thúc đẩy những người nông dân tham gia. Thêm nữa, việc tôn vinh và trao thưởng cho những địa phương thực hiện thành công cũng là một yếu tố thúc đẩy đáng kể.

– Lý do thứ haiphải kể đến là tâm sức của những người lãnh đạo cũng như sự tham gia một cách toàn diện của người dân. Ai cũng ngạc nhiên trước thành quả đạt được. Những thành quả đó làm họ tự tin hơn và là động lực thúc đẩy cho những thành công tiếp sau. Người dân cần cù lao động và thực sự hiểu được ý nghĩa của sự hợp tác.

Thành công thì rất lớn, tuy vậy mọi việc đều có mặt trái của nó. Sự đóng góp của Chính phủ được coi là nhân tố chính cho những thành công ban đầu nhưng cũng đồng thời là nguồn gốc của sự đi xuống sau này. Kế hoạch của Chính phủ được chuẩn hoá dựa trên chế độ bổ nhiệm cũng là một vấn đề. Tất cả những gì đạt được chủ yếu dựa trên vật chất và điều này khiến cho người dân ỷ lại vào những nguồn tài trợ bên ngoài, gây ra tâm lý thụ động. Ngoài ra, đây cũng là nguyên nhân của việc tàn phá môi trường và sự băng hoại của các giá trị văn hoá truyền thống.

Kết luận:

Ở bất kỳ thời đại nào, hễ một đất nước có truyền thống và có những con người thành công thì có nghĩa đất nước đó đã có được nền tảng vững chắc cho các giá trị đạo đức và động lực hướng tới tương lai.

“Một cuộc sống tốt đẹp hơn! Một tương lai tốt đẹp hơn!”

Đã hơn 40 năm kể từ khi khẩu hiệu đó thôi thúc người dân Hàn quốc tiến đến thành công. Từ một đất nước mà GNP đầu người chưa đầy 100USD/năm trở thành một quốc gia với GNP đầu người ở mức 10.000USD/năm, điều thần kỳ này đã được hiện thực hóa bằng bàn tay và khối óc người của người dân Hàn quốc. Saemaul Undong đã trở thành nền tảng cho sự thịnh vượng và ghi dấu ấn như một dấu son, một bước ngoặt lịch sử trên con đường phát triển của Hàn Quốc.

Theo THÔNG TIN HÀN QUỐC

Ai có thể đứng sau vụ ám sát Kim Jong-nam?

Chính phủ và quân đội Bắc Hàn có nhiều đơn vị quản lý anh ninh và trinh thám ảnhAFP/GETTY IMAGES
Chính phủ và quân đội Bắc Hàn có nhiều đơn vị quản lý an ninh và tình báo

Cái chết bí ẩn của ông Kim Jong-nam đặt câu hỏi ai là người phối hợp vụ ám sát này. Chuyên gia về Bắc Hàn Michael Madden giúp chúng ta tìm hiểu về các tổ chức chìm hoạt động ở Bắc Hàn.

Lực lượng tinh nhuệ nhất

Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (The Guard Command) là tổ chức an ninh quan trọng nhất ở Bắc Hàn, có nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho lãnh đạo Kim Jong-un, các thành viên gia đình ông và các quan chức Bắc Hàn chủ chốt.

Ước tính đơn vị này có khoảng 100.000 quân nhân, được tuyển từ các gia đình được có lý lịch đáng tin cậy hay có những mối quan hệ gần gũi với giới thượng lưu Bắc Hàn.

Ảnh vệ tinh năm 2012 chụp trụ sở Đơn vị Cảnh vệ ở Bình Nhưỡng. ảnhDIGITAL GLOBE
Ảnh vệ tinh năm 2012 chụp trụ sở Đơn vị Cảnh vệ ở Bình Nhưỡng

Đây là tổ chức duy nhất có liên hệ qua lại và được quyền đòi tất cả thành phần thuộc quân đội và an ninh của Bắc Hàn hỗ trợ để họ thực hiện nhiệm vụ.

Nhưng quan trọng nhất, Đơn vị Cảnh vệ nắm quyền sử dụng vũ khí hóa chất.

Theo dõi người Bắc Hàn ở trong và ngoài nước

Cơ quan an ninh quốc gia (State Security Department), được biết đến với tên gọi Bộ An ninh, thật ra hoạt động như lực lượng công an chuyên theo dõi tình hình chính trị, nhằm đảm bảo dân Bắc Hàn trung thành với chế độ và không bị ảnh hưởng “xấu xa” từ nước ngoài.

Ông Kim Jong-nam đã sống lưu vong ở nước ngoài nhiều năm, phần lớn ở Macau. ảnhAFP/GETTY IMAGES
Ông Kim Jong-nam đã sống lưu vong ở nước ngoài nhiều năm, phần lớn ở Macau

Cơ quan này cũng tham gia vào các nhiệm vụ chống phản gián để đảm bảo công dân Bắc Hàn sống và làm việc ở nước ngoài không đào tẩu sang các nước khác hay có liên hệ với các cơ quan tình báo nước ngoài.

Đào tạo điệp viên nước ngoài

Tổng cục Tình báo là cơ quan tình báo quân đội và nước ngoài đầu não của Bắc Hàn. Cơ quan này thu thập và phân tích thông tin tình báo với trọng tâm là Nam Hàn và Nhật Bản.

Cơ quan này được thành lập khoảng năm 2009-2010 khi cộng đồng tình báo Bắc Hàn được hợp nhất.

