Đàn Bà Hư Ảo (Sex và sự nổi loạn trong tâm khảm đàn bà)

Đàn Bà Hư Ảo

Giới thiệu

Đàn Bà Hư Ảo.

Bỏ qua những định kiến và chuẩn mực, tầng sâu nội tâm trong bản thể phụ nữ được phơi bày. Đằng sau áo váy, phấn son là khát khao cùng dục vọng luôn tìm cơ hội để bung tỏa.

Nguyễn Khắc Ngân Vi viết tiểu thuyết Đàn bà hư ảo bằng những trải nghiệm của người phụ nữ đương đại, phóng khoáng. Cô muốn nhân vật của mình được giải thoát khỏi những định kiến từ lâu đã ngầm áp đặt lên phụ nữ như một lẽ tất nhiên. Là đàn bà đâu chỉ có tam tòng tứ đức, đâu chỉ có phục tùng và cam chịu? Đàn bà cũng muốn yêu và được yêu theo cách của riêng mình.

Trải dài hơn hai trăm trang sách là những suy nghĩ miên man của An về cuộc sống và những người xung quanh cô. Lớn lên trong một gia đình đầy bạo lực và hỗn loạn, cái thứ gọi là “ký ức tuổi thơ” với An chỉ toàn đau khổ. Ở trong khoảng sâu hun hút của quá khứ có những trận say triền miên của cha và những giọt nước mắt vừa tủi hờn, vừa cam chịu của mẹ.

Mẹ cô oán hận người đàn ông mà bà lấy làm chồng nhưng không thể dứt bỏ ông ta. Cứ chia tay rồi quay đầu trở lại như vòng luẩn quẩn. An luôn cho rằng mẹ là người đàn bà yếu đuối. Bị ám ảnh bởi quá khứ đau khổ của mẹ, An quyết định trở thành hình mẫu hoàn toàn khác với bà, mạnh bạo và quyết liệt.

Với người cá tính như An, yêu là chấp nhận. Khi đã bước vào trong thế giới của cô đồng nghĩa với việc phải chấp nhận tất thảy ở trong đó, cả điều xấu lẫn điều tốt. Nhai không phải là người đàn ông đầu tiên An yêu, nhưng anh là người đầu tiên cô muốn chung sống. Đơn giản vì Nhai chấp nhận con người An.

Cô luôn cố tạo cho mình vỏ bọc mạnh mẽ, ngay cả với bác sĩ tâm lý của mình là Trang, An cũng dè dặt trong những cuộc trò chuyện. Sự yếu đuối là thứ An giữ cho riêng mình và cô đã cố gắng chế ngự chúng bằng rượu và những đêm say triền miên. Thay vì tìm cách thoát khỏi những ám ảnh của quá khứ, nhân vật chính lại tự tìm cách bi kịch hóa cuộc sống của bản thân.

Hoảng sợ trước hôn nhân của ba mẹ, An chưa bao giờ nghĩ tới chuyện kết hôn. Cô ở bên Nhai với vai trò vừa là bạn gái, vừa là tình nhân. Giữa cả hai vừa có tình yêu vừa có tình dục nhưng chẳng cần tới đám cưới. Họ có thể cùng nhau thoải mái đi ăn hàng mà chẳng cần lo đến việc nấu nướng, dọn dẹp nhà cửa hay những bộn bề mang tên gia đình.

Huyền, cô bạn thân của An lại sống theo thái cực khác, đậm chất truyền thống. Huyền yêu rồi kết hôn, hạnh phúc với vai trò người phụ nữ của gia đình, dẫu cho bên trong tổ ấm của cô có đôi lần dậy sóng. Với An cuộc sống của những người đàn bà như Huyền thật phù phiếm. Tại sao phải trói buộc hạnh phúc của mình với một người đàn ông và cuộc hôn nhân với anh ta?

An luôn cho rằng mọi người sống quanh cô là phù phiếm, nhưng chính cô cũng không thoát khỏi điều đó. Từ nhỏ, An đã bị ám ảnh bởi sự cô độc. Cô luôn cố neo vào các mối quan hệ và đó thành cái cớ để An tồn tại. Nhưng để vượt qua sợ hãi và ám ảnh, cách tốt nhất là tự mình đối mặt với nó. Đó chính là cô độc.

Tác giả Nguyễn khắc Ngân Vi

Là người phụ nữ trẻ nhưng Nguyễn Khắc Ngân Vi không ngần ngại khi viết về sex.

Sex trong Đàn bà hư ảo cũng giống như son phấn hay trang phục, nó là thứ “công cụ” để người phụ nữ giải phóng “cái tôi” của bản thân. Nhân vật của Ngân Vi không chỉ không dùng sex để đối thoại với người tình. Đó còn là “ngôn ngữ” mà phần nữ tính trong An dùng để đối thoại với chính mình.

Có thể nói Đàn bà hư ảo là cuộc trình diễn hoàn hảo của lối viết “dòng ý thức”. Không nhiều đối thoại, bằng ngôn ngữ “độc thoại nội tâm” từng góc khuất sâu kín trong bản thể của người phụ nữ được bộc lộ một cách thoải mái, không chút e ngại.

Nói như vậy không có nghĩa là Nguyễn Khắc Ngân Vi dùng sex để “câu khách”. Sex trong văn học là “con dao hai lưỡi” và tác giả hiểu rõ điều đó. Cô biết tiết chế khi đưa các chi tiết liên quan tới sex vào tác phẩm. Sự thông minh ấy biến sex trong Đàn bà hư ảo không trở nên dung tục.

 

Nữ nhà văn Pháp Evelyne Pisier, sinh 1941 tại Hà Nội kể về 4 năm ” cặp bồ” với Fidel Castro

Thụy Mi

Người tình cũ Fidel: Castro ghét cả Mác lẫn Lênin

Fidel Castro và Evelyne Pisier tại Cuba năm 1964. Ảnh tư liệu cá nhân.

« Một hôm Fidel đã cười thú nhận với tôi là chưa bao giờ ưa cả Lênin lẫn Mác với câu chuyện đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản ngu xuẩn, nhưng ông buộc lòng phải tiếp tục chấp nhận trợ giúp của Liên Xô ».

Evelyne Pisier sinh năm 1941 tại Hà Nội, hiện là nhà văn nữ và giáo sư đại học Pháp. Cha là Georges Pisier, quan chức cao cấp Pháp đóng tại Hà Nội thời Pháp thuộc. Sau khi Nhật chiếm Đông Dương, bà bị nhốt vào trại cải tạo bốn năm. Thiên tả và đấu tranh cho nữ quyền, năm 1964 bà có mặt trong đoàn sinh viên Pháp đến Cuba, và sau đó trở thành người yêu của Fidel Castro. Sau đây là bài viết của bà đăng trên Huffington Post ngày 27/11/2016 với tựa đề « Tôi 23 tuổi và bắt đầu cuộc tình kéo dài bốn năm với Fidel Castro ».

