Hà Lan có thật sự là một đất nước giàu có và bình yên?

Gần đây, nhiều người Việt Nam thi nhau ca ngợi Hà Lan là xứ sở giàu có, bình yên không tội phạm nên phải đóng cửa nhà tù. Sự thật có phải như vậy không?  

Theo một số thông tin được đưa trên trang Dutch News và QZ, Hà Lan chuẩn bị đóng cửa thêm một số nhà tù bởi số lượng tù nhân ngày một giảm. Ngoài ra, các thẩm phán đang đưa ra các mức án tù ngắn hạn hơn, điều đó đồng nghĩa với việc thời gian các tội phạm ở trong tù không kéo dài. Ngoài ra, các bài báo cũng nhấn mạnh đến việc tỷ lệ tội phạm ở Hà Lan không ngừng giảm.Nhưng người dân và những du khách đặt chân đến Hà Lan thừa hiểu đất nước mình không hề yên ả như các con số thống kê được công bố. Câu chuyện từ nhiều du khách từng có những trải nghiệm kinh hoàng ở Amsterdam và một số thành phố khác tại Hà Lan không hề hiếm.

Du khách John Baker người Anh từng kể lại trải nghiệm đáng sợ của anh khi đến thăm khu phố đèn đỏ vào tối muộn: “Tôi đã gặp một nhóm các chàng thanh niên trẻ tuổi đến sát mặt chúng tôi và quát tháo bằng tiếng Anh. Khi chúng tôi cảm thấy họ không có vẻ gì đùa giỡn, chúng tôi bỏ chạy và họ ném đá vào chúng tôi. Về đến khách sạn, tôi thắc mắc với chủ khách sạn thì họ trả lời rất thản nhiên rằng cảnh sát sẽ chẳng bao giờ can thiệp vào mấy vụ va chạm trên phố trừ khi thương tích quá lớn.”

Năm 2012, theo báo cáo của cơ quan thống kê châu Âu Eurostat, Amsterdam đứng thứ 4 tại châu Âu về số lượng các vụ giết người và những cái chết bất thường. Còn thành phố nổi tiếng Rotterdam cũng không ít năm được xếp vào danh sách thành phố nguy hiểm nhất châu Âu. Đó là còn chưa kể đến số lượng các vụ móc túi nhiều khi tăng đến 25%/năm.

Mại dâm là nghề hợp pháp ở Hà Lan. Các quán cà phê được phép bán cần sa với số lượng nhỏ. Tuy nhiên, gái mại dâm không kê khai thu nhập bằng tiền mặt, người bán cần sa không ghi hóa đơn. Tình hình này khiến họ dễ dàng rửa tiền cho các băng nhóm tội phạm. Theo phát ngôn viên của Amsterdam, phụ nữ, đặc biệt là dân nhập cư bất hợp pháp, thường bị buộc làm gái mại dâm nhưng ít người dám lên tiếng do sợ các quan chức nhập cư hoặc sự trả thù của bọn ma cô.

Nằm ở vị trí trung tâm của châu Âu với hệ thống cảng phát triển nhất thế giới trong nhiều thế kỷ, Hà Lan là điểm trung chuyển của rất nhiều loại hàng hóa giữa lục địa châu Âu và phần còn lại của thế giới. Trong số đó là ma túy, cần sa và gái. Hà Lan là một trong những điểm trung chuyển ma túy và gái mại dâm lớn nhất của thế giới.

Vì lợi ích kinh tế cùng nhiều lý do khác không thể biết hết mà chính phủ Hà Lan đã không thẳng tay càn quét hai tệ nạn này. Bởi thế số lượng hai loại tội phạm đó ở Hà Lan thấp. Nếu nhiều nước khác có chính sách đối với ma túy, cần sa và gái mại dâm giống như Hà Lan, chắc hẳn số lượng tù nhân của họ thấp hơn rất nhiều, và biết đâu họ cũng có nhiều nhà tù cần phải đóng cửa.

Một nghị sỹ Hà Lan đã tuyên bố rằng: “Nếu chính phủ Hà Lan thực sự quan tâm đến bắt giữ tội phạm thì vấn đề thừa nhà giam đã không xảy ra.”

Ông Frans Carbo, đại diện của một tổ chức phi chính phủ lớn tại Hà Lan, khẳng định: “Chính phủ Hà Lan làm mọi cách để con số tội phạm công bố ra càng thấp càng tốt. Ngành cảnh sát nước này đang cơ cấu lại, và trong quá trình cơ cấu, họ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm và bắt giữ tội phạm. Ngoài ra, ngành cũng đang muốn tiết giảm chi phí tối đa nên họ đóng cửa nhà tù, kế hoạch đó thực ra đã được khởi động từ năm 2013.”

Còn kết quả một cuộc khảo sát ý kiến người Hà Lan thực hiện năm 2014 cho thấy, đến 60% người dân nước này tin rằng tỷ lệ tội phạm của Hà Lan tăng trong 3 năm gần nhất.

Chuyện gái mại dâm ở Hà Lan không hề mới, người ta đã nhắc đến nó cả 7-8 thế kỷ nay và đến giờ vẫn thế. Với vị trí là cảng trung tâm của thế giới với hàng triệu thủy thủ và những nhà buôn ra vào tấp nập mỗi năm, sẽ khó để Hà Lan tránh được vấn đề gái mại dâm phát triển bùng phát. Hà Lan đã chính thức công bố hợp pháp hóa mại dâm từ năm 2000 với mục tiêu bảo vệ những người làm nghề mại dâm và thu được thuế. Tuy nhiên cuối cùng không ít đại diện của chính phủ Hà Lan khẳng định họ đã thất bại với chính sách này. Gái mại dâm chẳng được bảo vệ bởi chẳng ai muốn công khai danh tính và đóng thuế. Chính sách hợp pháp hóa mại dâm chỉ khiến gái mại dâm từ Đông Âu, Trung Đông đổ xô đến Hà Lan nhiều hơn, gái mới cạnh tranh gái cũ khiến mặt bằng giá thị trường giảm xuống. Công nghệ phát triển, nhiều cô gái tự rao bán mình trên các diễn đàn tình dục để khỏi bị quản lý.

Theo số liệu từ Bộ Ngoại giao Mỹ, Hà Lan cùng Nigeria, Bulgaria, Phần Lan, Guinea, Rumani và Trung Quốc thì Hà Lan là 8 nước có tình trạng buôn bán người tồi tệ nhất thế giới, cả phụ nữ và đàn ông đều bị bán. Các nạn nhân chủ yếu đến từ Phần Lan, Hungary, Nigeria, Angola, Sierra Leone, ngoài ra cũng có cả nhiều nạn nhân là người Ghana, Trung Quốc, Rumani, Bồ Đào Nha và Hà Lan.

Những phụ nữ châu Âu dễ rơi vào tay bọn buôn người bao gồm người tị nạn, trẻ em, phụ nữ có visa phụ thuộc mà họ có được thông qua kết hôn giả hay những phụ nữ đến từ các nhà thổ ở Đông Á, châu Phi. Ngoài ra còn phải kể đến rất nhiều công dân Hà Lan chưa đến 18 tuổi bị lừa gạt qua các mạng lưới ở trên mạng Internet.

Bọn buôn bán ma túy nhỏ hoạt động trên phố mà không bị trừng phạt. Những tên trùm buôn lậu ma túy và các băng nhóm buôn người được tin là kiểm soát khu Đèn đỏ. Và Amsterdam đã chứng kiến một loạt vụ giết người kiểu xã hội đen trong những năm gần đây.

Chẳng có gì bí mật là ở hàng loạt nước châu Âu, cũng như trong một số bang ở Hoa Kỳ đã hợp pháp hóa những dạng ma túy “nhẹ” như cần sa và tài mà. Tuy nhiên, số lượng những người sử dụng thì không những không giảm, mà còn tăng thêm. Các nhà khoa học Mỹ Lynn Zimmer và John Morgan, khi tiến hành điều tra tình hình ở Hà Lan, nơi hợp pháp hóa cần sa, đã đến kết luận đầy thất vọng. Ở đất nước của hoa tulip, số người sử dụng cần sa trong thanh thiếu niên đã tăng 250%!. Phải nói thêm là ở Hà lan mức độ tội phạm đã tăng cao nhất châu Âu, sau khi mọc lên vô số những “tiệm cà-phê” bán thứ lá xanh độc hại.