Trong quá trình đó, cơ quan này sát nhập các đơn vị trước đây từng tham gia hoạt động khủng bố và bạo lực ở các nước ngoài, như vụ đánh bom KAL 1987 và âm mưu sát hại Tổng thống Nam Hàn Park Chung-hee.

Bà Kim Hyon-hui, nữ điệp viên Bắc Hàn làm nổ tung máy bay Nam Hàn năm 1987, thú tội trong một cuộc họp báo ở Seoul, Nam Hàn tháng 1/1988. ảnhBEI YEON-HONG
Bà Kim Hyon-hui, nữ điệp viên Bắc Hàn làm nổ tung máy bay Nam Hàn năm 1987, thú tội trong một cuộc họp báo ở Seoul, Nam Hàn tháng 1/1988

Điều đáng chú ý trong vụ ám sát Kim Jong-nam, cơ quan này tuyển dụng và đào tạo người nước ngoài để hỗ trợ trong các điệp vụ tình báo, thu thập thông tin ở nước ngoài.

Cơ quan tình báo riêng của lãnh đạo Bắc Hàn

Tầng Ba nghe có vẻ như một cái tên khó hiểu, nhưng đó là tên gọi của mạng lưới chính phủ Bắc Hàn tham gia thu thập tình báo, thực hiện giám sát ngầm, mua hàng hóa, kiếm tiền và điều hành doanh nghiệp (hợp pháp và bất hợp pháp) cho các quan chức hàng đầu của Bắc Hàn.

Tầng Ba có các điệp viên và cán bộ làm việc cho các cơ quan an ninh và chính phủ Bắc Hàn, nhưng họ đều nhận chỉ thị và báo cáo trực tiếp cho văn phòng của lãnh đạo cao nhất. Họ hoạt động từ hàng chục quốc gia khác nhau trên thế giới.

Tên gọi bắt nguồn từ vị trí của cơ quan này trong những ngày đầu tiên hoạt động, hồi thập niên 1970 – tầng ba của trụ sở Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên ở Bình Nhưỡng.

Kim Jong-nam được cho là đã từng làm việc tại cơ quan này thay mặt cha.

Ri Jae Nam (tên biệt danh) – người có mặt ở sân bay Kuala Lumpur hôm xảy ra vụ sát hại, theo những hình ảnh phía Malaysia cung cấp – trước đây đã từng hoạt động ở các nước châu Á với tư cách là một quản lý trong mạng lưới Tầng Ba.

Cơ quan sản xuất vũ khí

Ủy ban Kinh tế Thứ hai là cơ quan chịu trách nhiệm sản xuất tất cả các loại vũ khí quy ước, thiết bị quân sự và vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Bắc Hàn.

Kim Jong-un là em cùng cha khác mẹ của Kim Jong-nam. ảnhAFP/GETTY IMAGES
Kim Jong-un là em cùng cha khác mẹ của Kim Jong-nam

Khả năng phối hợp

Với nhiều cơ quan có khả năng có liên quan, vụ tấn công này có lẽ được phối hợp ra sao?

Đơn vị Cảnh vệ có lẽ là cơ quan duy nhất có thể ra lệnh hoặc điều động người từ Tổng cục Tình báo hay triển khai chất độc VX ở một địa điểm nước ngoài.

Cơ quan này cũng có thể tiếp cận các báo cáo tình báo qua những kênh riêng và tiếp cận các mạng lưới thông tin bên ngoài.

Nhưng cũng có hai thành phần quan trọng khác: thứ nhất, Đơn vị Cảnh vệ được cho là nắm trong tay chất độc VX và các vũ khí hóa học khác.

Thứ hai, cơ quan này có thể hoạt động với mức bí mật tuyệt đối vì họ chỉ báo cáo trực tiếp cho Kim Jong-un và các cộng sự thân cận nhất.

Nếu một trong các tổ chức khác của Bắc Hàn tham gia thì mỗi giai đoạn lập kế hoạch tấn công ông Kim Jong-nam sẽ phải đi qua các kênh báo cáo quan liêu của Bắc Hàn, và điều đó sẽ tạo nguy cơ bị rò rỉ thông tin ra ngoài.

 

Có lẽ còn có sự cạnh tranh giữa các tổ chức này.

Dưới thời ông Kim Jong-il, Đơn vị Cảnh vệ là tổ chức an ninh nội vụ đầu não của nước này.

Dưới sự lãnh đạo của Kim Jong-un, Đơn vị An ninh Quân đội, cơ quan kiểm soát lực lượng quân đội, đã được nâng lên vị trí cao hơn và có quyền chính trị cao hơn. Đơn vị này gần như đã làm lu mờ vai trò quan trọng của Đơn vị Cảnh vệ.

Giám đốc Đơn vị Cảnh vệ, Tướng Yun Jong Rin, đã bị cách chức tạm thời. Ông là bạn thân của ông Chang Song-thaek, chú của Kim Jong-un, người đã bị xử bắn vì tội phản quốc năm 2013.

Các chỉ huy và quản lý trong Đơn vị Cảnh vệ có thể hoạt động theo kiểu “tiền trảm hậu tấu” trong phạm vi rộng lớn. Nếu đúng là họ chịu trách nhiệm về vụ tấn công này, có khả năng một tổ chức như vậy đã thực hiện đặc vụ này mà không báo cáo cho Kim Jong-un.

Có một điều rõ ràng là rất khó chứng minh được là có bất kỳ mối liên hệ trực tiếp nào giữa vụ án này với vị lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong-un.

BBC

Đoàn Thị Hương đã đi đâu và có hát ở Vietnam Idol?

