Khu hầm trú tận thế dành cho giới siêu giàu ở Mỹ

Công ty Vivos Group đang xây khu hầm trú ẩn rộng 23 km2 với sức chứa 5.000 người ở Dakota, Mỹ để giúp giới siêu giàu tránh khỏi thảm họa tận thế.

Vivos Group, công ty chuyên xây hầm trú ẩn tận thế cho giới siêu giàu, đang xây dựng cụm hầm cá nhân rộng nhất thế giới mang tên Vivos xPoint ở nam Dakota, Mỹ, Sun hôm 4/1 đưa tin.

Vivos xPoint gồm 575 căn hầm với tổng diện tích 23 km2, đủ sức chứa 5.000 người và đủ vững chắc để chịu sức ép từ 250 tấn thuốc nổ.

Mỗi căn hầm được xây dựng từ thép và bê tông có chiều rộng khoảng 8 m, chiều dài hơn 24 m. Chúng có thể tích trữ nhu yếu phẩm đủ dùng trong 12 tháng.

Sau khi đặt cọc 25.000 USD, người thuê được sử dụng hầm trong 99 năm nhưng mỗi năm phải trả thêm 1.000 USD.

Căn hầm không có lối thoát, đường điện, ống nước hay bộ lọc không khí. Người thuê phải trả 12.000 USD nếu muốn bổ sung các công trình phụ trợ này.

Họ cũng có thể lựa chọn vật dụng trang trí cho căn hầm, chẳng hạn màn hình LED tạo cảm giác giống ô cửa sổ trên vách hầm.

Ngoài ra, đội ngũ nhân viên làm việc toàn thời gian trong hầm luôn sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của người sử dụng.

Công ty cũng dự định xây dựng trường học, nhà thờ, trường bắn và sân vườn trong khu vực. Họ cho biết căn hầm đầu tiên sẽ sẵn sàng cho thuê vào mùa hè tới.

Hiền Anh (Ảnh: Terravivos)

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Larry Page hiện là người giàu thứ 8 thế giới, có một siêu du thuyền, vài chuyên cơ và nhiều đam mê khác.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Larry Page sinh ngày 26/3/1973. Cha mẹ anh đều là giáo viên khoa học máy tính tại Đại học Michigan. Nhà họ luôn có nhiều máy tính và tạp chí công nghệ. Vì thế, Larry đã yêu thích công nghệ từ khá sớm.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Ngoài công nghệ, Page còn thích saxophone. Ông từng cho biết quá trình học nhạc của mình cũng góp phần vào sự phát triển của Google.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Trong thời gian học tại Đại học Michigan, Page bắt đầu hứng thú với tương lai của các phương tiện giao thông. Ông còn gia nhập nhóm làm xe hơi chạy bằng năng lượng mặt trời trong trường.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Sau khi tốt nghiệp, Page tới Stanford học tiến sĩ và gặp Sergey Brin năm 1995. Cả hai nhanh chóng trở thành bạn thân và cùng nghiên cứu về máy tính.”

