Hoàng đế Bảo Đại ở Paris năm 1932

Những hình ảnh hiếm có về hoàng đế Bảo Đại trong chuyến thăm Paris năm 1932 được nhiếp ảnh gia Pháp ghi lại.

Dân Paris ngắm hoàng đế Bảo Đại ở nhà ga thành phố khi chuyến tàu hỏa chở ông vừa đến. Trong ảnh, Bảo Đại là người khoanh tay ở ô cửa sổ bên phải toa tàu.

Bảo Đại quan sát người dân Paris từ cửa sổ toa tàu.

Vua Bảo Đại và Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ở điện Elysee, Paris.

Một bức ảnh chân dung Bảo Đại ở Paris năm 1932.

Trong chuyến công du năm 1932, hoàng đế Bảo Đại cũng ghé thăm Ai Cập. Trong ảnh, Bảo Đại (người thứ 2 từ trái sang) và người em họ Vĩnh Cẩn (ngoài cùng bên phải) chụp ảnh kỷ niệm tại Cairo, thủ đô Ai Cập.

Theo KIẾN THỨC

 

Cần cảnh giác với ma trận phá hoại kinh tế Việt Nam từ Trung Quốc

NGỌC VIỆT/GDVN

Trung Quốc dựa hơi người Thái, mượn tay người Nhật phân phối hàng hoá Trung Quốc đang bị tẩy chay dưới danh nghĩa hàng hoá đang được ưa chuộng.

Ngày 10/7 Cafebiz.vn đưa tin, “đại gia bán lẻ Nhật Bản” sắp có mặt tại Việt Nam bị nghi ngờ là thương hiệu Trung Quốc đội lốt.

Theo đó “đại gia bán lẻ Nhật Bản” mang tên Miniso sẽ có mặt tại Việt Nam vào tháng 8/2016 theo hình thức nhượng quyền và dù được gắn mác đại gia nhưng Miniso lại không phải thương hiệu nổi tiếng ở Nhật Bản.

Người Việt sinh sống tại Nhật Bản gần như không biết đến thương hiệu Miniso.

“Thậm chí, các đồng nghiệp người Nhật của tôi cho biết, họ cũng hoàn toàn không biết về thương hiệu này”, một người Việt Nam sinh sống tại Nhật Bản tên là Hiếu cho hay.

Hiện tại, Miniso chỉ có lèo tèo vài cửa hàng tại Nhật Bản, khiến cho không ít người thắc mắc, tại sao thương hiệu Nhật Bản này chỉ có 4 cửa hàng tại Tokyo, nhưng lại có tới 1.000 cửa hàng tại Trung Quốc?

Miniso Nhật Bản bị nghi ngờ “đội lốt” Trung Quốc khi tiến vào Việt Nam. Ảnh: Talk Vietnam.

Chưa hết, thương hiệu này còn dính rắc rối khi sử dụng tiếng Nhật cũng thiếu chính xác trên bao bì sản phẩm của mình. Chính điều này khiến nhiều người tiêu dùng thắc mắc, rốt cuộc thì Miniso là thương hiệu Nhật Bản hay Trung Quốc?

Nếu nhìn vào logo của Miniso, người ta cũng dễ dàng liên tưởng tới sự kết hợp giữa 2 chuỗi bán lẻ nổi tiếng Nhật Bản là Daiso và Uniqlo.

Được biết, trang web chính thức của Miniso Japan giới thiệu, công ty này được thành lập bởi 1 người Nhật tên là Miyake Junya và 1 tập đoàn đến từ Trung Quốc và đại diện là doanh nhân Ye Guofu.

Trong đó, ông Miyake Junya đóng vai trò là nhà thiết kế, còn tập đoàn Trung Quốc quản lý cả thương hiệu và kinh doanh Miniso, theo Cafebiz.vn.

Mới đây, vneconomy.vn ngày 19/7 lại đưa tin, Tập đoàn Thái Lan Central Group bác bỏ thông tin Big C do Trung Quốc sở hữu, khi phát đi thông cáo khẳng định đây là tập đoàn 100% sở hữu của gia đình Thái Lan.

Động thái này diễn ra sau khi trên mạng xã hội gần đây cho thấy có nhiều nghi vấn về nguồn gốc tập đoàn này, liên quan đến việc mua lại chuỗi siêu thị Big C tại Việt Nam.

