Báo Trung Quốc: 7 lý do không được phép đánh giá thấp Việt Nam

Giới lãnh đạo Trung Quốc không được phép đánh giá thấp khả năng huy động sức mạnh tổng lực của Việt Nam khi chủ quyền quốc gia bị đe dọa và việc gây sự trên Biển Đông của Trung Quốc là nước cờ sai lầm chiến lược.

Ngày 2/5/2014, Trung Quốc đã kéo và hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Không dừng lại ở đó vào cuối tháng Năm đầu tháng Sáu Trung Quốc lại kéo thêm bốn giàn khoan nữa ra Biển Đông. Rất nhiều các phương tiện truyền thông Trung Quốc không chỉ bưng bít sự thật về những chứng cứ của Việt Nam về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà phương tiện truyền thông và các tướng lĩnh Trung Quốc còn đưa lên những lời lẽ hô hào cổ vũ một cách mù quáng cho những hành động hung hăng, hiếu chiến, gây hấn với các nước láng giềng trong khu vực Biển Đông. Họ quên đi rằng hành động đó, nhất là hành động xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam chính là hành động tự thắt cái thòng lọng cho sự phát triển của Trung Quốc.Ngày 9/7, tờ Hexun đã có bài viết nhắc nhở giới lãnh đạo Trung Quốc không được phép đánh giá thấp khả năng huy động sức mạnh tổng lực của Việt Nam khi chủ quyền quốc gia bị đe dọa và bài báo đã khẳng định rằng việc gây sự trên Biển Đông của Trung Quốc là nước cờ sai lầm chiến lược.

Mở đầu bài báo, tờ Hexun đã điểm qua những phát ngôn và hành động mạnh mẽ của các nhà lãnh đạo Việt Nam như Thủ tướng, Chủ tịch nước và còn “cẩn thận” trích dẫn những phát ngôn của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong cuộc tiếp xúc cử tri.

Điều này cho thấy lập trường của các nhà lãnh đạo Việt Nam trong vấn đề chủ quyền đối với Biển Đông và đặc biệt là với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa là rất cứng rắn, tờ Hexun viết.

Để tiếp tục bài viết của mình, Hexun nếu ý kiến cho rằng, hành động cố tình tạo ra căng thẳng và gây rối ở Biển Đông hoàn toàn không có lợi cho sự phát triển của Trung Quốc. Bên cạnh các “đối thủ của Trung Quốc” như Mỹ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác thì các nước Đông Nam Á cũng đã có nhiều hành động biểu thị sự đoàn kết và ủng hộ Việt Nam kể từ sau sự kiện ngày 2/5 (Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam). Thậm chí, ngay cả những quốc gia thường thể hiện lập trường “trung lập” gần đây cũng đã lên tiếng ủng hộ Việt Nam.

Cùng với đó, bài báo đã nêu ra 7 luận điểm để chứng minh rằng hành động gây sự trên Biển Đông sẽ chỉ mang lại sự thiệt hại to lớn đối với Trung Quốc.

Thứ nhất, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã tuyên bố rằng, chủ quyền của Việt Nam không có chỗ cho sự thỏa hiệp với Trung Quốc. Cho đến nay Trung Quốc là nước có tuyên bố chủ quyền (bất hợp pháp) đối với gần như toàn bộ vùng Biển Đông, các nước như Phiippines, Brunei, Malaysia, Indonesia tuyên bố chủ quyền đối với một số phần trên Biển Đông, còn Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ hai, Việt Nam thông qua việc hợp tác khai thác dầu khí với Nga và các nước phương Tây để nỗ lực thăm dò và khai thác dầu khí trên Biển Đông. Sản lượng khai thác dầu khí trên Biển Đông của Việt Nam khoảng hơn 18 triệu tấn mỗi năm, một số lượng lớn khí đốt cũng như việc phát triển và sử dụng các sản phẩm từ dầu khí cùng với việc trong những thập kỷ gần đây Việt Nam có sự phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, điều đó đã cho phép Việt Nam có khả năng mua một số lượng lớn các loại trang thiết bị vũ khí tiên tiến từ Nga và Pháp, liệu Trung Quốc có thể còn coi thường Việt Nam?

Thứ ba, trong ba hoặc bốn thập kỷ qua, thông qua việc hợp tác khai thác đầu khí với các nước khác, Việt Nam đã biến tình hình Biển Đông thành một khối vững chắc cùng chung lợi ích – “cộng đồng kinh tế”. Các cường quốc thế giới như Nga, Mỹ, khối các nước châu Âu, Nhật Bản, Úc, và thậm chí cả Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapore, cùng với Việt Nam đã hình thành nên một cộng đồng cùng chung lợi lợi ích và khi có bất ổn thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các lợi ích của họ. Trong thời bình, tùy theo mực độ tham gia các cổ phần kinh tế, nhưng khi đến thời điểm quan trọng, khối sẽ liên kết chặt chẽ, tiếp sau đó sẽ tùy theo sự phản ứng của mỗi bên ở cấp độ chính trị hay quân sự. Trên Biển Đông, Việt Nam đã tạo nên một luật chơi, do đó đối với tình hình Biển Đông, Việt Nam không có gì phải lo sợ cả.

Thứ tư, Hoa Kỳ đang thực hiện những nỗ lực một cách mạnh mẽ của chính sách tái cân bằng khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Đây cũng là lúc mà vai trò và vị trí của Việt Nam được coi là hết sức quan trọng, và Việt Nam sẽ hết sức khéo léo vận dụng thời cơ này.

