Đan viện Châu Sơn tuyệt đẹp không phải ai cũng được vào

Không chỉ nổi tiếng với nhà thờ Phát Diệm, mảnh đất Ninh Bình xinh đẹp còn rất nhều địa điểm hấp dẫn du khách trong dịp Giáng sinh này, trong đó có đan viện Châu Sơn. 

Đan viện Châu Sơn (hay còn gọi là Đan viện thánh mẫu Châu Sơn, Nhà thờ Châu Sơn) là một đan viện của dòng Xitô, tọa lạc tại xã Phú Sơn, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
Đan viện này cách thành phố Ninh Bình khoảng 35 km, cách Hà Nội khoảng 100 km.
Từ Hà Nội, bạn có thể đi xe khách đến ngã 3 Gián Khẩu, rồi bắt xe ôm hoặc taxi vào tới đan viện. Đan viện ở khu vực rừng núi yên tĩnh, có phong cảnh rất đẹp.
Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn được xây dựng từ năm 1939, là một đan viện chuyên về chiêm niệm, được thiết kế theo phong cách kiến trúc Gothic với vật liệu chính là gạch đỏ không tô trát, nên có một vẻ đẹp khác biệt, ấm áp.
Đầu tháng có thánh lễ, đan viện mở cửa cho du khách tham dự.
Ngày thường, nơi đây tương đối hạn chế đối với khách du lịch. Nếu may mắn được các đan sĩ cho phép vào tham quan, bạn chú ý giữ trật tự ở nơi tôn nghiêm.

Tài xế xe ôm là cháu nội vua Thành Thái giờ ra sao?

“Từ khi chào đời đến nay, tôi chưa một lần được về Huế ăn Tết cùng thân tộc”, anh Nguyễn Phước Bảo Tài, cháu nội vua Thành Thái, cho biết trong cuộc trò chuyện vào dịp cuối năm.

Hoàng tôn Nguyễn Phước Bảo Tài (50 tuổi) là con út của hoàng tử Vĩnh Giu.

Tôi đến thăm gia đình anh tại khu nhà trọ trên đường Hoàng Hưng (P. An Lạc, Bình Tân, TP.HCM) khi cả nhà vừa sum họp sau một ngày lao động mệt nhọc.

Tài xế xe ôm là cháu nội vua Thành Thái giờ ra sao?
Bảo Tài bên cạnh bàn thờ ông bà nội (vua Thành Thái) và cha mẹ (hoàng tử Vĩnh Giu)

Sinh ra ở Cần Thơ, ông Tài sau đó lấy vợ và sinh con. Nhưng không may con gái Nguyễn Phước Thanh Tuyền của họ, nếu tính theo hoàng tộc là công nương, bị bại não bẩm sinh.

Cơ thể bé phát triển bình thường nhưng bé chỉ nằm, không hoạt động được. Bé không thể tự ngồi, tự đi và tự sinh hoạt cá nhân.

Đến năm 2015, bé Tuyền được 10 tuổi, nhiều người khuyên anh chị nên đưa bé lên TP.HCM để chữa bệnh. Vậy là hai vợ chồng lên thành phố, thuê một phòng trọ để có điều kiện chữa bệnh cho con.

Chúng tôi gặp anh tại phòng trọ vào buổi chiều cuối năm. Bên ngoài, mọi người đang tất bật thì bên trong căn phòng, bé Tuyền chập chững từng bước một.

Anh Bảo Tài nở nụ cười thật tươi: “Vui quá anh ơi! Từ chỗ cháu chỉ nằm giờ đây cháu có thể đi được hơn 10 bước”.

Trong căn phòng trọ, anh nói: “Ở đây chúng tôi không sắm sửa gì đón Tết. Gần Tết, vợ chồng con cái dắt nhau về quê làm mâm cơm cúng ông bà thôi”.

Hơn một năm từ ngày rời Cần Thơ lên TP.HCM, vợ chồng anh cố gắng làm mọi việc để có tiền sinh sống và chữa bệnh cho con. Nhiều người biết chuyện đã đến động viên và giúp đỡ anh rất nhiều.

Tài xế xe ôm là cháu nội vua Thành Thái giờ ra sao?
Vợ chồng anh Bảo Tài và bé Thanh Tuyền

Đặc biệt trong năm, bé Tuyền được một Việt kiều tài trợ chi phí khám và chữa bệnh tại một bệnh viện ở Hà Nội. Bác sĩ đã khám và quyết định cấy ghép tế bào gốc cho bé Tuyền. Sau 2 lần cấy ghép, bé Tuyền đã có những tiến bộ rõ rệt.

Theo lời vị bác sĩ điều trị, bé Tuyền phải cấy ghép 4 lần mới có thể khỏi bệnh. Mỗi lần cấy ghép chi phí lên đến 4.000 USD nên hiện nay, nhà tài trợ đang kêu gọi mọi người chung tay giúp bé.

Anh tâm sự với chúng tôi: “Trong đời tôi, chưa có cái Tết nào được trọn vẹn. Khi con nhỏ mẹ cha nghèo quá, lớn lên thì con gái đau ốm liên miên. Tôi cũng muốn có cái Tết rôm rả một chút nhưng có được đâu.

Năm nay tôi cũng phải về Cần Thơ ăn Tết. Tôi chỉ mong năm nào có điều kiện về Huế ăn Tết với bà con dòng tộc. Lúc đó chắc gia đình tôi sẽ vui lắm”.

Ông nội của Bảo Tài là vua Thành Thái, vua thứ 10 của triều đại nhà Nguyễn. Ông lên ngôi năm 1889, là một vị vua yêu nước, vì chống Pháp nên bị đày sang đảo Réunion cùng vợ và các con.

Năm 1947, nhà vua được Pháp cho trở về Việt Nam ở tại Vũng Tàu nhưng đã tách các con ông mỗi người đi mỗi ngả. Hoàng tử Vĩnh Giu, 1 trong 9 người con của Vua Thành Thái và hoàng phi Chí Lạc, bị người Pháp đưa về Cần Thơ làm ngành công chánh (cầu đường).

Tại Cần Thơ, năm 1951, hoàng tử Vĩnh Giu kết hôn với bà Lý Ngọc Hóa sinh ra 7 người con. Trong đó Nguyễn Phước Bảo Tài là con trai út.

Hoàng tử Vĩnh Giu rất vất vả trong mưu sinh. Ông làm nhiều nghề nhưng thu nhập vẫn không đáng là bao.

Chính vì thế ngay từ lúc còn nhỏ, Bảo Tài thay vì đến trường như bao đứa trẻ khác, anh phải lăn lộn khắp nơi để bán vé số kiếm tiền phụ vào thu nhập khiêm tốn của cha.

Cuộc sống như thế cứ kéo dài hết năm này sang năm khác. Năm 2007, hoàng tử Vĩnh Giu qua đời. Lúc này, Bảo Tài đã lấy vợ, sinh được một bé gái và chuyển sang làm nghề xe ôm.

Nhân quyền VN, Luật Nhân quyền Magnitsky Toàn cầu và sự ‘nổi dậy’ của Vietnam Caucus

Blog VOA

Phạm Chí Dũng

A picture taken on December 7, 2012, shows a close view of Russian lawyer Sergei Magnitsky's portrait with his name and the lifetime below on the lawyer's tomb at the Preobrazhenskoye cemetery in Moscow. The US Congress drew today a furious response from the Kremlin by passing legislation that targeted human rights abusers in the prison death of Magnitsky. Moscow immediately called the action "a theater of the absurd" and vowed to retaliate, turning what would have been a boost in trade relations between the two powers into another source of friction. AFP PHOTO / ANDREY SMIRNOV (Photo credit should read ANDREY SMIRNOV/AFP/Getty Images)

Ảnh chân dung ông Sergei Magnitsky, người Nga,

bị tra tấn và chết trong tù. Tên ông được đặt cho

Luật Nhân quyền Mgnitsky Toàn cầu.

Nguồn: ANDREY SMIRNOV/AFP/Getty Images.

Điều gì phải đến đã đến. Quá nhiều lời cảnh báo về khả năng chế tài nhân quyền đối với chế độ chính trị ở Việt Nam đã được giới lập pháp Hoa Kỳ liên tục phát ra suốt từ năm 2014 đến nay, nhưng hầu như chẳng ăn thua gì với đối tượng mà có người phải ví với một đứa trẻ hư chỉ hở ra là ăn vạ. Cuối cùng thì Luật Nhân quyền Magnitsky Toàn cầu đã được Quốc hội Mỹ bỏ phiếu thông qua và Tổng thống Barack Obama ký ban hành.