Sau thời thơ ấu và tuổi mới lớn đánh dấu bởi chủ nghĩa Pétain (1) và Maurras (2) của cha, tôi trở nên nổi loạn. Một sự nổi loạn đã dẫn tôi đến khuynh tả, chống chủ nghĩa thực dân và đế quốc, như nhiều người khác vào thời đó.

Từ cuộc biểu tình này sang cuộc biểu tình khác, chúng tôi chủ yếu tố cáo cuộc chiến tranh Algérie và Việt Nam. Và cũng như bao nhiêu người khác nữa, những người trẻ và ít trẻ hơn, từ Paris đến Santiago ở Chilê, từ California đến Đông Nam Á, qua châu Âu và châu Phi, chúng tôi đều nhiệt thành với cuộc cách mạng Cuba.

Và có cơ sở để nhiệt thành. Nghĩ đến khuôn mặt huyền thoại của Fidel Castro 26 tuổi đấu tranh chống nhà độc tài Batista tay sai của Mỹ, đến việc ông bị cầm tù, bài tự biện hộ « Lịch sử sẽ phán quyết tôi vô tội », về việc ông thành lập Phong trào 26/7, được trả tự do rồi đi lưu vong và cuộc đổ bộ tháng 12/1956 ; cho đến khía cạnh cũng huyền thoại không kém của Che Guevara trên chiếc tàu Granma ! Hơn một chục du kích bị hai ngàn lính của nhà độc tài mafia truy lùng. Và hai năm sau, họ đã khiến nhân dân nổi dậy và lật đổ Batista, dù chế độ này được Hoa Kỳ hỗ trợ.

Sau chiến thắng khó tin này, Fidel Castro tuyên bố : « Chủ nghĩa tư bản bóp nghẹt con người. Nhà nước cộng sản, với quan điểm toàn trị, bóp nghẹt quyền con người. Đó là nguyên nhân khiến chúng tôi không đồng ý với bên nào (…) Cuộc cách mạng này không mang màu đỏ, mà là màu xanh ô liu ». Ô liu, đó là màu đồng phục của du kích quân !

Vâng, có cơ sở để nhiệt thành. Fidel đề nghị dành ưu tiên hàng đầu cho giáo dục và y tế. Và chỉ trong vài năm, nạn mù chữ đã được giảm xuống, mọi người đều được chăm sóc y tế…Dễ hiểu vì sao Simone de Beauvoir (3), Jean-Paul Sartre(4), Agnès Varda (5), Chris Marker (6), Andy Warhol (7),François Maspero (8) và nhiều tên tuổi khác đều ngưỡng mộ.

Tôi đọc ngấu nghiến Federico Garcia Lorca (9) « Iré a Santiago en un coche de agua negra »…Tóm lại, tôi chỉ mơ được đến Cuba…Một giấc mơ đã trở thành hiện thực năm 1964 khi Liên đoàn Sinh viên Cộng sản (UEC) tổ chức cuộc du hành đầu tiên cho sinh viên Pháp đến Cuba, do Bernard Kouchner chịu trách nhiệm. Chúng tôi đáp xuống Santiago một hôm trước ngày 26 tháng Bảy, khi Fidel Castro, trước một đám đông ấn tượng, đọc một bài diễn văn dài cũng hết sức ấn tượng.

Tôi sắp 23 tuổi, và bắt đầu câu chuyện tình kéo dài bốn năm. Fidel là một người tình hết sức dịu dàng. Và ngay cả nếu tôi không có chọn lựa vì ông là một người hùng, quan hệ của chúng tôi dần dần thay đổi : chỉ cần ông cởi bỏ chiếc thắt lưng và vũ khí, tôi quên mất Lider Maximo  (Lãnh tụ tối cao), mà tự nhủ dù là Comandante (Tổng tư lệnh) hay là gì đi nữa, đó chính là người đàn ông mà tôi yêu.

Fidel Castro, lãnh tụ hào hoa.

Dù vậy, chúng tôi nhanh chóng bất đồng với nhau. Tôi không thể chấp nhận ở Cuba phụ nữ và nhất là những người đồng tính luyến ái bị đối xử tệ hại. Fidel cố trấn an tôi. Nhưng ông thở dài : giữa việc bị phong tỏa và hàng trăm mưu toan ám sát trong đó tôi đã từng chứng kiến, người Mỹ không để cho ông chọn lựa, trong khi ông rất ghét chủ nghĩa Stalin. Một hôm Fidel đã cười thú nhận với tôi là chưa bao giờ ưa cả Lênin lẫn Mác với câu chuyện đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản ngu xuẩn, nhưng ông buộc lòng phải tiếp tục chấp nhận trợ giúp của Liên Xô. Một quyết định làm tôi tuyệt vọng đồng thời lo ngại cho tương lai…

Ngoài ra, tôi từ chối tham gia du kích, một điều khiến tôi cảm thấy mặc cảm trong một thời gian dài. Và mặc cho ông nài nỉ, tôi vẫn không muốn sinh con cho ông và sống hẳn ở La Habana. Tôi quyết định mỗi mùa khai giảng đều trở về trường đại học ở Paris, mà không chắc là mình có lý hay không.

Nhưng chúng tôi thường xuyên viết thư cho nhau. Tôi thuyết phục ông mời mẹ tôi sang, ông làm ngay. Tôi luôn sợ hãi sau khi bà mất, và khi tôi trở về Cuba trong kỳ nghỉ, ông đón tôi với cùng một sự âu yếm luôn làm tôi hạnh phúc. Tôi cũng sung sướng vì sự tự do trong quan hệ chúng tôi : Fidel biết rằng tôi có những người tình – ông không nhắc đến bao giờ nhưng tôi biết rằng ông đều tỏ tường vì cơ quan tình báo có bổn phận phải báo cáo cho ông. Về phần Fidel, tôi cũng không nghi ngờ gì là giữa hai mưu toan ám sát, hai trận bão, hai mùa thu hoạch mía đường, ông vẫn gặp gỡ những người phụ nữ ông thích. Nhưng tự do, tự do…

Ngược lại, bất đồng chính trị giữa chúng tôi ngày càng lớn. Mặc cho thất vọng vì cái chết của Che và việc bắt giữ Régis Debray (10), tôi không chấp nhận được việc Fidel không lên án sự kiện Liên Xô xâm lăng Tiệp Khắc. Tiếp đó, vụ Padilla(11) và xử bắn tướng Ochoa (12) làm tôi và nhiều người khác ghê tởm.

Cho dù biết rằng đồng tính luyến ái là chủ đề duy nhất mà Fidel Castro tự nhận sai, và nay Cuba còn khá hơn một số nước khác trên thế giới, tôi không còn nhận ra « Hòn đảo ánh sáng » mà mình đã từng yêu mến đến thế, và công cuộc giải phóng quốc gia đã từng ngưỡng mộ.

Trong « Ngợi ca các chúa tể của chúng ta », Régis Debray viết về Fidel mà nay ông gọi là « Castro » : « Sự thay đổi tên gọi diễn ra không oán thù. Với nỗi buồn và trong im lặng, như sau một thất bại nội tại… »

Tôi hiểu, nhưng không thể nào bắt chước được. Đối với tôi, Castro không xóa nhòa được Fidel.