Thứ năm, trên Biển Đông, Việt Nam là nước có sự kiểm soát quần đảo Trường Sa một cách lâu đời và gần như đầy đủ nhất, Việt Nam đã tích cực khẳng định chủ quyền đối với không chỉ quần đảo Hoàng Sa mà ở Trường Sa Việt Nam đã đề phòng sự tấn công của Trung Quốc và gia cố các hệ thống phòng thủ đảo, nhằm củng cố một cách vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia Việt Nam. Thậm chí trong tương lai Việt Nam sẽ yêu cầu Trung Quốc từ bỏ những tuyên bố của họ tại đây.

Thứ sáu, trong nhiều năm qua Việt Nam còn nhập khẩu từ Nga và Pháp… một số lượng lớn các trang thiết bị vũ khí tiên tiến, như việc đặt mua của Nga sáu tàu ngầm lớp Kilo – 636, nhờ Ấn Độ đào tạo các kíp thủy thủ vận hành tàu ngầm. Ngay sau khi có tàu ngầm, Việt Nam có thể hình thành ngay một lực lượng chiến đấu. Đây là một quyết định sáng suốt của các lãnh đạo Việt Nam vì họ đã nhận định được điểm yếu hiện này của hải quân Trung Quốc là khả năng chống ngầm yếu. Khả năng chuẩn đoán chính xác giúp Hà Nội đưa ra được những kế hoạch chiến lược phù hợp.

Thứ bảy, Việt Nam là một quốc gia có khả năng huy động được một cách triệt để nguồn lực sức mạnh của toàn Đảng, toàn Quân và toàn Dân một khi đất nước có chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Hơn nữa Việt Nam là đất nước có một lịch sử hùng tráng trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược, gần đây nhất là đánh Pháp, Nhật, Mỹ và Trung Quốc. Đó là một trong những yếu tố mà Trung Quốc không thể đánh giá thấp.

Điều đáng chú ý, trong tranh chấp Biển Đông hiện nay giữa Trung Quốc và Việt Nam, thì Trung Quốc không có được “thiên thời” khi tình hình quốc tế không có lợi cho các hành động của Trung Quốc. Ngoài Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác phản đối, có một số báo nước ngoài đã cho rằng Nga đang âm thầm đứng cạnh Việt Nam và điều đó là không thể nhầm lẫn. Không những thế, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các nước châu Á khác đang chuẩn bị có những phản ứng cứng rắn hơn đối với Trung Quốc, không chỉ Myanmar và ngay cả một số nước được cho là đồng minh lâu đời của Trung Quốc cũng đã lên tiếng thể hiện lập trường phản đối Trung Quốc và hỗ trợ Việt Nam.

Tóm lại, nếu Trung Quốc tập trung cuộc chơi chiến lược trên Biển Đông với Việt Nam thì sẽ không chỉ không được gì mà còn thiệt hai nặng nề.

Theo DEFENCEVN.COM

Đại án 8.900 tỷ tại Mobifone: hồi chuông đã gióng (kỳ 8)

Nguyễn Văn Tung

H1Mời xem lại: Kỳ 1: Lê Nam Trà – Tay trong con gái Thủ tướng phá hoại 20 năm phát triển bền vững của MobifoneKỳ 2: Lê Nam Trà và đại án tham nhũng ở MobifoneKỳ 3: Sau AVG, Lê Nam Trà và Nguyễn Thanh Phượng đang âm mưu những gì ở Mobifone?  —  Kỳ 4: Mobifone ngang nhiên thách thức các nỗ lực chống tham nhũng của Đảng và Chính phủ  —  Kỳ 5: Việc thanh tra toàn diện vụ tham nhũng AVG ở Mobifone liệu đã bắt đầu?  —  Kỳ 6: Cuộc điều tra tham nhũng AVG tại Mobifone đã thực sự bắt đầu   —  Kỳ 7: LÊ NAM TRÀ ĐANG PHÙ PHÉP VỤ AVG NHƯ THẾ NÀO?

Ngay sau khi kỳ họp Quốc hội khóa 1 kết thúc, căn cứ chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đã ký văn bản chỉ đạo Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra toàn diện dự án Tổng Công ty Mobifone mua 95% cổ phần của Đài truyền hình tư nhân AVG và “chuyển cơ quan điều tra xử lý nghiêm nếu có dấu hiệu vi phạm”.

Việc các lãnh đạo cao nhất của Đảng và Chính phủ quyết tâm điều tra toàn diện, xử lý nghiêm vụ đại án tham nhũng AVG (ngay trong ngày làm việc đầu tiên của Chính phủ mới) đã làm thỏa lòng dư luận cả nước, thể hiện thái độ quyết liệt của Đảng, Chính phủ mới với căn bệnh tham nhũng – căn bệnh ung thư vốn đã rất trầm kha sau giai đoạn 10 năm cầm quyền của đồng chí X. Điều đó cũng thể hiện: tiếng nói của nhân dân đã được Đảng và Chính phủ mới lắng nghe, sự đồng thuận của các lề báo trong sự nghiệp chống tham nhũng của cả dân tộc!

“Tam giác ma quỷ” Nguyễn Bắc Son, Phạm Nhật Vũ, Lê Nam Trà là điển hình của lợi ích nhóm (mafia kinh tế – quan chức chính phủ – lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước). Nguyễn Bắc Son (nguyên ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông) chính là người đã “ngoáy nát” cơ cấu tổ chức, bộ máy nhân sự chủ chốt của Bộ Thông tin Truyền thông, VNPT, Vinaphone, Mobifone và tạo nên nạn chạy chức, chạy quyền rầm rộ (tổng giá trị lên đến hàng trăm triệu USD) trong ngành viễn thông suốt 3 năm qua. Phạm Nhật Vũ (chủ tịch công ty AVG, em trai của Phạm Nhật Vượng) chính là “cánh tay bạch tuộc” của Vincom (tập đoàn này nổi tiếng cả nước vì luôn giành được quyền khai thác các lô đất vàng tại các tỉnh, thành phố lớn với mức giá rẻ mạt một cách rất khó hiểu). Lê Nam Trà (chủ tịch Mobifone) nổi tiếng là giàu có nhất trong giới chủ tịch các tập đoàn tổng công ty nhà nước, nuôi gần một chục công ty sân sau đang ngày đêm hút máu Mobifone trong mọi lĩnh vực (dịch vụ kỹ thuật, cung cấp thiết bị, dịch vụ giá trị gia tăng…).

