Phiếm luận: Từ Bá Nhạc đến Fidel Castro

Đào Hiếu

Những bóng hồng quanh Fidel Castro. Ảnh: Getty Images.

Những bóng hồng quanh Fidel Castro. Ảnh: Getty Imag

Mấy hôm nay có nhiều dư luận về cái chết của ngài Fidel Castro, về chuyện nhà nước Việt Nam quyết định để quốc tang, về chuyện ông Fidel này từng “ngủ” với 35.000 (ba mươi lăm ngàn) phụ nữ…(*)

Có người còn so bì rằng: Tại sao khi Bác Hồ thăng hà (chứ không phải “băng hà” nha quý vị) thì Fidel Castro lặn mất tiêu, chẳng thấy mặt mũi đâu, và các lãnh đạo khác trên thế giới cũng vắng mặt, chỉ có mỗi Xi-Hà-Núc của xứ Kampuchia là đến viếng tang… mà nay Fidel mất thì “quốc tang” với 21 phát đại bác? (**)

Túm lại là thiên hạ phản đối tùm lum. Toàn lũ phản động!

Riêng tôi, thì không phản đối. Mà còn ủng hộ hết mình vụ tổ chức quốc tang cho đồng chí Fidel Castro.

Tại sao không chứ?

Không cần biết đồng chí Fidel tài giỏi hay không tài giỏi. Không cần biết Fidel đã có công với Việt Nam hay không. Không cần biết Fidel đã làm được gì cho nhân dân Cuba, và có được họ yêu quý hay không… tôi cứ ủng hộ “quốc tang” cái đã. Cho chắc ăn.

Bởi vì ông là một thiên tài!

Thử điểm lại từ thời cổ đại cho tới bây giờ, các vị vua chúa, hoàng đế… đông tây kim cổ… mấy ai có khả năng quan hệ tình dục với 35.000 phụ nữ không? Đó là thiên phú, là xuất chúng, là vĩ đại, là báu vật của đời…

Ngay cả các triều đại phong kiến bên Tàu từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc, các vua chúa có đến tam cung lục viện… tổng cộng là 9 cung và viện. Nếu tính bình quân thì 9 cái kho tàng vô giá ấy, mỗi cái chứa 1.000 mỹ nữ, thì cũng chỉ có tròm trèm 9.000 chị em. Con số ấy so với 35.000 của đồng chí Fidel chỉ là đồ bỏ!

Bạn thấy chưa? Một người xuất chúng như thế mà khi chết đi, cả thế giới không làm quốc tang có phải là… quá vô lễ không chứ?

Thú thực, khi nghe con số 35.000 nọ, tôi đã phải sụm hai đầu gối, quỳ xuống, hướng về phía Vịnh Con Heo Nọc (tiếng Tây Ban Nha: Bahía de Cochinos) lạy ba lạy mà “xổ Nho” rằng:

– Thế hữu Fidel Castro, nhiên hậu hữu Cu-Ba.

Câu nói ấy không phải của tôi, mà là của Hàn Dũ (một nhà văn đời Đường).

Hồi còn sinh viên, học ở đại học văn khoa Sài Gòn, các giáo sư có dạy tôi tác phẩm Tạp Thuyết Tứ của Hàn Dũ, trong đó có câu: “Thế hữu Bá Nhạc, nhiên hậu hữu thiên lý mã. Thiên lý mã thường hữu, nhi Bá Nhạc bất thường hữu”. (Đời có Bá Nhạc, sau đó mới có thiên lý mã. Thiên lý mã thì dễ tìm, nhưng Bá Nhạc thì cực kỳ hiếm).

Bá Nhạc là một chuyên gia về ngựa, sống vào khoảng 770-500 TCN, họ Tôn tên Dương, ông chỉ cần nhìn qua con ngựa là biết nó hay dở cỡ nào. Ngựa của ông có thể chạy ngàn dặm không biết mệt, nó chỉ ăn thóc, không ăn cỏ. Khi chạy, nó toát mồ hôi đỏ như máu, nên người đời gọi ngựa ấy là “hãn huyết câu”.

Đời nay không có Bá Nhạc nhưng có Fidel Castro. Cho nên tôi mới bắt chước Hàn Dũ mà than rằng: ” Thế hữu Fidel, nhiên hậu hữu Cu-Ba”.

Tại sao vậy?

Cách đây ít hôm có một quái nhân vốn là facebooker với hỗn danh là Dung Trung Kqd, không biết hắn tra cứu ở đâu mà phán rằng trên đời này có một nước tên là Áo (Österreich), và cũng có một nước tên là Quần, nhưng vì nước Quần là một hòn đảo, nên lâu ngày bị sóng đánh tuột mẹ nó cái quần, vì thế mới “lòi” ra Cu-Ba, nói theo ngôn ngữ bác học là “Dương Vật Bố”.

Tư liệu lịch sử ấy làm tôi bừng tỉnh: Bởi vì một người có khả năng quan hệ tình dục với 35.000 phụ nữ, thì chắc hẳn phải là “dương vật bố”. Thế chẳng phải từ cái nickname ấy mà thiên hạ mới gọi nước Quần thành Cu-Ba sao? Thế chẳng phải là: “Thế hữu Fidel, nhiên hậu hữu Cu-Ba” sao?

Túm lại, giả thuyết của Dũng kqd và giả thuyết của tôi chưa chắc cái nào đúng, chuyện đó sẽ có các sử gia phán quyết.

