Từ tù tội thành triệu phú ở tuổi 40

Năm 16 tuổi, Mark Erwin giả mạo chữ ký của mẹ trên tờ séc để lấy tiền mặt. Ông đã bị bắt vì tội lừa đảo.

Ký ức thời niên thiếu của Mark Erwin không mấy vui vẻ. Học cấp hai, ông bị đuổi ra khỏi trường. Mẹ ông nghiện rượu. Gia đình hoang phí hết tài sản mà thế hệ trước để lại.

Khi ngồi ở phòng chờ nhận án phạt, ông đã cầu nguyện cho cơ hội thứ hai đến với mình. Và điều đó đã thực sự xảy ra. Khi Erwin ra trước tòa, thay vì kết án 4 năm tù giam, quan tòa cho Erwin một lựa chọn khác là phục vụ quân đội theo yêu cầu. Trong thời gian phục vụ cho lực lượng không quân, ông đã đọc hai cuốn sách: “The Power of Positive Thinking” (tạm dịch: Quyền năng của tư duy tích cực) của Norman Vincent Peale và “Think and Grow Rich”(tạm dịch: Tư duy làm giàu) của Napoleon Hill. Chính những tư tưởng trong 2 cuốn sách này đã làm thay đổi cuộc đời ông.

“Ai đó đã đưa cho tôi hai quyển sách đã sờn bìa, rách góc và nói ‘cậu nên đọc những cuốn sách này”, Erwin nhớ lại.

Ông nói, “Khi tôi lần mở những trang sách đầu tiên, tôi đã không thể dừng lại”.

tu-tu-toi-thanh-trieu-phu-o-tuoi-40

Bí quyết giúp Mark Erwin trở thành triệu phú ở tuổi 40 đó chính là sự kiên trì, bền bỉ và biết đặt ra mục tiêu, viễn cảnh tương lai cho mình. Ảnh: CNBC

Trong cuốn “Think and Grow Rich”, Hill viết: “Bạn là người tạo ra cuộc sống mà bạn mong muốn”. Trích dẫn này đã tác động mạnh mẽ đến Erwin.

“Điều đầu tiên và duy nhất bạn nên quan tâm đó chính là việc bạn thay đổi như thế nào từ hôm nay, quá khứ của bạn như thế nào không quan trọng”, Erwin nói.

Khi còn niên thiếu, Erwin quy chụp tất cả mọi khổ đau mà ông trải qua đều do lỗi lầm của gia đình mình. Nhưng để độc lập tài chính, ông biết mình phải tự làm chủ cuộc đời mình.

Ông luôn tự nhắc nhớ bản thân rằng, tất cả đều tùy thuộc vào bạn; nếu bạn là kẻ thua cuộc từ bây giờ thì chỉ là do bạn mà thôi.

“Ngoài ra, tôi còn học được tầm quan trọng của việc đặt ra mục tiêu và vẽ ra viễn cảnh tương lai”, Erwin nói thêm.

Trong cuốn sách của mình “The Powers: 12 Principles to transform your life from Oridnary to Extraodinary” (tạm dịch: 12 nguyên tắc – Từ tầm thường đến phi thường) ông có viết lại viễn cảnh ông tự vẽ cho mình: đó là trở thành triệu phú.

Erwin nhớ lại, “khi 18 tuổi, lúc ấy vẫn đang phục vụ ở lực lượng không quân theo án phạt, tôi vẽ về viễn cảnh phục hồi lại danh tiếng và tài sản cho gia đình mình”.

Và ông quyết định, dù bản thân không được học hành, không có tài nguyên, không có gia cảnh và còn mang trên mình một bản án tù, ông vẫn sẽ trở thành triệu phú ở tuổi 40.

Để đạt mục tiêu đó, Erwin quyết định phải làm việc thật chăm chỉ. Sau 4 năm phục vụ lực lượng hàng không, ông làm việc quản lý bất động sản cho UPS. “Khi tôi làm việc ở đây. Tôi làm việc cật lực và chăm chỉ hơn mọi người. Tôi hoạch định nhiều hơn mọi người và tiến dần lên những vị trí cao hơn trong tổ chức”, ông nhớ lại quãng thời gian gian khó.