Theo quan điểm của người Hà Lan, mỗi người có quyền tự quyết định về sức khỏe của riêng mình. Và họ tin rằng cái gì càng cấm thì nó càng được khao khát sử dụng. Chính vì vậy người Hà Lan chấp nhận việc lưu hành và kinh doanh hợp pháp một số chất gây nghiện dạng nhẹ như cần sa, thuốc lá gây nghiện, nhựa cần sa và dầu cần sa.

Tất cả các mặt hàng này được bán phổ biến ở hàng chục nghìn cửa hàng cafe khắp Hà Lan, với liều lượng không quá 5 gram cho một giao dịch, không bán cho trẻ em và không được phép quảng cáo. Thế nhưng lại chẳng có cảnh sát nào bắt giam nếu khách mua làm nhiều lần, mỗi lần 5 gram và cũng không ai giám sát điều đó. Các chất gây nghiện hạng nặng như nấm ảo giác, cocaine, LSD, morphine và heroin đặc biệt hoàn toàn bị cấm. Ai bị bắt sẽ bị phạt tù. Luật pháp có vẻ rất nghiêm minh.

Thế nhưng số liệu từ phía Mỹ lại cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác về Hà Lan. Theo số liệu của Cơ quan bài trừ ma túy Mỹ, ngành kinh doanh chất gây nghiện bất hợp pháp ở Mỹ là một trong những ngành có tỷ suất sinh lời cao nhất thế giới. Nguồn buôn các chất gây nghiện nặng vào Mỹ đến từ các băng đảng người Nga, người Israel, Đông Nam Á. Trong đó Hà Lan là một điểm trung chuyển chất gây nghiện cực lớn vào Mỹ.

Phần nhiều trong số các chất gây nghiện hạng nặng được bán đến Mỹ được sản xuất tại các nước khu vực Tây Âu, và Hà Lan có quy mô lớn nhất. Từ năm 1995, theo số liệu từ Cơ quan Thống kê Hà Lan, nước này đã có 35 nghìn gia đình trồng cần sa. Cơ quan bài trừ ma túy Mỹ nhấn mạnh dù chính phủ Hà Lan có nhiều chiến dịch truy quét những kẻ tội phạm sản xuất chất gây nghiện loại nặng, nhưng hoạt động vẫn phát triển âm thầm và mạnh mẽ.

Rất nhiều mạng lưới đầu não sản xuất chất gây nghiện hạng nặng đặt trụ sở tại Hà Lan và Bỉ. Chỉ riêng trong năm 2000, cảnh sát Mỹ đã bắt giữ ít nhất 3 vụ buôn thuốc lắc từ Hà Lan sang Mỹ với tổng số 2 triệu viên. Có đến hàng trăm nghìn viên thuốc lắc được gửi trong những bưu kiện hàng không với nội dung ghi bên ngoài là quần áo cũ gửi đến Mỹ. Từ đó đến nay, số vụ bắt giữ chất gây nghiện hạng nặng từ Hà Lan vào Mỹ là không kể xiết và không giảm qua các năm.

Theo số liệu của Liên minh châu Âu, trong năm 2013, tổng số thuế mà chính phủ Hà Lan thu được từ các cửa hàng cà phê có bán cần sa, các sản phẩm liên quan đến cần sa và các điểm dịch vụ tình dục trong các phố đèn đở ở Hà Lan đã đạt mức hơn 3 tỷ euro, cao hơn tổng quy mô của thị trường pho mát nội địa Hà Lan và tương đương hơn 1% GDP ở thời điểm năm 2001 và khoảng 0,5% GDP ở thời điểm năm 2014.Đó là con số thống kê chính thức, còn các số liệu từ một số tổ chức nghiên cứu thị trường khác như Travel Conference của Anh cho thấy không tính đến ngành sản xuất và kinh doanh ma túy, chỉ riêng mại dâm và các dịch vụ ăn theo liên quan đóng góp đến 5% GDP của Hà Lan.

Theo ÂU MỸ THIÊN ĐƯỜNG

Donald Trump đã dạy con như thế nào để chúng không hư hỏng dù sống trong nhung lụa?

Donald Trump không chỉ nổi tiếng bởi từng được xếp thứ nhất trong danh sách những người giàu nhất thế giới, mà còn được nhiều người ngưỡng mộ vì có những đứa con thành đạt, khôn ngoan.

Không giống như tỉ phú Warren Buffett hay Bill Gates bắt con tự lập bằng cách “cắt” quyền thừa kế, Donald Trump dạy con theo phong cách truyền thống. Điều này càng làm nhiều người khâm phục tỷ phú bất động sản hơn bởi dù được sống trong nhung lụa, nắm chắc trong tay khối tài sản khổng lồ nhưng các con của ông vẫn biết quý trọng đồng tiền, luôn tự lực cánh sinh để chứng tỏ bản thân và tạo nên giá trị riêng của mình.

Vậy Donald Trump đã dạy con như thế nào để chúng không hư hỏng? Hãy cùng đọc bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn nhé.

Áp dụng nguyên tắc “ba không”

Tỉ phú Donald Trump vẫn luôn đảm bảo cho các con một cuộc sống xứng tầm gia đình tỷ phú và di chúc sẽ để lại toàn bộ tài sản cho các con. Tuy nhiên, khác với những “cậu ấm, cô chiêu” của các gia đình giàu có khác, những người con của ông trùm bất động sản không ai chịu “ngồi mát ăn bát vàng” để thừa hưởng gia tài của cha mẹ. Họ đều tự lập và đi làm rất sớm.

Nhiều người rất ngạc nhiên và tò mò không hiểu Donald Trump làm thế nào để các con đi vào “khuôn khổ” mà không cần lấy tài sản ra đe dọa.

Trong một cuộc phỏng vấn, ông trùm bất động sản đã tiết lộ bí quyết của mình: “Các con tôi thành công bởi đã thấm nhuần nguyên tắc ‘ba không’ của cha nó.

Nguyên tắc ‘ba không’ của tôi chính là: ‘Không ma túy, không rượu, không thuốc’. Khi chúng còn nhỏ, bất cứ khi nào tôi rời khỏi nhà, tôi cũng dặn: ‘không ma túy, không rượu, không thuốc lá’. Sau khi nhắc đi, nhắc lại điều đó một nghìn lần, chúng nói với tôi: ‘Cha. Cha đừng nói chuyện đó nữa đi mà’.

Tôi có nhiều bạn bè giàu có, có những đứa con rất tài năng, nhưng những tài năng ấy lại bị tàn lụi dần bởi rượu và ma túy. Chúng lao vào thứ văn hóa ma túy, văn hóa rượu và nó hủy hoại đầu óc chúng về lâu về dài. Chính vì vậy, từ khi những đứa trẻ nhà tôi mới bắt đầu nói sõi, tôi đã dạy chúng: ‘không ma túy, không rượu, không thuốc lá’, để làm gương, tôi cũng không bao giờ uống rượu”, tỉ phú Donald Trump cho biết.

Dù không hề ép buộc nhưng những người con của Donald Trump đều trở thành những doanh nhân thành đạt giống bố. (Ảnh: Capitalbay)

Được biết, khi được phóng viên phỏng vấn vào năm 2011, Trump tiết lộ, anh trai ông đã chết do nghiện rượu. Chính vì thế, ông đặt ra những nguyên tắc tuyệt đối buộc các con phải tuân theo, bao gồm không uống rượu, không hút thuốc và cả không xăm mình.

“Tôi có những đứa con tuyệt vời và hy vọng chúng mãi như vậy. Từ khi chúng đủ tuổi để lắng nghe, tôi đã luôn nói với chúng rằng không uống gì cả, không hút thuốc và đôi khi cả không uống cà phê; giờ đây thì có thêm không hình xăm. Con gái Ivanka mỗi khi nghe tôi nhắc lại nói ‘cha không cần phải nhắc nữa, không nhắc nữa”, Trump cho hay.

Làm gương cho các con

Để làm gương cho các con, Donald cũng không có thói quen nhậu nhẹt hay hút thuốc, nhờ vậy các con ông không ai sa đà vào thói hư tật xấu nào, ngoài ra ông còn làm việc rất chăm chỉ.

“Tôi là tấm gương cho bọn trẻ nhà tôi. Tôi luôn làm gương cho các con và công ty. Các con tôi chứng kiến hằng ngày tôi đã làm việc vất vả như thế nào và cách làm việc đó thể hiện ngay từ những năm đầu đời của các con tôi. May mắn cho tôi là bọn trẻ đều yêu công việc của chúng và rất có kỷ luật. Tôi chắc chắn là chúng lựa chọn được làm việc cùng tôi – tôi không muốn chúng làm như thế nếu chúng không say mê những gì chúng đang làm”, tân Tổng thống của Nhà Trắng cho biết.