ĐÀO HIẾU

_______

CHÚ THÍCH:

(*) Trong bài “THE COMMUNIST DICTATOR RUMORED TO HAVE BEDDED 35,000 WOMEN” (Nhà độc tài cộng sản được cho là đã lên giường với 35.000 phụ nữ), tác giả Michelle Nati của báo ODDEE viết như sau:

“You may have thought a pop star or actor would top our list of the world’s greatest womanizers, but you would be wrong. Cuban dictator Fidel Castro has supposedly slept with 35,000 women over his lifetime. According to one ex-Castro official, he was with at least two women a day for more than four decades, one for lunch, one for supper and sometimes he even ordered one for breakfast.” (Có lẽ bạn đang nghĩ đến một ngôi sao nhạc pop hoặc là một điễn viên điện ảnh đẳng cấp thế giới, nhưng bạn đã lầm. Chính nhà độc tài Fidel Castro của xứ Cuba đã ngủ với 35.000 phụ nữ trong suốt buổi sinh thời. Theo lời một cựu sỹ quan của Fidel thì ít nhất mỗi ngày ông “bụp” 2 em: một vào sau bữa ăn trưa, một vào sau bữa tối và thỉnh thoảng một em vào sau bữa ăn sáng. Và “quy trình” ấy đã kéo dài liên tục hơn 4 thập niên).

(**) Trong bài “THE DEATH OF HO CHI MINH” (tìm thấy trên FB Hoàng Ngọc Tuấn) có đoạn viết:

“On September 2, 1969, 79-year-old Ho Chi Minh died of heart failure. North Vietnamese government then invited world leaders to attend Ho Chi Minh’s funeral. The only non-Vietnamese head of state who attended the ceremony was Prince Norodom Sihanouk, the neutralist leader of Cambodia who was anxious to show his support for the Vietnamese Communists whom he believed would win the Vietnam war. (Vào ngày 2/9/1969, cụ Hồ Chí Minh đã chết vì bệnh tim ở tuổi 79. Chính quyền Bắc Việt đã mời những nhà lãnh đạo thế giới đến dự tang lễ nhưng chỉ có một vị nguyên thủ quốc gia đến dự, đó là hoàng thân Norodom Sihanouck, một nhà lãnh đạo trung lập của nước Campuchia, luôn muốn bày tỏ sự hậu thuẫn đối với những người cộng sản Việt Nam vì ông ta tin rằng họ sẽ thắng trong cuộc chiến.)

Trích Hồi Ký Tống Văn Công: Đến già mới chợt tỉnh

Viet-studies

 TRƯỚC KHI VÀO CHUYỆN

Tống Văn Công

Ảnh bìa Hồi ký Đến già mới chợt tỉnh

Ngày 25 tháng Hai năm 2014, tôi gởi “Lời Chia Tay Đảng Cộng Sản Việt Nam”. Sau đó, nhận được nhiều ý kiến rất khác nhau.

Giáo sư Tương Lai, nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Chu Hảo mừng cho tôi đã xong trách nhiệm của một đảng viên 56 tuổi Đảng. Nhà báo Kha Lương Ngãi, nhà văn An Bình Minh chia sẻ: “Như phải ly dị sau cuộc hôn nhân dài 56 năm, dù trút được gánh nặng, nhưng sao khỏi chút bùi ngùi”! Nguyên chủ bút báo Tin Sáng Hồ Ngọc Nhuận: “Đọc Lời Chia Tay, tôi rất vui, bởi nó đóng góp cho dân chủ hóa đất nước.” Nhà văn Thái Bá Tân đưa lên “phây” bài thơ tặng tôi có những câu: “… Trót đưa lên bàn thờ. Muốn hạ xuống cũng khó. Làm thế nào bây giờ? Một người vì lý tưởng. Hy sinh cả cuộc đời. Đến già mới chợt tỉnh. Đau, không nói nên lời. Con cháu những người ấy. Dẫu giỏi và thông minh. Cũng khó lòng hiểu hết. Cái đau cha ông mình”. Tiến sĩ, luật sư Lưu Nguyên Đạt sau khi kể tội kẻ từng là “cơ sở truyền thông của Đảng cộng sản” đã nhận xét “Quyết định bỏ Đảng của Tống Văn Công không quyết liệt, không sáng sủa như qua lời phát biểu của luật gia Lê Hiếu Đằng. Nó không đanh thép bằng lập trường thô bạo của một Dương Thu Hương.”

Về phần mình, từ khi được “mở mắt”, bắt đầu viết những bài góp ý với Đảng Cộng sản, lúc nào tôi cũng dặn mình chớ có nói năng như một kẻ vô can và phải tự biết mình “ngu lâu”, là “tội đồ”. Lúc nghe ông Nguyễn Văn Thiệu nói “Đừng nghe cộng sản nói, hãy nhìn cộng sản làm”, tôi cho rằng, nói như ông Thiệu chẳng thuyết phục được ai! Cho đến khi trải nghiệm chính sách của Đảng cộng sản qua các thời kỳ, đối chiếu thông tin nhiều chiều, mới xác nhận câu nói của ông Thiệu là có cơ sở! Vì vậy tôi nghĩ, phải viết như thế nào cho dễ lọt tai hàng triệu đảng viên chưa được “mở mắt” và không ít người bị nhồi vào não “ơn Đảng, ơn Bác”.