Trong thông cáo vừa phát đi, Central Group cho rằng, những thông tin Big C do Trung Quốc sở hữu là hoàn toàn bịa đặt.

Theo thông cáo, Central Group được thành lập vào năm 1947, từ một cửa hàng nhỏ tại Bangkok do gia đình ông Tiang Chirathivat – một người Thái Lan gốc Trung Quốc, di cư sang Thái Lan từ năm 1925 – điều hành.

Tập đoàn hiện nay vẫn thuộc sở hữu của gia đình Chirathivat.

Central Group bắt đầu đầu tư tại Việt Nam từ năm 2011 từ việc hợp tác với các đối tác nội địa như Nguyễn Kim, Lan Chi Mart và gần đây nhất là Zalora.

Vào đầu năm 2016, Central Group đã bổ sung thương hiệu Big C vào danh sách các thương hiệu của các công ty thành viên của tập đoàn tại Việt Nam, theo vneconomy.vn.

Nguy cơ người tiêu dùng Việt Nam phải dùng hàng Trung Quốc với nhãn mác Việt, Thái, Nhật Bản ngày càng hiện hữu. Ảnh minh họa: dtinews.vn.

Như vậy là “yếu tố Trung Quốc” được xem là có dính dáng tới hai “đại gia bán lẻ” của hai trong ba quốc gia mà công nghệ bán lẻ đang trở thành thương hiệu quốc gia ở Châu Á là Thái Lan – Nhật Bản – Hàn Quốc.

Người viết cho rằng sự nghi ngờ của cộng đồng là có lý và có cơ sở. Nhưng tại sao người Trung Quốc lại không ra mặt mà để bị xem là “lấp ló sau cánh gà”?

“Yếu tố” Trung Quốc gây hại khó ai ngờ

Như người viết đã từng phân tích trong bài “BigC – Metro và những kệ hàng Thái Lan – Trung Quốc”, thì người Trung Quốc, thương nhân Trung Quốc, doanh nghiệp Trung Quốc có thể tham gia và chiến thắng trong bất cứ thương vụ mua bán hay chuyển nhượng quyền sở hữu đối với các doanh nghiệp, thương hiệu tại Việt Nam.

Nhưng trong hai thương vụ BigC – Metro lại vắng người Trung Quốc.

Phải chăng những thương vụ này không hấp dẫn với họ? Người viết cho rằng, thực ra không phải như vậy. Người Trung Quốc thừa biết là họ không có thiện cảm ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Vì vậy khi họ tham gia vào các thương vụ thì dù có thiến thắng nhưng không phải là thành công, vì họ sẽ làm giảm giá trị vô hình của thương hiệu – đó là sự yêu thích của khách hàng và đối mặt với tâm lý tẩy chay.

Do đó, người Trung Quốc tạm nhường đối thủ và họ sẽ thu xếp ở phía sau hậu trường. Với “đại gia bán lẻ” Miniso thì bản chất sự việc cũng chẳng khác là bao.

Khi chỉ cần 3, 4 cửa hàng mở ra trên đất Nhật qua hình thức liên doanh với bất cứ người dân Nhật Bản nào đó thì đương nhiên Miniso là của Nhật Bản. Và Miniso bước vào Việt Nam từ Nhật Bản, của người Nhật Bản nên được đón nhận là doanh nghiệp Nhật Bản.

Như vậy là BigC thuộc sở hữu của người Thái Lan và Miniso là doanh nghiệp Nhật Bản. Dù cộng đồng có nghi ngờ nhưng thực tế chứng minh đúng như thế.

Tuy nhiên, yếu tố Trung Quốc, “chất” Trung Quốc có trong hai thực thể này là rõ ràng, cho dù tỷ trọng, tỷ lệ Trung Quốc chiếm trong đó là bao nhiêu thì chưa thể đo lường.

Chỉ có điều hàng hoá “made by Chinese” có thể bước vào thị trường Việt Nam dưới nhãn mác “made in Japan”, “made in Thailand”.

Rõ ràng, người Trung Quốc dựa hơi người Thái, mượn tay người Nhật phân phối hàng hoá Trung Quốc đang bị tẩy chay dưới danh nghĩa hàng hoá đang được ưa chuộng nhờ chất lượng và uy tín.

Với chính sách “ngoại giao kinh tế”, Bắc Kinh có thể giúp cho doanh nghiệp Trung Quốc, thương nhân Trung Quốc len lỏi vào bất cứ ngóc ngách nào của kinh tế thế giới, trong đó có kinh tế Việt Nam, vì điều đó đều phục vụ cho ý đồ thống trị của họ.