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Sau đó, Page nảy ra ý tưởng về việc xếp hạng các website. Ông kể với Brin và họ cùng tạo ra một công cụ tìm kiếm, đặt tên là BackRub. Năm 1997, họ đăng ký tên miền Google.com, với mục tiêu sắp xếp lại thông tin trên toàn thế giới.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Page thừa nhận ông giỏi về ý tưởng hơn là quản lý. Một phần vì Page không thích giao tiếp với mọi người. Với vai trò lãnh đạo, ông tập trung vào kết quả và thích những ý tưởng cực kỳ tham vọng.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Page làm CEO Google đến năm 2001. Rồi Eric Schmidt được tuyển vào thay thế. Page ban đầu không vui vì phải nhường lại chức vụ này. Nhưng sau đó, ông bắt đầu cảm thấy thoải mái vì ít phải tham gia điều hành công việc thường ngày.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Thời gian này, ông rất tích cực tham gia vào phát triển tầm nhìn và sản phẩm của Google, ví dụ như đạo diễn vụ mua lại Android của Andy Rubin.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Năm 2011, Page quyết định lấy lại chức CEO. Ông sắp xếp lại bộ máy lãnh đạo cấp cao của công ty. Cuối năm 2012, họ đã ra mắt Google+, Chromebook, Google Glass, Fiber và nhiều sản phẩm khác.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Ông tiếp tục dẫn dắt Google đến năm 2015. Lúc này, công ty thay đổi cấu trúc doanh nghiệp, và Page trở thành CEO công ty mẹ của Google – Alphabet. Với chức vụ mới, Page dành nhiều thời gian nghiên cứu công nghệ mới, gặp gỡ và tuyển dụng nhiều người giỏi.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Ông hiện xếp thứ 8 trong danh sách người giàu thế giới của Forbes, với tài sản 39 tỷ USD. Dù vậy, cuộc sống riêng tư của ông khá bí mật.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Vợ chồng ông và hai con sống tại Palo Alto. Họ có một căn nhà 7 triệu USD và một biệt thự thân thiện với môi trường – có vườn trên sân thượng và hệ thống pin năng lượng mặt trời.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Món đồ xa xỉ nhất của ông có lẽ là siêu thu thuyền Senses mua năm 2011 với giá 45 triệu USD. Nó có nơi cất cánh cho trực thăng và bồn tắm sục.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Tổng cộng, cả Page, Brin và Schmidt đã mua 8 máy bay riêng.

Page còn rất tích cực đổ tiền cho những thứ ông yêu thích. Ông là nhà đầu tư cá nhân vào Planetary Resources, Tesla, Twigtale và cả các công ty nghiên cứu xe bay, như Kitty Hawk và Zee.Aero.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Năm 2006, ông lập quỹ từ thiện lấy tên cha mình – The Carl Victor Page Memorial Foundation. Đến cuối năm 2014, tài sản của quỹ này là 1,37 tỷ USD.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của đồng sáng lập Google

Doanh thu quảng cáo khổng lồ của Alphabet cũng giúp Page chi trả được cho tham vọng tạo ra thiết bị dùng trong smarthome, cung cấp Internet cho cả thế giới qua dự án Project Loon và kéo dài tuổi thọ con người.

Hà Thu (theo BI)

Phán đoán về chính trị Việt Nam sắp tới

BBC

Ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Việt Nam sau Đại hội 12 năm 2016. Nguồn: Getty Images

Ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Việt Nam sau Đại hội 12 năm 2016. / Getty Images

Một nhà nghiên cứu lâu năm về chính trị Việt Nam vừa có bài viết tiếng Anh cho rằng đã có mâu thuẫn trong đảng và tranh đua vị trí tại Việt Nam, chưa đầy một năm sau Đại hội Đảng 12.

Đăng trên trang The Diplomat hôm 23/12/2016, Giáo sư Zachary Abuza, Học viện Quân sự Quốc gia (National War College), Hoa Kỳ, dự đoán có thể Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ nghỉ giữa nhiệm kỳ, và ông Đinh Thế Huynh, Thường trực Ban Bí thư, là ứng viên thay thế hàng đầu.

Ông cũng cho rằng ba vụ điều tra gần đây – liên quan cựu Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng, Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đức Thuận, là cách gián tiếp là suy yếu vị thế Bí thư Thành ủy TP. HCM Đinh La Thăng.

BBC có cuộc phỏng vấn với Giáo sư Zachary Abuza về những điều ông đề cập trong bài viết.

BBC: Trong bài viết mới nhất của ông, ông cho rằng ông Đinh Thế Huynh đang có nhiều cơ hội nhất để trở thành Tổng Bí thư kế tiếp tại Việt Nam. Có phải quá sớm để nhận định như vậy?

Có thể còn sớm, và tôi có thể sai, nhưng theo tôi, tình hình đang diễn biến theo chiều hướng này.

Ông Nguyễn Phú Trọng được bầu lại thêm một nhiệm kỳ, nhưng quan điểm đồng thuận dường như cho rằng ông ấy sẽ chỉ ở lại nửa nhiệm kỳ.

Khó thấy còn ai khác đang rất nhiều cơ hội để thay ông Trọng giữa nhiệm kỳ. Tôi đoán là ông Trần Đại Quang đang chờ đến Đại hội Đảng 13. Tôi không nghĩ rằng có ai đó dành nỗ lực chính trị để ngăn ông Huynh lúc này.