Với giọng nhẹ nhàng, nhưng tôi không lẩn tránh những đòi hỏi cấp bách dân chủ hóa đất nước, thực hiện các quyền dân sự và chính trị, tự do ngôn luận, tự do lập hội, nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, không cho phép Đảng đứng trên Hiến pháp, pháp luật. Chính vì vậy mà tôi bị Đảng cộng sản đưa ra kiểm điểm 15 lần trong không khí đấu tố. Cuối cùng, không chấp nhận một đảng viên dám “tự ý nói lời chia tay”, ngày 6 tháng Ba năm 2014, Đảng công bố quyết định: “Khai trừ đảng viên Tống Văn Công vì đã có rất nhiều bài viết phát tán trên mạng internet xuyên tạc chủ trương chính sách, truyền bá những quan điểm trái với Cương lĩnh, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam; mặc dù đã được phân tích, giáo dục nhiều lần, nhưng không sửa chữa, khắc phục mà vẫn tiếp tục sai phạm ngày càng nghiêm trọng hơn, không còn đủ tư cách đảng viên cộng sản”.

Ông Nguyễn Gia Kiểng – Tập hợp Dân chủ Đa nguyên, trong bài “Thời điểm để nhìn rõ Đảng cộng sản”, đã cho rằng: “Thực ra chúng ta không nên thù ghét Đảng cộng sản. Nó chỉ là một sản phẩm của lịch sử và văn hóa của chính chúng ta. Một dân tộc không có tư tưởng chính trị không khác một con tàu không phương hướng, mọi tai họa có thể xảy đến và cộng sản chỉ là một”.

Tôi đồng ý với nhận định này. Tôi “ngu lâu” là do những nguyên nhân lịch sử và văn hóa đó. Cha tôi đi theo cộng sản từ năm 1929. Làng tôi, quận tôi, tỉnh Bến Tre tôi có không dưới 80% số dân đi theo cộng sản, riêng nông dân có thể lên đến 90%. Nhìn lại vài hiện tượng trong lịch sử: Hầu hết những người trong nội các Trần Trọng Kim và các văn nghệ sĩ nổi tiếng thời tiền chiến đều đi theo Việt Minh. Nhiều cơ quan đầu não của Việt Nam Cộng Hòa bị tình báo cộng sản thâm nhập, nhưng không có ở chiều ngược lại. Ông Nguyễn Thành Nhân quận ủy viên quận Ba Tri bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa bao vây tứ phía, chạy thẳng vào nhà ông Tám Thương có hai con trai là lính Việt Nam Cộng Hòa, một người vừa bị Việt Cộng bắn chết. Vậy mà ông Tám Thương ôm chầm lấy Thành Nhân, đưa xuống hầm bí mật.

Rất nhiều trí thức xuất thân quan lại, có lập trường chống cộng, sau đó lại chấp nhận cộng sản: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo… Nhiều đảng viên cao cấp của Quốc Dân Đảng chuyển sang lập trường cộng sản như Trần Huy Liệu, Nguyễn Bình… Dân biểu đối lập trong Nghị viện Việt Nam Cộng Hòa, chủ nhiệm báo Tin Sáng, ông Ngô Công Đức, cha bị cộng sản xử tử, vậy mà trong hồi ký của ông in đậm những dòng này: “Có nhiều lúc trằn trọc khi nghĩ lý tưởng đã nằm trong tay của những người đã giết thân phụ mình và cuối cùng nhận họ là anh em, khi phải đặt Tổ quốc trên hết”.

Học giả Hoàng Xuân Hãn trong lá thư đề ngày 2 tháng Giêng năm Bính Tý (1996) gửi cho Võ Nguyên Giáp đã viết: Nước ta chỉ có hai cuộc giải phóng mà thôi, thời 1416– 1427 với Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi và thời 1945– 1975 với Bác Hồ cùng các anh… Cái cần thiết trong cuộc giải phóng là cái Đức của người lãnh đạo, cái Đức để cho địch không tìm cách mua chuộc mình và làm gương cho nhân dân giữ lòng yêu nước…”

Nhắc lại những điều trên đây, tôi không nhằm biện minh cho sự “ngu lâu” của mình mà chỉ để cho thấy việc nhận ra chân lý trong giai đoạn lịch sử của nước ta vừa qua thật không dễ!

Trải qua 56 năm hoạt động trong Đảng, nay nghiệm lại, thức tỉnh, ngấm được nỗi đau lầm lạc vào con đường lịch sử, buộc dân tộc vào tròng độc tài đảng trị che giấu sau chiếc mặt nạ tự do, dân chủ.

Cựu tổng biên tập Lao Động ‘hối tiếc vì làm công cụ của Đảng’

tống văn công
Ông Tống Văn Công tuyên bố từ bỏ Đảng năm 2014

Cựu tổng biên tập Lao Động trả lời phỏng vấn BBC Tiếng Việt nhân cuốn hồi ký ‘Đến già mới chợt tỉnh – Từ theo cộng đến chống cộng’ của ông vừa được phát hành tại Mỹ.

Nhà báo Tống Văn Công, cựu tổng biên tập Lao Động (1989 – 1994), từng được biết đến với những bài phản biện trên báo lề trái và ‘thư góp ý với Đảng’ và từng bị tờ Quân đội Nhân dân có bài công kích năm 2013.