Điển hình nhất là Ivanka, cô con gái thứ ba của gia tộc họ Trump luôn khiến mọi người ngưỡng mộ vì tài, sắc và gia sản khổng lồ. Cô cũng được mệnh danh là “tiểu thư ít scandal nhất thế giới”. Sinh ra và lớn lên như một tiểu thư đài các nhưng Ivanka biết tự lập rất sớm. Bố mẹ chỉ cung cấp tiền học phí, còn lại tất cả các khoản khác, kể cả tiền điện thoại cũng do cô tự chi trả. Qua sự giáo dục của cha mẹ, cô hiểu rằng không làm mà hưởng là một điều vô cùng xấu hổ.

Ivanka, cô con gái thứ ba của gia tộc họ Trump. (Ảnh: Photoshelter)

Theo đó, sau khi tốt nghiệp trường Wharton danh tiếng, Ivanka vào làm việc như một nhân viên bình thường trong công ty của gia đình để tích lũy kinh nghiệm. Tới năm 24 tuổi, cô chính thức gia nhập tập đoàn bất động sản Trump với vai trò là Phó chủ tịch hội đồng quản trị.

Hiện tại, Ivanka đã kết hôn và có một cậu con trai kháu khỉnh. Mặc dù sở hữu 140 biệt thự sang trọng và thừa kế 2,1 tỉ USD nhưng ai cũng phải công nhận, tiền đồ sáng lạn của cô gái 30 tuổi này có được 70% là nhờ vào sự nỗ lực của bản thân.

Còn cậu cả nhà Trump – Donald Jr. ( người hiện đang đồng hành cùng cha trong mấy năm qua cả trong kinh doanh bất động sản và trên chương trình The Apprentice của đài NBC) từng hài hước tiết lộ: “Luôn luôn rất giới hạn. Nếu chúng tôi muốn bất cứ thứ gì, chúng tôi luôn phải làm việc để có được nó. Tôi còn nhớ thậm chí bạn bè ở đại học luôn đùa rằng tôi phải vay họ tiền giặt là”.

Dạy con biết cách đứng lên từ vấp ngã

Donald Trump chia sẻ: “Tôi luôn nói với bọn trẻ nhà tôi rằng không có điều gì gọi là sai lầm chừng nào các con còn học được từ chúng. Một số sai lầm ‘tốt nhất’ xảy đến ban đầu tưởng chừng là thảm họa. Đôi khi, thương vụ tốt nhất bạn thu được lại chính là thương vụ bạn không cố đạt đến. Bạn hãy tự coi chính mình là một thiên tài vì đã không đi đến thỏa thuận khi thực tế nó nằm ngoài tầm với của bạn”.

Donald cũng cho biết, con cái ông đều rất giỏi giang và đoàn kết, thừa kế xem ra chỉ là vấn đề hình thức trong gia đình mà thôi. “Tôi luôn tự hào về các con tôi. Nhiều người rất giàu đã gọi điện cho tôi, một số tôi chưa từng gặp, để xin lời khuyên về những đứa trẻ nhà họ. Bọn trẻ nhà tôi học tại những trường hàng đầu, giành điểm loại ưu và chúng khá đoàn kết. Tôi hy vọng những điều đó sẽ còn được duy trì, vì cuộc sống đầy phức tạp. Chúng là những đứa trẻ rất ngoan”.

Không rõ liệu Donald Trump có thể trở thành một Tổng thống ‘mẫu mực’ hay không, nhưng có một điều mà chúng ta có thể chắc chắn là: trong tâm trí của 5 đứa con, ông hẳn là một người cha rất vĩ đại. (Ảnh: Deviantart)

Phong Vân (TH)

Trật tự thế giới 2.0: Vấn đề về Nghĩa vụ Chủ quyền

Foreign Affairs

Tác giả: Richard N. Haass

Dịch giả: Song Phan

Số tháng 1/ 2 năm 2017

Gần bốn thế kỷ, tính từ Hòa ước Westphalia, kết thúc Cuộc chiến tranh Ba mươi năm, khái niệm về chủ quyền—quyền của các quốc gia đối với việc tồn tại độc lập và nền tự chủ—đã chiếm vị trí cốt lõi trong trật tự quốc tế đã có. Điều này có ý nghĩa, vì như mỗi thế kỷ, kể cả thế kỷ hiện tại đã chứng kiến, một thế giới trong đó các đường biên giới bị xâm phạm bằng vũ lực, là một thế giới của sự bất ổn và xung đột.

Tuy nhiên, một cách tiếp cận trật tự quốc tế chỉ dựa trên tiền đề về việc tôn trọng chủ quyền cùng với sự duy trì cân bằng quyền lực cần thiết để giữ nó an toàn không còn đủ nữa. Hệ điều hành truyền thống của thế giới—gọi nó là trật tự thế giới 1.0—đã được xây dựng xung quanh việc bảo vệ và đặc quyền của các quốc gia. Nó ngày càng không thích đáng trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay. Bây giờ không còn bao nhiêu thứ vẫn còn giữ tính địa phương; dù là về con người hay bất cứ thứ gì, từ khách du lịch, kẻ khủng bố, và người tị nạn đến e-mail, bệnh tật, đô la, và khí nhà kính, đều có thể vươn tới gần như bất cứ nơi nào. Kết quả là những gì diễn ra bên trong một nước không còn có thể xem là mối quan tâm của chỉ một mình nước đó. Tình thế hiện nay đòi hỏi phải cập nhật hệ điều hành—gọi nó là trật tự thế giới 2.0—bao gồm không những các quyền của các quốc gia có chủ quyền mà còn các nghĩa vụ của các quốc gia đối với quốc gia khác nữa.

Một khái niệm về “nghĩa vụ chủ quyền” như thế, đáng chỉ ra, khác với khái niệm “chủ quyền như là trách nhiệm”, vốn nằm ở trung tâm của các chủ thuyết pháp lý gọi là “trách nhiệm bảo vệ”, hoặc R2P (responsibility to protect). R2P đề cập đến nghĩa vụ một chính phủ phải có đối với công dân của chính mình—những cam kết được giả định là có thể bị các quốc gia khác cưỡng chế thi hành thông qua nhiều biện pháp lên đến và kể cả can thiệp quân sự, nếu chểnh mảng. Nó rõ ràng thể hiện một sự vi phạm tiềm năng chủ quyền Westphalia cổ điển, và nó có những người ủng hộ và kẻ phản đối vì chính lý do đó. Ngược lại, nghĩa vụ chủ quyền là về cái mà một quốc gia có trách nhiệm với các nước khác. Nó bắt nguồn từ nhu cầu mở rộng và làm thích ứng những nguyên tắc truyền thống của trật tự quốc tế trong một thế giới kết nối lẫn nhau.

Nghĩa vụ chủ quyền do đó vẫn giữ lại việc tôn trọng biên giới và chống lại việc biên giới bị thay đổi thông qua cưỡng ép hoặc vũ lực. Nó ủng hộ các hành động thực thi tiêu chuẩn chống xâm lược, dù vụ việc liên quan đến Iraq xâm lược Kuwait hay Nga xâm lược Crimea. Và nó vẫn giữ lại việc tôn trọng quyền được hành động nói chung của các chính phủ theo ý họ bên trong biên giới của mình, với điều kiện chịu sự ràng buộc của các quy định được chấp nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, chẳng hạn như Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước chống diệt chủng. Nghĩa vụ chủ quyền không chối bỏ hoặc thay thế cách tiếp cận truyền thống đối với trật tự—một cách tiếp cận vẫn còn cần nhưng không còn đủ nữa— nhiều như nó được xây dựng trên đó.

TỪ TRẠNG THÁI QUỐC GIA ĐẾN KHỦNG BỐ VÀ BOM

Một trật tự quốc tế mới sẽ đòi hỏi phải mở rộng bộ các chuẩn mực và thỏa thuận, bắt đầu với một cơ sở đồng ý chung cho trạng thái quốc gia (statehood). Không thể có một quyền không giới hạn cho mỗi và mọi cộng đồng để đạt được quyền tự quyết chính trị. Việc đạt được một sự đồng thuận về việc hạn chế quyền này như thế nào sẽ không dễ dàng, nhưng cần thiết để tránh các hành động đơn phương gây ra xung đột. Một khởi đầu tốt sẽ là sửa đổi khái niệm về quyền tự quyết để nó được coi như là một cái gì đó không những phải được khẳng định mà còn phải được trao cho. (Thoả thuận 1978 ở Trại David giữa Ai Cập và Israel, chẳng hạn, không mở rộng các nguyên tắc về quyền tự quyết cho người Palestine mà là ủng hộ quan điểm cho rằng “các đại biểu của dân Palestine phải tham gia vào các cuộc đàm phán về việc giải quyết các vấn đề Palestine trong mọi khía cạnh của nó”.)

