Vô tình

Advertisements

Học sinh Việt Nam giỏi Toán và Khoa học hơn học sinh ở Anh, Mỹ

Đấy là đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

Vào ngày 6/12 vừa qua, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã công bố kết quả Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) năm 2015. Kết quả này chủ yếu dựa vào những đánh giá trên môn Khoa học.

Theo đó, học sinh Việt Nam xếp thứ 8 trên toàn thế giới về khả năng học các môn Khoa học. Kết quả này còn vượt qua cả học sinh ở Anh, Mỹ.

Học sinh Việt Nam giỏi Toán và Khoa học hơn học sinh ở Anh, Mỹ - Ảnh 1.

Top 10 quốc gia, vùng lãnh thổ có học sinh học giỏi Khoa học nhất theo kết quả của PISA.

540.000 học sinh đại diện cho hơn 28 triệu học sinh 15 tuổi từ 72 quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới tham gia làm bài thi kéo dài 2 tiếng để đánh giá năng lực các môn Toán, Khoa học, Đọc hiểu vào năm ngoái. Và Việt Nam đã đứng thứ 8 với 525 điểm. Được biết, số điểm trung bình toàn thế giới là 493, số điểm của học sinh ở Anh là 509 điểm, ở Mỹ là 496 điểm.

Ở môn Toán, Việt Nam đạt 495 điểm, đứng thứ 21; trong khi số điểm trung bình thế giới là 490, số điểm của học sinh ở Anh  là 492 điểm, ở Mỹ là 470 điểm.

Tuy nhiên có một điều đáng chú ý là khả năng đọc hiểu của học sinh nước ta chỉ đạt 487 điểm – thấp hơn mức chung của thế giới (493 điểm) và cũng xếp sau Anh, Mỹ.

GS.TS. Harvard Hồ Nhật Nam: “Tôi ít khi nào ngồi học trên 1 tiếng”

GS.TS. gốc Việt, Hồ Nhật Nam, người có nhiều đóng góp cho ngành khoa học thế giới, chia sẻ suy nghĩ về câu chuyện sinh viên Harvard học đến 4:30 sáng. Anh cũng tiết lộ bí quyết chơi nhiều hơn học nhưng vẫn sở hữu bảng thành tích khủng.

Nhà khoa học, GS.TS. Hồ Nhật Nam (Dr. Nicolas Ho) là một người Mỹ gốc Việt có nhiều đóng góp cho nền khoa học thế giới. Ở tuổi 24, chàng trai gốc Việt trở thành thành viên trẻ tuổi nhất của Viện Hàn lâm Khoa học New York (The New York Academy of Sciences). Anh tham gia nghiên cứu tại các nhà máy nguyên tử thuộc viện Đại học Stanford; Đại học Chicago…

Hồ Nhật Nam có 1 năm học tại đại học Harvard trong giai đoạn hậu tiến sĩ. Anh nghiên cứu về đề tài “Cao phân tử và Xác định cấu trúc” tại đây.

Những ngày qua, vị GS.TS trẻ theo dõi thông tin về bài viết “Harvard 4:30 sáng” trên truyền thông Việt Nam. Từ trải nghiệm thực tế và vốn kiến thức sâu rộng, anh chia sẻ với Kenh14.vn những quan điểm cá nhân về việc học và chơi; bí quyết để đạt được những thành công như hiện tại.

GS.TS. Harvard Hồ Nhật Nam: Tôi ít khi nào ngồi học trên 1 tiếng - Ảnh 1.

GS.TS. Hồ Nhật Nam (bên phải) được bác sĩ Nguyễn Hùng Anh mời lên sóng phát thanh để nói về giáo dục ở Mỹ

“Tôi tin có sinh viên học đến 4:30 sáng”

GS.TS. Hồ Nhật Nam cho rằng cách viết bài của tác giả Trung Quốc Wei Xuiying làm cho anh liên tưởng đến những sinh viên chỉ học và học đến ngừng thở.

“Học đến 4:30 sáng mà không biết lúc bắt đầu thì không ổn. Sinh viên Harvard giỏi và siêng nhưng không đồng nghĩa với học không thấy ngày mai như vậy. Tôi tin có sinh viên học sáng đêm nhưng không phải tất cả sinh viên đều như vậy”, Nhật Nam nói.

Là một người đạt được nhiều thành tựu trong học lập lẫn nghiên cứu khoa học, GS.TS. Nam cho rằng, việc sinh viên vùi đầu vào sách vở là chuyện bình thường. Nhưng nếu một người nào đó học quá nhiều thì cũng cần xem xét lại năng lực tiếp thu của bản thân.

“Sinh viên phải đọc nhiều và học thật nhiều, nhưng nếu cứ phải học đến 4:30 sáng như vậy thì không nên, nhất là ở đại học Harvard. Phải học đến giờ đó thì chỉ có 2 lý do: thứ nhất, học không kịp bạn bè, thứ hai, học hoài mà không hiểu. Nhưng điều đó là hiếm thấy ở sinh viên đại học này. Harvard thường khuyến khích sinh viên làm thêm việc xã hội ngoài giờ học. Đó có nghĩa là trường không muốn thấy sinh viên chỉ biết học không thôi”, nhà khoa học gốc Việt nhấn mạnh.

GS.TS. Harvard Hồ Nhật Nam: Tôi ít khi nào ngồi học trên 1 tiếng - Ảnh 2.

Giáo sư gốc Việt khuyến khích sinh viên của mình tư duy và trải nghiệm nhiều hơn là trở thành “mọt sách”

Trong quá trình giảng dạy tại Đại học Brown, Đại học California và làm thỉnh giảng ở nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới, Hồ Nhật Nam thường hỏi học sinh về động lực học tập của họ là gì. Vì sao họ đam mê môn học và tương lai sau này các em sẽ làm gì?  Sau đó, anh động viên và hướng dẫn các sinh viên.

“Tôi dạy học theo cách “practical”. Đó là dạy học sinh những kiến thức căn bản, rồi từ đó, các em phát triển theo bản năng và khả năng. Ví dụ, tôi dạy về thuyết acid.  Nếu chỉ nhớ và biết những gì về acids thì tốt nhưng hiểu cách áp dụng acid trong nhà máy hoặc phòng thì nghiệm quốc gia thì tốt hơn nữa!

Khi sinh viên suy nghĩ xa hơn để rồi bạn ấy nói là đã nghĩ ra được một chất acid cực mạnh chưa từng có. Và chất acid đó có khả năng ứng dụng tốt hơn chất acid khác mà ta từng biết. Đó là sự truyền đạt mà tôi muốn tập cho sinh viên. Đó là sự sáng tạo mà tôi muốn rèn luyện cho sinh viên chứ không phải chỉ học từ sách!

Sinh viên nên chọn cách học và môn học yêu thích trước rồi sau đó phát triển hết khả năng. Chỉ vùi đầu vào học như cái máy thì chẳng khác nào robot. Tôi thấy cách học đó không hoàn hảo và không hợp cho đời sinh viên”, giáo sư gốc Việt chia sẻ quan điểm về việc học.

Ngồi học không quá 1 tiếng và bảng thành tích khủng

Giá trị của thời sinh viên sôi nổi và giàu khát vọng mà Hồ Nhật Nam có tại các trường đại học hàng đầu thế giới, được gói gọn trong quan điểm: “Học để hiểu chứ không phải học chỉ để nhớ!”.

Trong những năm tháng ấy, anh thường vào lớp để nghe thầy giảng bài rồi tiếp thu những ý chính của bài giảng. Anh thích khám phá sự mới mẻ của chúng hơn là cố gắng ghi nhớ nó.

Chàng GS.TS. gốc Việt bộc bạch: “Tôi ít khi nào ngồi học trên 1 tiếng. Tác giả của những cuốn sách hay luôn muốn bạn trẻ hãy đọc và hiểu nó, suy nghĩ, áp dụng và sáng tạo thêm. Tôi học bằng lý trí và cả sự khoa học”.