Năm 2014, ông tuyên bố từ bỏ Đảng và nay hiện đang định cư tại Hoa Kỳ.

BBC: Thông điệp mà ông muốn chuyển tải qua cuốn hồi ký vừa được Người Việt Books ấn hành tháng 11/2016?

Tống Văn Công: Tôi muốn góp một phần nhỏ vào cuộc đấu tranh của người dân, trong đó có nhiều đồng chí cũ của tôi đòi dân chủ hóa đất nước, thực hiện các quyền dân sự và chính trị, tự do ngôn luận, tự do lập hội,nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập.

Chúng tôi dễ thống nhất với nhau rằng: Cản ngại chính là những người lãnh đạo Đảng cộng sản hiện nay. Cuối đời nhìn lại, tôi nhận ra trách nhiệm của chính mình đã góp phần xây dựng nên lực lượng cản ngại này: Đó là di sản của chính chúng tôi!ế độ cũ và người bị tù cải tạo.

Những điều gì thôi thúc ông từ tuyên bố từ bỏ Đảng năm 2014 đến cuốn hồi ký phát hành năm 2016?

Luật sư Lưu Nguyên Đạt cho rằng “Quyết định bỏ Đảng của Tống Văn Công không quyết liệt, không sáng sủa như qua lời phát biểu của Lê Hiếu Đằng. Nó không đanh thép bằng lập trường thô bạo của một Dương Thu Hương”.

Sở dĩ như vậy là vì tôi nghĩ rằng mình không thể phát ngôn như một kẻ vô can.

Khi nhận ra chế độ Đảng trị đưa tới hai hiểm họa cho đất nước là tham nhũng và lệ thuộc ngoại bang, tôi đã mạnh dạn góp ý xây dựng, kiên trì góp ý xây dựng, chỉ đến khi không thể xây dựng được nữa, tôi mới tuyên bố từ bỏ Đảng.

Mục đích của việc từ bỏ Đảng đúng như nhà báo Hồ Ngọc Nhuận nhận định:”Nó đóng góp cho dân chủ hóa đất nước”. Quyển hồi ký này tiếp tục thực hiện mục đích đó.

Trong cuộc đời làm báo, làm tổng biên tập tại Việt Nam, ông hối tiếc nhất điều gì và ngược lại điều gì khiến ông cảm thấy hãnh diện nhất?

“Hối tiếc nhất điều gì” ư? Đó là tự nguyện làm công cụ của Đảng chứ không phải thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của nhân dân.

Còn hãnh diện? Từ này quá cao đối với tôi. Nhưng cũng xin trả lời thế này: Tôi đã cùng anh em báo Lao Động đưa tờ báo từ chỗ chỉ bán cho Công đoàn mua bằng tiền nhà nước, đến chỗ đưa ra bán ở các sạp báo cả nước với số lượng cao nhất so với các tờ báo trung ương hồi đó.

Tôi nghĩ, cũng đáng “hãnh diện” khi bị cho nghỉ hưu với các lý do mà Ủy viên Bộ chính trị Phạm Thế Duyệt cho tôi biết: “Tổ chức bộ máy nhân sự làm cho cơ quan an ninh không yên tâm”.

Đó là do tôi dùng người mà chỉ dựa vào vào năng lực và nhiệt tâm của người đó đối với tờ báo, không phân biệt anh em ở chế độ cũ và người bị tù cải tạo.

Từ khi tôi làm tổng biên tập có nhiều loạt bài khiến Bộ Chính trị lo lắng. Thậm chí có lần trong một tháng, tờ báo của tôi có bài phê bình bốn bộ trưởng.

tống văn công
Cuốn hồi ký của ông Tống Văn Công vừa được Người Việt Books ấn hành tháng 11/2016

Nhìn tình hình báo chí trong nước với một loạt Tổng biên tập bị cách chức, báo bị Bộ Thông tin – Truyền thông Việt Nam xử phạt, ông có bình luận gì?

– Tình trạng này phản ánh sự khủng hoảng của thể chế và mâu thuẫn giữa các phe phái trong Đảng cầm quyền.

Theo đánh giá của ông thì đến bao giờ Việt Nam mới có tự do báo chí?

– Ông Frederich Douglass, một nhà đấu tranh cho quyền bình đẳng giữa các dân tộc có nói: “Trong các quyền con người, quyền biểu tỏ ý kiến là nỗi kinh hoàng của các hôn quân, bạo chúa, là thứ quyền mà chúng phải ra tay triệt hạ đầu tiên.”

Do đó tự do báo chí chỉ được thực hiện trong một thể chế dân chủ như Tổng thống Obama nói:” Một chính phủ lấn lướt báo chí, một chính quyền không phải đối mặt với giới truyền thông cương trực và mạnh mẽ không phải là sự lựa chọn của nước Mỹ.”

Thách thức lớn nhất đối với những người đang tâm huyết với nghề báo tại Việt Nam là gì?

– Là không có quyền tự do báo chí. Báo chí phải viết theo chỉ đạo của Ban Tuyên huấn Đảng cộng sản.

Năm 2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố “Kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức”.

Dù Việt Nam có báo chí tư nhân nhưng nếu vẫn bị Ban Tuyên huấn chỉ đạo thì vẫn không có tự do báo chí.