Trong đại án AVG, Nguyễn Bắc Son và Lê Nam Trà đã sử dụng chiêu trò “quân xanh, quân đỏ” với 4 công ty tư vấn “tung hứng” để định giá công ty AVG (đang thua lỗ ngập ngụa) thành mức giá cả tỷ USD. Cũng đừng quên rằng, mức giá mà các công ty tư vấn đưa ra chỉ là để tham khảo, Mobifone (với tư cách là chủ đầu tư) là chủ thể sẽ quyết định mức giá mua bán và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước Pháp luật. Tham chiếu với SCTV, một công ty truyền hình cáp với 2.5 triệu thuê bao, mạng lưới truyền hình cáp bao phủ gần cả nước cũng chỉ được định giá cỡ khoảng 4.000 tỷ đồng. Vậy một công ty truyền hình DTH/DTT công nghệ lạc hậu như AVG với 400.000 thuê bao thực, hạ tầng truyền dẫn gần như bằng không đang lỗ hàng trăm tỷ đồng/năm, được định giá ở mức 9.300 tỷ đồng theo phương pháp “chiếu khấu dòng tiền” thì có phải là điều bình thường không? Một điều quan trọng nữa là hai băng tần vô tuyến 700 mhz của AVG là tài nguyên quốc gia, phải trả lại cho Nhà nước vào năm 2017 (để đấu giá lại) và không thể được coi là một tài sản để định giá theo phương pháp “tài sản ròng”.

Cơ sở để các công ty tư vấn “xanh đỏ” định giá AVG cao chót vót là kế hoạch kinh doanh “không tưởng, thậm chí là hoang đường” của Lê Nam Trà sau khi Mobifone mua lại AVG, cụ thể: trong 2016 thì doanh thu thuần của AVG đạt 1.251 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế là 91 tỷ đồng và đến năm 2020, dự kiến doanh thu thuần của AVG sẽ là trên 7.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế sẽ đạt 1.876 tỷ đồng. Thực tế, sau 6 tháng đầu năm 2016, Lê Nam Trà mạnh miêng tuyên bố AVG (Mobi TV) đã phát triển 168 nghìn thuê bao mới và có lợi nhuận 6,4 tỷ đồng.

Với những người trong cuộc, đây là những con số “đầy đau đớn” cho Mobifone. Một AVG “nát như tương” được mua về thậm chí còn không có tiền để mua đầu thu để phát triển thuê bao mới, Mobifone phải tự lập dự án mua hơn một triệu đầu thu bằng tiền của mình và “cho không” AVG để AVG phát triển thuê bao. Nhân viên cũ của AVG bị cho nghỉ việc hoặc chuyển sang ký hợp đồng cộng tác viên với Mobifone để cắt giảm Opex cho AVG. Nhân viên Mobifone, nhận lương Mobifone nhưng phải gồng mình đi kinh doanh, phát triển thuê bao và lắp đặt đầu thu cho AVG. Nhân viên Mobifone, vốn đã phải chịu đựng nhiều đợt giảm lương, thưởng do phải gánh thua lỗ từ AVG, nay phải cắn răng mua vài bộ đầu AVG về để xó nhà chỉ để đạt chỉ tiêu phát triển thuê bao mới mà cấp trên giao. Mobifone dồn rất nhiều dịch vụ VAS sang AVG với mức chia sẻ doanh thu cao hơn 10-15% so với các CP bên ngoài. Mobifone dồn toàn bộ nguồn lực để tẩy thua lỗ cho AVG, không phải vì mục tiêu phát triển, mà chỉ để trong ngắn hạn làm đẹp con số cho Lê Nam Trà báo cáo.

Phát luật nào cho phép Lê Nam Trà dùng tiền của Mobifone (cũng là tiền của Nhà nước) để tẩy lỗ cho công ty con? Đạo đức nào cho phép Lê Nam Trà ép buộc nhân viên của mình mua đầu thu AVG rồi xếp xó nhà chỉ để phát triển thuê bao “ảo”? Với 8.900 tỷ, nếu không mua AVG, Mobifone chỉ cần gửi tiết kiệm thì sau 6 tháng cũng có 450 tỷ tiền lãi. Còn giờ đây, sau khi bỏ 8.900 tỷ để mua AVG, Mobifone phải chấp nhận rủi ro, vi phạm pháp luật để chuyển lợi nhuận từ mảng di động của mình (mỗi tháng hơn 30 tỷ, sáu tháng gần 200 tỷ) sang AVG, như vậy AVG mới có thể báo lãi 6,4 tỷ đồng trong 6 tháng. Quả là một con số đầy đau đớn.

Việc Mobifone mua AVG đã vi phạm nghiêm trọng quy định của Nhà nước: không lập dự án nhóm A để trình Bộ Tài Chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư thẩm định giá và trình Thủ tướng phê duyệt mức giá mua bán (việc mua bán chỉ dựa vào văn bản phê duyệt chủ trương chung chung của một vài cơ quan hữu quan), như vậy, Bộ Thông tin Truyền thông và Mobifone phải chịu trách nhiệm về việc này.