Người Trung Quốc sẽ không cần phải tranh giành với các đối thủ mà vẫn có thể thành công, dù không phải là người chiến thắng.

Có thể nhận diện, thị trường bán lẻ đang là điểm sáng của kinh tế Việt Nam trong việc chuẩn bị đón cơ hội từ TPP. Tuy nhiên đây cũng chính là kênh mà Trung Quốc có thể gây hại cho kinh tế Việt Nam nhanh nhất.

Đó là gây mất niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam vào những nhà cung cấp uy tín, thậm chí sẽ tới lúc đánh đồng hàng Nhật, hàng Thái với hàng Trung Quốc.

“Miniso là thương hiệu bán lẻ hàng tiêu dùng ứng dụng thời trang Nhật phát triển theo mô hình nhượng quyền thương hiệu.

Các sản phẩm chủ yếu là hàng tiêu dùng, gia dụng, thời trang, phụ kiện kỹ thuật số, mỹ phẩm, mỹ phẩm chăm sóc da, dụng cụ làm đẹp, dụng cụ hỗ trợ sức khỏe, du lịch… cho trẻ sơ sinh đến người cao tuổi.

Đơn vị phân phối độc quyền tại Việt Nam là tập đoàn Lê Bảo Minh – đối tác của Canon”, theo Cafebiz.vn.

Không những vậy, kinh tế Việt Nam còn có thể gặp nguy hiểm khi doanh nghiệp Trung Quốc tiến hành liên doanh ảo với những đối tác có uy tín đặc biệt ở những nước phát triển, nhất là trong những lĩnh vực công nghệ cao.

Từ đó người Trung Quốc sẽ chuyền những vi rút độc hại của họ phá hoại nhiều lĩnh vực của kinh tế Việt Nam mà phải mất năm, bảy năm trời mới phát hiện ra và khi đó thì hậu quả đã quá lớn.

“Bài học quan trọng từ các liên doanh ảo là các thỏa thuận giúp tận dụng thế mạnh của đối tác để tạo ra doanh thu mà lại tránh được các khoản chi phí không cần thiết, khi một bên trong liên doanh chủ động mở rộng sang các thị trường nước ngoài”, theo tài liệu của investopedia.com.

Có thể thấy rằng, đây là một chiêu thức mà có thể khiến cho người Trung Quốc chỉ cần “cố gắng tối thiểu nhưng mang lại hiệu quả tối đa” cho họ.

Ma trận phá hoại

Có thể thấy rằng, với sách lược “cố gắng tối thiểu – hiệu quả tối đa”, người Trung Quốc có thể phá hoại kinh tế Việt Nam từ trực diện đến ảo diện, từ trực tiếp đến ngầm ngầm qua việc “thay tên đổi họ” cho hàng hoá Trung Quốc khi tiến vào thị trường Việt Nam.

Tuy nhiên, người viết cho rằng với triết lý kinh doanh “hại người lợi mình” thì người Trung Quốc không chỉ dừng lại ở đó, vì thực ra sự thiệt hại đó có thể rất lớn, nhưng sự nguy hại thì vẫn có thể lường được.

Người Trung Quốc sẽ khiến cho đối thủ cũng như đối tác không thể lường được nguy hại bởi những hành động phá hoại của họ, đó mới là bản chất của vấn đề.

BigC có thể thuộc sở hữu của Trung Quốc hay không, Miniso thuộc sở hữu của Trung Quốc hay không, điều đó sẽ được làm sáng tỏ qua thời gian.

Tuy nhiên, việc hàng hoá “made by Chinese” nhưng mang nhãn hiệu “made in Japan”, “made in Thailand” mới là cốt lõi của vấn đề.

Vấn đề liên doanh giữa doanh nghiệp Nhật Bản với doanh nghiệp Trung Quốc, giữa doanh nghiệp Trung Quốc với doanh nghiệp Thái Lan hay doanh nghiệp tại một quốc gia nào đó sẽ phải được tuân thủ theo luật kinh tế – thương mại tại các quốc gia đó.

Tiến trình hợp tác sẽ diễn ra theo quy định của luật pháp tại các quốc gia đó. Nghĩa là việc liên doanh, tạo điều kiện cho “yếu tố” Trung Quốc, “chất” Trung Quốc thẩm thấu vào một thực thể kinh tế khác phải theo cơ chế.