Cách đây hơn 150 năm, ông Rober Lowe, một chính khách người Anh cho rằng: “Chúng ta nhất định phải nói lên sự thật, đúng như chúng ta nhìn thấy,không sợ mọi hậu quả nhất định không cung cấp chỗ ẩn náo thuận tiện cho những hành vi bất công hay áp chế mà phải lập tức giao chúng cho sự phán xét của thế giới”.

Câu nói đó vẫn đang thách thức lương tâm và năng lực các nhà báo Việt Nam.

Ông đã phải trả những cái giá nào trong cuộc đời làm báo của mình ở Việt Nam?

– Xin trích mấy câu trong Hồi ký Không tên của nhà báo Lý Quý Chung, tổng thư ký tòa soạn báo Lao Động cho câu hỏi này: “Con đường phát triển độc đáo của tờ báo – một tờ báo mang tính đột phá về nghề nghiệp ở thời điểm đó – bị khựng lại giữa lúc đầy phấn khởi. Anh được cho về hưu vào cái lúc anh thành đạt nhất trong sự nghiệp báo chí của mình.”

Cái giá phải trả còn vượt xa ngoài bản thân tôi. Hơn 20 anh em nhà báo tài năng cùng bỏ việc như Lý Quý Chung, họa sĩ Chóe, cây bút phiếm luận nổi tiếng Ba Thợ tiện (Hoàng Thoại Châu), cây bút điều tra nổi tiếng Lưu Trọng Văn…

Sự hằn thù ác độc của nhà cầm quyền Nghệ An với chính ân nhân của mình

Blog RFA

JB Nguyễn Hữu Vinh

h1Formosa: Thảm họa không riêng ai

Thảm họa biển Miền Trung do Formosa đầu độc biển đã hơn nửa năm, một vùng biển rộng lớn không chỉ bốn tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế bị ảnh hưởng như nhà cầm quyền Việt Nam xác định.

Với hàng trăm tấn chất độc và cực độc thải xuống biển Vũng Áng, chất độc đã theo dòng nước đại dương đi khắp nơi từ miền Trung đến miền Nam và ra Bắc. Chẳng ai có thể buộc dòng nước không được mang các chất độc hại đi từ biển Hà Tĩnh sang biển Nghệ An để ra biển Thanh hóa rồi lên phía Bắc.

Không ai có thể chỉ bắt dòng nước chảy vào mà không được chảy ra, cũng không có “nghị quyết nào của đảng” buộc đàn cá không được di chuyển từ vùng biển độc đến chỗ biển sạch.

Vì thế, việc nhà cầm quyền Việt Nam chỉ khoanh vùng xác định đền bù cho nạn nhân biển của 4 tỉnh là điều hết sức vô lý.

Đó là một thực tế không thể chối cãi.

Lẽ ra, trước thảm họa môi trường Biển Miền Trung, nhà nước cần có những hành động khẩn cấp nhằm đảm bảo sức khỏe và tính mạng người dân bằng cách khoanh vùng, kiểm tra độ độc tố ở môi trường, xác định rõ ràng giới hạn của việc đánh bắt, chế biến hoặc sử dụng hải, thủy sản.

Mặt khác, bằng mọi cách trên cơ sở pháp luật bắt kẻ thủ ác đứng ra chịu trách nhiệm và đền bù cho người dân, cho đất nước và dân tộc này đã bị đầu độc không những hiện tại mà tương lai lâu dài, không chỉ sức khỏe, tính mạng của họ hiện nay mà cả công ăn việc làm mai sau…

Thế nhưng, hành động của nhà cầm quyền đã là những chuỗi hành động ngược lại.

Trong khi đó, nhà nước cố tình chây ỳ và lấp liếm tội ác phá hủy môi trường của Formosa bằng cách không công bố rõ ràng thông tin về sự an toàn của biển, ngược lại tổ chức xúi người dân tắm biển, ăn cá nhiễm độc… thì đó là sự lừa đảo người dân và coi rẻ tính mạng của họ.

Đó phải chăng là thái độ hết sức vô trách nhiệm trước tính mạng và sức khỏe người dân cũng như sự tồn vong của nòi giống Việt?

Người ta chỉ thấy những lời nói, hành động khuyến khích người dân ăn cá nhiễm độc, tắm biển nhiễm độc từ các quan chức nhà nước từ Hà Tĩnh vào đến Đà Nẵng. Thậm chí khi có thông tin đàn gà ăn cá biển bị lăn quay ra chết vì nhiễm độc, liền được nhà chức trách giải thích hài hước đến tột cùng: “Gà chết do ăn… quá no”?

Thậm chí, khi Formosa buộc phải nhận lỗi, thì chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng đàm phán với tập đoàn gây tội ác này trên lưng và nỗi đau, tính mạng của người dân để nhận 500 triệu đola?

Đến đây, những câu hỏi được đưa ra cần một lời giải đáp:

Cơn cớ nào, để chính phủ Việt Nam nhanh nhẩu mua bán với Formosa trên thảm họa của người dân? Trong khi họ chưa hề biết sự thiệt hại điêu đứng của người dân như thế nào và những hậu quả khủng khiếp như thế nào với người dân trong thảm họa này.