Và khi thăng tiến lên cao hơn, ông cố gắng tiết kiệm nhiều nhất có thể. Sau khi tích góp được một khoản kha khá Erwin đã đổ tiền vào đầu tư bất động sản. Không lâu sau, tiền của ông cũng “hoạt động” năng nổ và chăm chỉ như chính bản thân ông.

Nói về bí quyết đã giúp mình thành công, Erwin đúc kết, “kiên trì, không bao giờ từ bỏ chính là mấu chốt duy nhất”.

Ở tuổi 38, ông trở thành triệu phú và tiếp tục duy trì nhưng gì mình đang làm. Khi là U40 đời đầu, ông là đại phú ông.

Mark Erwin đã làm việc ở ngân hàng và làm ở đại sứ quán Mỹ ở Mauritius, Seychelles và Comoros. Hiện nay, ông quản lý một công ty đầu tư vốn và là một diễn giả truyền cảm hứng.

Erwin kỳ vọng, cũng giống như cuốn sách của Hill và Peale đã truyền cảm hứng cho ông thay đổi chính cuộc đời mình, cuốn sách mà ông viết ra cũng có thể làm điều tương tự với những ai đọc nó.

Thanh Quý (theo CNBC)

Bịnh nghiện rượu dưới chế độ Cộng Sản

FB Trần Trung Đạo

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Sắp Tết, số lượng rượu bia được tiêu thụ chắc chắn sẽ tăng cao. Câu hỏi đặt ra tại sao Việt Nam là một trong những quốc gia dùng rượu bia cao nhất thế giới?

Nhắc lại, hôm 26 tháng 9, 2016, Báo VietNamNet đưa tin “Đàn ông Việt uống rượu bia nhiều nhất thế giới“. Theo lời Bác sĩ Trần Quốc Bảo, Cục Y tế Dự phòng dẫn chứng cho biết “Nếu tính trung bình, một người nam giới trưởng thành uống khoảng 27,4 lít cồn nguyên chất, đây là con số rất đáng báo động và là một trong số những quốc gia đứng hàng đầu thế giới về tỉ lệ này”.

Cùng lúc, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cũng thốt lên: “Dù nước ta mọi mặt kinh tế, xã hội đều có sự phát triển, nhưng tỉ lệ dùng rượu bia đang tăng quá nhanh so với các chỉ số khác. Nếu không có biện pháp mạnh tay để hạn chế, Việt Nam sẽ là quốc gia đứng đầu thế giới về sử dụng rượu bia”.

Kỷ lục dùng rượu bia tai Việt Nam không phải ngẫu nhiên.

Theo công bố của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) thuộc Liên Hiệp Quốc, năm 2015, chín trong số mười quốc gia tiêu thụ lượng rượu cao nhất thế giới là những nước cựu Cộng Sản. Các nước này gồm Belarus, Moldova, Lithuania, Russia, Romania, Ukraine, Hungary, Czech Republic và Slovakia.

Lấy nước Nga, từng là nước CS lớn nhất châu Âu để phân tích trước.

Tiêu thụ rượu cao tại Nga có từ thời Sa Hoàng nhưng vượt cao sau Cách mang CS Nga 1917.

Rất nhiều lý do như thời tiết, chiến tranh, nghèo khó v.v.. được đưa ra để giải thích việc sử dụng rượu quá cao tại Nga CS. Những giải thích này đều không đứng vững vì sau nội chiến, khi điều kiện sống tốt hơn và những mùa không quá lạnh số lượng rượu được tiêu thụ cũng không giảm bớt.