“Thời ấy, tôi dành nhiều thời gian để bơi lội và trượt tuyết hơn ngồi học đến 4:30 sáng. Hiện tại, cũng như bao nhiêu vị giáo sư khác, tôi không ngừng học hỏi, nghiên cứu và sáng tạo”, Hồ Nhật Nam nói thêm.

GS.TS. Harvard Hồ Nhật Nam: Tôi ít khi nào ngồi học trên 1 tiếng - Ảnh 3.

Vẻ ngoài năng động, trẻ trung của nhà khoa học Mỹ gốc Việt

Sinh ra tại Sài Gòn và lớn lên ở California, Hồ Nhật Nam luôn được mẹ khuyến khích trau dồi vốn từ tiếng Việt. Nó như cách để anh và gia đình thể hiện tình yêu với quê hương.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Creighton, anh tiến thẳng lên bậc tiến sĩ. Hồ Nhật Nam được sự hướng dẫn của hai tiến sĩ từng đạt giải Nobel là William Lipcomb và Arieh Warshel. Hiện nay, anh là giáo sư tại Đại học California (Mỹ).

Nhật Nam là thành viên của nhiều hiệp hội lớn như hiệp hội Hoá Mỹ, hiệp hội nghiên cứu Mỹ. Anh được vinh danh trong Quốc Hội Mỹ về Lãnh đạo khoa học.

Vị giáo sư trẻ đang mơ về giải Nobel đầu tiên cho người Việt.

Là người được hưởng thụ nhiều tinh hoa giáo dục Mỹ nhưng Hồ Nhật Nam luôn hướng về quê hương. Trăn trở lớn nhất của anh là làm sao để trình độ phát triển khoa học – kỹ thuật của Việt Nam đuổi kịp các nước trong khu vực.

Nhà tuyển dụng Mỹ quan tâm đến kinh nghiệm và kỹ năng làm việc hơn điểm số hạng A

Trương Phạm Hoài Chung, Thạc sĩ Giáo dục Đại học Harvard, cho biết: “Tại Harvard, chỉ khoảng 5% học sinh của trường cần làm việc qua đêm. Cảnh tượng sinh viên học tới 4:30 sáng chỉ có thể đúng với tuần trước khi thi, khi các bạn phải ôn tập khá nhiều. Ở Harvard, giáo sư ra bài tập nhiều nhưng họ không kiểm tra hết. Bạn nào thật sự đam mê, hứng thú thì sẽ tự dành thời gian tìm hiểu thêm. Nếu mình học ở mức cơ bản, thì không cần thức tới 4 giờ sáng.

Mục tiêu của các sinh viên khi học ở các trường đại học hàng đầu thế giới cuối cùng vẫn là có việc làm. Các nhà tuyển dụng Mỹ rất quan tâm đến việc bạn có kinh nghiệm làm việc ở các công ty lớn hay không? Bạn có khả năng giải quyết vấn đề không? Học tập không phải là cách duy nhất để có được điều đó.

Để tương lai có nhiều cơ hội, bạn trẻ cần tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa, tạo mối quan hệ với nhiều người cũng như luyện các kỹ năng mềm để xin được suất thực tập ở những công ty lớn”.

Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 44)