Tại sao một doanh nghiệp đầu tư nước ngoài như bao doanh nghiệp khác, khi gây ra tội ác thì nhà cầm quyền Việt Nam lại ra đứng nhận đền bù thay cho họ.? Theo cổng thông tin điện tử đầu tư của Chính phủ về các dự án nước ngoài đầu tư ở Việt Nam thì “tính đến ngày 20 tháng 11 năm 2016 cả nước có 2.240 dự án mới được cấp GCNĐT”. Đó chỉ là những dự án mới được cấp giấy phép. Như vậy tổng cộng có hàng vạn nhà đầu tư, doanh nghiệp đầu tư khác nhau, liệu khi họ vi phạm luật pháp, chính phủ có đứng ra nhận đền bù thay họ được hết không?

Nhà cầm quyền Nghệ An đã làm gì cho dân?

Tại Nghệ An, cũng tương tự như ở 4 tỉnh miền Trung được nêu trên, những hậu quả của thảm họa môi trường Biển đã tác động hết sức lớn lao đến mọi thành phần nhân dân. Không chỉ những người bám vào nghề biển mất nghề đã đành, mà những người dân sống bằng các nghề nghiệp liên quan cũng ảnh hưởng hết sức nặng nề.

Nhiều cửa biển, bãi sông và nhiều khu vực biển từ Nghệ An, Thanh Hóa đã nhiễm độc, các chết hàng loạt đã xảy ra, nhiều khu du lịch như Cửa Lò, Sầm Sơn mùa hè vừa qua khách vắng tanh, thậm chí chỉ một số đến “ngắm biển” cho đỡ nhớ. Tình trạng đó đã dẫn đến thất thu rất lớn cho ngành du lịch, vận tải, dịch vụ và nhiều ngành khác nhau không chỉ ở 4 tỉnh từ Hà Tĩnh trở vào.

Chúng tôi đã đến Cửa Lò những ngày hè năm nay, khi mà những cơn nắng nóng như đốt người, mọi năm người chen chúc trên biển từ sáng sớm đến tối mịt, thì những ngày đó ở Cửa Lò, khách sạn, nhà hàng vắng tanh vắng ngắt.

Về đời sống ngư dân và những người sống với biển, cho đến nay, nhiều khu vực ngư dân ở Nghệ An đã phải bỏ nghề đánh bắt và chế biến hải sản, làm muối cũng như các dịch vụ đi kèm…

Dù vậy, những ngư dân cũng như những người liên quan đến hậu quả của thảm họa đã không hề được nhắc đến và đền bù, dù họ có quyền đó.

Lẽ ra trước thảm họa môi trường ảnh hưởng đến người dân của mình, nhà cầm quyền Nghệ An phải ra sức bằng mọi cách giúp đỡ họ trong việc điều tra rõ ràng những thiệt hại mà người dân mình phải gánh chịu.

Lẽ ra, nhà cầm quyền Nghệ An phải là nơi cất tiếng nói đòi hỏi Formosa và bè lũ toa rập với chúng phải đền bù thỏa đáng cho người dân của mình, đồng thời buộc kẻ thủ ác phải làm sạch môi trường,  trả lại đời sống yên lành cho người dân mình.

Lẽ ra, nhà cầm quyền Nghệ An phải chung vai, sát cánh cùng những người dân đã nuôi nấng mình mà làm hết sức vì quyền lợi của họ để xứng đáng với một chính quyền “Của dân, do dân, vì dân” mà họ thường rêu rao.

Lẽ ra, bộ máy chính quyền Nghệ An với những con người “ưu tú” “có tài, có đức” như những câu khẩu hiệu ra rả họ vừa tung ra trong dịp bầu bán vừa qua phải dùng “tài, đức” của mình để phục vụ người dân.

Thế nhưng, những động tác của các quan chức và hệ thống công quyền Nghệ An đã làm ngược lại.

Nhà cầm quyền đã không hề có động tác nào bảo vệ quyền lợi cho người dân của mình được hưởng những điều hiển nhiên họ được, không có một điều gì để người dân đỡ đau khổ trong thảm họa này.

Ngược lại, họ đã ra sức bưng bít và làm đủ mọi trò để làm ngơ trách nhiệm của mình trước những người dân đang một nắng hai sương đem mồ hôi sức lực và xương máu để nuôi chính họ.

Những thông tin từ mạng xã hội với những hình ảnh sống động tức thời đã cho thấy một nhà cầm quyền đang đi ngược lại những lời họ rêu rao.

Thay vì họ phải lên tiếng kêu cho người dân của mình đang bị bỏ rơi trong thảm họa, nhà cầm quyền Nghệ An đã bằng mọi cách, từ tinh vi đến thô bỉ ngăn chặn người dân kêu lên tiếng kêu uất nghẹn của mình.

Những vụ việc xảy ra ở Nghệ An thời gian qua cho thấy, họ đã không ngần ngại quay lưng lại với nỗi đau của không chỉ là đồng loại, mà chính là nỗi đau của ân nhân họ.

(Còn nữa)

Hà Nội, ngày 30/11/2016

XIN LỖI CẢ NƯỚC! CHO PHÉP LÃO GIÀ NÀY ĐƯỢC TỰ DO “KHEN” LÃO PHI- ĐEN BA PHÁT

Tô Hải

Ngày 29-4-1963, trong buổi hội đàm ở Moscow , Khrushev thích thú ngắm nhìn Fidel Castro châm xì gà, tay đeo 2 đồng hồ ROLEX. Ảnh: Dmitri Baltermants.