Toàn cầu hóa là chuyện lâu dài, và những bất cập của phương pháp truyền thống với trật tự sẽ chỉ trở nên rõ ràng hơn theo thời gian.

Với cách tiếp cận như vậy, ủng hộ cho quyền tự quyết sẽ ít tự động hơn là trong thời kỳ giải thuộc địa. Các chính phủ hiện tại sẽ đồng ý xem xét các đề xuất cho trạng thái quốc gia trong những trường hợp ở đó có một sự biện minh lịch sử, một lý lẽ thuyết phục, sự ủng hộ phổ biến, và khả năng tồn tại khi xét tới thực thể mới được đề xuất. Tác động của một động thái như vậy về việc có thể có nước từ bỏ lãnh thổ và dân số cũng sẽ cần phải được xem xét, và các chính phủ sẽ đồng ý tham vấn với nhau trước khi thực hiện các động thái ngoại giao.

Yếu tố cốt lõi của một khuôn khổ cho trật tự quốc tế dựa trên nghĩa vụ chủ quyền sẽ là những cấm đoán về việc thực hiện hoặc ủng hộ khủng bố theo cách nào đó, được định nghĩa như là việc sử dụng bạo lực vũ trang có chủ ý của các thực thể phi nhà nước chống lại dân thường và những người không là chiến binh để theo đuổi các mục tiêu chính trị. Trong những thập kỷ gần đây, thế giới đã rời xa khỏi việc dung túng bọn khủng bố nếu thấy rằng mục tiêu của họ không chính đáng. Việc quốc tế lên án khủng bố cũng như việc ủy quyền cho hành động tập thể chống lại nó đã thành lệ. Chừng nào mà các chính phủ theo đuổi việc tấn công chống khủng bố vào các cá nhân hoặc nhóm là khủng bố thực sự, và vạch ra các cuộc tấn công sao cho chúng phù hợp với các tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức, bao gồm việc thực hiện các bước để bảo vệ thường dân vô tội, thì họ sẽ không bị chỉ trích đáng kể.

Gây tranh cãi nhiều hơn sẽ là việc ủng hộ tiêu chí chống lại sự phổ biến hoặc sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt. Có một khuynh hướng quốc tế hiện hành (được Hiệp ước không phổ biến hạt nhân nhấn mạnh) ngăn chặn phổ biến vũ khí bằng cách hạn chế các nước tiếp cận với công nghệ và chất liệu có liên quan, và sự chống đối của các cường quốc chính với việc Iran có được khả năng hạt nhân cho thấy cách tiếp cận đó có thể tạo dễ dàng cho tiến trình ngoại giao. Nhưng sự đồng thuận thường bị phá vỡ khi đi vào các chi tiết về những điều gì cần nhấn mạnh và những khuyến khích hoặc trừng phạt nào cần đưa ra—và các chính phủ đã cho thấy khả năng họ phát triển hoặc có được vũ khí hạt nhân chống lại sự phản đối quốc tế, nếu họ làm việc đó tới mức thành một ưu tiên.

Thậm chí tranh chấp nẩy sinh nhiều hơn về những gì phải làm một khi việc phổ biến [vũ khí hạt nhân] đã xảy ra. Một lựa chọn là cứ sống với nó, như đã xảy ra trong trường hợp Israel, Ấn Độ, Pakistan, và cho đến nay, Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, việc chấp nhận trên thực tế như vậy có thể có nguy cơ, vì nó có thể làm hành vi nguy hiểm thành có khả năng lẫn vì nó có thể tiếp tục pha loãng chuẩn mực không phổ biến hạt nhân, do đó có khả năng khuyến khích sự phát triển thêm. Một giải pháp thay thế cho việc chấp nhận là những nỗ lực ngoại giao bổ sung, được hậu thuẫn bằng cấm vận, nhằm rút lại năng lực hạt nhân của nước phát triển hạt nhân. Vấn đề là những nỗ lực như vậy thường thất bại. Vì vậy, một giải pháp thay thế khác là phải sống với sự phát triển hạt nhân cho đến khi tình báo cho thấy rằng vũ khí sắp được sử dụng hoặc chuyển giao cho một nhóm khủng bố—tại thời điểm đó khả năng xuất hiện cho một cuộc tấn công quân sự phủ đầu chống lại một mối đe dọa sắp xảy ra. Một cuộc tấn công như vậy sẽ đòi hỏi tin tình báo chính xác và tương đối không mập mờ, cùng với ý chí và các phương tiện để thực hiện nó. Có một sự ủng hộ nào đó trong luật pháp quốc tế cho một tư thế như vậy.

Còn một giải pháp khác nữa là cố đạt được sự ủng hộ quốc tế cho tính chính đáng (legitimacy) của hành động phòng ngừa để ngăn chặn phổ biến vũ khí. Các hành động chặn trước nhắm vào các mối đe dọa sắp xảy ra; những hành động phòng ngừa nhắm vào các mối đe dọa trước đó, khi chúng vẫn còn đang gom tụ lại. Hành động phòng ngừa có thể làm gián đoạn chương trình hạt nhân của một nước trước khi bất kỳ loại vũ khí nào được sản xuất hoặc tiêu huỷ chúng sau đó. Nhưng sẽ có không nhiều sự ủng hộ quốc tế cho một lập trường như vậy, vì nó sẽ bị những chính phủ thấy đó như là việc cấp giấy phép cho Hoa Kỳ tấn công các nước, như Bắc Triều Tiên hay Iran, phản kháng. Nó cũng không nhất thiết được mong muốn, vì bên cạnh những điều khác, một thế giới có các cuộc tấn công phòng ngừa thường xuyên sẽ hung bạo và nguy hiểm hơn.

Syrian migrants cross under a fence as they enter Hungary at the border with Serbia, near Roszke, August 27, 2015. REUTERS/Bernadett Szabo/File Photo To match story

Người di cư Syria chung qua dưới một hàng rào để vào Hungary tại biên giới với Serbia, gần Röszke, August 2015.BERNADETT Szabo / REUTERS

Có một sự ủng hộ rất đáng kể cho việc chống phổ biến vũ khí hạt nhân nhưng không nhiều cho hành động quân sự để ngăn chặn nó hoặc giảm nó lại một khi nó đã xảy ra. Ủng hộ cho hành động chặn trước khi đối mặt với các mối đe dọa sắp xảy ra sẽ phụ thuộc vào các chi tiết của trường hợp cụ thể và sẽ tăng đến mức có thể được chứng minh rằng những hành động đó là cần thiết. Bắc Triều Tiên vốn đang phát triển khả năng đặt các đầu đạn hạt nhân vào tên lửa đạn đạo có thể bay tới Hoa Kỳ, hứa hẹn sẽ là một trường hợp đang nói. Đưa điều này thành một chủ đề thảo luận tại các cuộc họp song phương và đa phương là có ý nghĩa, không phải vì có khả năng nó sẽ dẫn đến một thỏa thuận chính thức mà còn vì nó sẽ tập trung sự chú ý vào các loại hoàn cảnh có thể dẫn đến việc xem xét hành động dự phòng, hoặc chặn trước—một cái gì đó tới lượt có thể giảm cơ hội cho những hoàn cảnh như vậy nổi lên.

TỪ KHÍ HẬU ĐẾN KHÔNG GIAN MẠNG VÀ XA HƠN

Biến đổi khí hậu theo nhiều cách là biểu hiện tinh túy của toàn cầu hóa. Nó phản ánh tổng số của những gì đang xảy ra; những nước tiếp xúc với và bị ảnh hưởng bởi vấn đề này không đều nhau bất kề phần đóng góp vào nó. Biên giới tính ra vô nghĩa. Có một sự nhất trí rộng rãi, nếu không phải là phổ biến, rằng thay đổi khí hậu là có thật, phần lớn là do hoạt động của con người gây ra, và tạo thành một mối đe dọa lớn đối với tương lai của hành tinh và cư dân của nó. Nhưng sự đồng thuận bị phá vỡ khi nói đến việc xác định cái gì cần phải làm và do ai làm.