(Trong bài trả lời Journal du Dimanche sau khi Fidel Castro qua đời, cựu ngoại trưởng Pháp Bernard Kouchner, chồng cũ bà Evelyne Pisier cho biết : « Tôi và Fidel ganh với nhau. Một tối kia tôi khiêu vũ với Evelyne, Fidel muốn đưa cô ấy đi, tôi phản đối nhưng cuối cùng Fidel đã đạt mục đích ».

Kouchner nói thêm ông đã từng đặt câu hỏi với Fidel : « Tại sao anh không tổ chức bầu cử dân chủ tại Cuba ? Anh chắc chắn sẽ thắng và cách mạng càng mang tính chính danh ». Fidel trả lời rằng ông không muốn chiến đấu để có được dân chủ kiểu Mỹ.)

Chú thích :

(1) Philippe Pétain (1876-1921) : Thống chế quân đội Pháp. Chủ nghĩa Pétain về « Cách mạng quốc gia » là phát-xít kiểu Pháp, lẫn lộn lập pháp với hành pháp và tôn sùng cá nhân.

(2) Charles Maurras (1868-1952) : Nhà văn, nhà báo, chính khách Pháp, chủ trương « quốc gia hội nhập ».

(3) Simone de Beauvoir (1908-1986) : Triết gia, tiểu thuyết gia Pháp tranh đấu cho nữ quyền.

(4) Jean-Paul Sartre (1905-1980) : Nhà văn, triết gia hiện sinh Pháp, nổi tiếng với những tác phẩm như « Buồn nôn »…

(5) Agnès Varda (1928) : Nhiếp ảnh gia Pháp, đạo diễn nữ hiếm hoi của phong trào Làn sóng mới trong điện ảnh.

(6) Chris Marker (1921-2012) : Đạo diễn, nhà văn, nhà thơ, triết gia Pháp.

(7) Andy Warhol (1928-1987): Họa sĩ Mỹ nổi tiếng về Pop Art.

(8) François Maspero (1932-2015): Nhà văn kiêm dịch giả Pháp.

(9) Federico Garcia Lorca (1898-1936): Nhà thơ, kịch tác gia Tây Ban Nha.

(10) Régis Debray (1940): Nhà văn, triết gia, giáo sư đại học Pháp, từng chiến đấu bên cạnh Che Guevara trong thập niên 60, bị bắt ở Bolivia năm 1967 và bị kết án 30 năm tù giam nhưng chỉ ở tù 4 năm rồi được thả nhờ cuộc vận động do Jean-Paul Sartre khởi xướng.

(11) Heberto Padilla (1932-2000) : Nhà thơ Cuba, bị tù và sau đó bị quản thúc vì các bài viết « chống chế độ ».

(12) Arnaldo Ochoa Sanchez (1930-1989): Tướng quân đội Cuba, bạn chiến đấu thân thiết của Fidel Castro, được phong « anh hùng cách mạng ». Bị tòa án quân sự kết án tử hình và xử bắn vì tội « phản quốc » cùng với ba sĩ quan khác, nhưng theo nhiều nguồn thì do anh em Castro muốn che giấu việc buôn lậu ma túy để kiếm ngoại tệ đồng thời dập tắt mầm mống đổi mới tại Cuba.

CHA CON THẾ LỮ- NGUYỄN ĐÌNH NGHI HAY LÀ “CHA VÀ CON VÀ…THÁNH ĐƯỜNG SÂN KHẤU

NGUYỄN THỊ MINH THÁI

Một-Mẹ cho con trai Thế Lữ tâm hồn đa cảm-Thế Lữ, tên thật Nguyễn Thứ Lễ, là kết quả mối tình lãng mạn giữa cha ông-một ký ga xe lửa “Tây học”, người làng Phù Đổng-TiênDu, Bắc Ninh, với mẹ ông, một thiếu nữ ngoan đạo người Hải Phòng theo Thiên Chúa giáo.

Nhà thơ Thế Lữ

Nhưng cuộc tình này bỗng thành trái ngang. Người thiếu nữ không được gia đình chàng kí ga công nhận.Thế Lữ còn ẵm ngửa, đã bị dứt khỏi vú mẹ, từ Hải Phòng, được bế lên theo cha làm chân kí ga ở Lạng Sơn, ở với bà nội và u, vợ chính thất của cha (mẹ ông đành cam phận lẽ mọn).

Cầm tinh con Dê, sinh năm Đinh Mùi 1907, bà nội gọi Thế Lữ, cháu nội đích tôn, là “con Dê núi”, bởi suốt ngày cậu Gầy (tên cúng cơm của Thế Lữ) chạy nhảy lêu lổng chơi bời theo đám trẻ con, hiếm khi nào chịu ngồi yên một chỗ. Tính cách ham chơi, hoang dại, lại mơ mộng buồn sầu từ bé của cậu Gầy-Thế Lữ, có lẽ  bắt nguồn từ cả một thời ấu thơ vắng bóng mẹ đẻ, cứ thế trôi qua trong cái xứ Lạng heo hút xa ngái, toàn núi núi non non, đầy những chuyện ma quỷ hoang đường, săn bắn tàn bạo, giết hổ, giết gấu, rồi chuyện Tây xử bắn nghĩa quân Đề Thám, lính khố xanh khố đỏ bắn giết tù nhân…đã in dấu thật đậm trong tâm hồn non dại của Thế Lữ.

Thế là xứ Lạng, nơi “mây nước cây rừng/nước non thanh sạch cách chừng phồn hoa”(thơ Thế Lữ) đã tự nhiên mà thành cả một-thế-giới- ấn-tượng-nguyên-sơ, khơi nguồn cho cái Đẹp trong các sáng tác về sau, nhất là các thi phẩm, khi Thế Lữ đã thành niên trong văn chương nghệ thuật, ngay từ bước khởi nghiệp “Thơ Mới”. Về cái xứ Lạng này, nhà phê bình văn học Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” đã có nhận xét thật ngộ: “Nơi sinh: Thế Lữ lấy làm lạ thấy người nhà nói là Thái Hà Ấp Hà Nội, còn thi sĩ cứ tưởng là Lạng Sơn, nơi đã ở từ năm còn bé đến 11 tuổi”…

Nhưng việc hình thành một tâm hồn đa cảm đủ sức đưa đẩy ông vào chốn đoạn trường văn nghệ, lại dường như bắt đầu từ cảnh sầu thương cứ lặp đi lặp lại mãi trong thời thơ ấu của Thế Lữ, cho đến năm 11 tuổi: Mẹ đẻ Gầy chỉ được mỗi năm một đôi bận, từ Phòng (Hải Phòng) ngược lên xứ Lạng thăm con đôi ba bữa ngắn ngủi, rồi lại dứt áo biệt Gầy về lại Phòng, trong chứa chan nước mắt nhớ thương. Ga tàu cách nhà non cây số, Gầy đưa tiễn, mẹ ngoái nhìn Gầy rồi bước vội lên tàu. Tàu thở hổn hển lăn bánh. Gầy nhớ mẹ quặn thắt cả lòng, chỉ biết phủ phục xuống đường tàu, vuốt ve sắt lạnh, thổn thức nghe tiếng còi tàu xa biền biệt, đem mẹ xuống tuốt luốt mãi Hải Phòng, chẳng biết bao giờ mẹ mới quay trở lại với Gầy?