Facebook khác của Đoàn Thị Hương ảnhFACEBOOK LINH NGOC VU

Các báo quốc tế liên tiếp đưa tin và ảnh về nhân vật Đoàn Thị Hương và các nơi cô đến trong khi một báo Malaysia nêu khả năng cô này đã tham gia Vietnam Idol.

Korean Herald, Hàn Quốc 21/02 (bản tiếng Anh):

Đoàn Thị Hương, nghi phạm người Việt Nam đã thăm Nam Hàn vào tháng 11 năm ngoái, theo nguồn tin tình báo.

“Chuyến thăm của cô ta có vẻ không liên quan gì đến vụ giết ông Kim nhưng chúng tôi đang điều tra mục tiêu của chuyến đi và xem cô ta làm gì trong ở Hàn Quốc,” một quan chức cho hay.

 

The Star, Malaysia 24/02:

Lần đăng cuối cùng trên trang Facebook ở tài khoản “Ruby Ruby” mà gia đình xác nhận là của Đoàn Thị Hương, có ghi ngày 11/02 từ Kampung Besut.

“Em muốn ngủ thêm nữa bên anh,” post này có hình của cô ta, với mắt nhắm và ôm chăn.

Trước đó, báo này mô tả cô Đoàn Thị Hương “nói tiếng Anh ở mức độ giao tiếp được” và chuyển khách sạn ba lần trong một ngày khi đến Malaysia trước ngày xảy ra vụ Kim Jong-nam bị giết.

“Nếu sự di chuyển của cô ta có cho thấy cô ta là một kẻ hoạt động tình báo (intelligence operative) hay không, thì tôi nói là đúng thế,” theo một thám tử tư tại Kuala Lumpur.

“Đó là cách họ hoạt động. Thay đổi hình dạng, dùng toàn tiền mặt, không để lại dấu vết trên giấy tờ, và đổi chỗ liên tục.”

Liên hệ với Vietnam Idol?

Báo The Star ở Malaysia cho hay “tài khoản Bella Tron Tron Bella” là Bella béo tròn, và “một cô gái có hình dáng giống Hương đã hát tại cuộc thi với số thí sinh 67816 ngày 3/02/2016”.

“Cảnh sát Malaysia dùng công nghệ nhận diện và cho rằng hình đó khớp hình Đoàn Thị Hương hiện bị tạm giam.”

Một tài khoản Facebook của Đoàn Thị Hương hình ảnhAP

“Thí sinh này nêu tên là Đinh Thị Khuyên, quê tại Nam Định nhưng đã rời cuộc thi ngay sau vòng một.”

“Một thành viên của ban giám khảo Vietnam Idol từ chối không xác nhận sự hiện diện của thí sinh nói trên và phát ngôn viên của Vietnam Idol không trả lời yêu cầu bình luận.”

Daily Mail, Anh Quốc 23/02:

Đăng chùm ảnh ‘nóng bỏng’ về cô gái Việt Nam 28 tuổi lấy từ các tài khoản Facebook khác nhau của Đoàn Thị Hương:

“Vài ngày trước cái chết của ông Jong-nam, có hình của Đoàn Thị Hương mặc đúng chiếc áo có chữ ‘LOL’ – giống như áo thấy trên hình camera ghi lại ở sân bay Kuala Lumpur sau khi người Bắc Hàn bị đánh thuốc độc chết.

Cô gái 28 tuổi đã đăng trên trang Facebook với tên Ruby Ruby, theo em họ cô, Đinh Thị Quyên, 18 tuổi, và theo nhiếp ảnh gia Keow wee Loong người biết một bạn của Hương.

Một ảnh cho thấy Hương mặt đồ tắm màu đỏ cạnh bể bơi.

Các ảnh selfie khác chụp ở Phnom Penh và Kuala Lumpur vài ngày trước vụ giết Kim Jong Nam.

Trong số 65 bạn trên Facebook của cô ta có nhiều người là đàn ông, gồm cả một số người Hàn Quốc.

Một tài khoản khác tên là ‘Bella Tron Tron Bella’ – cũng có ảnh của Hương thì có link đến trang cuộc thi Vietnam Idol.

BBC

Viên chức và nhà buôn – hai nét tính cách ‘Người Hà Nội’

Còn nhớ, hồi giữa những năm 1960, đám trẻ chúng tôi từ các miền quê ra Hà Nội học đại học, một trong những chuyện khiến chúng tôi thường xuyên để tâm quan sát và luận bàn cùng nhau, ấy là những nét tính cách chung của “người Hà Nội”, người “thị dân” nói chung, điều mà chúng tôi chưa thấy, chưa biết, khi còn sống tại các vùng quê và tỉnh lẻ.

Lại Nguyên Ân
Sau lớp chúng tôi, mỗi năm lại có thêm các lớp học trò khác tới Hà Nội, không chỉ ở đây học hành dăm ba năm, mà thường sau đó còn ở lại làm việc, định cư tại Hà Nội. Vậy là trên đề tài hồi xưa còn có thể luận bàn không chỉ từ sự quan sát những ai ai kia khác đã sống trước mình tại đây, mà còn có thể quan sát lẫn nhau, quan sát chính mình. Bởi mình và bạn bè cùng lứa mình, từ dạo ấy, đã dần dần trở thành “thị dân”, thành “người Hà Nội”.