Trên nguyên tắc, biến đổi khí hậu là một cái gì đó vốn phải nằm gọn trong khuôn khổ nghĩa vụ chủ quyền, vì những thứ mà một nước thực hiện bên trong biên giới của mình trong việc thải ra carbon có tác động cho toàn thế giới. Nói một cách khác, biến đổi khí hậu là một hệ quả tích lũy của hoạt động địa phương. Như vậy, nó khác một cách cơ bản với, chẳng hạn ô nhiễm nước hoặc ô nhiễm không khí vốn phần lớn là một hệ quả của hoạt động địa phương.

Vấn đề là việc đánh giá phần chia sẻ thoả đáng của mỗi quốc gia trong gánh nặng chống lại nó, qua việc giảm lượng thải carbon của chính mình hay giúp đỡ các nước khác giảm đi lượng thải của họ. Những nỗ lực để thiết lập mức trần toàn cầu, phân bổ phần chia sẻ của từng nước, hoặc gán một cái giá cho carbon đã bị phản kháng. Tuy nhiên, Hội nghị Paris năm 2015 cho thấy một số hiện thực cũng như tính sáng tạo qua việc tiến hành một cách tiếp cận khác nhau. Một mục tiêu tổng thể đã được thiết lập để hạn chế biến đổi khí hậu, nhưng không đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho các nước về những gì cần phải làm để đạt được mục tiêu đó. Điều đó là hoàn toàn tự nguyện và ước vọng hơn là bắt buộc. Thật vậy, người ta đãt hoả thuận rằng mỗi nước sẽ tư thiết lập cho mình những mục tiêu đầy tham vọng nhưng có thể đạt được trong việc giảm lượng carbon và sau đó cố thực hiện theo cam kết của mình.

Đó là một bước tiến về hướng nghĩa vụ chủ quyền, và chính phủ các nước giàu có nên đưa ra các hình thức khuyến khích để giúp các nước khác đạt được mục tiêu của họ, cũng như xem xét hình phạt loại này hay loại khác cho những nước không thực hiện. Cũng có nhiều việc sẽ phải làm để giúp các nước thích ứng với hậu quả của biến đổi khí hậu vốn đang diễn ra; biết rằng qua nhiều thập kỷ các nước phát triển đã góp phần đáng kể trong việc tạo ra vấn đề này, việc họ nên giúp trang trải các chi phí giảm thiểu và thích ứng của các nước khác như một phần của nghĩa vụ chủ quyền là điều hợp lẽ.

Không gian mạng là lĩnh vực hết sức mới trong hoạt động quốc tế, một lĩnh vực được đánh dấu bằng cả hợp tác lẫn xung đột. Một số hoạt động trong không gian mạng là vô hại và ít dính dáng tới an ninh quốc gia, trong khi các hoạt động khác được kết nối mật thiết với chính sách đối ngoại, tình báo, và việc cạnh tranh quốc gia. Mục tiêu trong lĩnh vực này nên tạo ra các thỏa thuận quốc tế nhằm khuyến khích những cách dùng vô hại không gian mạng và làm nhục chí những cách dùng ma mãnh. Sau đó, các chính phủ sẽ phải duy trì và hành động nhất quán trong chế độ này như là một phần của nghĩa vụ chủ quyền.

Một chế độ như vậy có thể liên quan đến điều gì? Lý tưởng nhất, nó sẽ duy trì một hệ thống không gian mạng tích hợp duy nhất cho toàn cầu, giới hạn những cái chính phủ có thể làm trong việcngăn chặn dòng chảy tự do của thông tin và truyền thông bên trong nó, cấm gián điệp thương mại và trộm cắp tài sản trí tuệ, và giới hạn và làm thui chột ý chí các hoạt động gây rối trong không gian mạng trong thời bình. Các ngoại lệ cần thiết là cho phép tấn công mạng để làm hỏng cả việc phát triển hạt nhân lẫn khủng bố. Cuối cùng, có thể cần phải xây dựng một phụ lục cho luật về chiến tranh trên không gian mạng quy định cụ thể những hành động nào trong phạm vi này được coi là được phép làm và những hành động nào là bị cấm. Và cũng như với khủng bố, với không gian mạng: chính phủ sẽ có nghĩa vụ không chỉ tránh tham gia vào các hoạt động bị cấm mà còn làm mọi thứ trong quyền lực của mình để ngăn chặn các bên khác thực hiện những hoạt động đó từ lãnh thổ của họ và để ngăn chặn và trừng phạt những ai thực hiện.

Đạt được thậm chí sự đồng thuận có giới hạn trên các nguyên tắc như vậy và làm cách nào để duy trì chúng sẽ cần nỗ lực rất lớn. Nhưng vì những vấn đề này vẫn còn tương đối mới, mục tiêu hiện nay là nên bắt đầu xây dựng một bộ quy tắc ứng xử thích hợp cho các quốc gia đi theo lĩnh cực này.

Y tế toàn cầu bày ra những thách thức khác nhau. Trong một thế giới toàn cầu hóa, một đợt bùng phát bệnh truyền nhiễm ở một nước có thể nhanh chóng phát triển thành một mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe ở những nơi khác, như đã xảy ra trong những năm gần đây với tất cả mọi thứ từ SARS đến Ebola đến Zika. Khái niệm về nghĩa vụ chủ quyền đã đi trước rất xa trong lĩnh vực này, và các nước đã được giả định là phải cố phát hiện các vụ bùng phát bệnh truyền nhiễm, thông báo cho những nước khác trên thế giới, và phản ứng một cách thích hợp khi đối mặt với một cuộc khủng hoảng. Nhưng tất cả những điều đó thì nói dễ hơn làm, và các chính phủ cùng Tổ chức Y tế Thế giới không phải lúc nào cũng có khả năng (và trong một số trường hợp, ý chí chính trị) để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Nhiều trợ giúp kỹ thuật và tài chính trong khu vực này là cần thiết, và có thể việc chỉ đích danh và bêu xấu những kẻ né việc sẽ khiến họ cải thiện hon hành vị của mình.

Về vấn đề người tị nạn, không có cách nào thay thế cho hành động có hiệu quả tại chỗ để cho các tình huống không làm phát sinh mà tạo ra dòng người tị nạn lớn. Trên nguyên tắc, đây là một lập luận cho việc can thiệp nhân đạo dưới sự bảo trợ của R2P. Nhưng diễn dịch nguyên tắc này vào thực tế đã cho thấy là bất khả và có khả năng vẫn khó khăn dù cócác chương trình nghị sự chính trị khác nhau (có rất ít, nếu quả có, tình huống là phi chính trị hoặc chỉ đơn thuần là nhân đạo) và cái giá phải trả cho sự can thiệp có hiệu quả là cao ngay cả khi các mục tiêu có chỗ trùng lắp nhau. Tuy nhiên, ngay cả khi không có một sự đồng thuận, vẫn có lập luận để tăng kinh phí cho những người tị nạn, đảm bảo việc họ được đối xử nhân đạo, và thiết lập hạn ngạch công bằng cho việc họ tái định cư, tất cả các điều đó đều có thể và nên được làm thích nghi theo nghĩa vụ chủ quyền.

Nghĩa vụ chủ quyền mang một màu sắc khác trong lĩnh vực kinh tế, vì các chính phủ đã có nhiều sáng kiến tự quan tâm để hành động một cách có trách nhiệm qua việc duy trì một đồng tiền có thể đứng vững được, đảm bảo rằng các tổ chức tài chính giữ dự trữ thoả đáng, thực thi kế toán trung thực, đẩy lùi tham nhũng, tôn trọng hợp đồng, mở rộng thương mại, và chăm bón một môi trường thu hút được đầu tư. Việc tuân theo những cách làm tốt nhất về kinh tế, nói cách khác, là một cái gì đó mà các quốc gia nên làm cho chính mình hơn cả. Nhưng có một số khía cạnh hoạt động kinh tế liên quan khác nằm trong khuôn khổ nghĩa vụ chủ quyền.