BBC: Bằng chứng nào để ông nghĩ rằng ông Nguyễn Phú Trọng sẽ nghỉ giữa nhiệm kỳ?

Không hoàn toàn chắc chắn, nhưng có lẽ ông ấy sẽ nghỉ. Ông Trọng sinh năm 1944, tương đối già hơn so với người nhiều tuổi thứ hai trong Bộ Chính trị. Đảng Cộng sản có lý do khi họ đề ra mức giới hạn tuổi khi chọn nhân sự.

BBC: Bài viết của ông có đề cập đến Chủ tịch nước Trần Đại Quang, mà một số người cũng đồn đoán là ứng cử viên cho chức Tổng bí thư. Đánh giá của ông?

Tôi đồng ý là ông Quang có nhiều triển vọng. Ông đã mở rộng kinh nghiệm công tác, ra ngoài Bộ Công an. Ông sẽ là ứng viên rất mạnh. Tôi dự trù ông có thể là Tổng bí thư tại Đại hội 13.

Nếu có sự chuyển giao giữa nhiệm kỳ, và có đủ sự phản đối ông Huynh, thì ông Quang cũng sẽ là ứng viên rất mạnh.

BBC: Bài báo của ông tập trung nói về mâu thuẫn nội bộ trong Đảng sau Đại hội 12. Ông có thể giải thích rõ hơn?

Trước các kỳ Đại hội Đảng, luôn có nhiều đấu tranh phe phái. Nhưng sau đó, thường là giai đoạn “trăng mật”, hay tương đối bình yên khi mà chính phủ và cán bộ mới hòa nhập vào vị trí mới. Nhưng một số bạn bè và tôi bắt đầu chứng kiến các dấu hiệu mâu thuẫn nội bộ chỉ trong vòng một năm.

BBC: Ông viết rằng các cuộc điều tra và bắt giữ gần đây dường như là cách nhắm vào Bí thư Thành ủy TP. HCM Đinh La Thăng. Ông có vẻ cho rằng ông Thăng thuộc nhóm cải cách, bị những người bảo thủ tấn công. Trong khi đó, một vài tiếng nói hiếm hoi ở bên trong Việt Nam cũng đã có bài trên mạng xã hội xem ông Thăng là đối tượng cần điều tra. Ông có xem xét quan điểm của họ không?

Đáng tiếc là nền chính trị Việt Nam vốn vô cùng bí hiểm. Vì thế phần lớn quan tâm là chỉ về các bê bối tham nhũng. Chính trị Việt Nam bị chi phối bởi quan hệ người bảo trợ – đồ đệ, theo cùng vây cánh, vì thế khi có điều tra ai đó, nó có thể không hẳn là vì nghi ngờ tội phạm kinh tế mà thường là nhắm gián tiếp vào người bảo trợ. Nó khiến các đối thủ chính trị phải lo lắng, làm yếu đi nền tảng ủng hộ họ, mà điều này rất quan trọng trong một hệ thống chính trị chú trọng đến sự đồng thuận.

Cần khẳng định chống tham nhũng và chống đối thủ chính trị không hẳn là loại trừ nhau. Nhưng cũng cần thấy vì sao chỉ một số người bị điều tra về tham nhũng, còn những cán bộ làm điều tương tự lại không bị. Khả năng có hạn của nhà nước có thể là câu giải đáp, nhưng câu trả lời thuyết phục hơn thường liên quan chính trị.

Ta cũng cần thừa nhận có nhiều tham nhũng trong chính trị cấp cao ở Việt Nam, vì không có báo chí tự do kiểm tra, đảng cộng sản nói chung đứng trên luật pháp, kiểm soát tòa án và công tố. Quan trọng hơn cả, trong hệ thống hỗn hợp của Việt Nam, là nơi nhà nước vẫn kiểm soát rất nhiều (như vốn, đất đai), khu vực công sở hữu quá nhiều tài nguyên và nguồn lợi thì cơ hội tham ô là ở bên trong nhà nước. Một số ít người lại kiểm soát việc phân bổ hàng hóa, dịch vụ, vốn trong khi lại có quá ít sự kiểm tra và minh bạch.