Trong tiếng Việt, từ “thành phố” gồm hai phần trỏ hai không gian chức năng của cái không gian chung gói trong danh từ đó: “thành” và “phố”. “Thành” là khu vực của vua quan, nha lại, công bộc, binh lính; “phố” là khu vực của thường dân, “thị dân”. Đây là loại thường dân ít nhiều “đặc biệt”: họ không trực tiếp làm ra nông phẩm để “tự sản tự tiêu” như nông dân ở hầu khắp các làng quê, trái lại, họ chủ yếu làm những công việc đáp ứng nhu cầu của lớp người trong “thành”, nói bằng chữ của ngày nay, họ chủ yếu làm “dịch vụ”, bên cạnh đó họ là những người chuyên làm các nghề thủ công, hoặc buôn bán, đáp ứng cả nhu cầu của người trong “thành” lẫn người ở các làng quê.

Thời thế đổi thay, từ trung đại sang cận hiện đại, “thành” và “phố” càng ngày càng bớt tách biệt, càng ngày xen lộn nhau. Công sở, trại binh có khi phình ra tràn ra, lấn chiếm các khu dân cư; nhưng dinh thự đương thời các bậc cha chú quan cao bổng hậu cũng có thể sẽ đến lúc biến thành tư thất của đám “cậu ấm” không thành quan nhưng được hưởng thừa kế. Và tuy “quan” bao giờ cũng tách biệt, khác biệt “dân”, nhưng quan lại và bộ máy phục vụ quan lại lúc nào cũng cần đến các loại dịch vụ của dân ngoài phố, còn dân phố thì cũng cần trông vào các loại nhu cầu của đám người quyền thế kia để có việc làm, trong khi đó, các loại cửa hàng cửa hiệu cũng luôn luôn muốn áp sát các công sở.

Càng sang thời cận, hiện đại, bộ máy cai trị, quản lý càng có xu hướng phình ra, nhu cầu quản lý dường như luôn luôn muốn tăng lên; ở những lĩnh vực nhất định, việc quản lý từ chỗ là việc cai trị dần dần trở thành những loại dịch vụ, nhờ vậy, nghề viên chức được kể như một nghề nữa của thị dân.

Có một lời tục truyền bảo rằng, các gia đình hàng Ngang hàng Đào thời xưa luôn luôn chuyên chú vào hai thứ: phải lo sao cho có một quầy hàng tấm (vải sợi, tơ lụa) đàng hoàng, “ra tấm ra món”, và trong nhà phải có ít nhất một tiểu thư đoan trang hiền thục.

Vì đâu các nhà buôn ấy lại đặt nặng sự “đầu tư” vào con gái thay vì con trai? Là vì con trai nhà giàu dễ thành kẻ phá gia chi tử hơn là kẻ có chí nối nghiệp nhà, bởi thế, người ta phải lo sẵn nong sẵn né chờ các chàng rể quý – những người từ các vùng quê ra đây đỗ ông nghè ông cống, làm quan trong triều ngoài quận, đem lại uy thế cho ông nhạc bà nhạc. Ngay hồi quân chủ, giới thị dân đã biết “săn đầu người”, làm “chảy máu chất xám” của dân quê như thế, đâu phải đến thời hiện đại, khi các cậu nhà quê ra đây học cao đẳng đậu bác sĩ kỹ sư, tiếp tục là đối tượng săn đón của các nhà giàu Hà Nội.

Dạo tôi mới ra trường đi nhận công tác, lần đầu được nghe một vị được coi như đứng đầu làng “báo nói” đến giảng bài, đã thấy thú vị vì một vài chuyện nghề ông đem ra nói hôm ấy, nhưng sau đó còn thấy thú vị hơn nữa khi nghe mấy anh lớn tuổi hơn kể về mối tình thời trẻ của chính con người nổi tiếng kia. Hóa ra thời ông từ một làng quê ra Hà Nội học, chàng sinh viên luật ấy đã say mê một thiếu nữ Hàng Đào. Mẹ chàng từ tỉnh Đông lặng lẽ ra Hà thành như một người qua phố, quan sát xem thử cơ ngơi nhà cô gái ra sao; vậy mà bà mẹ cô gái cũng biết được sự việc, kịp bố trí người làm hắt một chậu nước ra khoảng vỉa hè trước cửa hàng đúng lúc vị lữ khách sắp bước tới, như vô tình mà hữu ý đưa một tín hiệu khinh mạn trước bà điền chủ nhà quê có cậu con trai si tình. Nhưng rồi những kiêu kỳ hay thiện chí của hai phía thông gia tương lai đều không phát huy tác dụng gì, bởi do một sự cố nào đấy, cô gái quyết định trốn nhà đi theo chàng trai. Vậy mà mẹ nàng cũng không phải buồn phiền gì lâu, bởi khi chế độ mới thay chế độ cũ trên đất Hà thành thì chàng rể của bà đã nghiễm nhiên là một cán bộ cao cấp! Có thể bà mẹ vốn là nhà buôn ấy còn phải suy nghĩ rất lâu để hiểu xem con gái bà đã chỉ lãng mạn chạy theo tình yêu hay còn được hướng dẫn bởi một mẫn cảm thời thế nào khác?

Con người lớn lên ở thôn quê, gắn với thôn quê, thường rất mẫn cảm với những đổi thay của thời tiết, thời vụ, mùa màng; nhưng sự cảm nhận những đổi thay xã hội thì người thị dân, người lớn lên ở đô thị dường như lại nhạy bén hơn.

Từ giữa những năm 1950, khi lý thuyết giai cấp và bảng giá trị các thành phần xã hội tương ứng (đề cao công nông binh, kỳ thị địa chủ, tư sản, tiểu tư sản) bắt đầu chi phối cuộc sống con người trên đất Bắc, ngay ở Hà Nội cũng hầu như biến mất hình ảnh nhà buôn, chỉ còn hình ảnh người công nhân, viên chức.