Tháng Năm, 1985, Gorbachev tung ra chiến dịch toàn quốc chống nghiện rượu. Ông cho rằng nghiện rượu là một trong ba căn bịnh trầm trọng nhất tại Liên Xô, chỉ sau bịnh tim và ung thư. Gorbachev hy vọng việc giảm lượng rượu được dùng sẽ giúp gia tăng năng xuất, nhưng kết quả trái ngược, thu nhập lợi tức từ rượu của chính phủ có giảm nhưng mức sản xuất không tăng một cách tương ứng.

Thực tế đó cũng đã xảy ra tại Ba Lan. Trong phóng sự điều tra của báo Christian Science Monitor phát hành ngày 3 tháng 3, 1981 khi chế độ CS Ba Lan còn rất mạnh, một trong những căn bịnh xã hội trầm trọng nhất tại Ba Lan là nghiện rượu. Mười phần trăm trong số mười hai triệu công nhân Ba Lan say rượu mỗi ngày. Nhà cầm quyền CS tăng giá rượu cao với hy vọng số lượng rượu được tiêu thụ sẽ giảm, nhưng không, lượng rượu được dùng đã không giảm bớt.

Tại Đông Đức, theo nghiên cứu của sử gia Thomas Kochan trong tác phẩm “The Blue Strangler – Drinking habits in the GDR”, Đông Đức trong thời kỳ CS tiêu thụ rượu cao nhất châu Âu và gấp đôi Tây Đức. Chữ “The Blue Strangler” trong tác phẩm của ông là hiệu rượu vodka Đông Đức có 40% cồn. Lương trung bình của một công nhân Đông Đức khoảng 500 Marks trong lúc một chai rượu Cognac giá 80 Marks. Trong số những người nghiện rượu hạng nặng có cả các ủy viên Trung ương đảng hay ủy viên Bộ Chính trị CS Đông Đức như trường hợp Alfred Neumann.

Tại Trung Cộng, theo công bố của WHO vào tháng 12, 2012 “Alcohol and alcohol-related harm in China: policy changes needed”, số người uống rượu tại Trung Cộng cao hơn phần lớn nhân loại với 55.6 phần trăm đàn ông và 15 phần trăm đàn bà uống rượu. Hiện nay, Trung Cộng là một trong những nước sản xuất bia nhiều nhất thế giới. Uống rượu trong giờ làm việc cũng là một tình trạng phổ biến tại Trung Cộng và tình trạng này gắn liền với tham nhũng, hối lộ trong giới chức nhà nước. Nhiều nghiên cứu cho thấy mức độ bịnh gan có liên quan đến rượu nơi giới viên chức nhà nước CS cao hơn nhiều so với giới dân thường. Ngay cả báo đảng Nhân Dân Nhật Báo cũng thừa nhận tình trạng uống rượu trong lúc làm việc và viết hàng loạt phóng sự về vấn đề này.

Các phân tích đó cho thấy cơ chế chính trị Cộng Sản là một tương quan nổi bật giữa các nước CS Liên Xô và Đông Âu trước đây cũng như Trung Cộng và CSVN hiện nay. Các thể hiện của tương quan này:

– Mượn rượu giải sầu: Nhiều công nhân, nông dân dưới các chế độ CS mượn rượu để làm lối thoát cho lòng tổn thương, thất vọng. Sự thất bại của các chính sách cai nghiện rượu cho thấy việc giải quyết không đơn giản là tăng giá như chính phủ Ba Lan hay Liên Xô đã làm nhưng phải áp dụng các cải cách chính trị kinh tế căn bản.

– Say rượu là một biểu hiện của thái độ trốn chạy thực tế (escapism): Lý do chính như Michael Binyon trong nghiên cứu Life In Russia xuất bản vào thập niên 1980 cho rằng nhiều người Nga uống rượu chỉ để say. Họ tuyệt vọng khi đối diện với một “khoảng trống tinh thần”, một xã hội không còn có những giá trị văn hóa mà đất nước họ đã từng có trong lịch sử trước đó.