Luật Nhân quyền Magnitsky Toàn cầu

Sau một thời gian dài do dự vì điều được cho là thái độ mềm mỏng hơi thái quá của chính quyền Obama đối với vấn đề nhân quyền quốc tế, ngày 8/12/2016, Quốc hội Mỹ đã chính thức thông qua một dự luật nhân quyền – Luật Nhân quyền Magnitsky Toàn cầu (Global Magnitsky Human Rights Accountability Act) – nhắm vào những cá nhân vi phạm nhân quyền và những giới chức tham nhũng trên toàn cầu. Dự luật này – do hai Thượng nghị sĩ John McCain và Ben Cardin giới thiệu tại Thượng viện – được thông qua chưa tới một tuần sau khi một dự luật tương tự do hai Dân biểu Chris Smith và Jim McGovern đệ trình tại Hạ viện được chuẩn thuận với tỷ lệ áp đảo đến 2/3.

Vào đúng dịp lễ Giáng sinh năm 2016, hai dự luật trừng trị các cá nhân vi phạm nhân quyền trên thế giới đã được Tổng thống Obama đặt bút ký ban hành.

Theo Luật Nhân quyền Magnitsky Toàn cầu, những quan chức vi phạm nhân quyền sẽ bị chế tài theo hai cách. Thứ nhất, cấm nhập cảnh Hoa Kỳ kể cả đi công vụ. Nếu muốn được miễn trừ lệnh cấm này thì Tổng thống phải có sự miễn trừ đặc biệt và phải giải thích với Quốc hội. Thứ hai, chính phủ Mỹ đóng băng tất cả các tài sản của những cá nhân vi phạm nhân quyền, cho dù họ che giấu bằng bất kỳ hình thức nào hay gửi gắm ai đứng tên.

Tại rất nhiều các nước độc tài, kẻ vi phạm nhân quyền cũng chính là những tay tham nhũng lớn, giấu của cải ở các nước phương Tây. Quan trọng hơn, luật áp dụng với tất cả các loại nhân quyền được quốc tế công nhận. Theo luật này, những người cưỡng đoạt tài sản của nhân dân cũng bị xem là những kẻ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Tình trạng dân oan bị mất đất ở Việt Nam lại rất phổ biến. Những giới chức tham nhũng mà trừng trị những người tố cáo tham nhũng cũng bị xem là vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.

Vậy quan hệ Việt-Mỹ có thể bị tác động thế nào khi Luật Nhân quyền Magnitsky Toàn cầu ra đời?

Theo phân tích của giới chuyên gia về nhân quyền, quan hệ Việt-Mỹ chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi luật này. Ngay cả khi hành pháp Mỹ muốn che chắn bớt cho chính phủ Việt Nam vì những lợi ích khác ngoài nhân quyền thì cũng sẽ khó hơn. Khi Quốc hội Mỹ có hồ sơ rõ ràng rằng những giới chức liên hệ đã vi phạm nhân quyền nghiêm trọng theo đúng định nghĩa của luật thì rất khó để bên hành pháp có thể bỏ qua.

Vietnam Caucus ‘nổi dậy’

Lẽ ra, giới lãnh đạo Việt Nam đã phải rút ra một bài học nào đấy từ năm 2014, khi có đến 2/3 giới lập pháp ở cả Thượng viện lẫn Hạ viện Hoa Kỳ quyết định cài đặt điều kiện tự do tôn giáo vào Quyền đàm phán nhanh (TPA) – một cơ chế cho phép Tổng thống Mỹ được quyết định các nội dung đàm phán về Hiệp định TPP với các quốc gia mà không cần thông qua Quốc hội.

Nhưng đã chẳng có bất kỳ sự thay đổi nào từ phía Việt Nam. Thậm chí sau ba năm có vẻ “ít bắt”, đến năm 2016, công an Việt Nam còn bắt người bất đồng chính kiến nhiều hơn hẳn giai đoạn 2013 – 2015.

Đến năm 2015, một Thượng nghị sĩ Mỹ là Ed Royce đã phải đệ trình ra Quốc hội dự luật về chế tài nhân quyền Việt Nam. Theo dự luật này, vấn đề chính yếu không chỉ là hạn chế những khoản tín dụng và viện trợ có tính cách ưu đãi từ phương Tây, mà cả thực hiện những biện pháp chế tài đối với những trường hợp quan chức Việt Nam vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.

Cũng trong năm 2015 và lan sang năm 2016, nhiều thượng nghị sĩ Mỹ đã đòi Hoa Kỳ phải đưa Việt Nam trở lại Danh sách CPC (Danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo). Nếu Việt Nam đã được Mỹ nhấc khỏi Danh sách này vào năm 2006, thì nay lại đang khá gần với triển vọng “tái hòa nhập” CPC. Nếu bị đưa vào CPC một lần nữa, có nhiều khả năng Việt Nam sẽ bị áp dụng cơ chế cấm vận từng phần về kinh tế và cả quốc phòng. Khi đó, nền kinh tế Việt Nam vốn đã chênh vênh bên bờ vực thẳm, sẽ càng dễ sa chân sụp đổ.

Với giới đấu tranh dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam, Luật Nhân quyền Magnitsky Toàn cầu là tin vui nhất trong năm 2016 và có lẽ trong vài ba năm gần đây, thậm chí còn vui hơn cả việc Tổng thống Obama đến Việt Nam nhưng có đến 6/15 khách mời của Tổng thống đã bị công an Việt Nam thẳng tay chặn không cho đến gặp ông.

Đã đến thời mà những tố cáo về việc quan chức vi phạm nhân quyền sẽ không bị rơi vào quên lãng. Với các tổ chức xã hội dân sự độc lập ở Việt Nam, họ có thể dùng những thông tin về các tổ chức tôn giáo, xã hội dân sự và người dân bị chính quyền đàn áp để đề nghị chế tài những giới chức can dự hay chỉ thị đàn áp người dân. Đây chính là biện pháp để bảo vệ trực tiếp cho người dân bằng sự răn đe rằng người vi phạm sẽ bị chế tài. Những thông tin này sẽ được chuyển cho các tổ chức nhân quyền quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu.

Theo luật mới, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, mà cụ thể là Văn phòng Dân chủ, Nhân quyền, và Lao động (DRL), sẽ chịu trách nhiệm xây dựng một bản danh sách bao gồm tên các quan chức vi phạm nhân quyền, trong đó có Việt Nam. Nếu bị đưa vào danh sách này, hàng loạt quan chức Việt Nam sẽ bị cấm nhập cảnh vào Hoa Kỳ và tài sản cố định, tài khoản ngân hàng ở nước ngoài của họ, kể cả của thân nhân của họ, sẽ bị phong tỏa vô điều kiện.

Nhóm Vietnam Caucus đã “nổi dậy”, dù trước đó vẫn không ngủ vùi.

Vietnam Caucus, còn gọi là “Nhóm làm việc về Việt Nam” của Hạ viện Hoa Kỳ, bao gồm những nghị sĩ có tên tuổi và quen thuộc như Loretta Sanchez, Zoe Lofgren, Chris Smith, Frank Wolf, Alan Lowenthal, Ed Royce…, cùng vài chục nghị sĩ khác của cả hai đảng trong Quốc hội Mỹ, là một nhóm quan tâm đặc biệt đến chủ đề đối ngoại và nhân quyền ở Việt Nam trong nhiều năm qua như tự do tôn giáo, tự do báo chí, xã hội dân sự, thả tù nhân lương tâm. Nhưng đáng ngại hơn cả đối với giới lãnh đạo Việt Nam có lẽ là những dự luật liên quan đến nhân quyền mà các nhà lập pháp của Vietnam Caucus đã soạn thảo và vẫn tiếp tục thúc đẩy Quốc hội Mỹ thông qua, đó là các Dự luật nhân quyền Việt Nam, Dự luật chế tài nhân quyền Việt Nam, và gần đây nhất là một văn bản yêu cầu đưa Việt Nam trở lại Danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo.

Tình hình đang chuyển biến thuận lợi hơn hẳn cho Vietnam Caucus. Cuộc bầu cử năm 2016 ở Hoa Kỳ không chỉ mang về chiến thắng cho người của đảng Cộng hòa mà còn tạo ra thế chiếm lĩnh lưỡng viện của đảng này. Nhờ thế vai trò của Nhóm Vietnam Caucus – vốn thường gắn với đảng Cộng hòa – có thể sẽ nổi bật.