Và mấu chốt vấn đề là ở đây.

Khi hiệu ứng phá hoại của người Trung Quốc phát huy hiệu quả qua việc người Việt Nam tẩy chay hàng hoá “made by Chinese” nhưng mang nhãn hiệu “made in Japan”, “made in Thailand”, điều đó khiến cho quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan, quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản sẽ bị ảnh hưởng.

Khi đó tâm lý tẩy chay hàng Nhật, hàng Thái sẽ lây lan sang việc “xem thường” doanh nghiệp Nhật, doanh nhân Thái.

Điều đó khiến cho yêu cầu phải làm sao ngăn chặn yếu tố nguy hại mang tên Trung Quốc được xem là nguy cấp và nó phải xuất phát từ cơ chế, phải xoay quanh cơ chế.

Luật pháp của Nhật Bản không thể tạo ra những điều kiện đặc biệt để chặn “yếu tố” Trung Quốc.

Ví dụ như “doanh nghiệp Nhật Bản có thể liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài, trừ doanh nghiệp Trung Quốc” hay “việc sản xuất những sản phẩm mang tính hỗn hợp có thể áp dụng với doanh nghiệp nước ngoài, trừ doanh nghiệp Trung Quốc”…

Không thể chỉ vì “chất” Trung Quốc mà cơ chế vận hành của cả một nền kinh tế phải thay đổi. Nhưng chỉ vì “chất” Trung Quốc mà có thể làm nguy hại tới cả một nền kinh tế.

Điều này khiến cho việc ban hành chính sách điều hành kinh tế vĩ mô gặp rất nhiều khó khăn và kèm theo đó là những thiệt hại cứ ngày một lớn dần bởi “nhân tai” Trung Quốc.

Không thay đổi thì chẳng khác gì người Thái, người Nhật gián tiếp giúp người Trung Quốc làm hại người Việt.

Nhưng thay đổi thì có thể thiệt hại rất lớn với chính người Thái, người Nhật, nhất là khi quan hệ kinh tế Trung Quốc – Thái Lan, quan hệ kinh tế Trung Quốc – Nhật Bản bị ảnh hưởng và suy giảm.

Và thế là chỉ cần vài doanh nghiệp bị thẩm thấu yếu tố gây hại mang tên Trung Quốc gây nhiễu thị trường Việt Nam, đã khiến cho kinh tế Thái Lan, kinh tế Nhật Bản, kinh tế Việt Nam chịu thiệt hại rất lớn nhưng lại không dễ tìm được giải pháp.

Rõ ràng, cái “ma trận phá hoại” do người Trung Quốc tạo ra có công hiệu rất lớn trong việc thiệt hại cho cả đối tác lẫn đối thủ của họ.

Thiệt hại trên thị trường có thể cân đong đó đếm được, nhưng việc gây nhiễu hoạt động sản xuất – kinh doanh và hợp tác – đầu tư chỉ qua vài sự thẩm thấu gây hại bởi “vi rút” mang tên Trung Quốc là cực kỳ lớn và không dễ lượng hoá bằng con số thiệt hại cụ thề được.

Quan hệ hợp tác giữa các quốc có thể bị ảnh hưởng, thậm chí gián đoạn bởi “yếu tố” Trung Quốc.

Cơ chế vận hành của một nền kinh tế có thể phải hiệu chỉnh lại chỉ vì “chất” Trung Quốc đã thẩm thấu vào những mắt xích của nền kinh tế.

Điều đó khiến nó vận hành không như mục đích của người xây dựng cơ chế là mang lại lợi ích quốc gia, mà có thể gây thiệt hại cho lợi ích quốc gia, thậm chí phá hoại đất nước.

Theo cá nhân người viết thì mục đích quan trọng nhất trong việc tạo ra “ma trận phá hoại” chính là nhằm tạo ra độc quyền theo lãnh thổ. Đó là việc tạo ra ưu thế đặc biệt của hàng hoá Trung Quốc tại một thị trường nào đó.

Khi người tiêu dùng mắc bẫy Trung Quốc, có tâm lý tẩy chay hàng hoá của các đối thủ tại một lãnh thổ hay một quốc gia, đây chính là điều nguy hại mà kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt từ Trung Hoa đại lục.