– Điều kiện sống: Nhà ở chật chội, lương bổng thấp, thiếu thốn mọi thứ cần thiết và sống trong bóng tối theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đã đẩy người dân chọn rượu như là phương tiện “giải trí” dễ có nhất. Trong một xã hội thiếu thốn những món hàng căn bản trong đời sống hàng ngày của con người nhưng lại có đầy đủ rượu. Giới cầm quyền CS từ chối nguyên nhân này nhưng thực tế đó đã được rất nhiều nghiên cứu rút ra khi so sánh đời sống của công nhân dưới hai xã hội tự do và CS.

– Giới cầm quyền CS không quan tâm đến sức khỏe của người dân: Đối với giới cầm quyền CS, thu nhập và thuế do việc tiêu thu rượu đem lại quan trọng hơn là sức khỏe của người dân. Vladimir Treml, một nhà kinh tế thuộc cựu Nga CS đang làm việc tại Duke University cho biết “Hơn sáu mươi năm, thuế rượu đem lại 12 phần trăm đến 14 phần trăm thu nhập của nhà nước” và do đó nhà nước CS khuyến khích hơn là ngăn chận tệ nạn lạm dụng rượu tại Liên Xô.

Chế độ CS đã sụp đổ tại Châu Âu nhưng những căn bệnh xã hội do cơ chế gây ra đã trở thành một lối sống, một văn hóa xã hội chủ nghĩa tại những nước này và không thể dễ dàng thay đổi.

Giống như tại Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, giới cầm quyền CSVN cũng sẽ từ chối và cho rằng chẳng lẽ tệ trạng nào cũng đổ lên đầu chế độ hay sao. Thế nhưng, các nghiên cứu cho thấy đúng vậy, cơ chế chính trị CS là nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa của bịnh nghiện rượu.

Giấu cơn giận trong men cay, ngăn nỗi buồn nơi đáy cốc là thái độ tìm quên tiêu cực nhưng rất phổ biến của người dân thường trước những bất công đang đè lên số phận của họ. Bịnh xã hội như thế chỉ thuyên giảm khi các điều kiện vật chất và tinh thần thay đổi theo một chiều hướng tốt đẹp hơn.

Tổng thống Obama ký luật liên quan nhân quyền

BBC

Ông Barack Obama sắp mãn nhiệm tổng thống Hoa Kỳ. Ảnh: AP

Ông Barack Obama sắp mãn nhiệm tổng thống Hoa Kỳ. Ảnh: AP

Tổng thống Barack Obama vừa ký luật mở rộng chế tài với các cá nhân vi phạm nhân quyền trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.

Nhà Trắng cho hay cuối tuần trước ông Obama đã ký thành luật dự luật S. 2943, tức Luật Chuẩn chi Ngân sách Quốc phòng năm 2017 (NDAA 2017).

Trong luật này có điều luật Chịu trách nhiệm về Nhân quyền Toàn cầu Magnitsky (gọi tắt là Magnitsky Act), quy định chế tài với các cá nhân mà Hoa Kỳ cho là vi phạm nhân quyền trên toàn thế giới.

Theo đó, các cá nhân, quan chức ở các nước, kể cả Việt Nam, nếu bị liệt vào dạng vi phạm nhân quyền, sẽ có thể bị Hoa Kỳ hạn chế nhập cảnh hoặc đóng băng tài sản.

Magnitsky Act cũng áp dụng cho các cá nhân bị kết tội tham nhũng, biển thủ và một số tội danh khác.

NDAA 2017 đã được lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ thông qua hồi đầu tháng.

Văn bản điều luật quy định: “Tổng thống có thể áp dụng chế tài… đối với bất kỳ cá nhân nào mà Tổng thống xác quyết, dựa trên các bằng chứng đáng tin cậy, là phải chịu trách nhiệm về hành vi giết hại bất hợp pháp, tra tấn hoặc các vi phạm nghiêm trọng khác đối với quyền con người được quốc tế công nhận nhằm vào các cá nhân ở bất kỳ quốc gia nào”.

Điều luật này có hiệu lực 6 năm nhưng chỉ có Tổng thống Mỹ là có quyền chấm dứt chế tài với một cá nhân nào đó với điều kiện phải báo cáo cho Quốc hội.