Khi đó, những dự luật vừa kể sẽ có nhiều khả năng được thông qua. Đặc biệt, nếu Dự luật chế tài nhân quyền Việt Nam được thông qua, sẽ tương tự tình trạng chế tài nhân quyền đối với Nga và Syria khi hàng loạt nhân vật cao cấp và kể cả trung cấp của giới lãnh đạo Việt Nam bị đưa tên vào “sổ đen nhân quyền” của Mỹ và Liên minh châu Âu, để từ đó những người này sẽ không được nhập cảnh vào Mỹ, cùng lúc tài khoản, tài sản của họ, kể cả của người thân của họ, sẽ bị Mỹ và Liên minh châu Âu phong tỏa tại bất kỳ ngân hàng hoặc địa điểm quốc tế nào mà nước Mỹ có thể với tay tới.

Sự thật là chưa cần Tân Tổng thống Trump chấp nhiệm chính thức vào ngày 20/1/2017, Nhóm Vietnam Caucus đã cất lên tiếng nói vào những ngày cuối cùng của nhiệm kỳ Obama. Có lẽ đây là một tín hiệu đặc biệt, báo trước cho giới lãnh đạo Việt Nam về giai đoạn “làm mình làm mẩy” đã qua hẳn, nhường chỗ cho một thời kỳ mà tù nhân lương tâm ở Việt Nam không thể bị xem là món hàng để mặc cả cho những lợi ích kinh tế và quốc phòng của chế độ.

Sau Luật Nhân quyền Magnitsky Toàn cầu, một khả năng có thể diễn ra là nhiều nhân vật trong giới lãnh đạo Việt Nam sẽ phải ngẫm lại xem họ đang ở khúc ngoặt lịch sử nào. Công an Việt Nam cũng bởi thế sẽ không còn dễ dàng nhận được “chỉ đạo từ trên” cho việc bắt người bất đồng chính kiến hay hành hạ những người hoạt động cho nhân quyền bằng đấm đá và mắm tôm.

BẠN NGHĨ GÌ? WHAT’S ON YOUR MIND?

Trần Thảo

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Mỗi ngày lên Facebook tôi đều gặp câu hỏi này trong phần bắt đầu của status. Tôi cũng không hề bận tâm đến nó, dù biết là câu hỏi ấy luôn hiện hữu ở đó. Cho tới sáng nay, câu hỏi ấy đập vào mắt tôi với độ xoáy càng lúc càng sâu, khiến tôi có chút giật mình ngơ ngác!

Ừ nhỉ, tôi đang nghĩ cái quái gì trong đầu mình thế? Năm mới 2017 đã bắt đầu, thời gian trôi qua vùn vụt, mà cuộc sống cá nhân của mình vẫn lẩn quẩn trong tình trạng “không gì mới”, và đất nước quê hương Việt Nam kia cũng ở trong trạng thái ù lì với những biểu hiện càng ngày càng xuống cấp một cách thê thảm, nguy cơ bị Hán hóa bởi giặc thù phương bắc giờ đã quá lộ rõ. Tôi và các bạn có thể làm được gì? Một cá nhân, hay một nhóm nhiệt tâm với đất nước có thể làm được gì khi đứng trước cái đống rác quá lớn, mỗi lúc càng thúi hơn, tích tụ gần một thế kỷ kể từ khi HCM và đồng bọn đem cái chủ nghĩa ngoại lai, không tưởng, man rợ về áp đặt lên đầu lên cổ của dân tộc Việt Nam?

Tôi tham gia viết bài trên trang cá nhân của mình và các trang mạng bởi lòng tôi thôi thúc như thế, chứ tôi tự biết khả năng của mình tới đâu! Nói dễ nghe, tôi là một cây viết tài tử, nói vỗ mặt thì tôi đích thị là một cây viết ba chớp ba nháng. Một người viết chuyên nghiệp và cẩn trọng, để viết một đề tài họ thường nghiên cứu, đào sâu rất kỹ, tìm mọi cách diễn đạt trong sáng, chú thích nguồn trích dẫn đâu ra đó. Tôi thì không có cái phẩm chất đó. Tôi kiến thức hạn hẹp, đụng đâu viết đó. Một ý tưởng thoáng qua, tôi lục lại trong đầu óc mình xem có những sự kiện nào liên quan mà mình từng đọc, lôi chúng ra để hỗ trợ cho ý nghĩa chủ đạo của bài viết. Đôi khi tôi cũng làm biếng lục Google để xác nhận trí nhớ lù mù của mình. Vì khả năng của tôi chỉ chừng đó, thế nên mong các bạn thứ lỗi khi gặp những thiếu sót hay lỗi lầm trong những bài viết của tôi. Tôi chân thành cảm tạ.

Hôm nay tôi muốn gửi đến các bạn bài viết này, mà cá nhân tôi, thú thực cũng không tin là mình có thể hoàn tất, bởi phạm trù của nó quá lớn, quá rộng. Một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, tôi nghĩ, ông ta cũng sẽ ngán ngẩm khi có dự định viết về nó, huống hồ gì một tên “ba chớp ba nháng” như tôi. Nhưng tôi vẫn cứ viết, bởi tôi luôn quan niệm hãy cứ để tấm lòng của mình dẫn dắt, đưa tâm trí của tôi đến với các bạn. Biết đâu cùng với nhau, chúng ta có thể khai mở ra một cái nhìn tốt cho quê hương đất nước thì sao, phải vậy không các bạn?

Như đã viết ở phần trên, đất nước Việt Nam trong chế độ CSVN hiện nay cũng giống như một đống rác thúi tổ chảng mà, nếu dân tộc ta có cơ may dọn dẹp nó trong đầu thế kỷ này, thì cái hệ lụy của nó sẽ kéo dài trong mấy mươi năm để giải quyết, còn nếu dân tộc ta bất hạnh, vẫn cứ để cho đống rác đó càng ngày càng lớn, thì cái họa mất nước, dân tộc chìm đắm trong nô lệ Tàu cộng, mãi mãi tiêu tán là điều không thể nào tránh khỏi.

Trong bài viết “CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ?“, tôi góp tiếng với BS Nguyễn Đan Quế và KS Đỗ Nam Hải khi đặt vấn đề VƯỢT QUA SỢ HÃI. Đây là yếu tố quan yếu để khởi đầu một cuộc hành trình còn nhiều gian nan trước mắt. Nhưng KHÔNG CÒN SỢ HÃI, rồi chúng ta sẽ làm gì? Làm thế nào để quy tụ được sức mạnh của dân tộc, và tổ chức sức mạnh đó đi vào đấu tranh thực tế với thế lực cộng sản phi nhân?

Các bạn thân mến,

Bao nhiêu năm sống trong chế độ CSVN, cái cơ chế ma quỷ đó đã khiến cho lòng người Việt Nam ly tán, đạo đức lương thiện dần xa rời trong từng quan hệ giữa con người với nhau, thay vào đó là thái độ thủ mình, nghi kỵ, không dễ trao niềm tin cho ai. Đây chính là thủ đoạn của CSVN gây cho kỷ cương, tình cảm con người trở thành như thế. Có như vậy chúng mới dễ kéo dài ách thống trị tàn bạo trên đầu cổ của người dân chúng ta. Nếu đa số nhân dân, khi đã nhìn rõ cơ nguy mất nước của dân tộc, biết rằng không đứng lên thì sẽ có ngày lạc mất căn cước Việt Nam, tự mình can đảm, vượt qua nỗi sợ hãi từng ám ảnh bao nhiêu năm, thì vấn nạn tiếp theo, làm sao tạo dựng niềm tin giữa người với người, lấy đoàn kết làm sức mạnh, lúc đó, sẽ là yếu tố quyết định thắng thua trong cuộc đấu tranh giữa CHÍNH NGHĨA và GIAN TÀ.

Chúng ta phải làm gì trong lúc đó?

Tôi tạm chia xã hội Việt Nam, trong nước và cả hải ngoại, ra làm NĂM thành phần. Thành phần số 1 là tập đoàn thống trị CSVN, hay nói khác đi chính là Bộ Chính Trị và Trung ương đảng CSVN. Thành phần thứ 2 là những đảng viên, cán bộ ăn theo với quyền lợi của đảng. Thành phần thứ 3 là những đảng viên CS thức tỉnh, nhìn thấy con đường XHCN và CSCN là hoang tưởng, và thấy rõ bộ mặt thật tồi bại của đảng. Thành phần thứ 4 là quần chúng nhân dân nói chung. Thành phần thứ 5 chính là chúng ta, có thể ở trong nước và có thể ở hải ngoại, là những con người đã quá rõ bộ mặt chuột của HCM và bè lũ cộng sản, chỉ thẳng mặt chúng và tố cáo chúng chính là thủ phạm đã gây ra bao tội ác ghê gớm cho dân tộc, đẩy đất nước vào vũng lầy nhầy nhụa hôm nay.