Điều nực cười là các văn bản Mobifone “xin ý kiến” một vài bộ ngành đều được đóng dấu “mật”. Có vẻ như Nguyễn Bắc Son, Lê Nam Trà đã quên một điều cơ bản: tiền vốn của Mobifone là tài sản của Nhà nước và việc mua bán tài sản Nhà nước cần công khai và minh bạch, đây không phải là tài sản của riêng họ (và họ muốn làm gì thì làm).

Lê Nam Trà cũng đang tâm ép buộc một loạt cán bộ Mobifone phải ký đồng thuận vào hồ sơ dự án AVG (một số Trưởng Ban, Ban Tổng Giám đốc và các thành viên của Hội đồng thành viên) với dã tâm “chết thì cùng chết” và “xử lý hết thì lấy ai làm việc”. Hơn lúc nào hết, các cán bộ này cần đồng loạt tố cáo Lê Nam Trà thì may ra họ mới thoát khỏi vòng lao lý.

Nguyễn Bắc Son, Lê Nam Trà, Phạm Nhật Vũ đã liều lĩnh vượt qua các quy định của Nhà nước, cùng một số cá nhân khác bỏ túi chia nhau hơn 7.000 tỷ đồng từ vụ đại án AVG, chà đạp lên mồ hôi nước mắt của hơn 4.000 cán bộ nhân viên VMS/Mobifone bao thế hệ và tham ô những đồng tiền thuế của nhân dân. Với 7.000 tỷ đồng này có thể xây hàng nghìn trường học, trạm xá, bệnh viện cho người nghèo trên cả nước (đặc biệt là các khu vực miền núi khó khăn) hoặc có thể mang lại cho Nhà nước hàng tỷ USD khi cổ phần hóa Mobifone. Việc chia số tiền 7.000 tỷ đồng cho những quan chức nào, chỉ cần Thanh tra Chính phủ đề nghị Bộ Công an bắt khẩn cấp Phạm Nhật Vũ, Lê Nam Trà là sẽ điều tra ra ngay!

Cả nước đang trong giai đoạn chấn chỉnh kỷ cương, tổng tấn công nạn tham nhũng và nạn chạy chức chạy quyền. Việc Đảng, Nhà nước, Chính phủ nỗ lực xử lý nhanh chóng, nghiêm minh các vụ án điểm: “ô nhiễm môi trường Formosa, Trịnh Xuân Thanh PCV, Mobifone AVG, vỡ đường ống nước Vinaconex…” trong quý 3 năm 2016 sẽ lấy lại phần nào niềm tin của nhân dân.

_____

Mời xem thêm: Lãnh đạo MobiFone: Hồ sơ mua AVG là tài liệu mật (BizLive). – MobiFone được giao nhiệm vụ quản lý hồ sơ quy chế tài liệu mật ?(Tin tức). – Giá mua AVG: MobiFone có quyền không công bố? (HQ). – MobiFone “bí mật” mua AVG: không công khai là phạm luật (TT). – Ai mới có thể “giải mật” thương vụ MobiFone mua AVG? (VNReview).

Về hưu cũng phải bị lôi cổ ra chịu trách nhiệm về vụ Formosa!

FB Trần Vũ Hả

Ngày 10/6/2015, ông Nguyễn Thái Lai, được Thủ tướng lúc đó Nguyễn Tấn Dũng gia hạn chức vụ Thứ Trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đến 31/12/2015, và trước khi về hưu 20 ngày, ông đã ký cấp phép xả nước thải cho Fomosa ngày 11/12/2015.

Ông Lai là dân quê Hà Tĩnh, từng làm Cục trưởng Cục Tài nguyên nước trước khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ TN và MT. Như vậy ông hiểu rõ (và thậm chí tham gia chấp bút) Luật Tài nguyên nước 2012 và biết về ngư dân tỉnh quê nhà. Nhưng có vẻ ông đã phớt lờ luật này và nghị định 201/2012/ NĐ-CP hướng dẫn luật này, không lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan trước khi cấp phép cho Formosa xả nước thải 45000 m3/ 1 ngày vào biển, cụ thể ngư dân Kỳ Anh, Hà Tĩnh.

Điều 20 Nghị định này quy định: “Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tài nguyên nước phải đáp ứng các điều kiện sau đây: 1. Đã thực hiện việc thông báo, lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Nghị định này; 2. Có đề án, báo cáo phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước đã được phê duyệt hoặc phù hợp với khả năng nguồn nước, khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước nếu chưa có quy hoạch tài nguyên nước. Đề án, báo cáo phải do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường lập; thông tin, số liệu sử dụng để lập đề án, báo cáo phải bảo đảm đầy đủ, rõ ràng, chính xác và trung thực…

Điều 2 Nghị định 201/2013 NĐ-CP và Điều 6 Luật Tài nguyên nước có quy định rất rõ: Công trình xả nước thải vào nguồn nước có lưu lượng từ 10.000m3/ngày đêm trở lên buộc phải lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước có ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống của nhân dân trên địa bàn”.

Rất mong báo chí, cộng đồng mạng xã hội cùng lôi cổ ông Lai này vào vòng trách nhiệm trong việc cấp phép xả nước thải cho Formosa, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm hoạ cá chết ở 4 tỉnh miền Trung, khiến hàng chục vạn ngư dân 4 tỉnh khốn đốn.