Một số nhà máy mọc lên ngay tại trung tâm, giờ tan ca, màu xanh áo thợ tràn ra các con đường Ngô Quyền, Ngô Thì Nhậm, nơi có nhà máy ô-tô 1/5, nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà, nhà máy dệt kim Đông Xuân, cách đấy không xa là nhà máy rượu…

Làm công nhân trong nhà máy xí nghiệp nhà nước là thợ, làm xã viên trong các hợp tác xã tiểu thủ công, hợp tác xã vận tải, xích lô, ba gác… cũng coi như là thợ, Hà Nội những năm 1960s chỉ thấy những thợ là thợ. Không phải thợ có lẽ chỉ có thành phần cán bộ viên chức thuộc các Bộ của cơ quan trung ương hoặc các Sở trực thuộc thành phố. Những người là “nhân dân”, lĩnh tem phiếu thực phẩm hạng N, hầu như chỉ gồm người già và trẻ em; nhưng ngay trong hạng “nhân dân” ấy vẫn còn một số người mang dáng dấp thợ: ấy là những nhân viên các “tổ phục vụ” ở các phường các ngõ phố, chuyên đun nước bán nước sôi và làm một số tạp vụ khác, dịp tết thì bán thêm củi, lá dong, luộc bánh chưng, luộc giò giúp các nhà trong phố…

Ở cái xã hội bao cấp ấy tưởng như mọi thứ đều được hoạch định sẵn, mọi mặt hàng làm ra đều có địa chỉ tiêu thụ, mọi dịch vụ trù định đều được coi là đã đủ lấp kín các nhu cầu… Với xã hội bao cấp, loại hoạt động thương mại không nhắm địa chỉ cố định là loại hoạt động xa xỉ không đáng có. Thương mại “chính quy” đã được nhà nước hóa, từ những người phụ trách đến nhân viên bán hàng thuộc các tổng công ty điện máy, bách hóa, nông sản thực phẩm,… tất thảy đều là cán bộ viên chức, thì còn đâu chỗ cho những con buôn tự do?

Thế nhưng, mọi sự có vẻ như vậy mà không phải như vậy. Những con buôn tự do vẫn có mặt ở Hà Nội, ngay những năm tháng bao cấp chặt chẽ nhất. Từ những đầu ô luôn luôn có những người gánh rau vào phố. Ruộng rau đã vào hợp tác xã, ở đâu ra gánh rau “tự do”? Xin thưa: rau từ phần ruộng 5%, ăn không hết, đến lứa, “nhà cháu” phải đem đi bán!

Khu vực chợ giời, ngay thịnh thời bao cấp, vẫn họp chợ ngày ngày. Mua bán gì? Xin thưa: đồ cũ đủ loại, đồng nát, giấy vụn, sách báo cũ, đồ gốm sứ cũ, đồ điện máy, trăm thứ giời ơi, nhiều thứ quý hiếm nữa, không dùng thì người ta bán, cấm sao được? Lại còn những hộp sữa, cân đường, chiếc lốp chiếc vành xe đạp, vài mét vải phin vải pô-pơ-lin vải si-mi-li, toàn hàng mậu dịch được mua bằng cắt ô tem phiếu, người ta chưa dùng thì người ta đem bán lại. Có bán ắt có mua, mua để dùng hay để bán lại cho người thứ ba, – là việc không thể quy định và cấm đoán. Thế là lớp “con buôn” tự do (nghĩa là người buôn bán không phải “người nhà nước”) tái xuất hiện; ban đầu họ bị gọi là “con phe”.

Một loại người buôn nữa lần lần tái xuất giữa Hà Nội là chủ các quán cóc, bán nước chè chén, thuốc lá cuộn, rượu “cuốc lủi”, kẹo lạc, kẹo bột… bao giờ ngồi bán hàng cũng là người già hoặc trẻ em trong độ tuổi học sinh. Sau này dân gian tổng kết: đây là loại hình “buôn chết rét, lãi quan viên”: không thể ngờ bà cụ ngồi cạnh cổng trường bán mấy chiếc kẹo vừng với mấy mớ ổi xanh táo xanh lại nuôi nổi một gia đình bốn năm miệng ăn, hơn đứt lương anh công chức ba cọc ba đồng! Nghịch lý nghề buôn có lẽ cũng là sức hấp dẫn của nó, hệt như bí ẩn của những mảnh ruộng 5% đã gợi ý cho “khoán chui”, “khoán hộ”.

Ngồi bán quán thì tất nhiên là có địa chỉ xác định, cán bộ phường biết rõ họ tên; trong khi đó, đám người bị gọi là “con phe” đứng đường thì luôn luôn mang tính chất ẩn danh, – rất khó biết họ thực sự là ai. Tại chỗ họ đứng săn hàng bán hàng, nếu bị hỏi, họ sẽ có vô vàn cách nói, chẳng hạn, làm như mình chỉ tình cờ đứng đây hôm nay, chốc nữa sẽ đi ca, sẽ vào làm ca ba…, tóm lại, mình cũng là dân thợ, không phải con buôn. Tại khu phố, họ vẫn được xem như cán bộ sở A., nhân viên công ty B., nhưng chẳng ai biết đó là vai trò hiện tại hay là vai trò của hai ba năm trước; chỉ một vài người thật sự biết chuyện mới đôi khi lỡ buột mồm: “Vẫn đi làm ở sở ấy à? Sở nào? Có mà sở lừa!”