Nguyễn Khắc Viện Như Tôi Biết

Lời Ai ĐiếNguyễn Khắc Viện Như Tôi Biết
Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện có một cuộc đời rất kỳ diệu. Lúc ba mươi hai tuổi ông bị bệnh nặng ở Pháp, tưởng đã cầm chắc cái chết. Bác sĩ Tây đã dự kiến ông “không sống quá vài năm”! Bạn ông là Phạm Quang Lễ –  tức Trần Đại Nghĩa – trước lúc theo Cụ Hồ về nước đã đến thăm ông và rất bùi ngùi!
Nhưng Nguyễn Khắc Viện đã đọc sách triết học Trung Hoa, Ấn Độ ngay tại bệnh viện ông đang nằm và tìm ra phương pháp tự chữa bệnh cho mình bằng thuật yoga của Ấn Độ, khí công nhu quyền Trung Hoa, sau này ông kết hợp hai thuật trên với khoa sinh lý học hiện đại, hình thành thuật dưỡng sinh nổi tiếng.
Một buổi chiều cuối tháng Tư năm 1988 tại thành phố Mỹ Tho êm ả bên bờ sông Tiền, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cởi áo cho tôi coi tấm lưng bị bằm nát vì bảy lần phẩu thuật phổi của ông (cắt một lá phổi và một phần ba lá thứ hai)! Tôi thật sự kinh ngạc khi thấy tấm lưng của ông Viện chằng chịt như cái bản đồ sông rạch đồng bằng sông Cửu Long của tôi đang treo trên tường! Một ông già thân hình gầy guộc với đầy những thương tích bên ngoài như thế, bên trong chỉ còn không đầy một lá phổi, vậy mà còn múa võ, đá cầu, lên diễn đàn diễn thuyết, đi Đông đi Tây, vào Nam ra Bắc, mỗi năm in một cuốn sách. Vợ tôi thấy vậy lạ quá, nhưng không dám hỏi! Ông già Viện hóm hỉnh từ tốn kể cho vợ tôi nghe về cuộc chiến thầm lặng của ông nửa thế kỷ qua với định mệnh.
Chiều tối hôm đó, vợ và hai con nhỏ của tôi đã ngồi nghe bác sĩ Nguyễn Khắc Viện kể về “con đường sống” của mình như nghe một ông già kể chuyện cổ tích. Vợ tôi đã nghẹn ngào hỏi tôi: “Sao lại có người yêu nước thương dân thế hở anh”.
Đó là lần thứ hai bác sĩ xuống thăm bà con nông dân đồng bằng sông Cửu Long và tá túc tại nhà tôi. Bác xách cái túi bang (một loại cỏ hoang giống như cói), đội nón lá, xuống xe đò tìm đến nhà tôi. Vì lâu ngày quên ngõ nên ông phải hỏi thăm và được một bà lão tốt bụng dẫn đường, và bà lão tưởng rằng ông già hỏi thăm đường là một sĩ quan chế độ cũ đi tù mới về! Chính bà ta hỏi bác Viện điều đó và bác đã gật đại! Ở chơi ít ngày, bác Viện luôn hỏi thăm vợ chồng tôi về công việc đồng áng của bà con nông dân đồng bằng sông Cửu Long, nên vợ tôi xem bác là một người yêu nước kỳ lạ! Tôi phải giải thích cho bả: Nhờ luôn luôn luyện thở, ăn uống điều độ, ung dung tự tại và lạc quan yêu đời nên bác Viện mới sống được đến ngày hôm nay để đi thăm bà con nông dân đồng bằng.
Chính cái đêm hôm đó, tôi thao thức không ngủ được. Và rồi xúc cảm làm một bài thơ con cóc, ghi lại tâm trạng mình. Bài thơ tôi đặt tên là “Vô đề”:
Đãi ông một bữa cơm nghèo
Trải giường ông nghỉ lòng nhiều xót thương
Lưng già ít thịt nhiều xương
Sáu, năm vết mổ sẹo còn đầy vai
Con đường dân chủ công khai
Ông như lão tướng một đời xông pha
Bọn quan kiêu – lũ gian tà
Kính ông ngoài mặt, bỉ dè sau lưng
Núi sông được mấy anh hùng
Thế gian được mấy cõi lòng trinh trung?
Mỹ Tho 1988
Kể từ buổi chiều được tận mắt nhìn thấy tấm lưng “có một không hai” của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, tôi mới hiểu thế nào là sức sống ở một con người có ý chí, sống có mục đích cao đẹp.
Chính bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cũng nói rằng, khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, cái chết của mình đã được người ta báo trước, nhưng Cách Mạng Tháng Tám đã mang đến cho người trí thức như ông một lẽ sống, và nhờ xác định được lẽ sống, ông mới tìm ra phương pháp để cứu sống mình. Sau này tôi mới hiểu vì sao, rất nhiều người, trong đó có tôi, khi mới gặp ông lần đầu, đều có nhận xét rằng ông Viện nói rất khẽ (nhỏ) và rất khó nghe(!) Thì ra ông phải “tiết kiệm hơi sức”. Tiết kiệm suốt một đời (từ lúc ba mươi tuổi đến lúc tám mươi lăm tuổi) để sống. Thì ra không phải trời cho anh sức khỏe là anh có thể sống lâu hơn người. Có sức mà không biết tiết kiệm sức thì chưa chắc ai đã hơn ai. Cuộc đời bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho tôi một bài học. Tiết kiệm sức để sống có ích.
Bình sinh bác sĩ Nguyễn Khắc Viện nói với mọi người: “Hơi sức tôi không đủ mạnh để thổi tắt một ngọn đèn dầu!”
Mà đúng thế thật, khi phải tắt một ngọn đèn dầu, bác Viện lấy hai bàn tay vỗ vào nhau để tắt đèn! Như vậy chẳng phải là bác Viện đã tiết kiệm cả từ một hơi thở để sống và làm việc có ích cho nhà cho nước hay sao. Sự việc này cũng đáng ghi vào sổ vàng tiết kiệm!
Sự thông thái Nguyễn Khắc Viện khiến giới trí thức phương Tây phải kinh ngạc. Hơn một chục đầu sách viết bằng tiếng Pháp của ông, trong đó có những trước tác rất giá trị như “Le Sud Vietnam après Điện Biên Phủ” (Editions Maspero 1963), “Histoire du Vietnam” (Editions Sociales), rất đồ sộ như “Anthologie de la litérature Vietnamienne”, “Vietnam – une longue histoire”, truyện Kiều dịch ra tiếng Pháp…
Có điều lạ là, bác sĩ Nguyễn Khác Viện “múa bút” trên nhiều lĩnh vực: văn học, sử học, triết học, tâm lý học, du lịch, thể thao, y tế… nhưng ở lĩnh vực nào ông cũng tỏ ra sắc sảo, thâm thúy mà tiếp cận được những tư tưởng tiên tiến của thời đại, có đóng góp cho nền khoa học của nước nhà. Tôi giật mình khi thấy một Việt Kiều đã làm một việc độc đáo là trích từ các bài báo, thư, kiến nghị và sách của ông các khái niệm xếp theo vần ABC thành một cái như là từ điển xã hội học, mà vị này gọi là “Sổ tay tư tưởng Nguyễn Khắc Viện”. Trong cuốn “Sổ tay” đó, hàng loạt khái niệm lâu nay bị xơ cứng, giáo điều hóa nay được “định nghĩa” lại, mới mẻ, tràn đầy sinh khí. Có thể dẫn ra đây vài khái niệm đã đuộc vị này đưa vào “từ điển Nguyễn Khắc Viện”. Ví dụ như ở vần D, từ Dân chủ: “Dân chủ: bốn khâu. Quá trình dân chủ hóa thể hiện qua mấy khâu: – Đầu tiên là nhận thức của số đông là mỗi người đều có quyền công dân, có quyền suy nghĩ, nói lên ý nghĩ của mình, không ai được xâm phạm những quyền cơ bản mà hiến pháp và pháp luật đã qui định – Báo chí trở thành công cụ sắc bén của dư luận – Các cơ quan dân cử như quốc hội, các đoàn thể làm tròn nhiệm vụ là thay mặt cho dân, chứ không làm “cây cảnh” nữa – các cơ quan tư pháp giữ tính độc lập, xử theo pháp luật, không chấp nhận một sức ép nào bất kể từ đâu. Bốn khâu này cần hoạt động đồng bộ, khâu này hỗ trợ khâu kia. Và dân chủ ở thành phố phải hỗ trợ dân chủ ở nông thôn” (Câu chuyện cũ mới – Văn Nghệ 7/87). Từ Dư luận được trích dẫn như sau: “Dư luận tức ý kiến và nguyện vọng của quần chúng lại là nguồn tư liệu để các bộ phận khoa học nghiên cứu, đặt thành vấn đề, tìm ra những phương pháp vượt qua sự đánh giá chủ quan của cảm tính” (Bàn về quan liêu). Từ dưỡng sinh: “Có sức khỏe tốt, tức có thể có khả năng tự điều chỉnh bất kỳ trong hoàn cảnh, tình huống nào”, “Chủ động giúp cơ thể điều chỉnh hoạt động, đó là mục tiêu của khoa dưỡng sinh”.
Bao nhiêu lĩnh vực khác nhau như thế mà lĩnh vực nào Nguyễn Khắc Viện cũng am tường, hiểu đến nơi đến chốn, đưa ra những ý kiến sắc sảo, mới mẻ… Làm một “nhà” đã khó, nhưng với sự thông thái của Nguyễn Khắc Viện thì gọi ông là “nhà” gì cũng xứng đáng! Có lẽ vì thế trong cuốn “bảng vàng năm 1992” của Viện Hàn lâm Pháp – năm trao giải thưởng lớn Pháp văn cho Nguyễn Khắc Viện – tên ông đứng ở đầu bảng (kế đó là nhà văn Thụy Sĩ Maurice Métral) với những dòng kèm theo: nhà thơ, nhà viết tùy bút, sử gia, dịch giả… Còn chúng ta sau khi không biết nên gôi ông là gì thì “kêu” ông là “nhà văn hóa” là “tiện” nhất(!). Vì văn hóa bao gồm tất cả(!)
Trong lịch sử nước ta, hình ảnh các sĩ phu thường in đậm trên mỗi trang sách, nhất là vào lúc đất nước, nhất là vào lúc đất nước gian nguy. Ở thời đại chúng ta, còn có cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Ngô Đức Kế, cụ Bùi Bằng Đoàn… và những người cuối cùng, phảng phất bóng dáng người xưa, có lẽ là các nhà trí thức Tây học như Nguyễn Văn Hưởng, giáo sư Trần Đại Nghĩa, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện…
Bình sinh ông thường nói đùa: “Tôi thực hiện khẩu hiệu ‘Nóng không quạt, ngứa không gãi, chọc không tức’.” Mà ông sống như thế thật. Căn phòng của ông ở số 8 ngõ Nguyễn Chế Nghĩa Hà Nội chỉ chừng gần ba chục mét vuông, kê hai cái giường cá nhân nối đuôi nhau cho hai vợ chồng ông, một cái bàn nhỏ dùng làm bàn làm việc và chỗ tiếp khách, ngoài ra chỉ toàn là sách. Vậy mà trí thức cả nước, Việt kiều từ năm châu bốn biển đều tới lui “yết kiến” ông. Người thì nhờ ông góp ý cho một luận văn, người thì xin ông “bắt mạch” thời vận của nước nhà để cùng ông chung lo những điều mà bất cứ công dân yêu nước nào cũng quan tâm ở một thời kỳ đầy biến động của đất nước.