Magnitsky Act được Thượng viện Mỹ thông qua 4 năm trước, thoạt tiên là để hạn chế nhập cảnh và đóng băng tài sản của các quan chức Nga liên quan tới cái chết của luật sư Nga Sergei Magnitsky.

Với NDAA 2017 vừa được ký thành luật, nay nó mở rộng phạm vi ra các nước khác trên thế giới.

Điều này được đánh giá là có ý nghĩa lớn vì các cá nhân vi phạm nhân quyền hay tham nhũng, thí dụ ở Việt Nam, nay có thể bị trừng phạt mà không liên quan quan hệ giữa hai chính phủ, điều mà Washington nhiều lần ngần ngại không muốn làm.

Magnitsky là ai?

Ngày 24/11/2008, Sergei Magnitsky, luật sư điều hành của công ty luật Firestone Duncan ở Moscow, đồng thời là cố vấn luật và thuế của Quỹ quản lý Đầu tư Hermitage Capital trụ sở London, bị cơ quan thuế của Bộ Nội vụ Nga bắt giữ. Sau đó ông Magnitsky bị truy tố tội trốn thuế trong vụ án hình sự chống Hermitage Capital.

Ngày 16/11/2009, ông Magnitsky chết trong trại giam Matrosskaya Tishina ở Moscow sau gần một năm bị giam giữ.

Để trừng phạt, điều luật mang tên ông đã được Thượng viện Hoa Kỳ chuẩn y nhằm áp chế tài với các cá nhân quan chức Nga bị cho là phải chịu trách nhiệm về cái chết của ông.

Bi kịch của Tổng Thống Phác Cận Huệ

LS Nguyễn Văn Thân

Tổng thống Park Geun-hye cúi đầu xin lỗi người dân Hàn Quốc hôm 4-11. Ảnh: Korea Times

Tổng thống Park Geun-hye cúi đầu xin lỗi người dân Hàn Quốc hôm 4-11.

Ảnh: Korea Times

Ngày 9/12 vừa qua, Quốc Hội Hàn Quốc đã bỏ phiếu quyết định truất phế Tổng Thống Phác Cận Huệ (Park Geng-hye) trên tỷ lệ 2/3 với 234/300 phiếu thuận và 56 phiếu chống. Có nghĩa là không chỉ có đối lập mà một số đông đảng viên của Đảng Tân Quốc Gia (Saenuri) của Tổng Thống Phác cũng đã bỏ phiếu hạ bệ bà. Hậu quả là bà Phác bị tước mọi quyền hành và Thủ Tướng Hoàng Giáo An (Hwang Kyo-ahn) trở thành Tổng Thống Xử lý Thường vụ trong thời hạn 180 ngày, trong lúc chờ đợi Tòa Bảo Hiến xét duyệt quyết định truất phế có hợp hiến hay không. Theo Hiến Pháp thì phải có ít nhất 2/3 tức là 6/9 thành viên của Tòa chuẩn y quyết định của Quốc Hội và nếu kết quả là thế thì sẽ dẫn đến một cuộc bầu cử tổng thống mới.

Nguyên nhân bà Phác bị truất phế có liên quan đến tham nhũng nhưng không phải cá nhân bà Tổng Thống tham nhũng mà là một người bạn thân của bà bị cáo buộc lạm quyền và trục lợi. Ngoài ra, bà Phác cũng bị tố là tiết lộ thông tin bảo mật quốc gia cho một người bạn không nắm giữ bất cứ chức vụ gì trong chính quyền.