Nói “con phe” hay chủ quán cóc như là một vài kiểu dễ thấy nhất của hạng con buôn tự do “tiên phong” chui qua đêm dài bao cấp, thật ra chỉ là nói phần nổi, bởi họ có vô số kẻ đồng lõa và tiếp tay, ngay trong giới những người được ưu tiên ưu đãi đương thời. Các cửa khẩu đóng chặt, qua lại biên giới quốc gia chỉ có những người được nhà nước cử đi, vậy mà những thứ hàng ngoại vẫn thường khi xuất hiện chốn chợ giời, – chuyện ai buôn bán qua biên giới là quá dễ trả lời!

Như người ta nói, rồi mọi thứ đều có thời của nó. Sang những năm 1980s, dân “con phe” vừa tăng lên về số lượng – chứng cứ là số tụ điểm của họ tăng hẳn lên – lại vừa như có uy hơn. Ít ai còn nhớ sự việc có thật này: chính “con phe” là nhóm người đã phổ cập thời trang trên vỉa hè Hà Nội thời gian này! Diện các loại áo bay Nga, áo lông Đức, áo Natô… từ châu Âu đưa về, quần bò kính râm từ Thái đưa lậu sang, dám lần đầu khoác lên thân hình người nữ những màu chói gắt, những tấm áo bó chặt khoe đường cong thân thể, v.v… tất cả đều do “con phe” đưa ra khoe hàng trên các vỉa hè, khi mà tại Hà Nội có rất nhiều hội trường, rạp hát rạp chiếu bóng, nhưng hoàn toàn không có địa điểm nào cho trình diễn thời trang. Từ vỉa hè, các thứ mốt lặng lẽ và chậm chạp lan dần vào công sở. Son phấn, các thứ nước hoa, các thứ kem tô má tô môi bôi da, … cũng sống lại trên đất Hà thành theo cung cách đó.

Sau vài năm cao trào đổi mới, đến giữa những năm 1990s, lực lượng “con phe” có nhiều thay đổi; trong số họ có những người từ ẩn danh trở thành hiển danh, trưng họ tên chính cống mở công ty tư nhân, mang các chức danh giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị, xuất hiện trước công chúng trong complet cravatte oai vệ như ngầm đua thời trang với các chính khách! – Không, không, nói vậy chứ chẳng dám đua tranh, ngược lại, rất sẵn sàng chụp ảnh cùng quan cỡ bự để in phóng chưng bày tại phòng khách nhà mình. Một số khác không thật hiển danh mà cũng không đến nỗi ẩn danh, tuy từ nay bị gọi chung là “cò”, làm đủ loại dịch vụ phức tạp hơn hẳn công việc của các “con phe” thuở xưa, nào môi giới đưa bệnh nhân đến bác sĩ, đưa người tìm việc đến chủ thuê, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài… Một số nhà báo – thức thời hay xu thời chả biết – vội vã dùng từ “doanh nhân” thay cho từ “doanh gia” vốn đã có từ cuối thế kỷ XIX.

Trong xu thế tự do kinh doanh thời nay, nhà nhà mặt phố đều mở cửa bán hàng, ai ai cũng có thể là nhà buôn, ngoài việc chịu thuế ra chẳng có chuyện gì ngượng ngùng đáng dấu diếm nữa, tưởng như “con phe vô danh” không còn, vậy mà đôi khi lực lượng này vẫn tái xuất hiện, chẳng hạn trước cửa sân vận động, cửa rạp hát khi có trận bóng hay hoặc khi có suất diễn được cho là khá, vé ít nhiều “sốt”…

Có điểm đáng chú ý là xưa cũng như nay, thị dân Hà Nội thường không vì nghề buôn đang thịnh mà quên đầu tư cho tiềm năng về “trí” của con em; đứa nào học được sẽ được học cho đến hết mức cố gắng, nếu được thì cho đi du học, mai sau có danh mà lợi ắt cũng có; đứa nào sức học vừa phải, sẽ được tìm tới những chỗ làm vừa sức; đứa nào sức học yếu, mạnh chân tay hơn đầu óc, thường sẽ vất vả hơn khi tìm việc làm, tìm chỗ đứng, xưa kia đi đạp xích-lô, nay đi chạy xe ôm, làm bảo vệ các cửa hàng cửa hiệu khách sạn đóng tại phường mình hay phường bên cạnh… Một gia đình ba bốn thế hệ họp mặt, thế nào cũng đủ hầu hết các thành phần; ngay khi được hàng phố trầm trồ “nhà ấy đại trí thức đấy” thì nhẩm tính cũng chỉ có người ông nội hay người chú có đỗ bằng cấp gì đó ở nước ngoài, còn lại đều có qua hay chưa qua đại học, cao đẳng trong nước, lại có cả những thành viên chưa qua hết phổ thông.