_____

Lao Động

Giấy phép cho Formosa xả nước thải vào nguồn nước: Có dấu hiệu vi phạm pháp luật

Nhóm PV

3-8-2016

Nguyên Thứ trưởng Bộ TNMT Nguyễn Thái Lai. Ảnh: báo LĐ

Như báo Lao Động đã thông tin trong số báo trước, dư luận đang đặt nhiều dấu hỏi về trách nhiệm của nguyên Bộ trưởng Bộ TNMT Nguyễn Minh Quang và nguyên Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai – người được ông Quang ủy quyền ký giấy phép cho phép Formosa xả nước thải ra biển. Kỳ quặc hơn, chính giấy phép quan trọng này được ông Thái Lai ký chỉ chưa đầy 3 tuần trước khi nghỉ hưu lại có dấu hiệu vi phạm Luật Tài nguyên nước và Nghị định 201/2013 NĐ-CP.

Ký xong, nghỉ hưu và…không ai giám sát

Ông Nguyễn Thái Lai sinh năm 1955 có quê là Mai Đình, Hiệp Hòa, Hà Tĩnh. Trước khi được Thủ tướng Chính phủ lúc đó là Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) thì ông Lai là Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước – Bộ TNMT.

Ngày 17.7.2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Quyết định số 1026/QĐ-TTg bổ nhiệm ông Thái Lai làm Thứ trưởng Bộ TNMT. Ngày 10.6.2015, tại văn bản số 818/TTg-TCCV, Ban Cán sự Đảng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý kéo dài thời gian giữ chức Thứ trưởng Bộ TNMT đối với ông Nguyễn Thái Lai đến hết ngày 31.12.2015 sẽ nghỉ hưu.

Trước khi nghỉ hưu khoảng 20 ngày, ông Nguyễn Thái Lai ký thay Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang văn bản cho phép Formosa xả thải ra biển.

Theo giấy phép này, Formosa được xả nước thải sau xử lý từ hệ thống xử lý nước thải công suất 45.000m3/ngày đêm của Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh. Nước thải sau xử lý được bơm và dẫn theo đường ống thép không gỉ ra đến đập quan trắc nước thải, sau đó chảy ra biển ven bờ vịnh Sơn Dương theo phương thức tự chảy, xả giữa dòng. Chế độ nước xả thải liên tục 24 giờ/ngày đêm.

Có 2 vị trí quan trắc nguồn nước tiếp nhận tại vịnh Sơn Dương: Vị trí cách vị trí xả nước thải sau xử lý 250m về phía bờ và vị trí cách vị trí xả nước thải sau xử lý 250m ở ngoài khơi. Tần suất quan trắc 3 tháng/1 lần.

Ngoài ra, Formosa cũng phải chịu kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý tài nguyên nước và môi trường ở Trung ương và địa phương; chuẩn bị nhân lực, trang bị các phương tiện, thiết bị cần thiết để sẵn sàng ứng phó, khắc phục sự cố gây ô nhiễm nguồn nước. Giấy phép này chính là căn cứ để sau này cả Bộ TNMT và Formosa Hà Tĩnh khẳng định là: “Đường ống xả thải ra biển của Formosa được cấp phép chứ không phải lắp đặt lén lút” (trả lời báo chí của Thứ trưởng Bộ TNMT Võ Tuấn Nhân bên lề cuộc họp của lãnh đạo 4 tỉnh miền Trung với liên Bộ NNPTNT, TNMT).

Cũng trong cuộc họp trên, ông Nhân thừa nhận: “Chưa rõ số liệu quan trắc đã được đấu nối với Sở TNMT của tỉnh hay chưa”, còn Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Tĩnh Đặng Bá Lục thì chắc chắn: “Trạm quan trắc tự động của Công ty Formosa lại chưa kết nối và truyền số liệu về Sở TNMT Hà Tĩnh. Ngoài trạm quan trắc tự động của Formosa, ở thời điểm hiện tại không có trạm quan trắc nào của Bộ TNMT ở Khu công nghiệp Vũng Áng”.

Như vậy có thể hiểu ngay một vấn đề: Sau khi cấp giấy phép cho Formosa xả thải, người ký là Thứ trưởng Lai đã nghỉ hưu thì Bộ TNMT đã buông lỏng, không có ai giám sát xem việc quan trắc được thực hiện thế nào, cũng không ai kiểm tra cho đến khi cá chết nổi trắng biển miền Trung vì chính đường ống được Bộ TNMT cấp phép.

H1Giấy phép cho phép Formosa xả thải vào nguồn nước. Ảnh: T.L 

Có dấu hiệu vi phạm Luật Tài nguyên nước

Xung quanh giấy phép cho phép Formosa xả thải do Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai ký ngày 11.12.2015 thì giấy phép này đã vi phạm Điều 20 Nghị định 201/2013 NĐ-CP do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 27.11.2013 là đã “không lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan”.

Cụ thể, Điều 20: Điều kiện cấp phép ghi rõ: “Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tài nguyên nước phải đáp ứng các điều kiện sau đây: 1. Đã thực hiện việc thông báo, lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Nghị định này; 2. Có đề án, báo cáo phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước đã được phê duyệt hoặc phù hợp với khả năng nguồn nước, khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước nếu chưa có quy hoạch tài nguyên nước. Đề án, báo cáo phải do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường lập; thông tin, số liệu sử dụng để lập đề án, báo cáo phải bảo đảm đầy đủ, rõ ràng, chính xác và trung thực…

Điều 2 Nghị định 201/2013 NĐ-CP và Điều 6 Luật Tài nguyên nước có quy định rất rõ: Công trình xả nước thải vào nguồn nước có lưu lượng từ 10.000m3/ngày đêm trở lên buộc phải lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước có ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống của nhân dân trên địa bàn.