BBC: Trong bài, ông viết nếu ông Đinh Thế Huynh lên làm Tổng bí thư, sẽ không tốt cho Việt Nam vì ông ấy có vẻ là người bảo thủ. Ông cũng nghĩ ông Đinh La Thăng là nhà cải cách. Nhưng chính trị Việt Nam rất bí mật. Liệu có ổn khi quy trách nhiệm hay chê trách cho một số cá nhân, ca ngợi một số nhà “cải cách”, mặc dù ít ai biết thực sự điều gì xảy ra trong các cuộc họp của Bộ Chính trị?

Tôi đồng ý rằng sự phê phán này là công bằng. Tôi biết một số người hoàn toàn bất đồng với tôi khi tôi cho rằng ông Đinh Thế Huynh là người bảo thủ. Có một người nói ông Huynh là người “trung dung”, nhưng tôi không thấy có bằng chứng. Rõ ràng là ông ấy có rất ít tiếp xúc với bên ngoài. Toàn bộ sự nghiệp của ông Huynh là ở trong bộ máy Đảng như một nhà lý luận, ít kinh nghiệm thực tiễn.

Có thể nếu ông Đinh Thế Huynh trở thành Tổng bí thư, những hạn chế và thực tế của việc lãnh đạo sẽ hạn chế những gì ông có thể làm. Nhưng tôi cảm giác ông ấy rất lo lắng quyền uy và quyền quyết định của Đảng bị kéo trôi về phía các nhà kỹ trị trong chính phủ. Ông muốn tái xác lập sự lãnh đạo tối cao của Đảng, đây là việc không tốt cho nền kinh tế ngày càng phức tạp và hiện đại của Việt Nam.

Bài ‘The Fault Lines in Vietnam’s Next Political Struggle; Infighting ahead of the next mid-term Congress is already visible’ được đăng trên trang The Diplomat 23/12/2016.

Bệnh lười dưới chế độ Cộng sản

Trần Trung Đạo

Ảnh minh họa. Photo: NDiep

Hôm 24 tháng 8, 2016, VietNamNet có bài viết “Việt Nam mãi nghèo vì người Việt quá lười? Ngẫm sâu hơn, có thể bạn sẽ nghĩ khác!” Tác giả bài báo dùng các ví dụ về hợp tác xã nông nghiệp để phân tích và dù tránh đụng đến nguyên nhân sâu xa, cũng đã thừa nhận tệ trạng lười biếng phát xuất từ chính sách: “Dân lười nên nghèo hay chăm chỉ có của ăn của để do chính sách nông nghiệp khác nhau tạo ra môi trường khác nhau”. [1]

Một bài viết khác khá chi tiết Đất nước của những kẻ lười biếng của tác giả Lục Phong tập trung vào việc phê bình người Việt “lười học”, “lười làm”, “lười suy nghĩ”, “lười tập thể dục”, “lười tranh đấu”.[2]

Nói chung, đủ thứ lười. Những điều các tác giả đưa ra đều đúng. Không chỉ hai bài trên, quý vị chỉ cần vào google và đánh ba chữ “Việt Nam lười” sẽ hiện lên hàng chục bài viết tương tự.

Phê bình các hiện tượng xấu, tiêu cực trong xã hội là một điều nên làm, dựng lên một chiếc gương để mỗi người có thể soi vào đó mà nhìn lại chính mình. Tuy nhiên, nếu chỉ phê bình hiện tượng thôi sẽ không bao giờ chữa trị được căn bệnh xã hội trầm trọng như bệnh lười tại Việt Nam.

Đặc biệt trong thời gian qua, không chỉ báo “lề dân” mà cả báo đảng cũng đồng thanh lớn tiếng phê bình bệnh lười của người Việt, nhất là trong các thế hệ trẻ. Phê bình nhiều đến nỗi, một người Việt Nam tự trọng và có nhận thức sẽ không khỏi cảm thấy bị xúc phạm và đặt câu hỏi phải chăng lười biếng là một loại bệnh tổ tiên, một phần của văn hóa Việt Nam?

Câu trả lời là dứt khoát không phải.

Bệnh lười do ý thức hệ CS gây ra

Đây không phải là lý luận kiểu “có gì xấu đổ lên đầu CS” mà từ các ông tổ CS như Karl Marx, Friedrich Engels, Lenin, Mao cho đến các lãnh tụ CS sau này đều công nhận lười biếng là một thực tế trầm trọng dưới chế độ CS.