Dân viên chức ở đô thị ngày nay, tư chức đông không kém công chức. Công chức cấp cao thì coi như quan rồi, thời bao cấp xưa cũng như thời nay đều được ở nhà công, biệt thự hẳn hoi; lương tháng nghe nói không cao lắm, nhưng sinh hoạt cách biệt hẳn với các cấp dưới, đi lại có xe riêng đưa đón, không họp hành, tham quan nước ngoài hoặc công cán tỉnh xa thì cũng đi đánh golf, đi pic-nic, họp mặt chơi bời với các hạng “quan” đồng cấp hoặc doanh gia cỡ đại…

Dân công chức trung cấp trở xuống, thời bao cấp là chuyên viên ở các bộ hoặc cơ quan tương đương, lúc về hưu leo hết 9 bậc chuyên viên là tương đương thứ trưởng, được phân nhà riêng, không phải biệt thự mà thường chỉ là căn hộ trong các khu nhà tập thể. Thời “hậu bao cấp” ngày nay, trong đám thường thường bậc trung này có thêm giới khoa học, giảng viên đại học, chuyên viên tại các viện nghiên cứu,… Quen biết nhiều người trong giới này, tôi dần dà nhận thấy, như một “nguyên lý”: người thị dân loại này, dù mức lương công chức viên chức là tạm đủ cho sự ăn sự mặc, họ vẫn không đoạn tuyệt với “nghề nghiệp” buôn bán!

Thật thế. Thời du học sang Nga hay Đông Âu kiếm tấm bằng “phó tiến sĩ” về nước để có chỗ làm vững chắc, họ đã “vừa học vừa … buôn”, lăn lộn khắp các loại cửa hàng lớn nhỏ nước người để gửi về nhà từng thùng hàng gồm đủ thứ, từ dây may-so đến thuốc lá, quạt điện, phích đá, máy khâu, máy mài, tủ lạnh… tức là tất tật những thứ gì đem bán trong nước sẽ có lãi; bên nhà thì gửi sang quần bò, áo phông, kính râm, túi du lịch, những hàng hóa có nguồn từ Thái Lan,… rồi bột nghệ, túi cói làn cói chiếu cói “đặc sản” quê nhà … tức là tất thảy những thứ có thể bán cho dân Nga và Đông Âu thuở ấy cũng đang thời bao cấp. Đối với anh nghiên cứu sinh nhà nghèo thuở bấy giờ, vợ con bên nhà đang thật sự đói ăn thiếu mặc, thì những việc buôn bán cho dù có làm “chân dung” anh ta và giới anh ta nhếch nhác đi ít nhiều, vẫn là điều có thể hiểu được.

Sang thập niên đầu thế kỷ XXI, phần lớn những người nguyên là nghiên cứu sinh kia đã là cán bộ đầu ngành các khoa các trường các viện trong nước, mỗi dịp từ thủ đô đi tới các tỉnh thành lớn là có vô số học trò kéo đến gặp thăm nom hỏi han, mà học trò của họ không chỉ là học trò: đó có khi là chánh phó giám đốc sở này sở kia, xoàng ra cũng là giảng viên trường cao đẳng, vẫn ngầm chịu ơn thầy đã hướng dẫn hoặc phản biện hoặc tham gia hội đồng chấm cái luận án năm nọ, nhờ tấm bằng ấy mà được giữ những chức này chức khác.

Oai phong, danh giá thật đấy, nhưng trong túi thì cũng vẫn nhẹ tênh. Lương tuy tạm đủ ăn đủ mặc, nhưng chẳng dư giả gì mấy. Mỗi năm hướng dẫn mấy cái luận án sau đại học, mỗi cái theo quy định ngân sách chỉ chi cho thầy hướng dẫn không quá 3 triệu đồng, trải ra trong 3 năm hoặc nhiều hơn; mỗi năm phản biện chừng mươi luận án, mỗi cái được ngân sách cho vài trăm ngàn đồng; có ngồi hội đồng các cuộc bảo vệ luận án tiến sĩ thạc sĩ đi nữa, ngân sách cũng chỉ cho thầy thêm chừng một trăm ngàn mỗi cuộc. Trong số các nghiên cứu sinh, đôi khi có người mang tới biếu thầy chút quà, trị giá từ dăm bảy trăm ngàn đến dăm ba triệu, nhưng cũng có anh học trò nhe răng cười trừ với thầy. Giáo sư H. hay kể chuyện một nghiên cứu sinh vừa viết luận án vừa buôn rượu từ quê ra phố, lúc “bảo vệ” xong cái phó tiến sĩ, bèn xách một can rượu đến phòng thầy, tưởng nó loay hoay cái gì, hóa ra nó bảo, thầy có cái chai nào em rót mời thầy nếm một chút vị men quê em, mà xưa nay mình có uống được đâu! Hẳn đấy là một ca ít nhiều “cá biệt” khiến thầy nhớ lâu đến thế, chứ trong đời hẳn không nhiều kẻ học trò “mắt trắng” thế đâu.

Không đến nỗi “tiếng cả nhà không”, nhưng là viên chức hạng trung thì chẳng giàu có gì, mà nhu cầu tiêu pha thì không hề nhỏ, xét theo tiềm năng phát sinh. Lễ lạt bạn bè họ hàng, đám hiếu đám hỉ, – là chuyện thường ngày; cái quan trọng hơn là phải dự trù những món lớn, khi cần phải “chạy”, chẳng hạn, đứa con sẽ đi du học nước ngoài, hoặc ông chồng sẽ đứng trước cơ may lên chức, – những món phải tính bằng trăm triệu đồng hoặc chục ngàn đô, không trù liệu từ trước thì cầm chắc sẽ bỏ lỡ cơ hội. Tạo nguồn dự trữ bằng cách nào là câu chuyện riêng từng gia đình, nhưng chung quy khó nằm ngoài công việc buôn bán. Không phải buôn bán nhỏ lẻ hàng ngày, nhưng tựu chung vẫn là buôn bán, mà “mặt hàng” thông thường lại chính là nhà ở, đất ở.