Khi cấp phép cho Formosa, cả UBND tỉnh Hà Tĩnh lẫn Bộ TNMT đã “quên mất người dân” và không người dân hay đại diện dân cư nào được hỏi ý kiến xung quanh câu chuyện xả thải ra môi trường của dự án Formosa ngay cả khi cuộc sống của họ đã bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng như hiện nay.

Việc của đảng, không phải việc của dân

Bùi Quang Vơm

"Tam trụ" tuyên thệ. Ảnh: internet

Kỳ họp lần thứ 11, phiên cuối cùng của Quốc hội 13 khai mạc ngày 12/03/2016 đã cuốn hút sự quan tâm chú ý của công chúng một cách khác thường. Phiên cuối cùng của Quốc hội cũ nhưng lại bầu ra cả một hệ thống bộ máy Nhà nước mới. Cái nhà nước này chỉ tồn tại hợp pháp có ba tháng, từ ngày 12/04/2016 tới ngày 22/07/2016, phiên họp đầu tiên của Quốc hội 14. Một loại Nhà nước lâm thời, trung chuyển, giữa thời bình. Một thứ giải pháp cấp bách như trong thời loạn chiến. Thông thường, không có Quốc hội nào lại tự làm cái việc điên rồ đó, nó chẳng phục vụ cho cái gì cả và chỉ làm tốn tiền của dân. Nhưng làm cái công việc kỳ lạ này không phải do nhu cầu bức thiết từ dân, từ nhu cầu xã hội, mà là do những lý do riêng của đảng, của riêng đảng cộng sản cầm quyền.

Quốc hội là cơ quan quyền lực của dân, nhưng chỉ làm những gì đảng cần làm, và những gì đảng bảo phải làm. Cũng có lúc ít nhiều gọi là cho dân, nhưng cái việc dựng vội vã một Nhà nước vào cái lúc Quốc hội sắp mãn nhiệm thì chẳng có gì liên quan tới dân. Đây thuần tuý là việc của đảng, cho đảng  và vì đảng. Cơ quan quyền lực cao nhất của Quốc gia do đảng lãnh đạo. Mà lãnh đạo của hơn bốn triệu đảng viên là 200 uỷ viên trung ương, lãnh đạo của 200 TW là 19 ông bộ chính trị. Đứng đầu 19 uỷ viên bộ chính trị là ông tổng bí thư. Như vậy, Quốc hội, suy cho cùng do ông tổng bí thư này bảo làm gì thì làm. Ông này không nằm ở chỗ nào trong cái nhà nước ấy cả. Nhưng chẳng có gì không do ông lãnh đạo, hiến pháp, luật pháp cũng một tay ông làm ra tất. Ông ta cần phải thay đổi Nhà nước, thay đổi chính phủ trước khi có ông thổng thống Mỹ sang thăm.

Nhưng chắc phải do một nguyên nhân không bình thường.

Người ta đã suy đoán một cuộc binh biến hay một cuộc đảo chính. Người ta nghĩ tới việc nguyên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sau khi trực tiếp hội kiến tổng thống Mỹ OBAMA trong chuyến thăm chính thức ngày 22/05/2016 sẽ tuyên bố giải tán đảng cộng sản, huỷ bỏ chương trình bầu cử Quốc hội 14, chỉ định ra Quốc hội mới, công bố hiến pháp mới và quy trình bầu Tổng Thống, bãi bỏ vĩnh viễn chế độ độc đảng chuyên chính. Người ta cũng phỏng đoán âm mưu của Tập Cận Bình phế bỏ chế độ Nguyễn Phú Trọng, lập ra chế độ Phùng Quang Thanh và trực chỉ lộ trình sáp nhập vào Trung quốc theo Hiệp ước Thành Đô năm 2020.

Việc làm quái gở đó của ông Trọng, của bộ chính trị, đã từng làm sôi sục dư luận.

Nhưng hội nghị trung ương (TW) đảng lần thứ ba ngày 14/07/2016 và phiên họp đầu tiên Quốc hội 14 ngày 20/07/2016 mới đây thì ngược lại, hầu như dư luận chả có ai quan tâm. Một thái độ thờ ơ đặc biệt. Báo chí lề đảng đăng tin bình thường như chuyện thường ngày, lẫn với những chuyện cháy nhà, tai nạn ôtô, sập nhà hàng chết người… Báo lề dân hầu như không có ai bận tâm.

Có vẻ như người ta đồng ý với những gì đảng, quốc hội và nhà nước đang làm. Không phải. Khi 154 ứng cử viên độc lập bị loại không còn một người nào, Quốc hội 14 được bầu ra đúng như thiết kế của đảng, thì đương nhiên là những gì tiếp theo, đảng một mình một chợ, đảng múa gậy vườn hoang, chẳng còn chỗ cho ai phải quan tâm. Chỉ là việc của riêng đảng và những tay chân của đảng, không còn là việc của dân.

Chả có gì vô duyên hơn trò chơi mà kết quả người ta đã biết trước. Mà cũng chả có vô duyên hơn diễn trò mà chẳng có người xem. Trò tuồng cứ diễn, nhưng người xem thì đã bỏ đi.

Ông tổng bí thư vưà kêu gọi «hãy sáng suốt lựa chọn những người xứng đáng vào cơ quan quyền lực cao nhất» lại vừa chỉ thị «không để những người có tư cách thế này thế khác lọt vào cơ quan quyền lực cao nhất». Như vậy thì chọn cái gì, ai chọn, còn bấm nút hay bỏ phiếu cần gì phải là cơ quan quyền lực cao nhất.