Tài liệu tham khảo:

http://cafebiz.vn/dai-gia-ban-le-nhat-ban-sap-co-mat-tai-viet-nam-bi-nghi-ngo-la-thuong-hieu-trung-quoc-doi-lot-20160710103522016.chn

http://www.investopedia.com/articles/investing/112515/virtual-joint-venture-new-model-us-businesses-enter-china.asp

http://vneconomy.vn/doanh-nhan/tap-doan-thai-bac-thong-tin-big-c-do-trung-quoc-so-huu-20160719101451544.htm

http://www.bloomberg.com/news/articles/2016-05-25/eritrea-slams-economic-sabotage-as-country-marks-anniversary

ĐỀ NGHỊ QUỐC HỘI THÀNH LẬP ỦY BAN ĐIỀU TRA FORMOSA

 

Luật sư Trương Trọng Nghĩa:
“Đề nghị thành lập ủy ban lâm thời điều tra Formosa”
TTO – ĐBQH Trương Trọng Nghĩa cho rằng Quốc hội nhiệm kỳ trước vẫn còn hiện tượng cả nể. Nhưng với Formosa thì không thể cả nể nữa và phải thành lập ngay ủy ban lâm thời để điều tra. 
* Vì sao ông lại đề nghị việc này, thực tế trong lịch sử hoạt động, Quốc hội chưa từng thành lập ủy ban lâm thời về bất cứ việc gì?

– Vậy thì phải đặt lại câu hỏi là vì sao luật cho phép Quốc hội lập ủy ban lâm thời để xem xét về các vụ việc nổi cộm mà chúng ta chưa bao giờ làm? Tôi cho rằng khi có sự việc nghiêm trọng thì phải làm.

Tôi ủng hộ quan điểm nên thành lập Ủy ban lâm thời xem xét, điều tra các vấn đề môi trường nổi cộm. Trước mắt là tập trung vào trường hợp Formosa. Sau đó là các dự án tương tự.

Vấn đề Formosa không chỉ là chuyện hôm nay mà của cả 70 năm tới. Dự án 70 năm nhưng ngay trong giai đoạn đầu đã thấy xuất hiện nhiều vi phạm, thể hiện sự coi thường luật pháp Việt Nam, coi thường quyền lợi của người dân Việt Nam.

* Từ câu chuyện Formosa, phải chăng công tác giám sát hoạt động của Quốc hội với các cơ quan hành pháp phải được chú trọng hơn?

– Đúng là việc giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan hành pháp cần phải nỗ lực hơn, sâu sát hơn và kiên quyết hơn. Nhiệm kỳ này phải rút kinh nghiệm nhiệm kỳ trước về việc này.

Trong Quốc hội, chúng ta còn có hiện tượng cả nể. Do đó các ủy ban phải làm đúng vai trò của mình hơn. Các đại biểu Quốc hội khi đã là đại biểu dân cử rồi thì phải đặt trách nhiệm dân cử lên cao hơn và tránh tình trạng nể nang.

Chính tình trạng nể nang này làm cho việc giám sát không đến nơi đến chốn. Khi cần làm thì không làm.

Với những hành vi như đã được phanh phui trên công luận, có thể thấy công tác hành pháp đã sơ hở. Có lúc tôi có cảm giác như cơ quan quản lý nhà nước đã bất lực trước những sai phạm đó, kể cả ở cấp trung ương và cấp địa phương.

* Khi sự việc vỡ lỡ ra, hay có câu “đã làm đúng theo quy trình”. Vậy theo ông có phải xem lại quy trình?

– Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 việc chấn chỉnh công tác cán bộ được tiến hành mạnh mẽ. Nổi lên một điều là phải xem lại cái gọi là quy trình, bởi vì quy trình do con người đặt ra do con người xây dựng nên và do con người thông qua.

Nhưng tôi cho rằng nếu là con người mà lại là con người tốt, con người có trách nhiệm cao thì dù quy trình chưa chặt chẽ thì người ta cũng sẽ bổ túc bổ sung, đề nghị hoàn thiện. Còn nếu con người không tốt thì dù quy trình chặt chẽ người ta vẫn tìm cách để lách, bỏ qua.

Đã đến lúc phải rà lại tất cả các quy trình để xem có đủ sức để gạn lọc ngăn cản được những tiêu cực của những người có trách nhiệm xây dựng cũng như là phê chuẩn những quy trình hay không.