Không giống như bệnh nghiện rượu mà người viết trình bày lần trước là những hiện tượng xã hội, bệnh lười được chế độ CS nuôi dưỡng và tồn tại suốt chiều dài của chế độ. Nói theo lý luận Marx Lenin, bệnh lười giống như tệ trạng tham nhũng, có tính đảng và xảy ra không chỉ riêng ở năm nước CS còn lại mà đã từng xảy ra ở mọi quốc gia CS như Liên Xô, khối Đông Âu, Đông Đức trước đây.

Nguyên nhân của căn bệnh cũng rất hiển nhiên và dễ hiểu.

Chủ nghĩa CS xóa bỏ quyền sở hữu cá nhân, giới hạn các quyền tự do căn bản, ngăn chận tinh thần sáng tạo, cạnh tranh, cầu tiến và ước muốn được đền bù xứng đáng cho công lao tự nhiên có trong mỗi con người. Tất cả những điều đó đã làm cho con người có thói quen lười biếng.

Bệnh lười trích trong Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản

Qua các tác phẩm kinh điển, Karl Marx, Friedrich Engels, Lenin, Mao, Lưu Thiếu Kỳ đã tập trung biện luận rằng bệnh lười là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản chứ không thuộc về bản chất của ý thức hệ CS.

Lấy Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản, văn bản chỉ đạo quan trọng nhất của các đảng CS để phân tích trước.

Trong tuyên ngôn này, Karl Marx và Frederick Engels đã tìm cách lý giải bệnh lười dưới chế độ CS một cách ngụy biện: “Người ta còn phản đối lại rằng xoá bỏ chế độ tư hữu thì mọi hoạt động sẽ ngừng lại, thì bệnh lười biếng sẽ phổ biến sẽ ngự trị. Nếu quả như vậy thì xã hội tư sản phải sụp đổ từ lâu rồi do tình trạng lười biếng, vì trong xã hội ấy, những người lao động thì không được hưởng, mà những kẻ được hưởng lại không lao động. Tất cả sự lo ngại chung quy chỉ là luận điệu trùng phức cho rằng không còn tư bản thì cũng không còn lao động làm thuê nữa.”[3]

Tuy nhiên, ngay cả khi biện hộ, một điểm mà Marx, Engels, Lenin, Mao đều không phủ nhận rằng bệnh lười trầm trọng chỉ phát sinh sau khi đảng CS chiếm được nhà nước.

Bệnh lười tại Liên Xô

Trong thời kỳ từ 1918 đến khi chết, 1924, Lenin đối diện với bệnh lười lan rộng nhanh chóng trong xã hội CS và gần như làm tê liệt bộ máy kinh tế. Chính Lenin cảnh cáo bằng khẩu hiệu “Ai không làm thì không ăn”. Leon Trotsky còn đi xa hơn “Ai không vâng lệnh thì không ăn”, nhưng bệnh lười không vì các đe dọa đó mà giảm sút. [4]

Để tạm thời giải quyết bệnh lười xã hội chủ nghĩa, Lenin buộc lòng thay đổi chính sách từ tuyệt đối kiểm soát nền kinh tế sang một hình thức nới rộng tạm thời mà ông ta gọi là Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước để nhằm kích thích sản xuất bằng cách trả lại một phần quyền sở hữu của người dân.

Trước 1990, Liên Xô với nền kinh tế quốc doanh chỉ huy, đã dành 20 phần trăm Tổng sản phẩm nội địa (GDP) vào mục tiêu sản xuất võ khí nhằm cạnh tranh với Mỹ. [5]

Cuộc chạy đua vũ trang đã để lại một khoảng trống to lớn và không được quan tâm đối với các ngành kinh tế khác cũng như các lãnh vực khác của đời sống con người. Vào thời điểm 1986, Liên Xô có 45,000 đầu đạn nguyên tử [6] trong khi không đủ giấy vệ sinh để cung cấp cho dân. [7]