Thành phần số 1:

Cộng sản ở bất cứ đâu trên thế giới này, đều có một điểm chung, đó là gian trá và xảo quyệt. Dù là CS Tàu, CS Cuba, CS Bắc Hàn, CS Nga, CS Việt Nam, tất cả đều giấu mặt khi lực lượng còn non kém. Dưới chiêu bài tranh đấu vì bất công xã hội, chúng thuyết phục người dân bản xứ rằng mâu thuẫn bất công trong xã hội là do giai cấp tư bản thống trị gây ra, và tuyên truyền cho người dân về một xã hội công bằng, người không bóc lột người, rồi mơ mộng tăng lên đỉnh điểm về cái ảo tưởng thiên đường CSCN, ở đó con người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu. Tới khi nắm quyền bính trong tay, chúng coi những người dân ngày nào thậm thụt cung cấp gạo, mắm, thuốc men nuôi dưỡng cán bộ như những kẻ thù, phủi sạch mọi quan hệ và sẵn sàng phóng tay tàn sát, đưa “đối tượng mà ngày nào chúng ra sức tranh thủ” ra nghĩa địa nằm cho chúng rảnh tay cai trị.

Từ Mao Trạch Đông, Fidel Castro, Kim Nhật Thành, Stalin, Hồ Chí Minh v.v… và bao nhiêu tên nữa, tất cả đều như thế. Hãy đọc tư liệu về Mao Trạch Đông trong tác phẩm BÍ MẬT CUỘC ĐỜI MAO TRẠCH ĐÔNG của Bác Sĩ Lý Phục Huy, là Bác Sĩ riêng của Mao. Hãy tìm đọc tác phẩm THE DOUBLE LIFE OF FIDEL CASTRO. MY 17 YEARS AS PERSONAL BODYGUARD TO EL LIDER MAXIMO của tác giả Juan Reinaldo Sanchez. Hãy tìm đọc những tư liệu tràn đầy trên mạng về những tên ác thú Bắc Hàn. Còn về HỒ CHÍ MINH, kẻ cho tới giờ mà chế độ CSVN, mặc cho người dân đói nghèo như rơm rạ, vẫn sẵn sàng bỏ ra hằng ngàn tỷ đồng để dựng tượng khắp nơi, hắn có khác gì với Mao, với Stalin, Fidel Castro, Kim Nhật Thành, Kim Jong-un? Chỉ có mắt mù tai điếc, lương tri thui chột mới không thấy được cái tham vọng thống trị quyền lực và hưởng đời sống vật chất sung sướng của những tên trùm cộng sản.

Mới đây, khi Fidel Castro chết, CSVN còn tổ chức quốc tang, mợ Kim Ngân còn thay mặt “đảng và nhân dân VN”, nhét chữ vô mồm dân, chia buồn ì xèo. Điều đó có thể hiểu được vì bao giờ cũng vậy, ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Nhưng người được coi là một nhà văn có văn phong hàn lâm như bà Phạm Thị Hoài lại viết bài “ÔNG GIÀ VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HUYỀN ẢO“, trong đó ca ngợi Fidel Castro như một người nghệ sĩ với những liên hệ văn học, với tài năng thiên phú, bà cũng không quên nhét mấy câu thơ vuốt đuôi của Lê Đạt “Mây trắng đền Hùng, râu bác ung dung” và bức tranh Tô Ngọc Vân vẽ HCM để tụng hô thằng già mất nết, dâm tặc, điều đó thì quả là không thể nào hiểu nổi.

Tôi lan man như thế không phải là đi xa chủ đề, tôi chỉ muốn nói một điều là bản chất của cái lũ quỷ CS là không có gì phải nghi ngờ. Dù là HCM hay Nguyễn Phú Trọng, hai thế hệ khác nhau, nhưng chúng chính là những đứa không bao giờ biết nghĩ đến quyền lợi tối thượng của dân tộc, đất nước. Chúng chỉ biết say mê quyền lực và bảo vệ chiếc ghế của chúng, bảo vệ sự sống của đảng.

Thành phần số 2:

Thành phần này khá đông. Với con số hơn 4 triệu đảng viên cộng sản hiện nay, với thân tộc bà con của chúng, con số người ăn theo với sinh mệnh của đảng phải lên tới vài chục triệu người.

Bạn ở Sài Gòn hay những thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, hẳn thấy hiện nay những vị trí béo bở nơi cơ quan, xí nghiệp toàn là do đảng viên nắm, chuyện đó dĩ nhiên rồi, nhưng để ý sẽ thấy trong những thị thành, ở những vị trí, địa điểm thuận lợi có thể hái ra tiền hiện nay đều do bà con dòng họ của cán bộ đảng viên, đặc biệt là người miền bắc, nắm giữ. Thành phần ăn theo với đảng này, dù trời có gầm thì họ cũng giữ chặt vị trí và quyền lợi đang có, không bao giờ họ chịu mất đảng để nhả bỏ quyền lợi, và họ chính là những hòn đá tảng, ngăn trở tiến trình thay đổi đất nước. Điều đó không có gì phải nghi ngờ.

Thành phần số 3:

Thành phần này không biết phải gọi họ bằng cái tên gì cho chính xác. Nếu nói họ là phản tỉnh thì không đúng hẳn. Bởi khi đã dùng chữ PHẢN TỈNH, thì họ phải đoạn tuyệt với quá khứ, và bản thân hướng về một tương lai với những suy nghĩ và ước vọng hoàn toàn mới, mới phải! Nhưng nếu bạn nghe nhà thơ Bùi Minh Quốc ca ngợi khoảng thời gian hoạt động ngày trước trong tinh thần mà ông gọi là của “Người cộng sản chân chính”, hay bạn nghe bà Kim Chi tự hào về “Khoảng đời thanh xuân cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc” thì bạn hiểu tôi đang nói tới điều gì.

Thành phần số 3 rất phức tạp, tôi tin rằng những người như ông Bùi Tín, Tống Văn Công, Phạm Đình Trọng, Nguyễn Thanh Giang v.v… dù mỗi ông có hoàn cảnh cá nhân khác biệt, nhưng họ đều đã ngán ngẩm chế độ CSVN, hoàn toàn không tin tưởng ở đảng nữa, nhưng cái ràng buộc với quá khứ như thắt gút trong lòng họ, họ không cởi bỏ được, khiến cho người ta nhìn vào, như nhìn vào một mớ bòng bong, làm sao có thể tin tưởng là họ thực sự đã chuyển hướng? Đó là tôi nói chung thôi, bởi vì không thể tách rời từng cá nhân trong thành phần này để nói, nó sẽ quá dong dài.

Tôi đơn cử vài thí dụ để các bạn thấy rõ. Như Nhạc Sĩ Tô Hải, ông viết “Hồi Ký của một thằng hèn”, đây là thái độ rất dứt khoát để ta có thể thấy được con người của ông. Ông Tống Văn Công, trong hồi ký “Đến già mới chợt tỉnh”, ông có viết một câu “Vì đọc sách … nên đã khiến tôi ngu lâu”. Tôi rất tán thưởng câu nói này, nó cho ta thấy thái độ đoạn tuyệt quá khứ của ông. Riêng ông Nguyễn Thanh Giang, người mà tôi đánh giá khá cao, nhưng khi ông đề nghị “Nếu không có người nào tốt thì thay thế Nguyễn Phú Trọng bằng Đinh Thế Huynh hay Trần Đại Quang cũng được” thì tôi lại thấy rất buồn cười. Đây là lời đề nghị của một người đang lẩn quẩn trong mê trận, không chọn cửa NPT được, đành chọn đỡ cửa ĐTH hay TĐQ, cũng giống như người khát nước mà lại dùng nước biển để đỡ cơn khát.

Đó là chưa kể tới một số nhân vật khác, cũng không còn tin tưởng ở đảng nữa, nhưng họ lại tệ hơn những nhân vật tôi vừa kể ở trên. Những nhân vật tôi kể trên, rất khác nhau, nhưng ít ra họ không còn mơ mộng về chuyện đảng sẽ thay đổi cho tốt hơn. Nhưng những ông như Giáo sư Tương Lai, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, ông Nguyễn Trung (phụ tá của ông Võ Văn Kiệt trước đây), và cả ông Bùi Tín, vào giai đoạn mới thoát ra hải ngoại, tất cả đều có một điểm chung, đó là thi nhau viết kiến nghị, đề nghị đảng thay đổi để xây dựng đảng vững mạnh, lấy lại niềm tin của nhân dân. Thành thật mà nói, tôi đọc mấy kiến nghị của ông Bùi Tín và ông Nguyễn Trung gửi cho đảng, tôi thấy thật là tội nghiệp. Tôi hoàn toàn chân thành chứ không có ý mỉa mai gì cả khi nói rằng với chỉ số thông minh vừa phải, ai cũng thấy bỏ công ra viết những kiến nghị đó thật là vô ích. Đảng không muốn thay đổi, vì thay đổi với họ có nghĩa là tự sát.