Chẳng hạn các thoả ước thương mại, theo định nghĩa, là các hiệp định về nghĩa vụ chủ quyền tương hỗ nhau liên quan đến thuế quan và các hàng rào phi thuế quan. Khi một bên cho rằng nghĩa vụ đó không được đáp ứng thì nhờ đến trọng tài; thực sự, điều đột phá chính của Tổ chức Thương mại Thế giới là cung cấp một cơ chế thường trực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến các cách thực hành giao thương và đi đến các dàn xếp. Tuy nhiên, nhiều điều ít rõ ràng hơn ở một số khu vực khác của hoạt động kinh tế, chẳng hạn như việc cung cấp các khoản trợ cấp hoặc việc thao túng tiền tệ của chính phủ để được lợi thế xuất khẩu cho nước mình và gây bất lợi cho nhập khẩu. Thách thức này sẽ phải nêu rõ ràng nghĩa vụ chủ quyền thích hợp trong các lĩnh vực này trong các hiệp ước thương mại trong tương lai và tạo ra các cơ chế để buộc các chính phủ phải có trách nhiệm.

TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC HÀNH

Sẽ khó để đi đến ngay cả một thỏa thuận thô về những nghĩa vụ chủ quyền cụ thể nào mà các quốc gia phải có và các nghĩa vụ đó nên được thực thi như thế nào. Việc biến khái niệm được chấp nhận thành một trụ cột trong trật tự quốc tế sẽ mất nhiều năm hoặc thậm chí hàng chục năm tham vấn và đàm phán, và thậm chí sau đó, việc nó được tuân theo và tác động của nó vẫn sẽ không đều. Nhưng thay vì là lý do từ bỏ dự án, đó là lý do để bắt đầu về nó một cách nghiêm túc và sớm, vì thời đại toàn cầu sẽ tiếp tục phát triển, và các thỏa thuận hiện có sẽ ngày càng không thích hợp để đối phó với các thách thức.

Như một bước đầu tiên, Washington nên nghiền ngẫm những nghĩa vụ nào mà họ sẽ chấp nhận cho chính mình và những nghĩa vụ nào họ sẽ đòi hỏi ở nước khác, cố gắng để vạch ra một bộ quy tắc tổng quát về hành vi thích hợp mà Washington có thể tuân theo cùng với các nước khác. Một bộ quy tắc như thế có khả năng cung cấp một cái gì đó như một la bàn cho chính sách đối ngoại của Mỹ vì nó lèo lái cái hứa hẹn sẽ là một kỷ nguyên địa chính trị phức tạp đặc trưng bởi một số lượng ngày càng tăng các thách thức cho sự ổn định ở cấp khu vực cũng như cấp toàn cầu.

Những nhà quyết định chính sách Mỹ cũng phải đối mặt với thực tế rằng bất kỳ trật tự thế giới nào cũng sẽ hạn chế các lựa chọn của Mỹ cũng như các lựa chọn của những nước khác. Cho dù đúng là Hoa Kỳ có một vai trò đặc biệt trong thế giới và trách nhiệm duy nhất mà đôi khi đòi hỏi có các hành động táo bạo đơn phương, bất cứ khi nào Hoa Kỳ đòi hỏi nước khác nhiều hơn đòi hỏi chính mình thì nó có vẻ đạo đức giả và đánh mất thẩm quyền và sự tin cậy. Ví dụ, ở biển Đông, Washington từng chỉ trích Bắc Kinh không tuân theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển—ngay cả khi Quốc hội Mỹ không chịu phê chuẩn chính điều ước đó. (Trường hợp tương tự khác, chẳng hạn như việc Mỹ từ chối gia nhập Tòa án Hình sự Quốc tế, có thể được tìm cách xoay xở qua việc chạy vòng quanh, chẳng hạn như cho phép lập ra các tòa án để xử lý các sự kiện lịch sử cụ thể.) Tương tự như vậy, khả năng Hoa Kỳ thuyết phục khác nước giúp người tị nạn nhiều hơn bị cản trở bởi những giới hạn rõ ràng về những gì nước Mỹ tự mình sẵn sàng để làm trong lĩnh vực này. Hoa Kỳ cũng phải chăm lo để được minh bạch: nó chỉ thực hiện ít ỏi cho mục đích của R2P khi vụ can thiệp vào Libya năm 2012 nhanh chóng biến thành một vụ can thiệp thay đổi chế độ; các can thiệp nhân đạo phải hẹp về phạm vi.

Trong một số lĩnh vực như y tế công cộng hoặc biến đổi khí hậu, tấm gương do hành vi tốt của chính Washington lập ra, cùng với viện trợ tăng thêm, có thể đủ khiến các nước khác đáp ứng nghĩa vụ của họ. Trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như khủng bố và phổ biến vũ khí, ý muốn sử dụng vũ lực quân sự đôi lúc có thể được đòi hỏi —nhưng nếu vũ lực cho thấy trở nên cần thiết, bất kỳ hoạt động quân sự nào sẽ phải chịu sự săm soi cả lý giải lẫn việc thực thi.

Với vai trò của đồng USD là đồng tiền dự trữ trên thực tế (de facto) của thế giới, Hoa Kỳ cần phải chấp nhận nghĩa vụ đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Điều này có nghĩa là phải tính đến quan điểm của các nước khác khi quyết định về lãi suất hoặc mua sắm tài sản (còn được gọi là “nới lỏng định lượng”). Tham vấn thường xuyên, nghiêm ngặt giữa Ngân hàng dự trữ liên bang ( Federal Reserve) và các đối tác ngân hàng trung ương trên thế giới là rất cần thiết. Và các tranh chấp thương mại nên được đưa tới Tổ chức Thương mại thế giới hơn là hành động đơn phương.

Cổ vũ Trật tự Thế giới 2.0 sẽ đòi hỏi tham vấn rất nhiều. Trong một số lĩnh vực như y tế toàn cầu, việc đối thoại đã tiến xa, và thách thức chính là việc xây dựng năng lực quốc gia ở các nước còn thiếu nó. Trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như không gian mạng, thế giới vẫn còn xa mới đạt thỏa thuận về những nghĩa vụ nào cần phải được đòi hỏi . Và trong các lĩnh vực khác nữa, chẳng hạn như phát triển vũ khí, chuẩn mực đã được thoả thuận, nhưng việc thực thi thì rất nhiều tranh cãi. Như một quy luật, Hoa Kỳ có thể và nên đưa ra những ý tưởng, nhưng không phải ở vị thế về trí tuệ hay về chính trị để trình bày một kế hoạch chi tiết cho các nước khác ký vào. Ngược lại, những nước khác phải tham gia trong việc thêm da thịt cho khái niệm cũng nhiều như việc thực thi nó.

Tiến bộ tích cực về chương trình này sẽ cần đạt đến một cách tự nguyện, từ chính các nước hơn là kết quả của một lệnh nào đó từ trên xuống của cơ quan hay diễn viên được coi là có thẩm quyền. Nhìn thẳng vào sự không ăn khớp giữa bản chất và quy mô của các vấn đề đương đại và khả năng của các thoả thuận hiện có để giải quyết chúng, các chính phủ sẽ phải quyết định xem họ có sẵn sàng hy sinh một số quyền tự chủ để đổi lấy hành động tập thể được cải thiện. Loại suy nghĩ này đã phổ biến trong lĩnh vực thương mại (mặc dù hiện nay đang bị phe dân tuý cáu giận ở nhiều nước công kích), và nó đang bắt đầu trở thành hiện thực trong đấu trường khí hậu và không gian mạng, nhưng triển vọng của nó là pha tạp nhiều hơn trong lĩnh vực chính trị-quân sự.

Nhưng sức mạnh của thảo luận và thuyết phục trong việc thúc đẩy thay đổi trong thời gian dài thường bị đánh giá thấp. Nhiều vấn đề chưa đủ chín muồi để đem ra đàm phán chính thức thành công, và trong thời gian chuyển tiếp, tham vấn có thể làm được nhiều thứ để tạo ra sự hiểu biết và khoan dung về một vài hành động nhất định, làm rõ những hành vi nào được xem là phải chăng hoặc chấp nhận được, và làm rõ cái giá phải trả và các hậu quả có thể có của việc vượt quá các giới hạn. Vai trò của Ngoại trưởng và các quan chức Mỹ cao cấp khác sẽ cần phải thay đổi trong tương lai gần, nhấn mạnh nhiều hơn vào tham vấn trên các diễn biến của trật tự quốc tế và ít hơn vào các cuộc đàm phán giải quyết các vấn đề tường minh.