Những lần gặp bác sĩ Nguyễn Khắc Viện mà “nóng không quạt, ngứa không gãi…” như thế, tôi học được nhiều thứ lắm. Nhất là được mở mang đầu óc, có thêm thông tin, thêm hiểu biết về thế giới. Nhưng lâu dần tôi mới hay, chẳng cứ tôi có nhu cầu gặp bác Viện mà chính bác cũng có “nhu cầu” gặp tôi. Chẳng thế mà cứ mỗi lần vô miền Nam để trú đông, xuống khỏi sân bay là bác Viện đã ném một cái thư ngắn vài dòng vào bưu điện, nhắn tôi lên thành phố Hồ Chí Minh gặp bác. Bác Viện muốn thông qua tôi để tìm hiểu thêm về đời sống và công việc làm ăn của nông dân đồng bằng sông Cửu Long mà vì tuổi già sức yếu, bác không có điều kiện trực tiếp tìm hiểu. Theo bác thì đừng có bao giờ hỏi một ông tiến sĩ Việt kiều về tình hình đất nước, muốn tìm hiểu tình hình đất nước, tốt nhất phải hỏi cán bộ phường, phải hỏi trực tiếp nông dân.
Nhớ lại một bữa cơm đãi khách Việt kiều tại Mỹ Tho, tôi lại thấy vui vui! Vì yếu không đi được, bác Viện nhờ tôi đưa khách đi chơi. Sau khi cùng khách du ngoạn trên sông Tiền về, tôi thấy hai thằng con của tôi hằng ngày ngỗ ngược là thế mà hôm ấy ngồi ngay ngắn nghe bác Viện kể chuyện. Trông bác Viện ngồi với hai đứa trẻ ấm cúng như một người ông hiền từ kể chuyện cổ tích cho đàn cháu! Lúc ăn cơm, mọi người phải xếp chân bằng tròn ngồi cả dưới nền nhà. Duy chỉ có bà vợ đầm của ông khách Việt kiều tên là Linh vì quá to mập lại không quen ngồi dưới nền như thế bao giờ nên phải xếp cho bà một suất ngồi trên ghế xa-lông (gỗ) để ăn. Bác Viện lại nói đùa: “Ông Linh này “dạy” vợ kém lắm, mấy chục năm bà ấy chỉ nói được có một từ tiếng Việt: Cá gỗ! Không biết ai dạy bà ấy?” Thấy bác Viện nói đến tiếng “cá gỗ”, bà vợ ông Linh kêu lên mấy tiếng “Cá gỗ! Cá gỗ! Cá gỗ!” khiến mọi người lăn ra cười(!) vì cả bác Viện lẫn ông Linh đều là dân xứ Nghệ “Cá gỗ!”)
Nhà tôi lúc đó cũng không có được một chiếc quạt máy. Cơm canh chua cá lóc (chứ không phải cá gỗ!). Nóng quá, bác Viện phải cầm cái quạt nan phe phẩy cho mọi người. Thấy thế, vợ tôi đỡ cái quạt nan trên tay bác Viện, quạt. Tay thì quạt, miệng nói đỡ. “Nhà em anh ấy không nóng nên không sắm quạt!” Bác Viện dịch câu đó cho bà đầm nghe. Nghe xong, bà nói: “Khi nào nhà báo có tiền là thấy nóng liền!” bây giờ, đôi lúc bật quạt, vợ tôi lại nhắc đến câu nói đó của bà đầm vợ ông Linh để nhớ đến một thời gian khó!
 Tôi muốn kể một câu chuyện nhỏ nữa về bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Một lần bác xuống nhà tôi ở Mỹ Tho chơi. Vợ tôi làm cơm đã khách. Mâm cơm chỉ có một đĩa thịt bò xào, một đĩa rau muống xào và một tô rau muống luộc vắt chanh với mấy quả cà! Đó là mâm cơm đãi khách không dễ gì có được vào thời điểm khó khăn nhất của thời bao cấp với một phóng viên nghèo như tôi. Nhưng than ôi! Khi tôi gắp miếng thịt bò đưa vô miệng nhai thì dai như chão rách! Nuốt vô thì tội mà nhả ra thì bất tiện(!). Tôi liếc mắt thấy vợ tôi rất lúng túng. Bỗng bác Viện nói: “Dai thì để đĩa thịt bò này lại, chỉ ăn rau muống xào thôi, chiều nay băm thịt bò thật nhỏ rồi đúc với trứng mà làm bữa chiều” bác Viện đã “giải thoát” cho vợ chồng tôi! Chiều hôm đó, theo chỉ đạo của bác Viện, vợ tôi băm thật nhỏ món thịt bò đã xào, rồi đúc trứng (chiên với hột vịt), quả thật chúng tôi đã có một bữa chiều ngon miệng cùng khách quý!
Bác Viện có những cách ứng xử chủ động, thông minh lạ lùng và đầy tình thương như thế. Bác cũng là người đầu tiên lên tiếng không nên dùng từ “con buôn” trong các hội nghị nhà nước và báo chí để goọi những người làm nghề buôn bán trong xã hội. Bác còn viết bài phân biệt hai từ “nhà buôn” và “con buôn”! Theo bác thì từ “con buôn” dùng để chỉ những người không ngay thẳng trốn lậu thuế mà thôi, còn người buôn bán đàng hoàng phải được cư xử bình đẳng nagy cả trong cách xưng hô khi nói đến họ.
Nếu tôi không nhầm thì bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là một trong những người Việt Nam có quan hệ bạn, đồng chí, đồng nghiệp phương Tây nhiều nhất. Những lần bất chợt được gặp bác sĩ Viện với khách nước ngoài, bao giờ tôi cũng thấy họ xem bác như bậc thầy. Họ tìm đến Hà Nội (hay thành phố Hồ Chí Minh) gặp bác sĩ Nguyễn Khắc Viện như tìm đến một nhà hiền triết phương Đông. Chủ yếu họ hỏi, họ xin ý kiến bác Viện về những vấn đề của Việt Nam, của châu Á. Thậm chí cả những vấn đề của phương Tây nữa. Vì chính con người “mình thông vóc hạc”, cốt cách một nho sĩ phương Đông này đã hiểu thấu phương Tây sau hơn một phần tư thế kỷ “giẫm nát” các nẻo đường nước Pháp và châu Âu. Trong cuốn “bàn về đạo Nho” (1993), ông viết: “Ba trăn năm phát triển tư bản đã làm con người phương Tậy năng động, tự lập, tự chủ nhưng cũng khá cô đơn”. Ngắn gọn thế thôi nhưng vô cùng chính xác và đầy đủ về con người phương Tây.
Công bằng mà nói, chưa có nhà xã hội học, nhà nghiên cứu lịch sử, triết học nào ở nước ta dám đưa ra luận điểm: Nước ta chưa có truyền thống dân chủ. Xưa nay, chúng ta quen nghe người khác ca ngợi mình, hoặc mình tự hào về dân tộc mình, điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng “tự hào” đến mức nhà thơ Nguyễn Duy đã phải viết: “Ngộ độc ngợi ca, bội thực tự hào” thì những ý kiến thẳng thắn dũng cảm của Nguyễn Khắc Viện là cần thiết để chúng ta bình tĩnh nhìn nhận lại những gì mình đã có và chưa có. Chúng ta chẳng từng ca ngợi Lỗ Tấn hết lời khi ông chỉ ra bệnh “thắng lợi tinh thần” của anh chàng AQ điển hình cho “quốc dân tính” của người Trung Hoa cho đến Cách mạng Tân Hợi (1911) là gì? Những ông quan cách mạng quen bệnh giáo điều gia trưởng đã kinh hoàng khi nghe thấy có người nêu ra ý kiến phải “tập sống dân chủ” ở mọi nơi, mọi cấp(!).
Suốt đời, Nguyễn Khắc Viện phải “trả giá” cho sự quyết liệt của mình. Với kẻ thù của dân tộc là đế quốc Pháp, ông bị chúng truy lùng, trục xuất. Ông đã phải sống chui lủi nhiều năm trên đất Pháp. Trong nội bộ Đảng, trong hàng ngũ của mình, nhiều năm ông đã bị một số người bảo thủ, cơ hội nghi kỵ, đả kích khi ông có những chính kiến mạnh mẽ, trái với quan điểm của họ.
Cũng lạ, chưa có ai nhiều kiến nghị như Nguyễn Khắc Viện, khi thì kiến nghị lên Quốc hội, khi thì kiến nghị lên đồng chí Tổng bí thư (Trường Chinh), ngay cả trước lúc ra đi ông cũng kiến nghị trước với các đồng nghiệp ngành y tế của mình là đừng can thiệp vào cái chết của ông, để ông được ra đi nhẹ nhàng.
Nguyễn Khắc Viện là con quan, là sinh viên đi Pháp du học và đậu bác sĩ cao cấp tại Paris rồi ở Pháp liền hai mươi bảy năm. Vậy mà sau hai mươi bảy năm liền sống “bên Tây” trở về nước, người ta vẫn thấy ông bình dị như một nho sĩ chân quê, một ông đồ xứ Nghệ! Suốt mấy chục năm làm một người học trò, một người bạn vong niên của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, tôi không thấy ông đệm một chữ Tây nào trong lời nói. Ngay cả đến cái thư ông viết cho tôi, cuối thư, thay cho chữ telephone mà nhiều người thích dùng, ông cũng dùng chữ Việt: “Dây nói”…
Nhưng đừng có ai lầm tưởng Nguyễn Khắc Viện là một nhà Nho (tôi muốn nói về thế giới quan – tư tưởng). Ông phê phán tư tưởng Nho giáo một cách triệt để:
Vì trên phương diện chính trị, Nho giáo chủ yếu là bảo thủ. Nó bỏ qua vấn đề luật pháp và thiết chế, từ chối mọi cải cách. Đạo lý về chính trị chủ yếu là bảo thủ, hướng tư tưởng vào việc tu thân nhằm mục đích cải thiện xã hội mà không muốn đặt vấn đề thiết chế là đặc trưng của những kẻ sợ những biến động xã hội. Ta hiểu tại sao Camus bị hấp dẫn bởi Nho giáo.
Tuy nhiên trong Nho giáo còn có một số ý niệm cơ bản: Là vua và sĩ đại phu – tức là những người chịu trách nhiệm về chính trị – phải là những kẻ gương mẫu về đạo đức. Trong xã hội Nho giáo, sự vô luân thất đức của chính quyền đã tạo nên những lý do tốt nhất cho những người làm cách mạng.
Trên thực tế, Nho giáo còn hơn cả sự bảo thủ, nó quay hoàn toàn về quá khứ. Bảo vệ lễ nghi của các triều đại xưa là mối quan tâm lớn của Khổng tử. Trong chữ Lễ, vương triều Trung Hoa cũng như Việt Nam đã tìm thấy biện pháp tốt nhất để duy trì sự ổn định của ngai vàng” (Bàn về đạo Nho – nguyên văn tiếng Pháp đăng trên tạp chí La Pensée với tựa đềConfucianisme et le Marxisme au Vietnam, bản dịch tiếng Việt in trong BVĐN 1993).
Các nho sĩ Việt Nam đã gạn chắt lấy phần “gương mẫu về đạo đức” của đấng minh quân trong Nho giáo để xử thế. Về tư tưởng, họ “đem đại nghĩa để thắng hung tàn”. Lúc hiểm nguy, họ “tự phá chông gai, tay trừ cường bạo. Lấy giáp trụ làm chăn áo, lấy đồng cỏ làm nhà cửa. Xéo đạp hiểm nghèo, xông pha gươm giáo” (Chiếu răn bảo Thái tử – Nguyễn Trãi thay lời Lê Lợi). Lúc bình an, họ sống giản dị, lấy cỏ cây làm bằng hữu, gần gũi với dân lành. Ví thế, trong mắt nhân dân, nho sĩ Việt Nam được mến mộ về đạo đức và lối sống. Họ đã góp phần tạo nên bản sắc Việt Nam trong quá khứ. Nguyễn Khắc Viện là một trí thức Tây học, thấm nhuần tư tưởng “tự do – bình đẳng – bác ái” của cách mạng Pháp. Ông chỉ “giống” các nhà Nho ở phần lối sống giản dị, xem thường vật chất, coi trọng đạo làm người mà ngày nay chúng ta gọi nó là “đậm đà bản sắc dân tộc”.
Vì thế, bài học đầu tiên Nguyễn Khắc Viện để lại cho chúng ta là bài học văn hóa Việt Nam trong lối sống. Không ồn ào bắt chước bất kỳ ai! Nếu tôi không nhầm thì Nguyễn Khắc Viện là một trong những người Việt Nam được nhiều người phương tây yêu thích nhất.
(Còn tiếp)