Đảng sẽ cố chèo chống tới cùng, được ngày nào hay ngày đó. Mơ mộng lấy lại niềm tin của nhân dân ư? Thật giống người si nói mộng!

Thành phần số 4:

Đây là thành phần đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, cũng là thành phần đối tượng chính mà bất cứ một tổ chức hay phong trào đấu tranh nào cũng cần quan tâm vận động thuyết phục.

Ngày trước, nhân dân cả hai miền nam bắc VN đã từng NHIỀU, ÍT KHÁC NHAU bị những thằng cộng sản tuyên truyền, dụ hoặc. Với người dân miền bắc thì trong gần một thế kỷ, còn người dân miền nam thì hơn bốn mươi năm, tất cả, ngoài thành phần ăn theo, đã ngấy đảng và chế độ lên tới tận cổ. Bây giờ mà nói họ tuyệt đối tin tưởng vào lãnh đạo của đảng như bà Phó Bí Thành Hồ Nguyễn Thị Quyết Tâm vẫn hay bô bô láo toét thì thật là nói lấy được, nói để giành phần một cách ngu si đần độn. Bà Tâm thì nói TIN TƯỞNG TUYỆT ĐỐI, còn Đinh La Thăng và Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc thì cứ đăng đàn kêu gọi chống đảng viên hủ hoá, chống TỰ CHUYỂN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA để lấy lại niềm tin của nhân dân. Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, khiến cho ban hợp xướng CSVN trở thành một gánh hát tả bí lù!

Người dân Việt Nam tuy đã ngấy CSVN lên tới cổ, nhưng bảo họ tin tưởng ai khác vào lúc này thật không phải là chuyện dễ. Họ đã từng bị phản bội một cách trắng trợn bởi CSVN, nên bây giờ như chim sợ cành cong, như người bị rắn cắn một lần thì mãi sợ sợi dây!

Với hoàn cảnh thực tế như thế, chúng ta làm sao vận động thành phần đông đảo này tham gia đấu tranh? Tôi không là chuyên gia tâm lý, cũng chả phải là cán bộ tuyên truyền, nhưng tôi chân thành đề nghị. Quần chúng hiện nay chưa tham gia đông đảo, nhưng không phải là họ vô tâm, không thấy, không nghĩ gì cả trước hiện tình đất nước. Chúng ta muốn vận động họ tham gia việc đấu tranh chung thì, theo tôi, phải làm sáng cái đức CHÂN THÀNH.

Các bạn thân mến,

Các bạn nhìn hình ảnh côn an, dân phòng đàn áp những người dân không một tấc sắt trong tay một cách dã man, các bạn có cảm thấy máu trong người như sục sôi lên không? Các bạn thấy hình ảnh Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị bịt mồm giữa tòa án bạo quyền, bạn có nổi đóa lên không? Các bạn thấy hình ảnh kiên cường bất khuất của Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, của chị Cấn Thị Thêu, của Trần Bang, của Trần Huỳnh Duy Thức, của Nguyễn Văn Đài, của Nguyễn Hồ Nhật Thành, bạn có thấy lòng mình nao nao xúc động vì hào khí của họ không? Thưa bạn, đó chính là tương tác của tình cảm chân thành. Quần chúng nhân dân cũng vậy mà thôi, họ sẽ nghe theo tiếng gọi thôi thúc của chính nghĩa dân tộc khi họ thấy được sự chân thành của người đấu tranh hôm nay. Họ sẽ không bao giờ tin vào những hứa hẹn hão huyền như của lũ cộng sản ngày nào đâu thưa bạn.

Thành phần số 5:                                               

Thành phần này, dù ở trong nước hay ở hải ngoại, chính là bản thân chúng ta.

Tôi tách chúng ta thành một thành phần để dễ nói rõ ngọn ngành, chứ thật ra chúng ta cũng thuộc về thành phần số 4, có nghĩa là chúng ta cũng thuộc thành phần quần chúng nhân dân.

Chúng ta, vì một cơ may (hay là bất hạnh?) đã va chạm nhiều với thực tế của đời sống trong chế độ CSVN. Chúng ta sớm tiếp xúc với những phương tiện thông tin hiện đại, nhìn thấy rõ bộ mặt khốn nạn của CSVN nói riêng, và lũ cộng sản thế giới nói chung. Chúng ta tự nhiên đứng về phía những người bị áp bức, nói lên những tiếng nói mà người dân thấp cổ bé miệng không thốt lên được.

Nhưng chúng ta cũng không phải là một khối thống nhất. Trình độ chúng ta khác nhau, cái nhìn của chúng ta đối với thời cuộc cũng khác nhau, và trên hết, theo ý kiến chủ quan của tôi, là chúng ta không đủ độ lượng để dung chứa nhau, không đủ bao dung để hài hòa khác biệt, hầu có thể tạo dựng sức mạnh đoàn kết.

Việc này nói rất dễ nhưng để thực hiện được rất rất khó. Vì sao?

Chỉ vì chúng ta chỉ là những con người bình thường với ái ố hỷ nộ rất người. Để thoát ra được những hơn thua, tranh chấp, mỗi người chúng ta phải biết tự kiềm chế. Xin các bạn đừng cho là tôi dạy đời, tôi cũng như các bạn, chả có gì cao siêu cả, khi tôi nói điều đó với bạn, tôi cũng là người cố gắng cho mình tốt hơn, chứ tôi không là thánh nhân.

Tóm lại, trong NĂM thành phần mà tôi cố gắng liệt kê ra, theo ý kiến chủ quan của tôi, hai thành phần số 1 và số 2 coi như là không cần phí công tranh thủ sự quay đầu của họ cho chính nghĩa dân tộc, bởi thành phần này họ sẽ bám trụ tới cùng vì quyền lợi của đảng, của cá nhân gia đình họ. Riêng thành phần số 3, những người mà tôi tạm gọi là PHẢN TỈNH, ngoại trừ thành phần thấy đảng sai trái, tầm bậy nhưng vẫn kiên trì kêu gọi đảng thay đổi, lấy lại lòng tin của dân, những người đó họ tiếp tục mê ngủ, chúng ta không phí công thuyết phục những đầu óc hoang tưởng, còn những người khác, hoặc đoạn tuyệt hẳn với quá khứ đảng viên, hoặc chối bỏ đảng CS, tố cáo đảng hại nước hại dân, nhưng trong lòng của họ vẫn không dứt bỏ được cái quá khứ mà họ cho là thần thánh, hào hùng, chúng ta nên cho họ không gian và thời gian để họ tỉnh táo lại. Chúng ta có chính nghĩa, nhưng chính nghĩa đó chưa có đủ nhân lực và điều kiện để phát triển, chúng ta cần thuyết phục những nhân tố có thể được, hài hoà những khác biệt trong tập thể đấu tranh chính nghĩa, tạo dựng sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì đất nước, vì dân tộc hiện nay.

Như đã nói phần trên, tôi cố gắng diễn đạt tâm tư của mình trong bài viết này, nhưng phạm trù bài viết quá rộng, khả năng của tôi thì ba chớp ba nháng, nên các bạn hãy đọc và cùng thảo luận, đóng góp ý kiến. Biết đâu chúng ta có thể tìm được những điều hữu ích cho công cuộc đấu tranh hiện nay.

Trân Trọng.

“Vì sao người Trung Quốc ngu thế?”

chinapeople

Tác giả: Li Ming (Triết gia Trung Quốc) | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Lời giới thiệu: Nhiều người cho rằng văn minh Trung Hoa có đóng góp quá nhỏ bé (xét về số dân) vào thành tựu của văn minh nhân loại, về khoa học tự nhiên cũng như khoc học xã hội. Tìm ra căn nguyên của tình trạng này là một vấn đề có tầm quan trọng đối với Trung Quốc, từng được một vài học giả phương Tây, hoặc phương Tây gốc Hoa bàn luận, nhưng dường như giới học giả Trung Quốc lại thiếu quan tâm vấn đề này, có lẽ vì họ không muốn nói tới các mặt tiêu cực của thể chế chính trị-văn hóa nước họ. Trong tình hình đó, cuốn “Vì sao người Trung Quốc ngu thế?” của triết gia Li Ming (Lê Minh, xuất bản 2003) thu hút được sự chú ý của dư luận. Dưới đây là bài nói của Li Ming tại ĐH Bắc Kinh về sách trên. Bài gồm 6 phần: 1) Vì sao người Trung Quốc là một dân tộc “vô học”?  2) Vì sao sự ngu dốt của người Trung Quốc là kết quả tất nhiên của sự lựa chọn không ngừng xuất phát từ lợi ích tự thân của kẻ thống trị các đời trước; 3) Vì sao người phương Tây trong xã hội cận đại lại trở nên thông minh? 4) Nghi ngờ về sự “thông minh” của người phương Tây trong thế kỷ 21; 5) Tình trạng ngu dốt và thông minh hiện nay của người Trung Quốc; 6) Sau thế kỷ 21, người Trung Quốc nên trở nên thông minh như thế nào? Dưới đây xin giới thiệu phần đầu.