Sau này, khi thành “kí giả kịch trường” của Tạp chí Sân khấu đóng đô tòa soạn ở 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội, có trụ sở thứ 2 ở TP HCM, 152/2 đường Nguyễn Trãi, năm1979, tôi được TBT Lưu Trọng Lư, sau đó là TBT Xuân Trình, biệt phái vào Sài Gòn ghi chép hồi ký cho cụ Thế Lữ, cựu chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Kể về thời bé dại ấy, ông còn rưng rưng nước mắt, nhớ không sót một ly. Lúc đó, ông đã qua tuổi thất thập xưa nay hiếm, người bé nhỏ ốm yếu, tóc trắng như cước, trên khuôn mặt hằn nếp nhăn tuổi tác, đôi mắt ông vẫn còn tinh anh, nhưng giọng nói đã run rẩy thì thào. Song, trí nhớ ông thật siêu việt, ông vẫn không thôi nhung nhớ xứ Lạng và trầm ngâm bảo tôi rằng, chủ đề chính của đời ông thời bé dại cho đến năm 11 tuổi là xa cách nhớ thương biền biệt người mẹ đẻ ở mãi dưới Hải Phòng. Ông hoài nhớ trong nghẹn ngào: cái lần đầu tiên mẹ đi khỏi, bà nội không cho Gầy đi tiễn, Gầy nằm bẹp trên phản gỗ, buồn rũ, vùng vằng bảo:“chả cần mẹ lên, lên rồi lại về, chán lắm!”(Gầy nói thế cốt để vừa lòng bà nội và u). Bà nội cười cười: “Ơ thằng Gầy khóc kìa!”.“Không!”- Gầy gắt lên. Bà lại cười nhẹ: “Thế cái gì ở trên mắt đấy?”- “Nước ở má chảy đấy, không phải ở mắt đâu!”- Gầy cãi.

Nhà viết kịch, đạo diễn Nguyễn Đình Nghi

Mẹ về Phòng,Gầy thấy xứ Lạng heo hút,quá chừng trống vắng.

Kể chuyện đời mình, chính Thế Lữ tự nghiệm sinh rằng nếu không có tình thương nhớ trong cách xa biền biệt ấy của mẹ con ông, không có cái xứ Lạng rợn người hiu hắt, vắng bóng mẹ suốt thời thơ ấu của ông, và mãi về sau, ông được mẹ đón về ở cùng tại Hải Phòng, chăm sóc, yêu chiều, thuận thảo tạo mọi điều kiện cho ông lên Hà Nội kinh kỳ để thỏa chí tang bồng văn nghệ, như tự bạch rất đỗi mơ màng của ông trong “Cây đàn muôn điệu”: Tôi chỉ là một khách tình si/Ham vẻ đẹp muôn hình muôn vẻ/ Mượn lấy bút nàng Ly Tao tôi vẽ/Mượn cây đàn ngàn phím tôi ca,thì sẽ chẳng bao giờ có một Thế Lữ với tài năng muôn mặt như khối vuông Rubic, phát sáng nhiều phương diện văn nghệ: từ thơ, đến văn xuôi, báo chí, hội họa, diễn viên kịch và đạo diễn sân khấu… và để cuối chót, ông đã tự tổng hòa thành người-sân-khấu, với biệt danh “Thế Lữ của sân khấu”, như tên bài viết đầu tiên của tôi về ông, đăng trên Tạp chí sân khấu số 6 năm 1977, nhân dịp Thế Lữ tròn tuổi 70 (1907-1977)…

Nhưng ông bố kí ga xa cách, lạnh lùng của Thế Lữ cũng để lại ở tâm hồn ông dấu ấn khắc nghiệt mà về sau, khi Thế Lữ làm cha, sinh con Nguyễn Đình Nghi, người duy nhất trong các con ông nối nghiệp cha, được ông đích thân giáo dưỡng, truyền nghề đạo diễn, Thế Lữ mới hiểu hết tình cha, trong lưng vốn tình cảm mà ông có được từ thuở ngây thơ xứ Lạng.

Cha Gầy đúng là xa cách, không thân mật với con trai, bởi cha làm sếp ga xe lửa tuyến Lạng Sơn-Thanh Hóa, theo tàu đi quanh năm suốt tháng, hiếm khi ở nhà. Gầy lắm tội, mỗi lần về nhà, cha nghe bà kể tội, liền lấy roi đánh. Gầy sợ đòn lắm, bởi cậu ham chơi, chẳng màng ăn uống, người gầy nhẳng, toàn da bọc xương. Với cha, Gầy như không có tình, chỉ thấy hãi sợ. Quan hệ cha con thưa thớt, sượng sùng. Nhưng Gầy nhớ mồn một dáng người cha tầm thước, ăn mặc bao giờ cũng chỉnh chiện, lịch thiệp, dù quần áo ta: áo dài là ủi phẳng phiu, ngoài khoác áo the, khăn đóng, tóc búi tó củ hành, để râu mép. Chữ Tây cha Gầy cũng thông mà chữ Ta cũng thạo. Được cha dắt đến nhiệm sở chơi, Gầy tròn xoe mắt nghe cha nói tiếng Tây làu làu. Cha Gầy lại viết chữ Nho rất đẹp, như rồng bay, phượng múa, tự tay viết Tam tự kinh cho Gầy học. Thú vui khiến cha Gầy dễ chịu nhất là về đến nhà, ngả lưng xuống võng đọc sách, sách Ta lẫn sách Tây,Tàu đều đọc thông cả. Bạn bè đến chơi đàm đạo vui vẻ, cha Gầy cao hứng nói cười sang sảng… Những kí ức xa vời về người cha nghiêm ngặt cứ thế đổ về ào ạt trong ông lão Thế Lữ đã ngoài bảy mươi…

Và ông ngậm ngùi tiếp: Tôi chỉ thương mẹ đẻ nhất, sau đến bà nội và u. Song, dù ít gắn bó với cha, tôi vẫn là con trai cả của ông và dường như tôi sau này cũng giông giống cha tôi trong đời tình ái.