Trong buổi hội đàm ở Moscow ngày 29-4-1963, Khrushev thích thú ngắm nhìn Fidel Castro châm xì gà, tay đeo 2 đồng hồ ROLEX. Ảnh: Dmitri Baltermants.

Chuyện ông Phi nước Cu chết làm cho các trang mạng xã hội bị quá tải về những ý kiến vui mừng, mỉa mai, diễu cợt… thậm chí có ý kiến còn đánh giá là “tên độc tài bảo thủ cuối cùng hơn cả Nguyễn phú Trọng” đã ra đi!

Riêng tớ, biết hắn từ thời hắn mới ngoài 18 tuổi, đang là con nhà giầu, bằng cấp học vị tiến sỹ, mà dám vứt bỏ hết để đi làm cách mạng, y như tớ và lứa bạn bè, đồng học cùng thời. Tớ cảm phục nhất là hắn trực tiếp cầm súng chiến đấu … Rồi thất bại! Rồi vào tù, rồi ra tù, vẫn tiếp tục cầm súng chiến đấu, lật đổ chế độ độc tài Batista, để rồi bắt đầu suy thoái, tự diễn biến vì ĐI THEO… CỘNG SẢN!

Từ chỗ là một anh ngoài đảng, hắn đã thay Blas Roca nhảy một phát lên Tổng Bí Thư rồi ngồi lỳ trên vai “vua Cuba” suốt nửa thế kỷ, mang tới cho dân bị trị đủ mọi thứ nghèo đói, thiếu thốn, bất công, đàn áp, của một thể chế … “mù” chống gậy đi tìm cái nơi không bao giờ dẫn đến: “Thiên đường Chủ nghĩa xã hội”… đại bịp cả!

Và hình ảnh chàng trai Mỹ Latin kiểu Fidel, Che Guevarra, để râu xồm, tay cầm súng, coi “cái chết tựa lông hồng” luôn gây ấn tượng cho lũ trai trẻ 18-20 chúng tớ suốt 2 cuộc chiến tranh. Cho đến khi… cũng như những kẻ cộng sản cuồng tín khác, dần dần, theo đúng quy luật, tất cả đều đã đi theo con đường sa đọa của của “siêu quyền” và “siêu lực” mà đi dần tới chỗ… hết tồn vong.

Và tớ, một kẻ cách đây 30 năm, do… “đại suy thoái” nên đã xếp hắn, cũng như những kẻ “còn lâu mới bằng hắn” vào danh sách những kẻ phải ra tòa khi có nổ ra những vụ Timisoara mới!

Ấy thế mà lần này khi nghe thông báo về cái chết của hắn, tớ bỗng thấy cần phải mạnh dạn lên tiếng “khen” hắn mấy điều:

1- Dù nhường ngôi cho em ruột Raul lên nắm quyền hành, hắn rất ít khi phát ngôn những gì có tính chất chỉ đạo, đặc biệt hắn không để lại một di chúc nhắc nhở hậu duệ cần phải làm. Ví dụ: “Dù có phải lấp cạn bãi biển Hironde, dù có phải san bằng dãy Sierra Maestra cũng kiên quyết đưa nhân dân Cuba tiến lên xã hội chủ nghĩa”…

2- Hắn không yêu cầu sau khi hắn chết nên chôn cất ở đâu, phải lo cho nơi trú chân của đồng bào khi đến thăm hắn như thế nào.

3- Và điều “anh dũng cuối cùng” là: Hắn đã yêu cầu được HỎA TÁNG, không hề đề cập đến tro cốt để ở đâu hay rải xuống sông, xuống biển hay giữ lại để thờ phụng ở nơi nào!

Trong khi đó báo chí, truyền hình, phát thanh của nhà nước này thì rất sợ “nóng” vì hai chữ “hỏa táng”, vì nó chạm vào quá nhiều vấn đề tế nhị (?). Ngay sáng nay 30/11/202016, Tuổi Trẻ vẫn viết ở trang 20 như sau: “Ngày hôm nay (30/11) tro cốt của lãnh tụ Fidel được đưa về phía đông của Santiago de Cuba, nơi ông đã khởi xướng cuộc cách mạng huyền thoại. Ông sẽ được an táng tại nghĩa trang Ifigenia của thành phố vào ngày 4/12”.

Rứa thì nà nàm thao? “Hỏa thiêu” thì vẫn bị bịt kín mà lại có “tro cốt”được đưa về…? “An táng tro cốt?” một khái niệm mới trong kho tàng sáng tạo của ngôn từ báo chấy của đảng – nhà nước?

Nước Mỹ từ Trump, TPP và kinh tế VN

Viet-studies

Phạm Chi Lan

Cả thế giới những ngày này không ngớt xôn xao về nước Mỹ từ thời kỳ của Donald Trump và tác động đến thế giới, đến khu vực và chính nước mình sẽ ra sao. Trong khi nhiều chính sách khác của Mỹ chưa biết sẽ hình thành như thế nào, thì hôm 21/11 Tổng thống sắp nhậm chức của Mỹ đã tuyên bố sẽ rút khỏi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Cho tới gần đây, Việt Nam kỳ vọng rất nhiều vào hiệp định TPP sẽ được thực hiện để tạo những cú hích trong cải cách và phát triển kinh tế của mình, cũng như trong phát triển quan hệ các mặt, đặc biệt về kinh tế, thương mại với Mỹ.