Bệnh lười tại Trung Cộng dưới thời Mao

Bệnh lười tại Trung Cộng sau cách mạng CS 1949 trầm trọng không kém như tại Liên Xô. Mao Trạch Đông trước Hội Nghị Bắc Đới, 30 tháng Tám, 1958 cũng thú nhận bệnh lười đang xảy tại Trung Quốc khi y phát biểu: “Ngày nay, nếu một người có một phát minh mới, chúng ta trả người đó chỉ 100 yuan và điều đó sẽ tạo ra tình trạng lười biếng và bất mãn”. [8]

Cũng tại Trung Cộng, Diêu Văn Nguyên, Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Trưởng ban Tuyên Truyền Trung Ương Đảng CS Trung Quốc, trong tham luận “Phản Bác Lý Thuyết CS Nuôi Dưỡng Sự Lười Biếng” xuất bản tại Bắc Kinh tháng 10, 1958 cho rằng xã hội CS là xã hội của những con người tự giác, nơi đó, “mỗi người sẽ sống vì mọi người và mọi người sẽ vì mỗi người”. [9]

Diêu Văn Nguyên khai triển lý thuyết “từ vượn thành người” của Frederich Engel khi cho rằng sở dĩ con người có hai tay như ngày nay cũng là kết quả của một quá trình lao động dài để chuyển hai chân trước thành hai tay và việc lười biếng có trong con người là thói quen do các chế độ bóc lột sau đó truyền nhiễm. Đọc tiểu luận của Diêu Văn Nguyên đầy những ngụy biện và hoang tưởng đến độ buồn cười nhưng đã một thời khống chế trong nhận thức của mỗi người dân Trung Quốc. Nhắc lại họ Diêu là một trong Nhóm Bốn Người (the Gang of Four) bị Đặng Tiểu Bình và phe nhóm bắt, tống giam và đã qua đời năm 2005.

Những biện luận đó cho thấy, bệnh lười thuộc về bản chất của chế độ và là một trong những mối lo của những người sáng lập nên chủ nghĩa CS.

Một điều rất dễ hiểu, con người với bản tánh tự nhiên, không muốn đổ mồ hôi nước mắt cho một mục tiêu, phục vụ cho một nền sản xuất mà họ biết cả đời họ có thể sẽ không được hưởng. Ví dụ như tại Ba Lan và Bulgaria trong thời kỳ CS, một người dân muốn mua một căn phòng trong chung cư phải chờ trong danh sách ít nhất 20 năm. Ngay cả khi dành dụm đủ tiền mua xe, một người dân Đông Đức phải chờ 15 năm để sở hữu một chiếc xe. Tại Rumani, để tiết kiệm năng lượng, nhà cầm quyền CS không cho phép người dân được sử dụng bóng đèn quá 45 watt cho một căn phòng, không được mở nhiệt độ trong nhà cao quá 57 độ Farenheit và đài truyền hình chỉ phát hai giờ mỗi ngày. [10]

Lưu Thiếu Kỳ định nghĩa “người CS là người lo trước và hưởng sau” nhưng những “nhiệt tình cách mạng”, “lý tưởng giai cấp” như họ Lưu nói nếu có cũng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn và trong số ít người cuồng Cộng thuộc thế hệ CS thứ nhất nhưng đã chết dần theo thời gian, nhường chỗ cho các nhu cầu tinh thần và vật chất thực tế của đời sống con người thuộc các thế hệ sau. [11]

Bệnh lười tại Trung Cộng dưới thời Tập

Dưới thời Tập Cận Bình hiện nay, tình trạng lười biếng cũng không có dấu hiệu gì thay đổi. Tháng 9, 2015, họ Tập ra lịnh sa thải 249 cán bộ trong 24 tỉnh về tội lười, thất bại trong chính sách chống tham nhũng và cố tình trì hoãn các công trình.

Tân Hoa Xã, trong bản tin Anh Ngữ “China Voice: Incompetence and laziness mean curtains for China’s officials” nhắc lại chủ trương nghiêm khắc chống lười của Tập Cận Bình: “Lười biếng là bệnh không thể chấp nhận trong đảng CS Trung Quốc”.[12]

Chỉ trong vòng 2 năm 2013 và 2014, có tổng cộng 96,788 cán bộ các cấp đã vi phạm các ngăn cấm của đảng CSTQ trong đó có lười biếng. Dù cứng rắn bao nhiêu và kỷ luật nhiều cán bộ bao nhiêu, bệnh lười không có dấu hiệu gì giảm bớt. [13]

Các nước cựu CS sau cách mạng dân chủ

Hàng loạt các cuộc cách mạng dân chủ đầu thập niên 1990 đã thay đổi khuôn mặt của Đông Âu, không chỉ về các giá trị tinh thần, tự do, nhân bản nhưng cả trong đời sống vật chất.