Phiên họp đầu tiên của Quốc Hội 14 được ấn định ngày 20/07/2016 để bầu ra các cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Nhưng Quốc hội làm gì có quyền tự ý bầu cái gì.Vì vậy trước đó, ngày 04/07/2016 hội nghị TW lần thứ Ba họp để lập danh sách giới thiệu cho Quốc hội làm thủ tục bỏ phiếu. Nhưng cái Nhà nước, bao gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và toàn bộ nhân sự cao cấp, vừa mới được dựng lên trước đó có 3 tháng, không lẽ huỷ cả, thế là bộ chính trị bê nguyên cả cục, bịa ra cái lý do “vẫn giữ nguyên uy tín, được TW tiếp tục tín nhiệm và nhất trí giới thiệu cho Quốc hội”. Và thế là Quốc hội lại có cái để bầu.

Từ ngày 20/07/2016 cái cơ quan quyền lực cao nhất nước lần lượt bầu chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị kim Ngân, chủ tịch nước Trần Đại Quang và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Các phó chủ tịch nước, phó chủ tịch Quốc hội, thường vụ Quốc hội, các ban của Quốc hội, các phó thủ tướng chính phủ, các bộ trưởng và các cơ quan ngang bộ v.v… ngoài trường hợp duy nhất là Nguyễn Xuân Cường bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thay ông Cao Đức Phát còn chưa công khai lý do, tất cả đều đúng tên từng người từ bên đảng chuyển sang.

Quy trình chỉ có vậy, và bao giờ cũng vậy. Đảng họp, bộ chính trị chỉ định, TW biểu quyết, lập thành danh sách chuyển sang cho Quốc hội, các đại biểu bỏ phiếu. Thế là hợp thức hoá một chế độ. Thế là một Nhà nước do các đại biểu của dân sáng suốt lựa chọn, tất tật đều khớp với ý đảng. Cùng một lúc thể hiện được cả hai việc. Một là thực chất, đảng lãnh đạo toàn bộ và toàn diện, hai là dân tin yêu đảng, tin yêu chế độ.

Nhưng trên sấn khấu, các trò chơi, các vai hề cứ diễn, bên dưới, không còn người xem. Người kiên nhẫn thì nhổ nước miếng rồi lặng lẽ bỏ đi. Người cục tính chịu không nổi thì chửi, “Đ… mẹ, nhố nhăng, vô giáo dục, thật không còn coi ai ra gì”.

Nhưng đáng phải nói nhất, đau nhất, theo lôgíc thông thường, chắc chắn phải là các vị đại biểu. 496 đại biểu trên tổng số hơn 90 triệu dân, cũng có thể được gọi là tinh hoa. Được làm ông nghị, bà nghị, có quyền bất khả xâm phạm, một bước lên xe, xuống xe có người săn đón, đưa rước, kể thì oai thật. Nhưng trừ những phường giá áo túi cơm, người may mắn có ăn học chút ít, có chút ít tự trọng, thật chắc không thể chịu nổi nỗi nhục.

Thế mà cũng có chuyện kỳ lạ khác, chuyện có ông nghị tới bốn lần. Đó là ông Dương Trung Quốc, tổng thư ký hội khoa học lịch sử Việt Nam. Ông này trúng đại biểu Quốc hội kỳ 14 này là bốn lần. Chuyện của ông chắc cũng thành chuyện duy nhất trong lịch sử chính trị cận đại. Ngày xưa, hồi những năm sáu mấy của thế kỷ trước, có chuyện kể một ông nhà văn khôi hài người Anh, đi thăm Mỹ, khi đến NewYork, thấy tượng Thần Tự Do thì lập tức quay về, vì xấu hổ không khôi hài bằng nước Mỹ. Không biết chuyện có thật không, nhưng chuyện nước Mỹ thờ thần Tự Do, và người Mỹ là những công dân tự do nhất hành tinh là chuyện thật. Còn ở Việt Nam, dân chủ như trò bầu bán của Quốc hội là “dân chủ đến thế là cùng”, mà ông Dương Trung Quốc có thể đủ sức chịu đựng tới bốn nhiệm kỳ, đúng là chuyện chưa từng có và sẽ muôn đời không thể có. Ông là người ngoài đảng mà đi theo chế độ làm diễn viên được chừng ấy năm. Thật là một thiên tài. Kỳ này, chắc là kỳ cuối cùng, biết đâu ông chẳng làm được chuyện động trời để cùng đi vào lịch sử.

Nhưng phải nói, chuyện diễn hài của đảng đạt đến độ siêu có lẽ ở chuyện Tuyên thệ. Trong vòng có mấy tháng, người xem tuồng Việt nam chứng kiến tới hai lần tuyên thệ của cùng mấy con rối có cùng tên tuổi. Thiên hạ tuyên thệ thì người đảng cộng sản Việt cũng phải tuyên thệ để làm ra vẻ là đảng thì cũng là người, không khác loài người. Nhưng người ta khi tuyên thệ, tay trái đặt lên bản Kinh Thánh, là thề trước thần thánh, thề trước đấng Tạo hoá, thề trước quyền uy siêu nhiên, trước uy quyền tuyệt đối không do con người làm ra hay chiếm đoạt được.

Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, ba ông bà đảng viên cấp dưới của ông tổng bí thư, tuyên thệ, tay trái đặt lên cuốn Hiến Pháp do đảng bịa ra, trong đó có điều Bốn ghi rằng đảng là quyền uy tối thượng. Hiến pháp là cái thứ thể chế hoá cương lĩnh của đảng, luật hoá và hợp thức hoá mọi quyền uy của đảng. Thề với Hiến pháp là thề với đảng, tại sao phải bày trò che đậy. Đúng là trò hề. Thề cá trê chui ống.