Trước tình hình mới này, Việt Nam cần suy nghĩ nghiêm túc về các khả năng trong tương lai, và đặc biệt là về việc mình phải làm gì để thích ứng với bối cảnh kinh tế chính trị trên thế giới chắc chắn sẽ khác trước.

Thứ nhất, về cải cách kinh tế. TPP với những chuẩn mực cao được kỳ vọng sẽ tạo động lực và áp lực cho VN trong việc cải cách mạnh thể chế kinh tế. Tuy nhiên, cải cách thể chế trước hết là yêu cầu tự thân của nền kinh tế Việt Nam. Các nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XI, XII, Chiến lược phát triển của VN cho thời kỳ 2011-2020 đều coi cải cách thể chế là một trong ba đột phá chiến lược. Do vậy, có hay không có TPP thì người VN vẫn phải tự mình chủ động tiến hành công cuộc cải cách này.

Tình trạng sụt giảm tốc độ tăng năng suất lao động, sụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và những vấn đề nổi cộm trong mấy năm gần đây đều có nguồn gốc từ thể chế. Để gỡ những nút thắt tăng trưởng và tránh bị tụt hậu xa hơn, người VN biết rõ cần cải cách càng sớm, càng triệt để càng tốt. Động lực, áp lực từ bên trong đối với cải cách đang tăng cao hơn bao giờ hết. VN thấy rõ, qua những cam kết trong TPP, cần cải cách như thế nào để xây dựng một hệ thống thể chế hiện đại, nhằm khắc phục những vấn đề hiện tại và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong tương lai.

Hai là, về các nguồn lực cho phát triển. TPP được kỳ vọng sẽ bổ sung cho nền kinh tế còn tương đối nhỏ và thiếu thốn nhiều bề của VN những nguồn lực cần thiết để có thể phát triển mạnh hơn, bền vững hơn. Đó là thị trường hàng hóa và dịch vụ, là dòng vốn đầu tư, là công nghệ, kỹ năng và tri thức, là sự kết nối trong các chuỗi giá trị toàn cầu… TPP tạo nhiều thuận lợi cho việc tiếp cận các nguồn lực đó, nên không có TPP, khả năng tiếp cận các nguồn lực này, đặc biệt từ Mỹ, sẽ khó khăn hơn. VN sẽ phải điều chỉnh những dự định, chiến lược phát triển các sản phẩm của mình cho phù hợp với bối cảnh thay đổi cả về cấu trúc thị trường và điều kiện, phương thức tiếp cận các nguồn lực.

Mặt khác, chính trong bối cảnh này, VN càng cần nhận thức sâu sắc hơn rằng, trong phát triển của mọi quốc gia, nội lực bao giờ cũng là quyết định nhất. Cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, tạo mọi thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân trong nước tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội, nâng cao năng lực của hệ thống điều hành, VN có thể khơi dậy và khai thác các nguồn lực còn dồi dào ở trong nước để phục vụ cho nhu cầu phát triển. Tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô cũng sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực và tính bền vững.

Hơn nữa, nguyên lý “tài nguyên là hữu hạn, sức sáng tạo là vô hạn” đúng hơn bao giờ hết trong thời đại phát triển của công nghệ, của kinh tế tri thức ngày nay. Tập trung tạo lập các nền tảng cho phát triển nguồn lực con người, nguồn lực tri thức và đổi mới sáng tạo, nguồn vốn xã hội trong nước là việc phải được ưu tiên cao.

Ba là, về hội nhập quốc tế. TPP là quan trọng nhất, nhưng không phải là kênh hội nhập duy nhất của VN. Ngoài TPP, VN còn có FTA với EU, với Liên minh kinh tế Á-Âu, có AEC và ASEAN+6 và một số FTA khác đã ký kết hoặc đang đàm phán. Những hiệp định này bao gồm hầu như tất cả các đối tác kinh tế quan trọng nhất của VN.

Riêng với Mỹ, VN vẫn có BTA và hiệp định “BTA +” được ký trước khi VN gia nhập WTO, làm nền tảng cho quan hệ kinh tế giữa hai bên. Những bước tiến dài và quan trọng đã đạt được trong quan hệ nhiều mặt giữa hai nước trong hơn 20 năm qua kể từ khi bình thường hóa quan hệ cũng là vốn quý mà hai bên đã chung tay tạo lập. Và trên hết, lợi ích chung giữa hai nước, phù hợp với lợi ích phát triển của cả khu vực, là điều không ai có thể bỏ qua.

Bối cảnh thay đổi đòi hỏi VN phải gắng sức gấp bội để nâng cao khả năng tận dụng tốt nhất các mối quan hệ này, phát huy các động lực FDI và xuất khẩu mà các mối quan hệ này mang lại cho nền kinh tế, và tăng cường nội lực để tham gia hiệu quả hơn các chuỗi giá trị toàn cầu.

Cuối cùng, về số phận của TPP. Nhiều nước trong và ngoài TPP đang toan tính về TPP với những động cơ khác nhau. Việc Nhật thông qua TPP cho thấy Nhật sẵn sàng cùng các nước bàn bạc, điều chỉnh một số qui định cần thiết để cùng nhau thực hiện một TPP không (hoặc chưa) có Mỹ. Xét lợi ích khi tất cả các nước nếu tham gia có thể có được, điều đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên, mà đáng hoan nghênh chứ!

Bài đã đăng trên Vietnam Forbes tháng 12-2016