Hầu hết các tham vấn ban đầu nhất thiết sẽ phải dính dáng tới các cường quốc lớn khác, bao gồm Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga, và Vương quốc Anh. Các cuộc đàm phán sẽ cần phải diễn ra song phương và ở các diễn đàn không chính thức khác; sẽ là quá sớm để nghĩ tới G-20 hoặc Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc như một nơi dùng đàm phán. Tiến bộ sẽ khó nắm bắt trong điều kiện có những bất đồng rõ ràng về những ưu tiên; cụm từ “cộng đồng quốc tế” thường được viện dẫn trong khi thực tế có rất ít bằng chứng thấy nó tồn tại. Và các cuộc đàm phán này sẽ được diễn ra trong bối cảnh quan hệ của các cường quốc lớn đang xấu đi, một phần bị thúc đẩy bởi chủ nghĩa toàn trị đang hồi sinh tại Nga và Trung Quốc và chủ nghĩa dân túy ở các nơi khác, kể cả ở Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, không có lựa chọn tốt nào khác. Toàn cầu hóa đến và ở lại đây, và những bất cập của cách tiếp cận truyền thống với trật tự, chỉ dựa trên một mình chủ quyền, sẽ chỉ trở nên rõ ràng hơn theo thời gian. Di chuyển về hướng một loại trật tự mới lồng ghép nghĩa vụ chủ quyền vào là cách tốt nhất để đối phó với vấn đề, nhưng sẽ đòi hỏi thời gian, đàm phán, và nỗ lực. Do đó, trật tự thế giới ít trở thành một đề xuất kiểu ‘được ăn cả ngã về không’ hơn thành một vấn đề về mức độ, ít trở thành một thỏa thuận chính thức hơn thành một quá trình, tiến trước ở một số lĩnh vực xa hơn ở những lĩnh vực khác. Tuy nhiên, điều chắc chắn nó là cốt yếu cho một thế kỷ trong đó toàn cầu hóa sẽ trở thành hiện thực, dù có vui vẻ chào đón hay không. Xây dựng một trật tự thế giới dựa vào nghĩa vụ chủ quyền chắc chắn là điều tham vọng, nhưng đó là một tham vọng sinh ra từ hiện thực, chứ không phải từ lý tưởng.

Ngôi làng vẫn coi Gorbachev là anh hùng

BBC 

Vào năm 1987, ông Gorbachev và Tổng thống Mỹ lúc đó là Reagan đã ký hiệp ước giải trừ vũ khí hạt nhân. Ảnh: AFP

Vào năm 1987, ông Gorbachev và Tổng thống Mỹ lúc đó là Reagan đã ký

hiệp ước giải trừ vũ khí hạt nhân. Ảnh: AFP

Bao phủ bởi những lớp tuyết dày, ngôi làng Privolnoye là một nơi yên tĩnh xa rời trung tâm quyền lực.

Nhưng đây chính là nơi Mikhail Gorbachev, lãnh đạo cuối cùng của Liên bang Xô Viết, từng sinh sống. 25 năm sau ngày Xô Viết sụp đổ, di sản do ông để lại vẫn là chủ đề gây nhiều tranh cãi.

“Thật xấu hổ cho Privolnoye khi là nơi đã sản sinh ra người đàn ông đó”, tài xế taxi Andrei càu nhàu khi được chúng tôi yêu cầu đưa đến làng Privolnoye.

Như nhiều người Nga, Andrei cho rằng Gorbachev là người phải chịu trách nhiệm cho sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết.

Nhưng ở làng Privolnoye, nhiều người vẫn dành những lời trìu mến cho ông, người được phương Tây ngưỡng mộ vì đã kết thúc cuộc Chiến tranh Lạnh mà không cần đổ máu.

“Chúng tôi tự hào vì biết ông ấy

h1Raisa Kopeykina còn nhớ người từng học cùng trường với bà, nhân vật sau này leo lên hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của chính quyền Xô Viết.

Tôi gặp Raisa Kopeykina khi bà đang gạt tuyết khỏi căn nhà xây bằng đá của mình, ngay trên con phố có ngôi trường tiểu học mà chính bà và Mikhail Gorbachev cùng theo học.

Raisa sau này trở thành giáo viên môn hóa học, trong khi cậu bé xuất thân từ nhà nông mà bà biết dưới cái tên Misha, đã leo lên hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô.

“Cậu ấy là một người đơn giản và dễ gần, sinh ra từ một ngôi làng bình thường. Và rồi cậu ta trở thành Tổng bí thư ngay trước mắt chúng tôi,” Raisa hào hứng cho tôi xem rất nhiều bức ảnh từ thời niên thiếu của mình để trên bàn.

“Cậu ấy là người rất thông minh và chúng tôi tự hào vì từng sống và làm việc cùng Gorbachev”, bà nói.

Vào ngày 25/12/1991, Raisa còn nhớ mình đã lo lắng rất nhiều khi thấy người bạn học cũ tuyên bố từ nhiệm trên vô tuyến truyền hình.

Liên bang Xô Viết chính thức tan rã vào ngày hôm sau.

h1Ông Gorbachev tuyên bố trên truyền hình quốc gia hệ thống chuyên chế bị xóa bỏ. Ảnh: AFP

h1Mikhail Gorbachev (người đứng bên trái lá cờ), lớn lên trong một gia đình nhà nông ở Privolnoye, và được chọn tham gia đại hội Đảng Cộng sản năm 30 tuổi

Vẫn còn nhiều kỉ vật thời kỳ Xô Viết hiện hữu tại ngôi làng Privolnoye.

Một bức tượng Lenin bằng đá dựng ngay bên ngoài Nhà Văn hóa. Nhưng bên cạnh đó là một nhà thờ Chính thống Nga, do chính Gorbachev tài trợ mặc dù ông từng lãnh đạo một đất nước theo đường lối vô thần.

h1Tượng Lenin bên cạnh Nhà Văn hóa ở làng Privolnoye

Tự do tôn giáo

Bên trong nhà thờ là tranh thờ Đức mẹ Kazan, cũng do Gorbachev đóng góp cho làng.

“Tôi đã được rửa tội một cách bí mật, không ai biết điều này,” người trông nom nhà thờ, ông Viktor Kudrin nhớ lại, trước khi kể lại quá trình thay đổi sau này.

“Lý do thầy tu không còn ở đây nữa là vì đã có các nhà thờ mới ở ngôi làng bên cạnh và cả ngôi làng kế đó nữa,” ông Kudrin nói với tôi.

h1Viktor Kudrin nói ông Gorbachev đã đóng góp nhiều cho nhà thờ Chính thống giáo ở ngôi làng này

“Thực sự là có nhiều nhu cầu, song chúng tôi không kịp đào tạo thêm các thày tu”.

Bên trong Nhà Văn hóa, một vài người dân làng lớn tuổi cũng rất vui vẻ vì giờ đây họ có thể tự do thờ cúng.

Một người phụ nữ nhớ rõ ngày một người Mỹ đầu tiên đến thăm nhà thờ, mang theo quyển Kinh thánh.

Anh hùng bất đắc dĩ

Phần lớn người dân làng Privolnoye ủng hộ việc cải tổ kinh tế do ông Gorbachev khởi xướng, mà nhờ có những chính sách đó, nông trại của họ trở nên năng suất và sinh lời nhiều hơn.

Tuy nhiên, khi nhắc đến việc Liên Xô tan rã, đến những người trung thành nhất ở làng Privolnoye cũng có những cảm xúc lẫn lộn.

“Dĩ nhiên là Mikhail Gorbachev đã làm rất nhiều điều cho ngôi làng này”, một người đàn ông nói với tôi khi uống trà và ăn bánh.

“Nhưng về việc Liên bang Xô Viết sụp đổ, thì chúng tôi rất thất vọng”.

Ở ngôi làng này còn có một viện bảo tàng nho nhỏ, nơi người đàn ông nổi tiếng nhất Privolnoye được vinh danh.

Trong bảo tàng, bên dưới bức ảnh của Mikhail Gorbachev có dòng ghi chú, ông là người lãnh đạo đầu tiên mà người Nga có thể công khai phản đối.

“Suy nghĩ khác biệt chấm dứt tội ác,” dòng chữ chú thích và cũng đề cập đến việc phục hồi cho tù chính trị.

h1Cùng với các quyển sách và tập thơ, trẻ em địa phương được giáo dục về những bài học lịch sử tại viện bảo tàng

Nuối tiếc quá khứ vàng son

Tuy nhiên, chính sách cải tổ sâu sắc do Gorbachev đề ra, cuối cùng đã phá đổ nền tảng Liên bang Xô Viết, và ngày càng có nhiều người Nga cảm thấy hối tiếc về điều đó.

Một cuộc điều tra vào tháng này của viện nghiên cứu độc lập Levada, đã đưa ra con số 56% số người nuối tiếc Liên bang Xô Viết.