Đọc tất cả những bài đã đăng ở tại trang: Lời Ai Điếu

NGUYỄN BÍNH – NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI

Tiểu luận của Trần Mạnh Hảo

( Nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của nhà thơ Nguyễn Bính 20-1-1996)
240px-nguyen_binhNhân một buổi hội thảo thơ 1932-1945, một độc giả hỏi : “ Nếu cần phải chọn một câu thơ hay nhất để đại diện cho Thơ Mới ( thơ tiền chiến) , ông sẽ chọn câu thơ của ai ?”. Không do dự, tôi trả lời : “ Tôi xin chọn câu lục bát : “ Anh đi đấy, anh về đâu / Cánh buồm nâu cánh buồm nâu cánh buồm !” của Nguyễn Bính”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một bài cho nền thơ ấy, ông chọn bài nào ?”. Trả lời : “ Tôi chọn bài Tống biệt hành của Thâm Tâm”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một tập hay nhất của nền thơ ấy, ông chọn tập nào?” . Trả lời : “Tôi chọn tập “ Lửa thiêng” của nhà thơ quê Hà Tĩnh Huy Cận”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một đời thơ tiêu biểu nhất của nền thơ ấy, ông chọn ai ?”. Tôi trả lời : “ Tôi chọn Nguyễn Bính !”.
Vâng, Nguyễn Bính, nhà thơ bị giời đầy : “ Mình tôi giời bắt làm thi sĩ !” Câu thơ ông viết từ những năm đầu của thập kỷ 40 đã vận vào ông : “Chung lưng làm một chuyến đi đầy”. Thậm chí ông còn nhắc con gái sau này : “Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ / Nghèo lắm con ơi bạc lắm con”.
Có lẽ, trong thơ tiền chiến, Hàn Mặc tử và Nguyễn Bính là hai nhà thơ có số phận ít được vận may chiếu cố. Hàn Mặc tử bị trăng hành. Còn Nguyễn Bính bị con bướm Trang Chu hành tới bến. Nếu Thế Lữ được biểu tượng thơ là con hổ, Lưu Trọng Lư là con nai, Chế Lan Viên là con ma Hời, Xuân Diệu là con chim ngứa cổ hót chơi…thì con bướm là biểu tượng cho thơ Nguyễn Bính :
“ Có ai điên dại như tôi nhỉ
Nuôi bướm làm con để nhớ người”
Hay :
“ Hồn trinh còn ở trần gian
Nhập về bướm trắng mà sang bên này”…
Trong thơ ông, bươm bướm bay nhiều quá, rượu và hoa nhiều quá, nhiều quá những cô gái đẹp chưa chồng. Nhưng bướm đã bay đi, rượu đã nhạt, hoa đã tàn, trinh nữ đã theo chồng hoặc đã chết, chỉ còn mình nhà thơ ngồi lại với phũ phàng và điên đảo :
“Mưa chiều nắng sớm người ta bảo
Cả đến ông giời cũng đổi thay” ( Giời mưa ở Huế)
Tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942, khi mới 24 tuổi, Nguyễn Bính đã viết được những câu thơ hay đến kinh hãi về nỗi buồn, nỗi cô đơn của kẻ lạc loài, của nỗi oán hận suồng sã phải thất tình thay cho con ong cái bướm :
“Uống say cười vỡ ba căn gác
Ném cái chung tình xuống đáy sông” ( Xuân tha hương)
Cùng “cái chung tình” ấy, nhà thơ hầu như đã ném tuổi trẻ mình xuống đáy sông của định mệnh, theo kiểu Thúy Kiều ném 15 năm lưu lạc xuống đáy Tiền Đường .
Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ tấm bé. Ta hiểu vì sao nỗi bơ vơ ám ảnh suốt đời ông. Ta hiểu ngay từ lúc mới 13 tuổi, làm bài thơ đầu, ông đã thèm yêu, thèm sống, thèm khát ràng buộc với tất cả và chia tay tất cả. Ông đã vịn vào chuồn chuồn bươm bướm tập đi như vịn chính vào niềm hư vô của kiếp người. Theo Hoài Thanh, Nguyễn Bính chưa hề được đến trường ! ( Giống văn hào M. Goocki của Nga ?). Ông tự học theo người cha và người cậu. Thầy của ông là chim muông cỏ rả làng Thiện Vịnh xa xôi. Tuy nhiên, mọi thứ nào thay thế được mẹ ông.
Nguyễn Bính mồ côi mẹ nên đã mồ côi cả đất trời. Hình như ông đã lớn lên bằng cảm giác của Trần Tử Ngang – người đi dọc thơ Đường : “ Tiền bất kiến cổ nhân / Hậu bất kiến lai giả …( Trước không thấy người trước / Sau chẳng thấy người sau). Cảm giác ngồi một mình bơ vơ trên trái đất của Trần tiên sinh xưa không chỉ được Nguyễn Bính chia xẻ, mà đã thành phận số đời ông. Năm 1937, khi mới 19 tuổi, nhà thơ đã viết một bài thơ tuyệt vời “ Những bóng người trên sân ga” với tận cùng cô đơn kiếp người hay đến mức không còn có thể hay hơn nữa :
“ Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly”
Câu thơ viết ra gần 60 năm rồi, đã sống và chết theo bao lớp người, theo bao trang giấy, qua bao nhiêu trào lưu hiện thực siêu thực, hiện sinh rồi cấu trúc, có vần với không vần, lạ thay, chưa có một ai nói về nỗi cô đơn kiếp người hay bằng câu thơ này của thần thơ Nguyễn Bính ? Hóa ra, cái hình ảnh giản dị và xúc động tận cùng kia, cái dáng người một mình đưa tiễn bóng mình kia, cho đến muôn đời vẫn cứ còn mới mãi, thấm thía và rung cảm mãi.
Nguyễn Bính với cảm quan thiên phú, một trực giác của thảo mộc chim muông, đã biết cách tiễn mình đi vào thi ca bằng lối đi của con bướm dưới gốc hòe Trang tử ! Cái dáng “Chân bước hững hờ theo bóng lẻ” kia không biết mình đang tiễn bóng hay bóng đang tiễn mình ? Với triết học bản thể, câu thơ “ một mình làm cả cuộc phân ly” không chỉ là biểu tượng sinh động, kỳ vĩ, mà còn là một khơi gợi, một phát hiện tâm linh trong hình trình nhập thể nhân loại. Chúng tôi tin rằng, câu thơ này của Nguyễn Bính còn theo ta tới cuối cuộc đời, đến nơi ta chia ly chính bản thân mình để vào vô tận.Viết được những câu thơ có thể sánh với bất cứ thơ Tây Tầu nào hay nhất, ai bảo thơ Nguyễn Bính không hiện đại ?
Thế mà từ năm 1941, năm ra đời cuốn “Thi nhân Việt Nam”của Hoài Thanh, đã có khá nhiều bài viết, nhiều khảo luận về thơ, khi nói về Nguyễn Bính, đều ăn theo lối kết luận phiến diện của Hoài Thanh Hoài Chân cho Nguyễn Bính là thơ nhà quê, chân quê, đồng quê, quê mùa…
Nói về Nguyễn Bính theo trường phái Hoài Thanh mới chỉ nhìn nhà thơ ở phần nổi, phần xác chữ nghĩa mà chưa đủ tầm đi sâu vào hồn thơ rất cổ điển, lại rất hiện đại của Nguyễn Bính làng Thiện Vịnh, huyện Vụ Bản, Nam Định kia ( huyện Vụ Bản còn là quê hương của một thiên tài thi nhạc khác đồng thời với Nguyễn Bính là Văn Cao)
Nguyễn Bính đi tận cùng dân tộc để thành hiện đại : thơ ông phần xác còn mang nâu sồng ca dao nhưng phần hồn đã vươn tới cõi hiện đại vô cùng nhân loại vậy ! Chúng tôi không muốn nói đến “chủ nghĩa hiện đại” phương Tây mà Việt Nam hầu như không có, nên không coi tính hiện đại của thơ chỉ lụy vào con chữ, vào cái bí hiểm cung quăng không thể hiểu, vào cái siêu thực nằm ngoài cảm nhận, mà chỉ đánh giá thơ qua cái sự hay, sự xúc cảm của nó, của nghĩa bóng thơ luôn cất cánh từ nghĩa đen như những câu thơ hay của thi hào Nguyễn Bính mà thôi !
Cho nên, với chúng tôi, hiện đại hay không hiện đại cốt ở hồn thơ, ở nỗi cảm nỗi hay của nó mà thôi. Những câu ca dao và thơ cổ hay nhất của văn học cha ông ta ai bảo không hiện đại nào ? “Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu lời đắng cay” của ca dao hiện đại quá đi chứ ? “ Có thì có tự mảy may / Không thì cả thế gian này cũng không” của thơ Lý Trần hiện đại quá đi chứ ? “ Cái quay búng sẵn trên trời / Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” của Ôn Như hầu hiện đại quá đi chứ ? “ Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao” của Nguyễn Du hiện đại quá đi chứ ? “ Hoa thì hay héo cỏ thường tươi” của Nguyễn Trãi hiện đại quá đi chứ ? “ Hồn cô cát bụi kinh thành / Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe” của Nguyễn Bính hiện đại quá đi chứ ?