Andrei Shleifer và Daniel Treisman trên Foreign Affairs, tháng 12, 2014 đã đánh giá những khó khăn và thành tựu của các nước cựu CS qua những nghiên cứu, thống kê, tham khảo rất chi tiết.

Theo nghiên cứu này, nếu dùng Tổng sản phẩm nội địa (GDP) như thước đo của mức độ phát triển, những quốc gia cựu CS đã phát triển với một tốc độ nhanh hơn cả những quốc gia đã có nền kinh tế thị trường tiên tiến trong khu vực. Chẳng hạn trong giai đoạn mười năm từ 1990 đến 2011, GDP của Uzbekistan gia tăng 47 phần trăm trong lúc Na Uy gia tăng 45 phần trăm. Lợi tức tính theo đầu người của Bosnia và Herzegovina, vốn chịu đựng CS và rồi nội chiến, đã gia tăng gấp năm lần so với thời kỳ CS và là quốc gia phát triển nhanh hạng thứ ba trên thế giới trong thời kỳ đó, nhanh hơn của Singapore và Hong Kong.

Các phương tiện cần thiết để thỏa mãn các nhu cầu đời sống đã thúc đẩy con người lao vào sản xuất và qua đó gia tăng mức lợi tức cá nhân cũng như gia đình. Theo chỉ tiêu cung cầu, tại Nga, mức cầu của người dân sau 1991 gia tăng 53 phần trăm so với mức gia tăng 45 phần trăm phần còn lại của thế giới. Riêng Ba Lan, mức cầu gia tăng 146 phần trăm, cùng hạng với Nam Hàn tiên tiến. Trong thời gian từ 1993 đến 2011, số lượng xe hơi tính theo đầu người tại các nước cựu CS Lithuania, Slovenia và Ba Lan cao hơn cả Anh quốc.

Dưới thời kỳ CS, du lịch nước ngoài là chuyện hiếm hoi, năm 2012, các quốc gia cựu CS đã thực hiện 170 triệu chuyến du lịch quốc tế. Nhờ vào các chương trình tư hữu hóa nhà cửa, ngày nay 99 phần trăm người dân Tiệp, 85 phần trăm người dân Armenia, 39 phần trăm người dân Nga được sống trong những căn nhà rộng rãi.

Khi con người tập trung vào sản xuất để thỏa mãn nhu cầu ngày càng đa diện cũng giúp cho tình trạng sức khỏe cũng qua đó nâng cao. Bệnh ghiền rượu, vốn là phương tiện duy nhất để giải sầu dưới thời CS, tự động được chữa trị bằng một đời sống tinh thần phong phú. Mức độ tiêu thụ rượu trung bình đã từ từ giảm tại các quốc gia cựu CS. Không giống thời kỳ CS Liên Xô, nơi đó theo một thống kê, trên 50 phần trăm công nhân thừa nhận có uống rượu trong khi làm việc, điều kiện và tinh thần làm việc đã thay đổi một cách nhanh chóng sau thời kỳ CS. [14]

Như Andrei Shleifer và Daniel Treisman kết luận: “gần như tất cả thống kê đã cho thấy một sự cải thiện cấp bách về phẩm chất của đời sống đối với người dân các nước cựu CS tính trung bình từ 1989 – một thay đổi thường vượt qua những tiến bộ tương tự tại các phần khác của thế giới”.

Bệnh lười tại Việt Nam

Con người Việt Nam, cũng giống như bao nhiêu tỉ con người khác trên thế giới không phải mang theo bản chất lười biếng khi ra đời. Hơn thế nữa, nhìn lại lịch sử Việt, nếu dân tộc Việt Nam lười biếng thì từ lâu đã không có một nước Việt Nam mà là tỉnh An Nam, tỉnh Nam Việt nào đó của Tàu hay thậm chí đã không còn tồn tại trên mặt đất này.