Hai.Thế Lữ-Song Kim “Hai thỏi vàng hiếm hoi quý giá”

Tôi đã ngỏ lời xin lấy Song Kim làm vợ, khi tôi đã có gia đình, và cuốn Song Kim vào sống chung cả cuộc đời sân khấu mấy chục năm của tôi. Tôi yêu Song Kim trong tình sân khấu sâu đậm, cho đến sau ngày giải phóng, năm 1979, tôi phải xa lìa Song Kim, vào TP HCM ở với bà cả, cũng  để bù đắp bao năm xa cách, kể từ khi bà ấy cùng 3 người con xuống tàu đi Nam năm 1954. ( Thế Lữ lấy vợ từ năm 17 tuổi, có 4 người con: Nghi-Tâm-Học-Tùng.Với bà Song Kim không có con). Năm 1947, Thế Lữ đưa theo con trai cả Nguyễn Đình Nghi và người vợ nghệ sĩ Song Kim lên chiến khu Việt Bắc theo cụ Hồ kháng chiến chống Pháp, bằng công cụ văn nghệ, cũng chính là tình yêu, là tài năng duy nhất mà ông có: đó là kịch nghệ, với cương vị đạo diễn, phụ trách đoàn kịch Chiến Thắng của Thủ đô gió ngàn.

Là người rất đa tình, đa cảm, ông già Thế Lữ mặt sáng bừng nhớ lại mối tình nghệ sĩ giữa ông và bà Song Kim. Thưở ấy, những năm 30 của thế kỉ 20, kịch Tây du nhập vào Việt Nam theo nhiều ngả đường “Việt hóa”. Lúc ấy, Thế Lữ đã thành danh ở môi trường văn chương, báo chí  Hà Nội, mà vẫn chưa thỏa chí tang bồng văn nghệ. Ông đã buông bỏ hết cả Thơ Mới, truyện ngắn lãng mạn kiểu Tự Lực Văn Đoàn (ông có chân trong văn đoàn này), tiểu thuyết trinh thám “đường rừng”…và các chuyên mục báo chí mà ông “giữ gôn”, để đến với kịch nghệ, một cõi bờ mới lạ chưa ai khai phá ở Việt Nam, vốn là loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu chuyên nghiệp,  lấy diễn viên sắm vai kịch làm trung tâm, dưới bàn tay dàn dựng của đạo diễn. Thế Lữ đã vào nghề đạo diễn trong hoàn cảnh Việt Nam còn là thuộc địa của Pháp nên không được qua trường lớp đào tạo chính quy nào về kịch nghệ, ông chỉ có duy nhất con đường: tự học, tự đọc, tự hành nghề kịch. Ông không tự gọi mình là “đạo diễn”, chỉ khiêm tốn nhận mình là “nhà dàn cảnh”. Có điều ở ông rất khác người: ông đã làm kịch bằng con mắt và tấm lòng của nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà mỹ thuật, và nhà bình luận văn chương tinh tế. Bấy nhiêu của nả tự thân ấy của tài năng Thế Lữ đã khiến ông cho ra đời rất mát tay những ban kịch của ông: Tinh Hoa, Thế Lữ, Anh Vũ…và tập hợp được rất nhiều khuôn mặt nhà văn, nhà thơ, kí giả, những thiếu nữ, thiếu phụ, nam thanh nữ tú yêu kịch…đã tình nguyện và mê say đến với ban kịch của ông, để được lên sân khấu diễn kịch.

Thế Lữ quả là người từng trải, có con mắt xanh.Trong quá trình  dàn cảnh cho các vở diễn thuộc các ban kịch của mình, buộc phải tìm kiếm diễn viên, ông đã tình cờ phát hiện một tài năng diễn kịch, chính là Song Kim, sau đã thành mối tình sân khấu sâu sắc nhất của ông, không chỉ với tư cách người chồng, mà lớn hơn, với tư cách đạo diễn với diễn viên kịch của mình. Sau này con trai ông, NSND Nguyễn Đình Nghi cả đời cũng đã chỉ có một mối tình như thế: ông là thày-đạo-diễn dạy trò-diễn-viên Mỹ Dung và sau khi ra trường sân khấu, Mỹ Dung thành vợ Nguyễn Đình Nghi. Chồng tuổi Rồng, sinh 1928, vợ tuổi Rắn, sinh 1941. Tôi “tức cảnh sinh tình”, viết bài “Vợ chồng Rồng Rắn lên mây”, về đôi vợ chồng thành danh trên sân khấu, đúng như cặp đôi sân khấu của người cha Thế Lữ và mẹ kế Song Kim.

Trở lại với mối tình của Thế Lữ-Song Kim.

Thuở ấy, người Pháp không có ý định mở trường đào tạo nghề sân khấu cho người Việt, nên các công đoạn hình thành một vở kịch đều được nhóm họp và thực hiện theo cách “tài tử”, chơi chơi, nên người Hà Nội bấy giờ gọi cách đó là “chơi kịch”. Nghĩa là kịch không được coi là nghề nghiêm chỉnh. Người ta lấy kịch làm chơi nên sự thưởng thức của công chúng cũng như sự diễn kịch của diễn viên đều chăng chớ tùy tiện và ấu trĩ.

Kịch được diễn chỉ nhằm mục đích từ thiện, cứu trợ lũ lụt, hỏa hoạn, đói kém, chứ không vì mục đích nghệ thuật. Thế Lữ trăn trở day dứt trước tình cảnh kém cỏi thua thiệt ấy của thể loại kịch. Ông quyết định làm một cuộc cải cách diện mạo sân khấu kịch, đưa kịch về đúng bản chất nghệ thuật biểu diễn, cắt đứt với lối diễn kịch từ thiện của nghệ sĩ “chơi kịch” và lối xem làm phúc của công chúng kịch bấy giờ!

Ông tâm sự: “Cái tiếng “chơi kịch” bị ta hiểu theo một nghĩa tai hại là chuyện chơi bời. Không! Đây không phải là nghề chơi, với người làm nghề, cũng như người thưởng thức. Nghề kịch là nghề sáng tạo, đổ mồ hôi sôi nước mắt. Ở đó là kim cương, châu ngọc, đúc nên từ cõi sống giàu tâm linh tình cảm con người!”

Trong tâm thế cách tân đầy tinh thần đổi mới ấy, ông đã tìm ra một nhan sắc và một tấm lòng “vị sân khấu”, khi ông xem vở “Ghen” của Đoàn Phú Tứ, bất ngờ gặp cô Nghĩa, (tên thật của Song Kim là Phạm Thị Nghĩa, Song Kim là tên Thế Lữ đặt, khi cô lên sân khấu chính thức diễn kịch). Theo hồi ký Phạm Duy, Nghĩa là cô của Thái Thanh, Phạm Đình Chương, Thái Hằng. Cô Nghĩa từng học trường nữ học Ác măng Rút xô (Armand Rousseau). Năm 20 tuổi Nghĩa đã là cô giáo, chơi rất thân với mấy bạn gái, đều thích sân khấu, mơ thành diễn viên kịch và đều được mời vào ban kịch Tinh Hoa của Thế Lữ: Khánh Vân, Minh Trâm, Lan Bình (sau là vợ nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát). Cô Nghĩa thích theo bạn xuống tận Hải Phòng xem kịch của Thế Lữ và cái tư thái xem kịch, lòng yêu kịch mê mệt, và cái dung nhan rất sân khấu của cô đã lọt vào mắt xanh Thế Lữ, khiến ông tiên cảm đây là tài năng diễn kịch chưa phát lộ. Và ông thấy mình như phải lòng người thiếu nữ mê kịch này. Năm 1938, Thế Lữ viết thư nhờ cô Lan Bình chuyển cho Nghĩa, mời vào vai cô Mão trong vở “Gái không chồng” (kịch bản Đoàn Phú Tứ) do ông đạo diễn ở Hải Phòng và sắm một vai trong đó. Vở gây tiếng vang lớn khi diễn ở Nhà hát Lớn Hải Phòng năm 1938.