Vào đầu tuần này, người phát ngôn của Tổng thống Vladimir Putin cũng nói, Tổng thống vẫn cho rằng việc Liên Xô sụp đổ là một thảm họa.

Đây là sự kết thúc của một siêu cường, và nhiều người Nga vẫn cảm thấy khó khăn khi đối diện việc mất đi danh nghĩa này kể từ đó.

“Nước Đức đã thống nhất, trong khi đất nước chúng tôi lại tan rã,” một người về hưu có tên Nikolai nói với tôi.

“Đó là sai lầm của những người lãnh đạo. Đáng ra họ phải cứu vãn tình thế.”

Sân bay Tân Sơn Nhất ‘vỡ trận’: Ai đang làm chủ Việt Nam?

VNTB

Nguyễn Đình Ấm

Hai cha con ông Phùng Quang Thanh và Phùng Quang Hải. Nguồn: internet

Hai cha con ông Phùng Quang Thanh và Phùng Quang Hải, nhóm lợi ích quân đội, chiếm đất sân bay. Nguồn: internet

(VNTB) – Ở VN ai đang làm chủ, đảng CS hay mấy đại gia trong lực lượng vũ trang?

Hôm 24/12/2016 một thông tin “sét đánh” với các hãng hàng không Việt Nam (HKVN): “Phải nghiên cứu báo cáo với nhà chức trách HKVN (cục HKVN) phương án chuyển các máy bay đỗ lại ban đêm ở Tân Sơn Nhất (TSN) về về sân bay Cần Thơ vào ngày 30/1/2017”.

Ai có chút hiểu biết về ngành HKVN sẽ thấy, đây là một đòn chí mạng chưa từng có giáng vào các hãng hàng không (HK) vì: nguy cơ không an toàn, thiệt hại kinh tế vô cùng lớn, ô nhiễm môi trường, giảm khả năng cạnh tranh với các đối tác nước ngoài. Bởi vì sân bay Cần Thơ tuy chỉ cách TSN hơn 100 km nhưng là quãng đường rất nguy hiểm do máy bay phải thực hiện thêm bốn lần hạ, cất cánh vô ích. Với máy bay cỡ A320 thì vừa cất cánh lại chuẩn bị hạ cánh. Hoạt động HK khó nhất là ở công đoạn hạ, cất cánh, hầu hết tai nạn, hư hỏng ngốn xăng dầu, tạo ra tiếng ồn lớn nhất, gây ô nhiễm là ở giai đọan này. Một máy bay thương mại phải khai thác liên tục để tăng hiệu quả và trơn tru trang thiết bị, tăng an toàn. Khi chuyến bay hạ cánh là lập tức công nhân phải dọn dẹp vệ sinh thay bố lót ghế, hút bụi, tẩy trùng, nhân viên kỹ thuật kiểm tra, bảo dưỡng,nạp nhiên liệu… để sáng mai thực hiện chuyến bay. Vậy máy bay đỗ ở Cần Thơ thì nhân viên, dịch vụ kỹ thuật, trang thiết bị chuyên dùng ở đâu? Khi máy bay trở lại TSN thì về nguyên tắc vẫn phải kiểm tra,chăm sóc kỹ thật, kiểm tra an ninh sau chuyến bay… Nói chung là cực kỳ phức tạp, tốn kém mà không có nước nào làm như vậy.

Thiệt hại  quá lớn về kinh tế, thời gian, các hãng HKVN sẽ càng yếu thế trong việc cạnh tranh khốc liệt với các hãng nước ngoài bay cùng đường bay với mình – một rắc rối quá vô lý với các hãng HKVN mà họ không thể tránh khỏi vì TSN đã quá tải sân đỗ.  Dù không có trách nhiệm bao nhiêu trong việc TSN bị tắc nghẽn khai thác một cách oan ức nhưng cứ nghĩ đến điều này là tôi cảm thấy bực bội và nhục nhã vì sự thiệt hại cho các hãng HKVN quá phi lý.

TSN là một cảng hàng không , cửa ngõ  lớn nhất VN, hơn 60% khách đầu tư, du lịch, thương  mại, giao lưu… trong nước và quốc tế thông qua cảng HK này. Thế nhưng,với diện tích hiện tại 1.150 ha, ngang cảng HK Check Lap Kok của Hongkong (1.200 ha) trong khi Check Lap Kok đang khai thác 45 triệu khách/năm và có thể đáp ững mọi nhu cầu thị trường (70-80 triệu khách/năm) thì từ 10 năm trở lại đây TSN luôn hoạt động trong cảnh khốn quẫn do thiếu các công trình hạ tầng như sân đỗ máy bay, chỗ đỗ xe ô tô… Không thể tính hết đã có bao nhiêu chuyến bay phải bay vòng vèo trên không chờ chỗ đỗ gây uy hiếp an toàn tốn nhiên liệu, ô nhiễm môi trường. Đã có bao nhiêu hãng HK nước ngoài muốn transit hoặc lập căn cứ trung chuyển ở đây nhưng phải từ bỏ? Vì đâu?

Đó là một số đại gia, lãnh đạo của quân đội coi sân bay Tân Sơn Nhất là của họ không cho dùng đất dự trữ, nhàn rỗi để mở rộng sân bay vì sự phát triển của đất nước. Trắng trợn hơn, họ còn dùng 157,6 ha đất vàng ở đây ( nếu tính giá thị trường ở khu vực hiện nay 50 triệu đ/m2 thì có giá trị 78.800 tỷ VNĐ) để làm sân golf, nhà hàng, khách sạn, chung cư… kinh doanh như thách thức tất cả những ai có trách nhiệm với nước, với dân. Cũng không loại trừ họ bóp nghẹt phát triển TSN để buộc nhà nước phải sớm chuyển hàng không dân dụng về Long Thành dành lại khu đất vàng này cho họ với lèo tèo vài chuyến bay quân sự nhưng chiếm cả hơn ngàn ha…

Ngay từ cuối năm 2007 khi TSN quá tải sân đỗ, ngành HKVN đã đề nghị và được ông thủ tướng khi đó là Nguyễn Tấn Dũng đồng ý ngành hàng không dân dụng quy hoạch sang phía quân sự 30 ha đất đất dự trữ (với bất cứ sân bay nào cũng phải có diện tích dự trữ để đáp ứng nhu cầu trăng trưởng hạ tầng và tĩnh không) để làm 30 chỗ đỗ máy bay, nhưng phía quân đội “không thỏa thuận”. Ông Dũng nhượng bộ rồi âm thầm cho phép quân đội lấy đất làm các công trình thương mại. Khi sự việc “rò rỉ”, các đại biểu quốc hội chất vấn ông thủ tướng và đại gia chủ đầu tư đưa ra lời hứa: “Nếu khi nào nhà nước cần lấy đất (157.6 ha) thì không phải bồi thường cho DN”.

Một sự vô pháp luật, xúc phạm thô bạo đối với nhân dân!

Sao có thể đánh đổi được những đồng tiền đền bù với việc dùng tài sản quốc gia vào mục đích riêng lại cản trở sự phát triển của đất nước? Lấy đất nhà nước phục vụ cá nhân sai pháp luật không trả lại thì thôi mà lại đòi bồi thường ư?

Sau khi bị dư luận, đại biểu quốc hội, HĐND TPHCM, nhân sĩ, trí thức phản đối, năm 2009 thấy xuất hiện quyết định 1946/2009/TTg quy định quy hoạch sân golf đến năm 2020của chính phủ trong đó khoản d, mục 2 (quan điểm) nói rõ dứt khoát: “ không được xây dựng sân golf trên đất lúa,, màu,…khu đô thị”, nhưng không biết vô tình hay hữu ý quyết định lại “gài” vào khoản c điểm 4 (tiêu chí xây dựng): “..Quy hoạch sân golf CHỦ YẾU ở vùng trung du, miền núi…”.Tức là vẫn có ngoại lệ và cái ngoại lệ ấy là TSN, Gia Lâm- hai khu đất vàng trong trung tâm thành phố- và phần lớn đất dự trữ các sân bay này đã được “hy sinh quên mình” phục vụ một số đại gia, tướng, tá.

Đây là vụ sử dụng đất đai nhà nước sai mục đích gây tai họa cho đất nước nhưng tại sao sự phi lý ấy vẫn tồn tại? Vậy ở VN ai đang làm chủ, đảng CS hay mấy đại gia trong lực lượng vũ trang?