Bệnh lười tại Việt Nam đã được phân tích khá nhiều, người viết không thấy cần phải viết thêm. Điều muốn nhấn mạnh ở đây, cũng những con người đó, cũng những dân tộc đó nhưng chỉ trong một thời gian ngắn các quốc gia CS cũ đã hoàn toàn thay đổi. Việt Nam thì chưa. Một người có nhận thức căn bản cũng hiểu vật cản đầu tiên và cuối cùng cho tương lai phát triển toàn diện Việt Nam chính là đảng CS.

Việt Nam sẽ không bao giờ trở thành một Singapore, Nam Hàn hay Thái Lan ngày nào đảng CS còn cai trị Việt Nam bởi vì Việt Nam thiếu một nguyên tố quan trọng nhất để thăng tiến, đó là dân chủ.

Những ai đang mơ một ngày Việt Nam sẽ trở thành Nam Hàn nên đọc phân tích của tạp chí The Economist: “Nam Hàn không chỉ đơn giản phát triển nhanh. Quốc gia này đã kết hợp sự phát triển với dân chủ. Mặc dù khởi đi dưới thời một nhà độc tài quân sự, Park Chung Hee , trong suốt 25 năm, quốc gia đã có một hệ thống quốc hội đầy sinh động. Theo Freedom House, Nam Hàn có mức độ phát triển dân chủ ngang với Nhật Bản. Không một nước Á Châu nào có sự phát triển tốt đẹp tương tự.” [15]

Những người Việt có lòng yêu nước và biết nhìn xa, xin đừng xoa dịu vết thương xã hội đang mỗi ngày thêm lở loét bằng những lớp băng bó ngoài da mà hãy mạnh tay cắt bỏ những ung nhọt đã làm cho thân thể Việt Nam hư thối.

Chỉ có ánh sáng của tự do dân chủ mới chữa được bệnh lười CS. Tiến trình thay đổi cơ chế chính trị độc tài CS bằng một cơ chế dân chủ là một tiến trình gian nan và đầy chông gai thách thức nhưng, như lịch sử các quốc gia cựu CS vừa cho thấy, đó là chọn lựa của thời đại và không có chọn lựa nào khác.

Trần Trung Đạo

[1] Việt Nam mãi nghèo vì người Việt quá lười? Ngẫm sâu hơn, có thể bạn sẽ nghĩ khác! VietNamNet, 24/08/2016.

[2] Đất nước của những kẻ lười biếng, Lục Phong, VietnamVanHien.net, 24/9/2016.

[3] Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Karl Marx, Friedrich Engels, marxistsfr.org

[4] On The Famine, A Letter To The Workers Of Petrograd, V.I. Lenin, 22 May, 1918

[5] Soviet Military Budget: $128 Billion Bombshell, The New York Times, May 31, 1989

[6] Detect and Deter: Can Countries Verify the Nuclear Test Ban? Ola Dahlman, Jenifer Mackby, Svein Mykkeltveit, Hein Haak, pp. 24-27

[7] Research Toilet Paper Usage in the Former Soviet Bloc and the Transition, Mike Haynes, University of Wolverhampton, United Kingdom

[8] Remarks by Mao Zedong at the Beid aihe Conference, 30 August, 1958

[9] Disprove the “Communism Breeds Laziness” Theory. Yao Wenyuan (1931 – 2005), October 23, 1958

[10] Normal Countries: The East 25 Years After Communism. Andrei Shleifer và Daniel Treisman. Foreign Affairs, November/December 2014

[11] Liu Shaoqi How to Be a Good Communist, July 1939. Selected Works of Liu Shaoqi, Volume I, Liu Shaoqi Reference Archive, February 2004

[12] China Voice: Incompetence and laziness mean curtains for China’s officials, Xinhua, July 29 2015.

[13] China Punishes Nearly 1 Lakh Officials for Extravagance, Laziness, Mugdha Variya, IBTimes. Dec 26, 2014

[14] Research on “Communism and Computer Ethics”, Stanford University.

[15] South Korea’s economy, What do you do when you reach the top? The Economist, Nov 12th 2011.