Hầu hết thơ Nguyễn Bính dưới cái vỏ chân quê giản dị hiền lành như ca dao, nhưng giấu ẩn sức nghĩ, sức cảm, sức gợi vô cùng tận, hiện đại vì nó hay ở mọi lúc mọi thời. Viết về cái đẹp của sự trống vắng, gợi ra, vẽ ra được cái vẻ tôn giáo của hư vô tồn tại ngay trong lòng cái hữu hạn, phỏng có nhà thơ tiền chiến qua mặt được câu thơ này của Nguyễn Bính :
“Giếng thơi mưa ngập nước tràn
Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều”
Nỗi trống vắng vô chủ của ba gian nhà trong câu thơ, đã được xúc cảm đẩy từ cái cụ thể thành cái vô biên : nỗi trống vắng và vô chủ của đất trời. Mượn nỗi hoang vu bé mọn của nắng chiều trong căn nhà nhỏ để tả nỗi hoang vu vũ trụ, cũng là nỗi hoang vu muôn thuở hồn người, lục bát Nguyễn Bính hiện đại lắm ru !
Khi Nguyễn Bính tả nỗi cô đơn đến rêu mốc bí mật của kinh thành Huế, cũng để nói vế vẻ huy hoàng tàn phai, hay chính là hồn suông thi nhân mượn cả hoàng thành mà hiu quạnh :
“Thâm u một giải hoàng thành
Đình suông con én không đành bay đi” ( Vài nét Huế)
Con én tân thời không nỡ bỏ cái hoang phế hoàng thành bay đi hay chính là cái níu kéo của hiện tại với quá khứ ? Cái chấm én mọc lên như một cái mầm, cái chồi của lẻ loi, khiến vẻ tàn phai càng tàn phai hơn nữa. Ngoảnh lại cố đô, con én thi ca mà Nguyễn Bính đính lên từ độ ấy, vẫn không đành đoạn bay đi, như thể loài chim thơ ấy vẫn còn là tình nhân bao thời đại đã đi qua !
Trí tuệ thơ Nguyễn Bính là trí tuệ sương mù, của hoa bướm của lửng lơ mây khói. Chất sang trọng hàn lâm giấu trong lục bát nâu sồng Nguyễn Bính như hồn sen giấu trong bùn, ghé mắt vào ta sẽ thấy hoa sen :
“ Hồn anh như hoa cỏ may
Một chiều cả gió bám đầy áo em”
“ Buồng hương bóng bóng mình mình
Gió hiu hiu hắt qua mành mành hoa”
Bên cạnh những bài lục bát nổi tiếng : “Tương tư”, “Lỡ bước sang ngang”, “Người hàng xóm”…ông còn những bài lục bát hiện đại khác : “”Lửa đò”, “ Vũng nước”, “ Qua nhà” và “Thời trước”…
Khi đánh giá thơ tiền chiến nói chung và Nguyễn Bính nói chung, người ta đã thừa nhận sự vượt trội của thơ lục bát Nguyễn Bính nhưng chưa thấy trong thể thơ bảy tám chữ, Nguyễn Bính cũng chẳng kém cạnh bất cứ thi nhân hàng đầu nào cùng thời với ông.Trong thể loại mượn cảnh tả tình, Nguyễn Bính đã có bài thơ vào hàng tuyệt tác là bài “Xuân về” có thể đứng ngang hàng với các bài hay nhất của Hàn Mặc tử và Huy Cận. Về thể hành, bài thơ “Hành phương Nam” của ông không hề hổ thẹn đứng bên cạnh bài tuyệt bút “Tống biệt hành” của Thâm Tâm. Viết về đất thần kinh xứ Huế, xưa nay chưa thấy bài nào hay bằng bài “Xóm Ngự viên” của Nguyễn Bính ? Ông đã làm sống lại thời vang bóng bằng câu thơ hay đến ma quái :
“ Sớm đào, trưa lý, đêm hồng phấn
Tuyết Hạnh, Sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên”
Hai câu này có thể ngang với câu vi diệu của Xuân Diệu :
“Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh” ( Nguyệt Cầm)
Hãy đọc lại hồn thơ bi hùng ngang trời lệch đất Nguyễn Bính như “ Giời mưa ở Huế”, “Xuân tha hương”, “Oan nghiệt”…ta thả mình vào nỗi quằn quại như mất cả hình hài, đau thương dữ dội và đồng bóng, để chia xẻ với nỗi vong thân, vong quốc của lớp thanh niên trước 1945. Những bài thơ “ Cô hái mơ”, “Trường huyện”, “ Hoa và rượu”…là những bài thơ đẹp nhất thơ tiền chiến của Nguyễn Bính. Đâu đây ta nghe có hơi Huy Cận trong hồn thơ “ một trời quan tái” Nguyễn Bính :
“ Chênh vênh bóng ngả sầu lau lách
Chiều ngái hương rừng lối nhạt son”
Cái hơi Đường thi từ Huy Cận đi lạc vào Nguyễn Bính rất sang trọng, quý phái : “ Áo bào nguyệt bạch ngựa kim ô” hay đấy, siêu đấy nhưng không phải mạch chính của thơ ông. Cái hơi, cái hồn, cái vía Nguyễn Bính là ở những câu thơ rất Việt rất hay như :
“ Một con diều giấy không ăn gió
Õng ẹo chao mình xuống vệ đê”
Có hàng trăm người viết về tơ liễu từ thơ Đường đến Nguyễn Du, nhưng chưa ai hay bằng Nguyễn Bính tả liễu :
“Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh
Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ”
Chỉ bằng từ “chảy”, Nguyễn Bính không chỉ hiện đại hóa thơ mình, ông còn làm mới cả hồn tơ liễu nghìn năm. Nguyễn Bính làm thơ rất bản năng, thậm chí như vô thức. Số lượng câu thơ hay của ông nhiều hơn bất cứ nhà thơ tiền chiến nào khác. Những câu thơ bất ngờ, hiện đại tới cùng này ai bảo Nguyễn Bính không mới :
“ Ở đây vô số những trời xanh”
Lối viết này Tây hơn cả Tây !
Hoặc quá ngạc nhiên khi ta đọc :
“ Xe ngựa chiều nay ngập thị thành
Chiều nay nàng bắt được trời xanh”
Hay :
“ Giời mờ ngao ngán một loài mây”
Xin lỗi, nếu ai trích được một câu của trường phái “tân con cóc” “ tân siêu thực” của Việt Nam hay ngang những câu này của Nguyễn Bính, tôi xin thưởng ba vạn chín nghìn con kiến,một trăm con voi !
Trong dòng thơ tiền chiến, chúng tôi bao giờ cũng biết cách tôn kính Thế Lữ, ngả mũ trước Xuân Diệu, thán phục Huy Cận, kinh ngạc trước Hàn Mặc tử, mơ mộng sầu thương cùng Lưu Trọng Lư, Hồ Dếnh…Nhưng chúng tôi bao giờ cũng dành cho Nguyễn Bính trọn niềm yêu mến, không chỉ là tấm lòng hậu sinh với bậc tiền bối, mà còn vì tình yêu của độc giả mấy chục năm trời với thơ ông.
Chỉ tính gần chục năm lại đây ( năm 1995khi
tác giả viết bài này) theo thống kê tạm thời của một số nhà xuất bản, thơ Nguyễn Bính đã in và phát hành tới số kỷ lục hàng triệu bản. Qua bao thăng trầm, Nguyễn Bính vẫn là nhà thơ số một được độc giả Việt Nam hâm mộ nhất sau Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi).
Ba mươi năm đã qua ( kể từ năm tác giả viết bài này 1995)từ buổi trưa ngày 30 tết ấy, có lẽ hình ảnh đọng lại trong mắt thi hào Nguyễn Bính là vườm thuốc nam nhà ông Tân Thanh hay một loài mây, hay loài bướm trắng nào vừa chìm xuống đáy ao trước khi ông bụng không hạt cơm ngã xuống trong hôn mê và trong cơn đói vĩnh cửu ? Chỉ biết rằng thi ca ông đã thành vị thuốc nam chữa lành nỗi đau và niềm hư vô kiếp người.
Ông không tìm lối xuyên tường đưa thơ Việt vào hiện đại như ai đó. Thơ ông thẩm thấu qua trời sương khói, qua hồn ca dao, qua Truyện Kiều đưa nâu sồng lục bát quê hương vào hiện đại. Xin đọc lại một câu thơ Nguyễn Bính :
“ Xót xa một buổi soi gương cũ
Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền”
Ôi những mắt chữ điền bị thời gian xô lệch muôn năm cũ, xin về đây soi lại chiếc gương thi ca hiện đại muôn sau Nguyễn Bính.,.
Sài Gòn 28-12-1995
T.M.H.