Phác Cận Huệ là trưởng nữ của Phác Chính Hy, Tổng Thống đời thứ ba của Hàn Quốc. Ông Hy là một tướng lãnh quân đội cầm đầu cuộc đảo chánh vào năm 1961 và trở thành tổng thống vào năm 1963, cho tới khi ông bị hạ sát vào năm 1979. Trong suốt 16 năm cầm quyền, ông được mô tả là một nhà độc tài, cai trị với một bàn tay sắt, sẵn sàng bắt giam, tra tấn và thủ tiêu những người bất đồng chính kiến và đối lập. Nhưng ông cũng được đánh giá là người đã đặt nền móng đưa Hàn Quốc từ một quốc gia yếu kém, nghèo nàn sau chiến tranh và thời kỳ đô hộ Nhật vươn lên, thành một quốc gia công nghiệp, tân tiến hiện nay.

Vào năm 1974, ông Hy bị ám sát hụt nhưng sát thủ bắn chết vợ ông là bà Lạc Anh Tu. Phác Cận Huệ lức đó là một cô gái 22 tuổi, đang du học tại Pháp, lập tức quay trở về nước, thay thế vai trò Đệ Nhất Phu Nhân của mẹ để giúp đỡ cha trong việc điều hành quốc gia.

Có một đạo sĩ tên là Thôi Thái Mẫn (Choi Tae-Min) viết thư làm quen với bà Phác. Ông đạo sĩ này đã từng kết hôn tới 6 lần. Lúc đầu ông theo đạo Phật nhưng sau đó sáng lập ra Giáo Hội Đời Sống Vĩnh Cửu (Church Of Eternal Life). Ông Thôi nói rằng ông có khả năng tiếp xúc với mẹ của bà Phác trong giấc mơ và có thể làm trung gian chuyển những thông điệp hai chiều giữa bà Phác và người mẹ quá cố. Sau đó, bà Phác coi ông như là một người cha đỡ đầu. Lợi dụng quan hệ thân mật với bà Phác mà ông Thôi kiếm được rất nhiều tiền. Chính sách kinh tế của Phác Chính Hy dựa trên ân huệ ban phát cho các công ty do một vài đại gia tộc làm chủ. Dĩ nhiên là các đại gia không muốn làm phật lòng người đỡ đầu tinh thần con gái của tổng thống nên sẵn sàng đóng góp hậu hĩ.

Tới 1979, tức 5 năm sau khi mẹ bà Phác bị bắn chết thì đến lược Phác Chính Hy bị hạ sát bởi Kim Tái Khuê (Kim Jae-gyu), Giám đốc Tình báo do chính ông bổ nhiệm. Cho tới nay vẫn chưa biết rõ động cơ nào dẫn đến cuộc ám sát này. Kim Tái Khuê và đồng bọn bị xử tử vào treo cổ vào tháng 5 năm 1980. Bà Phác hầu như trở thành lệ thuộc vào đạo sĩ Thôi. Cho tới nay bà vẫn chưa lập gia đình và không có con cái gì. Bà nói rằng người yêu của bà là ”Triệu Tử Long” vì khi đọc Tam Quốc Chí thời còn đi học, bà đã ”phải lòng” nhân vật đơn thương độc mã tả xung hữu đột giữa vạn quân để cứu ấu chúa là con của Lưu Bị. Có tin đồn là bà có con với đạo sĩ Thôi nhưng bà đã phủ nhận tin đồn này. Đạo sĩ Thôi qua đời vào năm 1994. Con gái của ông là Thôi Thuận Thực (Choi Soon-Sil) trở thành người thân duy nhất của bà Phác.

Sau một thời gian ẩn dật, bà Phác tham gia chính trường và đắc cử vào Quốc Hội từ năm 1998 tới 2012. Bà cũng được bầu làm chủ tịch Đảng Đại Quốc (Grand National Party) từ 2004 tới 2006. Trong thời gian bà làm chủ tịch, Đảng Đại Quốc liên tục thắng hơn 40 cuộc bầu cử toàn quốc, địa phương và bổ sung. Vì vậy mà bà cũng được tặng cho danh hiệu là ”Nữ Hoàng Tranh Cử”.