Thế mà lại tuyên thệ những hai lần chỉ trong vòng ba tháng. Thực là chả có gì lố bịch hơn thế, nhố nhăng hơn thế. Những ông bà này phải có một lớp da chai sạn khác người. Họ thừa biết giả dối, kệch cỡm. Siêu diễn viên. Thiên tài.

“Siêu của siêu” phải là người giật dây những “siêu” diễn viên ấy. Con người bày ra cái trò diễn tuồng này là ai. Thông lệ, nghi thức là việc của Vụ lễ tân, Ban Tuyên giáo. Nhưng cái trò này, một là ông Võ Văn Thưởng còn quá mới để có thể nghĩ ra, hai là nếu có định làm cái gì đấy thì cũng không dám “vuốt mặt”. Có thể thấy tác giả của nó chính là “cụ Tổng”. Có hiện tượng “cụ Tổng” đang bị bệnh.

Từ sau Đại hội 12, lọai được Nguyễn Tấn Dũng, trả được món nợ phải uất ức khóc nghẹn tại hội nghị TW 6, ông Trọng có thể đã lâm bệnh. Bệnh hoang tưởng. Không còn đối thủ ngang tầm, ông trở nên quá tự tin tới mức tuỳ tiện.

Ông ép bộ chính trị phải quyết định thay chính phủ dù chỉ còn ba tháng. Để thay được chính phủ, phải thay chủ tịch nước, vì chủ tịch nước là người giới thiệu và phê chuẩn bộ máy chính phủ. Nhưng chủ tịch nước phải do Quốc hội bầu. Và thế là, chỉ để lọai ông Dũng, ông đã bày ra cái trò Quốc hội miễn nhiệm chủ tịch cũ, bầu ra chủ tịch mới, rồi từ chủ tịch Quốc hội giới thiệu và bầu ra Chủ tịch nước mới, rồi chủ tịch nước mới mới bổ nhiệm Thủ tướng mới. Chỉ để thoã mãn hận cá nhân, mà ông phải nghĩ ra cả một hệ thống mưu mô, bày ra cả một hệ thống trò diễn tốn kém.

Ban đầu, người ta cũng cứ nghĩ, chắc phải do một lý do đặc biệt khác thường lắm mới khiến cả hệ thống phải làm chuyện ngược đời là bầu ra Nhà nước khi chưa có Quốc hội.

Nhưng cuối cùng, sau những bão gió trước và sau Đại hội 12, không có gì trở nên rõ ràng hơn ngoài một sự thâu tóm quyền lực tuyệt đối vào trong tay ông Nguyễn Phú Trọng. Với hầu như toàn bộ những nhân vật trong bộ chính trị cũ có thâm niên và vây cánh, bị loại, đa số các uỷ viên mới chủ yếu nghe ngóng và chấp hành. Đặc biệt là ba nhân vật gộc cội Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Sinh Hùng cùng bị loại một lượt. Chưa bao giờ cùng một lúc phải thay mới cả ba vị trí đặc biệt quan trọng này. Vai trò Tổng bí thư là đề cử, chấp nhận đề cử và phê chuẩn quyết định. Đây là cơ hội để ông Trọng ban phát ân huệ, tác oai, và tập trung quyền lực. Chưa bao giờ, tổng bí thư nắm trong tay toàn bộ cả bốn công cụ quyền lực tối cao của chế độ. Trong lịch sử đảng cộng sản Việt Nam, chưa lúc nào có cơ hội thực tế để đảng thao túng chế độ như lúc này. Ông Trọng là người có tài tổ chức, là người mưu lược. Có yếu tố may mắn, nhưng không thể phủ nhận vai trò và năng lực của cá nhân ông.

Việc quyền lực trên thực tế đột nhiên lọt hoàn toàn vào tay ông Trọng có thể chỉ là một cơ hội, khi gần hết bộ chính trị cũ đồng lọat quá tuổi. Nhưng mặt khác phản ánh một quy luật. Ở giai đoạn cuối sự tồn tại của một thế lực chính trị bao giờ cũng là chuyện phân rã, phân rã về lợi ích, phân rã quyền lực, và phân rã về khuynh hướng tư tưởng. Đó là hiện tượng trống rỗng dẫn đến sụp đổ của lý tưởng. Sự phân rã này ép buộc xu thế tập trung quyền lực. Nhưng cơ hội cũng cho thấy khủng hoảng cán bộ kế cận của đảng. Các đảng viên trẻ không còn đáng tin cậy.

Putin đã xuất hiện như vậy ở Liên xô cũ, và Tập Cận Bình đang trở thành Mao mới ở Trung Quốc.

Bây giờ, Nguyễn Phú Trọng có cơ hội để trở thành nhà độc tài, biến Nhà nước thành một thứ đồ chơi cho ý chí của cá nhân ông.

Nhưng Nguyễn Phú Trọng cũng có cơ hội trở thành nhân vật số một trong lịch sử tiến hóa bốn ngàn năm của Việt Nam, nếu ông giải tán chế độ độc đảng, thiết lập một chế độ dân chủ đa nguyên đích thực, mở ra một kỷ nguyên mới hoàn toàn, chưa từng có cho dân tộc và đất nước Việt Nam.

Người ta chờ đợi, dõi theo từng bước đi của từng sự kiện từ sau đại hội đảng 12. Người ta tranh cãi nhau về nhân cách vừa bí ẩn vừa rất mâu thuẫn của ông Nguyễn Phú Trọng. Có thể ông nhận diện được kẻ thù, nhưng ông lẫn lộn khái niệm bạn bè. Có thể ông còn lúng túng khái niệm trung thành như một lọai đạo đức khổng giáo, giữa trung thành với tổ chức và trung thành với dân tộc.

Cơ hội của ông và vận may của đất nước.