Sau vai kịch đầu đời rất thành công, cô Nghĩa được Thế Lữ đặt nghệ danh sân khấu Song Kim, vào tiếp hai vai kịch hết sức đặc sắc, dưới sự dàn tập của đạo diễn Thế Lữ. Song Kim lúc này đã đủ quyết tâm dứt gia đình và dứt đứt cả những thành kiến xã hội bấy giờ với nghề “con hát” để dốc lòng làm sân khấu một cách chuyên nghiệp. Sau đó, Song Kim sắm tiếp vai chính trong hai vở “Sau cuộc khiêu vũ” và “Ông ký Cóp”. Rồi không thể biết ngọn lửa tình cháy lên từ lúc nào giữa người dạo diễn lịch thiệp tài hoa, kỹ tính, cẩn trọng và quyết đoán với cô thiếu nữ Hà Đông yêu kịch? Chủi biết vào một ngày đẹp trời, trong một bộ cánh rất lịch sự, Thế Lữ mang một bó hoa tím đến gõ cửa nhà Song Kim cuối năm 1938, đề nghị nhã nhặn “xin được kết hợp với em, hai thành một trong cuộc đời này”.Thế mà người thiếu nữ Hà Đông ấy còn vui tươi và ngây thơ hỏi lại: “Để làm gì hả anh?. Và được Thế Lữ đáp trả tha thiết, ngọt ngào: “Để cùng sẻ chia, an ủi cho bây giờ cho mai sau, và cho sân khấu đến hết cuộc đời này”. Ông đã nói, đã làm như thế với bà suốt nửa thế kỷ và đã nhớ nhung bà cho đến khi về cõi!

Cho nên, làm kịch với Thế Lữ, bao giờ Song Kim  cũng vững tâm vào vai kịch được Thế Lữ lựa chọn cho mình. Nếu phân vai cho cô hoặc cho bất kỳ ai, Thế Lữ cũng tính toán thật chính xác, không một lần nhầm lẫn. Ông biết rõ diễn viên có thể đóng vai hợp với sở trường, hoặc những vai cao hơn cái “tạng” vốn có của mình. Ông gọi đó là những vai tính cách, trái hẳn với sở trường, bởi chính bản thân ông chứa đựng hài hòa hai nghề nghiệp trái ngược: Thế Lữ-đạo diễn và Thế Lữ-diễn viên.

Trong vở “Lọ Vàng”, Song Kim được Thế Lữ phân vai Vú Nhè, đã từ ngạc nhiên đến sửng sốt, từ chối nhiều lần, cho mình không thể đảm đương nổi vai một vú già nhà quê, khác quá xa cái tuổi ngoài 20 của người thị thành. Vả lại hình dáng bất lợi của một vú già nhà quê trên sân khấu khiến Song Kim không thú vị. Nhưng kết quả thật trái với mặc cảm của nữ diễn viên trẻ. Sau vai Phán Bà làm Thế Lữ rất hài lòng, Vú Nhè là vai kịch xuất sắc, gây ấn tượng mạnh và biểu lộ sáng rõ tài nghệ diễn xuất độc đáo của Song Kim. Song Kim đã thật sự học được ở Thế Lữ lối diến kịch tả chân, lấy sự chân thực làm đầu trong vai kịch. Thế Lữ cho đóng kịch là sống chí thiết với vai kịch chứ không phải làm trò giả vờ. Câu trách móc mà Thế Lữ coi là nặng lời nhất với diễn viên kịch của ông là: “Đóng vai thế người ta bảo là giả đấy”. Để có được sự thật nghệ thuật của vai diễn và đạt tới chủ nghĩa hiện thực tả chân trên sân khấu, Thế Lữ đi sâu vào cuộc sống, để quan sát, trắc nghiệm và tinh lọc lấy cái thần của sự vật và con người, để đưa lên sân khấu trong xử lý vở diễn và vai diễn. Cần đánh tổ tôm trên sân khấu, Thế Lữ đề nghị Song Kim học đánh tổ tôm, học lấy cái thần của điệu bộ chơi bài đem lên sân khấu. Đóng vai ông Ký Cóp, Thế Lữ cùng Vi Huyền Đắc đích thân xuống tận Tràng Kênh, Hải Phòng nghiên cứu hình dong một ông bạn quen mà Đắc cả quyết đấy là người có vẻ ngoài của Ký Cóp trăm phần trăm! Ghi lấy dáng dấp cử chỉ của người đó, Thế Lữ mài sắc đặc điểm ấy với diễn xuất điêu luyện. Học từ Thế Lữ, Song Kim có cách phát âm sân khấu đẹp và truyền cảm sâu sắc, bởi Thế Lữ nghiêm ngặt yêu cầu một”nghệ thuật thốt lời” rõ ràng mạch lạc, tròn vành rõ chữ khi nói lời kịch trên sân khấu. Diễn viên buộc phải hiểu thấu đáo ý ẩn, ý chìm của ngôn ngữ kịch và phải có tai thẩm âm của người sành nhạc. Mỗi chữ là một hạt ngọc không được để rơi rụng.Đối thoại của diễn viên phải từ đường biên sân khấu lọt thấu tận tai người khán giả ở hàng ghế cuối cùng trong khán phòng.

Không chỉ mình Song Kim được tạo tác từ Thế Lữ, với những vai kịch muôn màu: nào gái nhảy, bà vú già nhà quê, bà tư sản kếch xù, bà mẹ nhân hậu…, nhiều thế hệ diễn viên sau hòa bình do chính ông đào tạo và trưởng thành: Tuệ Minh, Thùy Chi, Trần Phương, Thu Hà, Giáng Hương, Chu Văn Thức, Mạnh Linh, Trần Tiến, Lệ Thanh…

Đặc biệt nhất, là con trai cả của ông: đạo diễn, NSND Nguyễn Đình Nghi. Tuy không phải mẹ đẻ Nguyễn Đình Nghi và không có mụn con nào với Thế Lữ, nhưng sự sát cánh cùng Thế Lữ tạo dựng sự nghiệp diễn xuất cho mình, sự nghiệp đạo diễn cho cả chồng lẫn con riêng của chồng, cặp đôi NSND Song Kim- Thế Lữ đã được bạn bè sân khấu quý trọng gọi tên xứng đáng là “hai thỏi vàng quý giá của sân khấu” hiện đại Việt Nam.