Đại Quốc là một đảng có khuynh hướng bảo thủ. Đảng này đổi tên thành Tân Quốc Gia (Saenuri) vào năm 2011 sau một lượt thất bại. Trong cuộc bầu cử vào năm 2012, Đảng Tân Quốc Gia thắng 152/300 ghế tại Quốc Hội. Phác Cận Huệ đại diện cho Đảng Tân Quốc Gia ra tranh cử và làm nên lịch sử, trở thành nữ Tổng Thống Hàn Quốc đầu tiên vào ngày 19/12/2012, với 51.6% số phiếu.

Phác Cận Huệ chính thức nhậm chức tổng thống vào ngày 25/2/2013 trong lúc tình hình an ninh trên bán đảo Triều Tiên ngày càng trở nên tồi tệ. Bắc Hàn vừa mới thử nghiệm vũ khí nguyên tử lần thứ ba trước đó khoảng 2 tuần. Bà Phác đã cứng rắn theo đuổi hệ thống lá chắn phi đạn tầm cao THAAD với Hoa Kỳ, bất chấp những lời đe dọa trả đũa từ Nga và Trung Quốc. Ngoài ra, Hàn Quốc cũng trang bị hệ thống lá chắn Patriot của Mỹ để đối phó với hỏa tiễn tầm ngắn và trung từ Bắc Hàn.

Về mặt kinh tế, sau giai đoạn phát triển tăng vọt, trung bình khoảng 10% mỗi năm trong thập niên 80, tỷ lệ tăng trưởng đã giảm xuống trung bình khoảng 2.7% trong 5 năm vừa qua. Cấu trúc kinh tế vẫn thiếu cân bằng và lệ thuộc quá nhiều vào thị trường xuất khẩu và các công ty đại gia chẳng hạn như Samsung và Hyundai. Samsung đóng góp 30% vào GDP nên Hàn Quốc còn có tên gọi là Cộng Hòa Samsung. Trong thời gian gần đây, các công ty lớn như Samsung và Hyundai đã bắt đầu di chuyển cơ sở sản xuất sang các quốc gia có giá lao động rẻ, ví dụ như Việt Nam. Như các quốc gia phát triển khác, Hàn Quốc phải đối diện với những thách thức như tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm sút, thất nghiệp gia tăng, dân số lão hóa, cách biệt giàu nghèo ngày càng xa và một thị trường bất động sản bong bóng có thể nổ bất cứ lúc nào.

Vào tháng 9, truyền thông loan tin là công tố viên đang tiến hành điều tra bà Thôi Thuận Thực lạm dụng quan hệ bạn bè với Tổng Thống Phác để áp lực các công ty đại gia tặng tiền vào các quỹ từ thiện mà bà Thôi lập ra rồi lấy xài thoải mái. Khi bà Thôi ly dị lần thứ hai vào năm 2014, bà kê khai tài sản trị giá khoảng 45 triệu Mỹ kim. Trong lúc Tổng Thống Phác né tránh cuộc điều tra thì truyền thông nắm được tài liệu trong máy vi tính cũ của bà Thôi có chứa thư từ trao đổi qua lại giữa hai người, cho thấy diễn văn của Tổng Thống Phác được gửi cho bà Thôi để sửa lại cùng với ý kiến của bà Thôi liên quan tới việc bổ nhiệm quan chức nhà nuớc và ngay cả cách ăn mặc của Tổng Thống Phác.

Phẫn nộ với những thông tin này, hàng triệu người Hàn Quốc xuống đường biểu tình qua nhiều tuần lễ liên tiếp. Bà Phác khóc và xin lỗi trước công chúng 3 lần và giải thích rằng vì bà sống cô độc không có gia đình hoặc con cái nên đã nhờ bà Thôi phụ giúp cho nhiều việc riêng tư. Nhưng bà không ngờ người bà tin cậy nhất lại lạm dụng quan hệ của họ để trục lợi. Tuy nhiên, người dân không chấp nhận lời biện bạch này biểu hiện qua tỷ lệ ủng hộ cho bà xuống tới mức thê thảm, chỉ còn có 4%. Do đó, người ta không ngạc nhiên chính cả Đảng Tân Quốc Gia cũng bỏ rơi bà.