Nghi vấn tỷ phú Trung Quốc đang giấu kho nhôm khổng lồ tại Việt Nam

clip_image001

Theo Dịch Vụ Thông Tin Thương Mại Toàn Cầu (GTIS) chuyên theo dõi các hoạt động thương mại trên thế giới, Việt Nam là đích đến của 91% lượng xuất khẩu phôi nhôm. (Ảnh minh hoạ)

Kho nhôm lớn nhất thế giới vừa được vận chuyển tới một cảng biển Việt Nam trong khi cách đây vài tháng còn nằm phủ bạt ở một hoang mạc của Mexico.

Theo một phóng sự điều tra của tờ Wall Street Journal, phần lớn số hàng này đang được phủ bạt đen, canh giữ bởi nhân viên an ninh tuần tra bằng xe máy, mang theo dùi cui ở một nhà máy trong khu cảng Vũng Tàu.

Theo nguồn tin này, hàng loạt động thái bất thường trong xuất nhập khẩu nhôm giữa Trung Quốc, Mỹ, Mexico và Việt Nam đều có liên hệ tới tỷ phú Trung Quốc Liu Zhongtian – người được cho là đang giấu 1 triệu tấn nhôm trị giá 2 tỷ đô la để thao túng thị trường.

Theo Dịch Vụ Thông Tin Thương Mại Toàn Cầu (GTIS) chuyên theo dõi các hoạt động thương mại trên thế giới, Việt Nam là đích đến của 91% lượng xuất khẩu phôi nhôm.

Trong một bài viết đăng trên tờ Wall Street Journal hồi tháng 9 năm nay, kho nhôm của Mexico hiện đang nằm ở Việt Nam có liên quan tới ông Liu Zhongtian, chủ tịch tập đoàn nhôm China Shongwang, người giàu có nhất Trung Quốc. Ông Liu bị các nhà quản lý thương mại nhôm cáo buộc là xuất khẩu nhôm sang Mexico để xóa nguồn gốc Trung Quốc của mặt hàng này. Mục đích là lợi dụng hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ và Mexico để trốn thuế, bởi vì nếu là sản phẩm của Trung Quốc, mặt hàng này sẽ bị đánh thuế tại Hoa Kỳ. Tỷ phú Liu và tập đoàn China Zhongwang đã bác bỏ cáo buộc này.