Trong cuốn “Người Trung Quốc xấu xí”, ông Bá Dương đã xúc phạm mạnh đồng bào Trung Quốc (TQ), và bị họ chửi cho mất mặt, giờ đây tôi lại lấy thuyết “ngu dốt” ra để gây sự lần nữa thì chẳng phải là tự chuốc lấy quả đắng đấy ư? Thực ra không phải tôi thích gây sự, mà là do cổ họng tôi bị hóc xương, không lấy xương ra thì khó chịu. Lại còn một lý do nữa là TQ từ xưa tới nay có quá nhiều văn nhân tự khoe mình thông minh, làm cho những người TQ bình thường lâu nay cũng thường xuyên rơi vào đám sương mù dầy đặc tự cho mình là thông minh, mọi người đều mơ giấc mơ người TQ “thông minh”, dường như người nước ta đúng là đặc biệt có gene thông minh. Tiếc thay, mơ mộng rốt cuộc chỉ là mơ mộng. Trên thực tế, người TQ có đúng là thông minh như thế không? Song le thông minh là gì, ngu dốt là gì?

Tôi cho rằng đó chỉ là kết luận rút ra được từ sự so sánh với các chủng loại người khác. Quan điểm của tôi là: trong sự so sánh đó, chủng loại người nào có thể cung cấp cho nền văn minh của toàn nhân loại những nhà tư tưởng lớn, nhà khoa học lớn, nhà công nghệ lớn, nhà nghệ sĩ lớn đẳng cấp thế giới, thì chủng loại người ấy là thông minh. Ngược lại, là chủng loại người ngu dốt.

Nói cách khác, qua so sánh, chủng loại người nào giỏi hơn về khám phá các quy luật mới (về tự nhiên, xã hội, tâm lý loài người), về phát minh công nghệ mới (tư duy, công cụ, máy móc), sáng tạo các tri thức mới (về khoa học, nghệ thuật), thì thuộc về chủng loại người thông minh. Ngược lại chủng loại người nào không giỏi, thậm chí không có thể khám phá quy luật mới, phát minh công nghệ mới, sáng tạo tri thức mới thì là không thông minh.

Dĩ nhiên, thông minh hoặc không thông minh, ngu dốt hoặc không ngu dốt đều mãi mãi ở trong quá trình biến động. Vì thế nên nói không có chủng loại người nào có số phận an bài là thông minh, cũng không có ai số phạn an bài là ngu dốt. Nhưng nếu mọi người tự mình kiên trì mãi mãi không biến đổi thì “ngu dốt” cũng có thể trở thành một loại số phận. Tôi vô cùng lo ngại người TQ trong tình hình trường kỳ giữ một truyền thống lịch sử “bất biến” sẽ thực sự có số phận như vậy.

Người TQ có thực sự thông minh không? Nếu người TQ thực sự thông minh như thế thì trong dòng sông lịch sử dài dằng dặc rốt cuộc họ đã cống hiến cho nền văn minh nhân loại được bao nhiêu nhà tư tưởng lớn, nhà khoa học lớn, nhà công nghệ lớn, nghệ sĩ lớn cấp thế giới, cung cấp được bao nhiêu khám phá lớn về quy luật, phát minh lớn về công nghệ và nghệ thuật, sáng tạo lớn về tri thức?

Nếu người TQ thực sự thông minh thì tại sao trong hơn 100 năm gần đây, về nhân cách chính trị lại luôn luôn bị người nước khác bắt nạt, về  kinh tế toàn là bị người ta bóc lột, về văn hóa học thuật toàn là bị người ta phân biệt đối xử? Cái “thông minh” tự tâng bốc mình có thể biến thành thông minh thực sự được chăng? Rõ ràng không thông minh mà cứ tự tâng bốc mình thông minh, điều đó nên nói là ngu dốt thực sự.

Socrates ở thời cổ Hy Lạp được nhiều người cho là người thông minh nhất. Nhưng cái ông thích được tâng bốc hơn cả lại không phải là sự thông minh của mình, mà ông bao giờ cũng tự xưng: “Tôi biết sự vô tri của mình”. Cho nên Socrates là thủy tổ của phép biện chứng. Ông hiểu sâu sắc thực chất của sự việc con người sở dĩ “thông minh” không phải là ở bản thân sự thông minh mà là ở chỗ thực sự nhận thức được sự vô tri của mình và biết cách vượt qua sự vô tri đó. Trong lịch sử TQ có bao nhiêu sĩ đại phu và văn nhân dám công khai thừa nhận mình vô tri? Lại có bao nhiêu người đã nghiêm chỉnh khắc phục được sự vô tri của mình? Trên ý nghĩa này thực sự có thể nói chính là giới sĩ đại phu văn nhân trong các đời trước đã liên tục tạo ra sự ngu dốt của người TQ. Sở dĩ hôm nay tôi phải lớn tiếng tuyên bố về sự “ngu dốt” của người TQ ngày xưa và ngày nay, thực ra là tôi vô cùng mong muốn người TQ trong tương lai sẽ trở thành “thông minh”.

Lịch sử mấy nghìn năm của TQ thực ra là lịch sử các sĩ đại phu văn nhân tự khoe “thông minh”. Các sĩ đại phu văn nhân “thông minh” trong các thời đại trước đây đã để lại cho người TQ ngày nay những trước tác có tới hàng tỷ chữ, trong đó nổi tiếng nhất có bộ Nhị thập tứ sử, Tư trị Thông giám, Vĩnh Lạc đại điển, Tứ khố toàn thư v.v… Tiếc thay nếu dùng chiếc cân tri thức lý tính của con người hiện đại mà cân đo lượng văn bản lớn ấy thì phần tri thức của nó nhẹ tới mức làm người TQ cảm thấy đau khổ, chỉ đáng một phần vạn lượng tri thức ngày nay. Có một điểm càng làm cho người ta không thể không ghi nhớ là nếu ai hiện nay vẫn vùi đầu vào núi văn bản ấy thì người đó sẽ được nhân bản thành một vị văn nhân tự khoe “thông minh’ của TQ. Các vị văn nhân tự khoe “thông minh’ của TQ trong các thời đại trước đây chính là được nhân bản từ núi thư tịch ấy. Chính vì thế mà xã hội và lịch sử TQ cũng được nhân bản lặp đi lặp lại vô cùng giống như thời xưa, thậm chí như nhau. Chỉ trong một trăm năm gần đây mới có chút thay đổi, nhưng phần cốt lõi thì vẫn khá cứng — tức giới văn nhân TQ cho đến nay vẫn chưa nhận thấy sự vô tri của mình và tại sao lại vô tri, khắc phục sự vô tri như thế nào. Điều này đúng là thực sự ngu dốt.

Sự ngu dốt của người TQ trước hết, hoặc về căn bản, vẫn là sự ngu dốt của giới sĩ đại phu văn nhân nước này. Văn nhân các triều đại trước đây đã làm ra rất nhiều thư tịch có hàm lượng tri thức cực nhỏ — Kinh, Sử, Tử, Tập. Văn nhân TQ ngày nay vẫn tiếp tục làm ra rất nhiều văn bản loại ấy, tạo ra một lượng lớn rác rưởi văn tự trong toàn bộ nền văn minh TQ. Trước kia Lỗ Tấn từng đau khổ cảnh báo thanh thiếu niên TQ cần bớt đọc, thậm chí không đọc sách do văn nhân TQ viết. Qua đây có thể thấy ông sớm hiểu rõ tính nghiêm trọng tồn tại trong núi rác văn tự của nền văn minh TQ. Chính là sự nhân bản lặp lại núi rác rưởi văn tự ấy đã lấp kín con đường trí tuệ của bao nhiêu thế hệ người TQ. Thứ đầu tiên được chế tạo với khối lượng lớn là sự ngu dốt của văn nhân TQ, sau đó nó khuếch đại thành sự ngu dốt của người TQ. Đó là số phận sự ngu dốt của người TQ trong hơn hai nghìn năm qua, nhất là trong 500 năm gần đây, và đặc biệt là 200 năm nay.