Thật ra, Phác Cận Huệ không phải là tổng thống Hàn Quốc đầu tiên dính phải sự bê bối. Lý Thừa Văn (Syngman Rhee) là người Cơ Đốc giáo tham gia tranh đấu giành độc lập từ Nhật Bản và trở thành tổng thống đầu tiên với sự hậu thuẫn của Mỹ. Ông Lý biến thành người độc đoán và sử dụng thủ đoạn gian lận để thắng cử. Vào năm 1965, sinh viên Hàn Quốc nổi dậy biểu tình khắp cả nước và ông phải bỏ chạy và sống lưu vong tại Hawaii. Toàn Đẩu Hoán (Chun Doo-hwan) là tổng thống thứ năm. Sau khi mãn nhiệm kỳ, ông Toàn sống một vài năm trong một ngôi chùa hẻo lánh để sám hối tội lỗi trong thời ông nắm quyền cai trị. Nhưng ông vẫn bị truy tố về tội nổi loạn, mưu sát và ăn cắp 400 tỷ won (370 triệu Mỹ kim) từ ngân quỹ và bị tuyên án tử hình. Sau đó, Tòa Thượng Thẩm giảm xuống tù chung thân và phạt ông 220 tỷ won.

Tương tự như vậy, Tổng Thống kế nhiệm Lô Thái Ngu (Rok Tae-woo) cũng bị truy tố cùng lúc với ông Toàn và lãnh án 22 năm tù. Cả hai ông Toàn và Lô được Tổng Thống kế tiếp là Kim Vịnh Tam ân xá vào năm 1997.

Tổng Thống thứ chín Lỗ Vũ Huyễn tự tử một năm sau khi hết nhiệm kỳ với những cáo buộc là thành viên trong gia đình nhận hối lộ 6 triệu Mỹ kim. Tương tự như vậy, Tổng thống thứ mười Lý Minh Bác sau khi mãn nhiệm kỳ phải đối mặt với tình trạng là người anh trai nhận hối lộ và bị tuyên án 14 tháng tù. Hình như các đời tổng thống Hàn Quốc đều có chung một bi kịch là không phải chính bản thân họ mà thân nhân hoặc bạn bè của họ đều lạm dụng quan hệ để trục lợi và kiếm tiền bất chánh.

Thật ra người Hàn Quốc có một nền văn hóa và ý thức trách nhiệm rất cao. Bằng không thì họ không thể nào thay đổi vận mệnh quốc gia trong một khoảng thời gian ngắn như vậy. GDP mỗi đầu người từ năm 1963 khoảng 100 Mỹ kim tăng lên 2,000 Mỹ kim trong thập niên 80, 10,000 Mỹ kim trong thập niên 90 rồi 20,000 Mỹ kim trong thập niên 2000 và hiện nay khoảng 28,000 Mỹ kim, so với Việt Nam là 2,000 Mỹ kim (tức cao hơn Việt Nam tới 14 lần). Người Hàn Quốc không chỉ cần cù mà còn có tinh thần trách nhiệm và kỷ luật rất cao. Họ không chấp nhận tham nhũng dưới bất cứ hình thức nào.

Trong một chuyến công tác tại Bắc Ninh vào tháng 11 vừa qua, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng nói rằng ”tệ nạn tham nhũng, cán bộ hư hỏng có hết nhưng nhìn tổng quát lại đất nước ta có bao giờ được thế này không”. Phải nói là chỉ có lãnh tụ ở Việt Nam mới có lối phát biểu ngu xuẩn như vậy chớ những câu nói đó không bao giờ có thể thoát ra khỏi miệng của một đảng trưởng tại Hàn Quốc. Có lẽ là do tinh thần và ý thức của người Việt không cao bằng người Hàn Quốc. Bằng không thì Việt Nam không có một lãnh tụ tồi tệ như Nguyễn Phú Trọng cũng như không đến nỗi tụt hậu và thua xa khi so với Hàn Quốc.