Những thanh niên thanh nữ từ vùng xa đến Hà Nội, ban đầu thường ở trong các ký túc xá sinh viên, ra trường đến nhận việc tại một cơ quan nào đó sẽ được bố trí đến ở trong nhà tập thể; lúc lấy vợ lấy chồng, may mắn thì được ở nhờ nhà bố mẹ bên chồng hoặc bên vợ, không được thế thì ban đầu thuê nhà, lần hồi sẽ có nhà riêng, do cơ quan chia cho, hoặc do tự mua lấy. Từ căn hộ nhỏ người ta sẽ đổi sang căn hộ rộng hơn. Cái chu trình thay đổi chỗ ở của người viên chức đô thị gần như đã gợi ý cho mỗi người thuộc giới này chuyện buôn bán nhà cửa.

Trên danh chính ngôn thuận, thời bao cấp, không có chuyện mua bán nhà ở, tuy trong thực tế nó vẫn xảy ra, với những giấy tờ viết tay chỉ có giá trị đối với hai bên liên quan; thời ấy chỉ thường nghe các chuyện phân phối nhà ở, với những từ mô tả “chiến tranh nhà cửa” làm sôi động đời sống một cơ quan mỗi khi có đợt phân nhà. Sang thời “hậu bao cấp”, việc mua bán nhà trở nên công nhiên, và khi chưa xuất hiện các công ty môi giới nhà đất chuyên nghiệp thì tham gia mua bán nhà đất là việc của bất cứ ai; viên chức đang tại chức là một lực lượng đáng kể.

Một ông bạn từng có lúc làm việc cùng cơ quan với tôi, suốt đời là một dịch giả, cả khi làm việc ở nhà xuất bản hay khi ở viện nghiên cứu, vài năm lại có một cuốn sách được in; nhưng có gần anh mới biết ở anh đầy ắp những thông tin nhà đất; thành thử, năm nay nghe nói nhà anh ở phố này, năm sau lại được biết đã chuyển sang phố khác; mua để ở một vài năm rồi bán lại, hoặc mua rồi sửa sang rồi bán lại, chẳng có vẻ gì là buôn bán mà thực ra chính là buôn bán, … mọi thứ diễn ra tự nhiên như kết thúc một đoạn văn dịch rồi đặt bút chấm xuống dòng!

Nói ra thì khó tin, nhưng trải qua mấy năm đầu “hậu bao cấp”, tức là đầu những năm 1990, một loạt cán bộ nghiên cứu viện nọ viện kia mượn cớ dành thời gian viết luận án sau đại học để ít lui tới cơ quan, nhưng thực ra chăm chuyện buôn hơn chuyện nghề. Mươi năm đi qua, họ giàu lên rõ rệt, đổi đời rõ rệt, nhiều người có biệt thự, trang trại, mà cái luận án tiến sĩ cũng hoàn thành, lễ bảo vệ, nếu muốn, sẽ “hoành tráng” với hàng trăm người dự, luôn thể khổ chủ chiêu đãi toàn viện, cũng chẳng đáng là bao!

Vài ba năm trước, một lần tôi đến thăm một anh bạn từng học cùng trường ở tỉnh lẻ, đang bị bệnh nặng. Bên giường bệnh, bọn tôi nhắc lại chặng đường đã qua, anh học xong ở lại dạy ở một đại học miền trong, dăm năm sau mới được gọi về Bộ; nhưng rồi anh không thành một quan chức quản lý, cũng không theo nghiệp nghiên cứu, mà xin về dạy một trường điểm ở thủ đô và đứng vững trong nghề luyện thi; bạn bè có con sẽ thi đại học luôn tin tưởng gửi cho anh. Hôm ấy, hình như anh cảm thấy đang trải qua những ngày tháng cuối đời nên anh “tự bạch” cả những việc ai cũng ngại hỏi. Hạ thấp giọng, anh bảo, vài chục năm vừa dạy vừa luyện thi, bây giờ tạm nằm đây, mình nhẩm tính những thứ mình có: căn hộ đang ở này (căn hộ ở khu tập thể cũ), một căn nữa ở nhà cao tầng Trung Hòa Nhân Chính, hoàn thiện xong sẽ cho thuê này, một mảnh đất gần trăm mét vuông trong làng ven đê La Thành này, với lại chừng 4 tỷ tiền gửi ngân hàng nữa. Tất cả có thế thôi, không có quyển sách nào cả, dù bài vở luyện thi soạn sẵn thì nhiều, cũng có “đứa” bảo sẵn lòng in giúp! – Anh thở dài, chẳng ra mãn nguyện hay chua chát.

So với các vùng làng quê với cư dân ổn định, đời nọ nối đời kia ở yên một chỗ, thì đô thị là nơi cư dân biến động thường xuyên. Một bộ phận đáng kể di dân là những người tới đô thị làm viên chức. Nhưng làm viên chức ở đô thị không phải là nghề có thể “truyền” lại cho con cháu như nghề nông ở làng quê. Khi lương viên chức không đủ nuôi gia đình, người đang làm viên chức đã phải tính kế làm thêm, buôn bán thêm. Đến đời con đời cháu, nếu không tìm được việc làm trong nghề viên chức như cha mẹ, chắc chắn những đứa con sẽ làm những nghề buôn bán gì đó để tiếp tục sống ở đô thị chứ rất ít khi quay về quê cha làm nghề nông.

Thị dân, nhất là thị dân ở những đô thị lớn như Hà Nội, luôn mang trong mình tố chất viên chức và tố chất con buôn, – hai nét bổ sung nhau, làm nên chân dung người thị dân, xưa kia cũng như hiện tại.

Thời báo kinh tế Sài Gòn, số Tết Quý Tỵ 2013