Mỹ áp đặt các sắc thuế rất cao đối với nhôm nhập từ Trung Quốc, thuế xuất chống bán phá giá lên tới 374% cho phôi nhôm từ Trung Quốc trong khi nhôm Việt Nam chỉ chịu mức thuế trên dưới 5%. Trung Quốc được cho là đang dùng Việt Nam để có thể hưởng thuế xuất ưu đãi này.

Việc giá nhôm giảm giá trên thị trường đã đe dọa ngành sản xuất nhôm của Hoa Kỳ, dẫn đến nguy cơ hàng loạt nhà máy có thể đóng cửa. Theo Infonet, việc Trung Quốc tăng sản lượng nhôm và không phải đóng thuế đúng mức, là một mối đe dọa đối với ngành sản xuất nhôm tại Hoa Kỳ.

Theo phóng sự của Wall Street Journal, hành trình của nhôm Trung Quốc được vận chuyển từ Mexico sang Việt Nam trùng hợp với thời điểm lượng nhôm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam và Mỹ tăng đột biến qua những cảng có liên hệ với tỷ phú Liu của Trung Quốc. Tuy nhiên người phát ngôn của tập đoàn China Zhongwang, Harriet Lau, bác bỏ là có bất kỳ liên hệ nào với kho nhôm khổng lồ tại Việt Nam.

Theo người sáng lập Harbor Aluminum Intelligence LLC, tổ chức nghiên cứu thị trường nhôm toàn cầu, được WSJ trích lời nói Vũng Tàu là cảng xuất nhập khẩu chính của Global Vietnam Aluminum, công ty Việt Nam duy nhất có khả năng quản lý kho hàng khổng lồ như vậy.

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/a/nghi-van-ty-phu-tq-dang-giau-kho-nhom-khong-lo-tai-vn/3625439.html

Chuyên gia: Việt Nam sẽ hoan nghênh dự luật Mỹ trừng phạt Trung Quốc

An Tôn / VOA

Thượng nghị sĩ Mỹ Marco Rubio nói những hàng động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông không có tính chính danh, đe dọa an ninh khu vực và thương mại của Mỹ. Ảnh: AP

Thượng nghị sĩ Mỹ Marco Rubio nói những hàng động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông không có tính chính danh, đe dọa an ninh khu vực và thương mại của Mỹ. Ảnh: AP

Một số báo Mỹ đưa tin Thượng nghị sĩ Marco Rubio hôm 6/12 đã đề xuất một dự luật đặt ra những hạn chế đối với các cá nhân hoặc pháp nhân tiếp tay cho hành vi hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông. Một chuyên gia ở Hà Nội cho rằng Việt Nam sẽ hoan nghênh dự luật này.

Dự luật của vị thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa đại diện bang Florida có tên “Đạo luật Trừng phạt Biển Đông và Biển Hoa Đông”.

Các biện pháp trừng phạt được đề xuất bao gồm cấm visa Mỹ đối với các cá nhân, pháp nhân Trung Quốc nào đóng góp cho các công trình đe dọa đến hòa bình trong khu vực, thực hiện trừng phạt các pháp nhân hưởng lợi từ các hoạt động trong trường hợp Trung Quốc có hành động quân sự hung hăng, yêu cầu lập phúc trình về những người liên quan đến các hành động có thể bị trừng phạt, và hạn chế viện trợ nước ngoài đối với những nước công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở các vùng biển này.

Diễn dịch một cách khái quát, dự luật sẽ nhắm mục tiêu vào nhiều đối tượng, từ nhân viên tuần duyên và hải quân Trung Quốc, cho đến các công ty xây dựng và đội ngũ ngư dân thực hiện việc tuần tra trá hình ở vùng biển xa xôi cách bờ biển Trung Quốc.

Ông Rubio nói những hàng động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông không có tính chính danh, đe dọa an ninh khu vực và thương mại của Mỹ. Ông nói không thể để an ninh của các đồng minh của Mỹ trong khu vực và các quyền lợi kinh tế của Mỹ bị ảnh hưởng vì những vi phạm các chuẩn mực quốc tế của Trung Quốc giữa lúc nước này theo đuổi mộng bá chủ ở Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Vị thượng nghị sĩ Mỹ từng tranh cử tổng thống nhấn mạnh: “Các hành động bất chính của Bắc Kinh ở các vùng biển này phải chấm dứt, và những biện pháp trừng phạt được đề xuất trong dự luật này sẽ buộc những kẻ vi phạm phải chịu trách nhiệm, và như vậy sẽ có tác dụng răn đe với những kẻ khác”.

Thượng nghị sĩ Rubio nói thêm rằng: “Phù hợp với luật quốc tế, không nên cho phép Trung Quốc can thiệp theo bất cứ cách nào với tàu thuyền, máy bay dân sự hay quân sự của tất cả các nước tự do sử dụng vùng biển và vùng trời ở Biển Đông và Biển Hoa Đông”.

Từ Hà Nội, Tiến sĩ Trần Công Trục nói với VOA việc một thượng nghị sĩ Mỹ đề xuất một dự luật như vậy là “nên có, nên làm”.

Vị cựu Trưởng ban Biên giới Chính phủ của Việt Nam chỉ ra rằng hoạt động xây đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông đã bị nhiều nước coi là gây hủy hoại môi trường và là “một tội ác đối với nhân loại”. Ông nói thêm nếu Trung Quốc dùng các đảo đó để cản trở tự do đi lại trên tuyến thương mại huyết mạch, đó sẽ là một vi phạm lớn đối với Công ước Luật Biển và các luật khác.

Tiến sĩ Trục cho rằng nếu dự luật được Quốc hội Mỹ thông qua, Việt Nam sẽ hoan nghênh:

“Nếu mà cái bộ luật của ông thượng nghị sĩ đặt ra những việc liên quan đó, rõ ràng đây là những tiếng nói hết sức có giá trị để bảo vệ lấy sự đúng đắn, thượng tôn pháp luật, và trừng trị những kẻ mà có thể đã có những hành động gây nguy hiểm cho loài người. Cái điều này tôi nghĩ Việt Nam chúng tôi sẽ hoan nghênh thôi. Nó là đóng góp chung cho cuộc sống, môi trường sống của nhân loại và đảm bảo cho nền hòa bình, an ninh khu vực, của nhân loại và lợi ích kinh tế chung của mọi người thì rõ ràng không có lý gì không hoan nghênh cả. Nếu như điều đó biến thành hiện thực, thì đó là sự đóng góp rất lớn cho nhân loại”.

Vị chuyên gia với kinh nghiệm 30 năm làm việc cho Ban Biên giới Chính phủ Việt Nam nhận định Trung Quốc sẽ phản ứng với dự luật vì nước này “đương nhiên tìm mọi cách để phản đối” các động thái “trái với ý đồ, trái với tính toán” của họ. Mặc dù vậy, ông Trục cho rằng khi Mỹ, Việt Nam và các nước có động thái “vì lợi ích chung, thượng tôn pháp luật” họ “không có gì phải quan ngại”. Theo ông, Mỹ và các nước cũng cần kêu gọi cộng đồng quốc tế ủng hộ những động thái như vậy.

Bà Bonnie Glaser, một nhà phân tích chính sách đối ngoại tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở thủ đô Washington, cũng cho rằng dự luật của ông Rubio là đáng hoan nghênh. Bà nói với tờ Foreign Policy rằng dự luật này nhắc nhở rằng Mỹ có nhiều công cụ có thể sử dụng để gây ảnh hưởng đến chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Bà nói ngay cả khi dự luật không được thông qua, nó vẫn có tác dụng gợi ý với chính quyền mới của Mỹ rằng các tiếp cận nhắm mục tiêu vào các cá nhân và công ty dính líu đến hoạt động quân sự, xây dựng và bồi đắp ở Biển Đông và Biển Hoa Đông sẽ có ích cho việc Mỹ đóng vai trò chủ đạo trong vấn đề này và khôi phục mức độ đáng tin cậy của Mỹ.

____

Mời xem bản tiếng Anh của dự luật: To impose sanctions with respect to the People’s Republic of China in relation to activities in the South China Sea and the East China Sea, and for other purposes.