  1. Vì sao người Trung quốc là một dân tộc “vô học”?

Tác giả đã sống được ngót 60 tuổi, làm học giả trong khoảng 20 năm, cho tới nay mới chợt tỉnh ngộ biết rằng “học” là gì. Sự tỉnh ngộ ấy cũng làm cho tôi bỗng dưng rơi vào một nỗi buồn sâu sắc: người TQ (dân tộc Trung Hoa) có lịch sử văn minh 5 nghìn năm mà chẳng lưu lại bao nhiêu thứ thực sự đáng để hậu thế học tập. Là một học giả hiện đại TQ tôi vô cùng đau khổ phát hiện thấy người TQ chúng ta vốn dĩ căn bản chưa hiểu thế nào mới là “học” đích thực, do đó mà đến nỗi hầu như vô “học”.

Điều đó thực ra không khó kiểm chứng. Chỉ cần mời mọi người đọc lại một lượt toàn bộ các giáo trình tiểu học, trung học, đại học, viện nghiên cứu sinh, xem xem trong số những kiến thức đáng gọi là “học” dạy cho học sinh, rốt cuộc có bao nhiêu cái là do người TQ chúng ta khám phá, phát minh và sáng tạo.

Kết quả ra sao? Có thể nói, ngoại trừ những thứ như ngữ văn TQ, y dược TQ, sân khấu, thư, họa TQ — số lượng các kiến thức thổ sản ấy đã cực ít lại cũng khó có thể gọi là “học” mà chỉ có thể gọi là “thuật” — hầu như 9999 phần vạn các kiến thức còn lại đều là “sản phẩm du nhập qua đường biển” từ phương Tây. Trong các lĩnh vực như thiên văn, địa chất, địa lý, toán học, vật lý, hóa học, sinh vật, tâm lý, triết học, khoa học xã hội (chính trị học, kinh tế học, xã hội học, pháp học, luân lý học, tân văn học….) thì người TQ chúng ta có truyền thống 5000 năm lịch sử lâu đời và chiếm tỷ lệ số dân nhiều nhất thế giới, rốt cuộc sáng tạo được môn học nào, khoa học nào? Chúng ta lại có ưu thế rõ rệt ở lĩnh vực nào vậy? Thậm chí người Nhật cũng có thể cười chế nhạo chúng ta “Đôn Hoàng ở TQ nhưng Đôn Hoàng học thì lại ở Nhật”.

Bình tĩnh tự xét mình, nên thừa nhận là trong nền văn minh TQ 5000 năm, chúng ta có chữ “học” động từ (học hỏi, học ở chỗ hỏi, vậy hỏi ai? Hỏi trời, hỏi các đại nhân, hỏi các thánh nhân) mà không có chữ “học” danh từ (môn học, khoa học, những tri thức có năng lực sinh trưởng kéo dài, có sinh mạng riêng, tự làm thành hệ thống).

Nhìn tổng quát xưa nay, chúng ta có quan trắc thiên văn nhưng không có môn thiên văn học; có khảo sát địa lý (như Từ Hạ Khách du ký…) nhưng không có địa chất học, địa lý học; có trồng trọt thực vật, vận dụng thực vật nhưng không có thực vật học; có dạy thú và sử dụng động vật nhưng không có động vật học (phương pháp dùng trong các môn động vật học, thực vật học hiện nay vẫn dùng phương pháp phân loại hệ thống do người phương Tây phát minh); có tính toán con số cụ thể nhưng không có toán học trừu tượng; có Tứ đại phát minh nhưng không có vật lý học, hóa học; có kiến trúc cầu hầm nhà nhưng không có cơ học kiến trúc (vật liệu, công trình, kết cấu); thậm chí ta có ngôn ngữ, chữ viết, hội họa, âm nhạc, nhưng không có các môn học thành hệ thống như ngôn ngữ học, ngữ pháp học, tư từ học (Thuyết văn giải tự của Hứa Thận là một bộ tự điển, Mã thị văn thông là sản phẩm sau khi học ngữ pháp học của phương Tây, Lục thư pháp tắc chưa hình thành nguyên lý nghiêm chỉnh), mỹ thuật học (hội họa TQ không có thấu thị học, sắc thái học…), âm nhạc học (tuy rằng Chu Tải Dục đời Minh đầu tiên phát hiện thập nhị bình quân luật nhưng không làm nó trở thành hòa thanh học, âm luật học v.v…).

Sau hơn 20 năm làm học giả TQ, tới nay tôi mới bừng tỉnh dậy sau giấc mơ lớn: người TQ chúng ta tự xưng có nền văn minh truyền thống cổ xưa 5000 năm nhưng lại là một nền văn minh vô “học”.

Thưa đồng bào, chẳng lẽ quý vị không cảm nhận được điều đó ư? Tứ đại phát minh của ta cố nhiên vĩ đại đấy nhưng đều chỉ là “thuật” mà thôi, hơn nữa lại là kỹ thuật khá thô sơ do tiền nhân thời xưa phát hiện và phát minh ra trong trải nghiệm cuộc sống trực tiếp tiếp xúc với thiên nhiên, những cái đó chưa được nâng lên thành “học”, cũng tức là chưa biến thành tư duy lý luận trừu tượng, thành học thuyết giải thích quy luật của sự vật. Chẳng hạn thuốc súng trong Tứ đại phát minh , thành phần vật chất (nguyên tố) của nó là gì? Tính chất hóa học thế nào? Nguyên lý gây nổ của nó là gì? Lại nói kim chỉ nam trong Tứ đại phát minh vì sao nó mãi mãi chỉ về phương Nam (hoặc Bắc), rốt cuộc từ tính là gì? Tất cả những cái đó đều phải chờ đến sau này khi người phương Tây tiến hành tư duy lý luận trừu tượng mới có được nhận thức. Trên tất cả các mặt, người TQ chúng ta hầu như chỉ dừng bước không tiến tiếp ở “thuật” mà thôi, vì thế nên thành tích trong lĩnh vực “học” cực kỳ nhỏ bé, quả thật có thể nói là vô “học”.

“Học” với ý nghĩa môn học, là gì vậy? Điều quan trọng là ở chỗ có lý luận trừu tượng cao độ, lý luận đó có thể giải thích hiện tượng đã có của sự vật, lại có thể mô tả một cách trừu tượng quy luật phát sinh của hiện tượng, vì thế không những có thể giải thích cụ thể sự vận hành thực tế lúc đó của sự vật mà còn có thể dự đoán trạng thái và sự biến đổi của sự vật trong tương lai, và được kiểm chứng hoặc chứng thực, hoặc chứng ngụy trong thực tiễn sau đó.

Một trong những tiền đề quan trọng nhất để xây dựng lý luận là phải nắm được quy luật tư duy logic cơ bản nhất. Hơn hai nghìn năm qua, nhất là 200 năm gần đây, nền giáo dục người TQ từ nhỏ được tiếp thụ chỉ có sự nhồi nhét Tứ thư Ngũ kinh, xưa nay chưa bao giờ biết logic là cái gì, sĩ đại phu-văn nhân còn như vậy, nói gì tới đông đảo dân chúng mù chữ. Tại TQ còn có một điểm đặc biệt làm đứt đoạn nền văn minh — đó là sự tách rời hầu như tuyệt đối giữa người lao động phổ thông với tầng lớp văn nhân biết đọc biết viết.

Hầu như toàn bộ những người TQ tiếp xúc với thiên nhiên và có kinh nghiệm lao động sản xuất đều không biết đọc biết viết, nhưng giới văn nhân TQ biết đọc biết viết lại hầu như căn bản không tiếp xúc với thiên nhiên. Nói khác đi nghĩa là từ xưa tới nay cái đầu (tư duy) và cái tay (thực tiễn) của người TQ hầu như bị tách rời tuyệt đối. Cộng thêm tư duy của văn nhân TQ lại về căn bản thiếu mất sự huấn luyện của tính quy luật logic có ý thức, qua đó tạo nên sự tách rời tuyệt đối giữa “thuật” với “học”. Do sự đứt rời song trùng ấy mà cho dù chưa xét tới còn có nhiều nhân tố khác vô cùng bất lợi như chế độ xã hội, tập tục… thì cũng đã ngăn trở vô cùng nghiêm trọng con đường phát triển trí tuệ của người TQ rồi. Đó dường như là số phận ngu dốt của người TQ trong mấy nghìn năm qua, nhất là trong 200 năm gần đây.