CON KIẾN THẮNG KIỆN CỦ KHOAI

Nguyễn Đình Cống

Ông Trịnh Vĩnh Bình, là người đã kiện chính phủ VN ra tòa án The Hague. Ảnh: internet

Ông Trịnh Vĩnh Bình, là người đã kiện chính phủ VN ra tòa án Trọng tài Quốc tế The Hague. Ảnh: internet

Con kiến là ông Trịnh Vĩnh Bình, người gốc Việt, có quốc tịch Hà Lan, sinh năm 1947. Củ khoai là Chính phủ, là Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

Đúng ngày 30 tháng 4 năm 2015, trong khi đang tưng bừng kỷ niệm 40 năm chiến thắng thì Chính phủ VN nhận được thông báo của Tòa Trọng tài quốc tế La Hay về vụ ông Bình kiện đòi bồi thường 1 tỷ đô la Mỹ vì CP VN đã cướp đoạt tài sản của ông và lật lọng, không chịu thực hiện các lời cam kết.

Tóm tắt câu chuyện như sau. Năm 1987, theo lời mời gọi kiều bào về xây dựng đất nước, ông Bình mang rất nhiều đô la về để lập các xưởng sản xuất hàng hóa. Ông đã nhờ bà con mua được gần 300 ha đất (3 triệu mét vuông) ở tỉnh Bà Rịa, xây dựng hai khu nhà xưởng sản xuất, mua 9 ngôi nhà ở Vũng Tàu và TP HCM, có một đội xe tải 12 chiếc, vốn lên đến nhiều chục triệu đô. Thế rồi vì không biết “Nhập gia tùy tục”, không biết tặng chút quà biếu nhỏ mọn, gọi là tình cảm cho các quan chức địa phương nên ông trở thành cái gai trong mắt họ.

Ban đầu họ tưởng ông có ô dù, có chỗ chống lưng ở Hà Nội nên chưa đụng tới. Sau khi biết chắc ông chẳng có ô dù nào cả, họ quyết ra tay. Năm 1998 ông Bình bị bắt, bị kết án 13 năm tù và tịch thu toàn bộ tài sản vì tội đưa hối lộ (nhưng không có ai chỉ ra người nhận) và phạm vào luật đất đai, chiếm đoạt tài sản XHCN. Năm 1999 tòa tối cao giảm án xuống 11 năm. Năm 2001 ông trốn thoát khỏi tù, chui rúc sang được Cămpuchia rồi tìm đường về Hà Lan.

Năm 2003 ông Bình gửi thư cho CP VN yêu cầu trả lại toàn bộ tài sản, nếu không trả ông sẽ kiện. Còn đâu nữa mà trả. Tài sản tịch thu được đem sung công rồi bán ngay với giá rẻ mạt cho những người nào biết được đến mua, số người này chỉ trong chớp mắt đã kiếm được gần ngàn tỷ. Thật là một vụ cướp đoạt ngoạn mục. Hà nội nghĩ rằng: “Lại một con kiến đi kiện củ khoai” và giữ im lặng.

Thế là ông Bình kiện Nhà nước VN ra tòa án quốc tế tại Stockholm, đòi bồi thường 100 triệu đô. Ông cũng công khai tuyên bố rằng số tiền được bồi thường sẽ được trích 90% để ủng hộ các cơ sở từ thiện tại VN. Lúc này Hà Nội mới tham vấn các luật sư quốc tế và biết rằng Tòa án quốc tế xét xử công bằng, không chịu một áp lực hoặc sự chỉ đạo nào hết và như vậy Nhà nước VN thua kiện là chắc chắn, vậy tốt nhất là thương lượng để hòa giải.

Hòa giải thành với điều kiện như sau: Ông Bình cam kết giữ tuyệt đối bí mật mọi thông tin. Nhà nước VN cam kết trả ngay 15 triệu đô và sẽ trả lại toàn bộ tài sản đã tịch thu trong vòng 10 năm (trước năm 2014). Mười lăm triệu đô đã được trả nhưng tài sản thì bị lờ đi trong im lặng. Họ nghĩ rằng, theo truyền thống của CSVN thì: “Để lâu cứt trâu hóa bùn”. Biết rằng không thể nào tin vào cam kết của chính quyền cộng sản, hơn nữa ông Bình thấy rõ bản chất của chế độ, thấy rõ lòng yêu nước của ông bị phản bội nên ông lại đưa đơn kiện, và lần này đòi bồi thường 1 tỷ đô.

Để tiến hành vụ kiện ông Bình đã thuê một nhóm luật sư giỏi của Mỹ, dự kiến chi phí cho vụ kiện và thuê luật sư lên đến trên 100 triệu đô (trên 2000 tỷ). Phía VN cũng đã thuê luật sư của Pháp để bảo vệ.

Mục đích chính của ông Bình không phải là đòi lại tài sản đã bị cướp đoạt, ông tuyên bố dùng số tiền đòi được chỉ để chi phí cho vụ kiện và làm từ thiện. Mục đích chính của ông là vạch ra cho toàn dân VN và thế giới biết rõ dã tâm của chế độ CS trong những việc cướp đoạt, vu khống, lật lọng, dối trá, sự phản bội những người yêu nước chân chính.

Ông Bình cũng đã đề phòng khả năng xấu nhất có thể xẩy ra, nên đã để lại Chúc thư cho người kế tục mình theo đuổi vụ kiện cho đến thắng lợi.

Bình luận: Trước đây, năm 2009 LS Cù Huy Hà Vũ đã kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vì cho Trung quốc vào khai thác bô xit ở Tây Nguyên. Kết quả LS Vũ bị bắt giam, bị kết án 7 năm tù (vì tội tuyên truyền chống phá nhà nước). Sau khi ngồi tù vài năm thì bị trục xuất sang Mỹ. Đây đúng là “Con kiến mà kiện củ khoai”. Còn bây giờ ông Trịnh Vĩnh Bình không kiện thủ tướng mà kiện Chính phủ, kiện Nhà nước kia. Trong dân gian, ngoài câu con kiến kiện củ khoai còn có nhiều câu khác hay hơn, trong đó có câu sau: “Nực cười châu chấu đá xe. Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng”. Ông Bình là con kiến càng đang gặm củ khoai, quyết không để nó đè bẹp, hay là con châu chấu voi dũng mãnh quyết đá nghiêng chiếc xe chở đầy tội ác.

Ở trong nước chế độ CS quen thói xử kiện theo bản án bỏ túi do lãnh đạo đảng quyết định mà bất chấp luật pháp. Đến khi ra thế giới mới biết rằng người ta chẳng coi sự lãnh đạo của đảng là cái gì, người ta xử theo luật pháp, vì vậy VN đã thua trong nhiều vụ kiện quốc tế. Một trong nỗi đau thua kiện là việc mất cả chì lẫn chài trong vụ kiện công ty hóa chất của Mỹ, chế tạo chất dioxin (da cam).Ông Thủ tướng đang kêu gọi xây dựng Chính phủ kiến tạo và liêm chính.

Vụ kiện của Trịnh Vĩnh Bình, Chính phủ VN bị thua, nhân dân lại è cổ ra đóng thuế để bù đắp. Không biết sau đó có mở mắt ra được chút nào không.

_____

Mời xem lại: Trịnh Vĩnh Bình kiện chính phủ VN đòi 1 tỷ USD (DLB). – Từ vụ kiện của ông Trịnh Vĩnh Bình, suy nghĩ về khả năng nạn nhân cá chết kiện Formosa & Hà Nội (BS).

Tổng thống Putin gọi ông Donald Trump là ‘người thông minh’

@bbc
Russian President Vladimir Putin
Tổng thống Nga Vladimir Putin hy vọng sẽ có quan hệ tốt với chính quyền Trump

Tổng thống Nga Vladimir Putin gọi ông Donald Trump là “người thông minh”, và sẽ “nhanh chóng hiểu” vai trò của mình.

Trong một phỏng vấn với kênh truyền hình nhà nước NTV, ông nói tổng thống Hoa Kỳ đắc cử “đã là một chính khách”.

Ông Putin cũng từng nói ông hy vọng chính quyền ông Trump sẽ giúp cải thiện quan hệ Nga – Hoa Kỳ.

Trong đợt bầu cử tổng thống, ông Trump gọi ông Putin là lãnh đạo giỏi hơn Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama – một nhận xét gặp phải nhiều chỉ trích ở Hoa Kỳ.

Ông Putin nói với kênh truyền hình: “Ông Trump là chủ doanh nghiệp và là thương gia. Ông ta đã là chính khách rồi, ông đứng đầu Hoa Kỳ, một trong những quốc gia hàng đầu thế giới.

“Ông ấy đã thành công trong kinh doanh, điều đó cho thấy ông ta là người thông minh. Và nếu ông ấy thông minh thì ông ấy sẽ hiểu đầy đủ và khá nhanh chóng mức độ khác của vai trò trách nhiệm. Chúng tôi cho rằng ông ấy sẽ hành động từ vị trí này.”

Hôm 01/12, ông Putin nói với chính giới cao cấp của Nga: “Chúng ta không muốn đối đầu với bất kỳ ai. Chúng ta không cần điều đó. Chúng ta không tìm kiếm và chưa bao giờ tìm kiếm kẻ thù. Chúng ta cần bè bạn.

“Chúng ta đã và đang hợp tác với chính quyền mới của Hoa Kỳ. Chúng ta chia sẻ trách nhiệm để đảm bảo an ninh quốc tế,” ông nói thêm.

Republican presidential candidate Donald Trump speaks to a caller on the other end of the phone line as volunteers man a phone bank prior to a rally on September 12, 2016.Image copyrightGETTY IMAGES
Image captionCú điện thoại tới châu Á gần đây của ông Donald Trump khiến một số quốc gia không hài lòng

Về quan hệ của Nga với phương Tây, ông Putin nói với NTV rằng những nỗ lực nhằm tạo ra thế giới đơn cực – mà trong đó một quốc gia có kinh tế, quân sự và áp đảo văn hóa – đã thất bại.

Vị lãnh đạo của Nga thường dùng câu này để cáo buộc Hoa Kỳ điều khiển các vấn đề toàn cầu.

Quan điểm của ông Trump đối với Nga cũng bị chỉ trích nặng nề trong thời gian vận động chiến dịch, và ông đã nói rõ rằng ông tôn trọng lãnh đạo Nga.

Phát biểu hồi tháng 9, ông nói ông Putin “có đa số kiểm soát đối với đất nước mình” và gọi tổng thống Nga là vị lãnh đạo giỏi hơn ông Obama.

Ông Trump nhận xét rằng ông Putin được “82% ủng hộ,” và nói: “Tôi nghĩ là khi ông ấy bảo tôi là tuyệt vời thì tôi cũng nhận lời khen thôi, ok?”

Trong giai đoạn tranh cử, quan chức tình báo Mỹ cáo buộc Nga gây ảnh hưởng lên kết quả bằng cách tấn công tin tặc Ủy ban Dân chủ Quốc gia.

Điện Kremlin phủ nhận cáo buộc này.

—————

Chính phủ Trump toàn triệu phú tỷ phú?

Ông Donald Trump là tỷ phú ngành địa ốc và khách sạnImage copyrightGETTY IMAGES
Image captionÔng Donald Trump là tỷ phú ngành địa ốc và khách sạn

Nội các Donald Trump là “của các triệu phú tỷ phú, do triệu phú tỷ phú và vì triệu phú tỷ phú”, cựu ứng viên tổng thống của đảng Dân chủ, Bernie Sanders nhạo trên Twitter.

Nhắc lại câu của Abraham Lincoln về chính phủ “của dân, do dân và vì dân”, ông Sanders đã thay ‘nhân dân’ (people) bằng “triệu phú, tỷ phú” để nói về chính quyền Donald Trump.

Ông Sanders, hiện là thượng nghị sỹ của bang Vermont cũng chia sẻ bức hình với tên tuổi các nhân vật được tổng thống đắc cử Donald Trump bổ nhiệm vào chính quyền liên bang sẽ nhậm chức từ cuối tháng 1/2017.

Theo bài trên BBC News, bản thân ông Trump có tài sản trị giá 3,7 tỷ USD, căn cứ vào số liệu của tạp chí Forbes.

Ông cũng làm chủ hơn 500 cơ sở kinh doanh.

Ngoài các khách sạn, dịch vụ tại Hoa Kỳ và Trung Đông, ông có cơ sở làm ăn và đầu tư ở cả Nam Mỹ, Ấn Độ.

Trung Quốc cũng có những mối làm ăn với ông Donald Trump.

Ngân hàng Trung Quốc (Bank of China) nắm 950 triệu USD khoản cho vay với một địa ốc tại New York mà ông Trump có cổ phần.

Ngân hàng Công thương Trung Quốc, do chính phủ nước này làm chủ, cũng có mặt bằng trong Trump Tower, và trên thực tế là trả tiền thuê cho Trump Organization.

Nhưng xem ra ông Trump còn “nghèo hơn” người được ông bổ nhiệm là Bộ trưởng Giáo dục, bà Betsy Devos.

Bà là con dâu của tỷ phú Richard DeVos, chủ mạng lưới Amway và tài sản của gia đình này lên tới 5,1 tỷ USD.

Ông Bernie Sanders nhắn trên Twitter 'bảng kê khai tài sản' các nhân vật cao cấp trong nội các TrumpImage copyrightTWITTER
Image captionÔng Bernie Sanders nhắn trên Twitter ‘bảng kê khai tài sản’ các nhân vật cao cấp trong nội các Trump

Người được ông Donald Trump đề cử vào chức Bộ trưởng Thương mại, Wilbur Ross, thì có tài sản 2,5 tỷ USD.

Theo những gì ông Sanders chia sẻ trên Twitter thì có lẽ Bộ trưởng Tư pháp tương lai, Jeff Sessions là “nghèo nhất”, chỉ có 7,5 triệu USD tài sản.