Sự tách rời giữa đầu óc với tay chân trong văn hóa truyền thống TQ, cũng tức là tách rời  giữa tư duy và thực tiễn, cùng sự xa lạ giữa tư duy với logic của văn nhân TQ, đã tạo ra sự “học” của người TQ: hầu như duy nhất chỉ có cái “học” hỏi mà căn bản không có sự học hiểu, suy luận, giải thích, càng chưa thể nói tới sự học sáng tạo kiến trúc cấu tạo của tư duy logic trừu tượng.

Tứ thư Ngũ kinh và những thứ tràn ngập thành tai họa hơn nữa như Kinh, Sử, Tử, Tập, hầu như toàn bộ đều là sự học hỏi. Văn hóa truyền thống TQ chỉ có sự học-hỏi, cộng thêm sự tách rời giữa đầu (tư duy) với tay (thực tiễn) và tiếp tục tạo ra sự đứt rời giữa “học” đích thực với “thuật” đã nói ở trên, — sự đứt rời song trùng ấy trên thực tế đã tạo nên sự vô “học” của người TQ từ xưa tới nay.

Trải qua quá trình Tây học truyền vào TQ trong 100 năm gần đây, TQ ngày nay cũng chỉ có cái “học” đi theo cái “học” của phương Tây mà về cơ bản chưa có cái “học” của bản thổ. Chính vì thế mà các “học nhân” của TQ ngày nay, trong quá trình học sẽ cảm thấy một cách nặng nề rằng mình đã mắc phải chứng “mất tiếng nói”. Hầu như mọi từ ngữ, khái niệm về “học” đều du nhập từ phương Tây, mà không có liên quan chút nào với truyền thống văn hóa bản xứ của chúng ta. Miệng là của người TQ nhưng nội dung lời nói lại là những điều trải qua sự suy nghĩ nghiền ngẫm của người phương Tây. Giấy viết, sách vở, truyền thông là phương tiện của bản xứ (song máy móc làm giấy, làm sách và thiết bị truyền thông cũng có thể của phương Tây), nhưng mọi đạo lý, quy phạm, quy tắc, quy luật…  được sách báo truyền thông nói tới đều là những thứ người phương Tây phát hiện, phát minh và sáng tạo. Trong tình hình này chúng ta còn có thể nói người TQ không “ngu dốt” ư?  Nếu còn muốn tự khoe mình “thông minh” kiểu AQ thì chúng ta lại “thông minh” ở chỗ nào vậy?

Khi phân tích kỹ nền văn minh 5000 năm của TQ, có một môn tri thức có thể gọi là “học” được — đó là “Trung Y học” [Y học Trung Hoa]. Có lẽ cũng chỉ trong lĩnh vực “Trung Y học”, người TQ có thể để lại cho nhân loại một thứ duy nhất có thể gọi là “lý luận” của mình. Đó là lý luận “Âm dương ngũ hành”. Tiếc thay tuy đây là thứ lý luận duy nhất trên thế giới có thể gọi là lý luận của người TQ, thuộc loại sánh được với lý luận logic của phương Tây, nhưng kể từ khi nó xuất hiện cách đây hơn 2000 năm, trong quãng thời gian dài dằng dặc sau đó, thứ lý luận ấy không hề có chút tiến triển nào. Người TQ không hề nghĩ tới chuyện nên tiếp tục cải thiện, đẩy mạnh lý thuyết này, mà chỉ mù quáng sùng tín nó, làm theo nó. Cuối cùng lý thuyết ấy chẳng những chưa được cải thiện mà ngược lại ngày càng trở nên cũ rích, xơ cứng. Cho tới nay số người TQ tiếp thụ lý luận logic của phương Tây ngày càng tăng lên, họ chỉ có thể coi thường thuyết Âm dương Ngũ hành, phỉ nhổ thuyết đó, thậm chí vu khống nó, coi là thứ lạc hậu, mê tín, thuộc cùng loại với thuật phù thủy.

[…..]

Xin trở lại vấn đề trước đây, đi tìm nguồn gốc tại sao người TQ trong lịch sử lại vô “học”. Hiện nay có thể đã rất rõ ràng, đó là do trong lịch sử dài lâu, người TQ chưa tự mình sáng lập được một cơ sở có thể đặt nền móng cho tất cả mọi thứ “học”, cái cơ sở mà người phương Tây cận-hiện đại dựa vào để xây dựng hầu như tất cả mọi thứ “học” — Logic đối xứng nhị nguyên luận.

Nói rõ hơn, tức là logic hình thức, logic hình học, logic số lý, logic biện chứng … được từng bước hoàn thiện kể từ Aristotle, Euclid… Về bản chất, các logic này đều là logic tính đối xứng và nhị nguyên luận. Triết học phương Tây từ Plato trở đi, từ bản thể luận tới nhận thức luận, thứ được các triết gia phương Tây ra sức hoàn thiện là bản thân phương pháp tư duy logic đối xứng nhị nguyên luận. Chính là sự không ngừng hoàn thiện, phát triển của phương pháp logic phương Tây (từ triết học cổ đại) và sự kết hợp hữu cơ với phương pháp thực nghiệm có lựa chọn trong thời cận đại, đã sinh ra và xúc tiến các khoa “học” trên mọi lĩnh vực, mọi tầng nấc của phương Tây thời cận-hiện đại.

Hegel nói người TQ “không có triết học”. Chẳng may người TQ bị ông nói trúng. Đúng là người TQ không có triết học, mà điều đó lại ở chỗ người TQ không có logic — dĩ nhiên là nói logic đối xứng nhị nguyên luận. Các văn nhân nhiều đời trước của chúng ta chưa từng bỏ công sức vào việc thăm dò quy luật của bản thân tư duy. Họ chỉ có duy nhất một phương pháp tư duy là độc đoán trực giác và trực giác độc đoán. Tư duy độc đoán trực giác ấy ngoài việc sản sinh những ý kiến đủ mọi màu sắc ra thì chẳng thể có được sự suy lý khuếch trương, kéo dài, càng không thể có sự kiến cấu sáng tạo trừu tượng. Cho nên những tư liệu do các văn nhân TQ viết, ngoài việc có ý nghĩa chất đống to bằng hạt cát ra thì căn bản không thể có giá trị lý luận kiến cấu hữu cơ. Điều đó làm cho văn nhân chúng ta bao đời qua chưa bao giờ hiểu được lý luận là gì. Về cơ bản, văn nhân TQ là một lũ người lùn văn hóa chẳng biết lý luận là cái gì, chỉ biết phát biểu ý kiến (ý khí chi kiến) mà thôi. Dựa vào những người ấy thì mãi mãi chẳng có thể xây đắp nên tòa lâu đài khoa học cận-hiện đại. Cho dù trên mặt sáng lập kỹ thuật và nghệ thuật thì phần lớn cũng chỉ có thể là những thứ bình thường, nông cạn, vô vị, thậm chí thấp hèn. Chính vì thế mà đã hình thành một lịch sử hầu như vô “học” hơn hai nghìn năm qua của TQ, qua đó tạo ra sự ngu dốt trên thực chất của văn nhân TQ rồi mở rộng ra thành sự ngu dốt của người TQ (nhất là trong 200 năm gần đây).

Trong tất cả các nguyên nhân làm cho người TQ thời cận đại bị đày đọa, nguyên nhân căn bản nhất là sự ngu dốt của họ — tình trạng này dần dần tích tụ mà thành trong lịch sử dài lâu. Do logic mà lạc hậu, nghèo khó. Do logic mà bị kẻ khác bắt nạt, bị đánh, bị kỳ thị. Chỉ có từ đó nhận thức được sự ngu dốt của mình và thoát ra khỏi sự ngu dốt ấy thì người TQ mới có thể thay đổi tất cả trong thế kỷ và thời đại mới.

Trên đây đã phân tích nguyên nhân tình trạng người TQ vô “học” , quy lại chủ yếu là hai điểm sau:

1- Trong lịch sử lâu dài, những người TQ biết chữ thì không làm công việc sản xuất; ngược lại, những người làm sản xuất thì không biết chữ — điều này đã tạo nên sự hoàn toàn tách rời giữa tư duy với thực tiễn. Nói gọn lại, tức sự hoàn toàn tách rời giữa “bộ não” và “cánh tay” của người TQ.

2- Trong lịch sử dài hơn 2000 năm, sự hoàn toàn tách rời giữa “bộ não” và “cánh tay”, giữa “học” và “thuật” của người TQ — sự tách rời song trùng này làm nên nguyên nhân lịch sử giải thích vì sao người chúng ta ngu dốt như thế. Vấn đề này phải được phân tích tiếp. Vì sao người TQ lại có căn nguyên lịch sử như thế? Đây chính là vấn đề cần được giải đáp trong phần sau.

Nguyễn Hải Hoành dịch. Bản gốc tiếng Trung: 中国人为什么这么愚蠢?- 黎 鸣