Nếu như quy trình chưa hoàn thiện thì chúng ta bổ sung bổ túc bằng luật pháp, bằng những quy định của Chính phủ, của Đảng. Còn nếu quy trình chặt chẽ rồi thì phải xem lại công tác cán bộ. ví dụ người đó được giao gác cổng thì đêm anh lại mở cổng cho trộm vào.

Đó là vấn đề con người chứ không phải là quy trình nữa. Phải xử lý cả hai khâu con người, và quy trình mới giải quyết được.

Viễn Sự ghi 

Cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng đã phạm những “sai lầm” gì?

VietTimes — Trên website của mình, Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính VN (VAFI) vừa đưa ra ý kiến được cho là sai lầm của cựu Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, trong công tác quản lý vốn và tài sản tại doanh nghiệp thuộc bộ này.

Nhật Minh /Viet Time
Cựu Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng
Cựu Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng
Ngày 19/7/2016, tại địa chỉ website: www.vafi.org.vn của Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) có đăng tải một bài viết “Cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng đã sai lầm gì trong công tác quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp” của Phó chủ tịch VAFI – Nguyễn Hoàng Hải. Chưa đầy 1 tháng, VAFI đã có 7 bài viết, văn bản liên quan trong vấn đề hoạt động của Bộ Công thương và DN trực thuộc Bộ này trong thời gian tại vị của Cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng.Bài viết của Phó Chủ tịch Nguyễn Hoàng Hải đưa ra quan điểm được cho là sai lầm của Cựu Bộ trưởng trong công tác quản lý vốn và tài sản tại doanh nghiệp. Để rộng đường dư luận, VietTimes trích dẫn lại nguyên văn bài viết này:

1. Việc bổ nhiệm các chức danh chủ chốt tại một số Tập đoàn , Tổng công ty nhà nước trực thuộc Bộ Công thương quản lý đã không đòi hỏi nhiều về kinh nghiệm và thành tích quản trị cao :

Nhìn vào việc bổ nhiệm các chức danh Chủ tịch HĐQT tại 3 Tập đoàn kinh tế lớn là Sabeco, Habeco, Vinataba thì thấy  :

Thành tích  quản trị doanh nghiệp của Chủ tịch Habeco, Vinataba  hết sức nghèo nàn, họ không phải là những người thành công và đi lên  từ Habeco, Vinataba .  Họ chưa đáp ứng  được yêu cầu  phải là linh hồn của doanh nghiệp, phải được đào tạo thủ thách và có nhiều thành tích tại các vị trí đã kinh qua ;

Với Chủ tịch Sabeco, hầu như không có kinh nghiệm  quản trị doanh nghiệp,  thành tích về quản trị doanh nghiệp, tuy nhiên hiện nay vị này còn kiêm nhiệm luôn cả chức danh Tổng giám đốc SABECO

Hành vi bổ nhiệm này là sai Luật Doanh nghiệp và Luật quản lý vốn nhà nước .  Vấn đề  đặt ra là tại sao Bộ Công thương không có phương án bổ nhiệm TGĐ Sabeco ? Chẳng nhẽ Sabeco không còn ai  có thể đảm đương vị trí TGĐ để đến mức phải bổ nhiệm 1 người không có kinh nghiệm quản trị làm TGĐ ? Đây là  vấn đề hết sức nguy hiểm trong công tác quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp;

Nhìn  chiến lược hoạt động của Petro Viet nam, EVN, TKV…Chúng ta có thể nhận thấy không 1 HĐQT nào sốt sắng với định hướng cổ phần hóa cả tập đoàn.  Suất đầu tư trong lĩnh vực điện, dầu khí, than khoáng sản là rất cao so với lĩnh vực tư nhân. Bộ máy quản lý  cồng kềnh , các đơn vị trên chưa thực sự hoạt động theo mô hình Tập đoàn mà thực chất chỉ là những đơn vị quản lý hành chính ở cấp trung gian ;

Hiện nay các Tập đoàn, Tổng công ty của Bộ Công thương như Tổng công ty Thép, Tâp đoàn Hóa Chất, TKV ở 1 vị thế tài chính rất yếu so với 10 năm trước kia. Mang tiếng là công ty mẹ nhưng mẹ không có khả năng cứu được con mà phải trông chờ nhà nước hỗ trợ hay  bơm vốn, điều này đang diễn ra tại Đạm Ninh Bình, Đạm Hà Bắc, Công ty Gang thép Thái nguyên….?

Nếu nhìn vào cách bổ nhiệm nhân sự chủ chốt tại đa phần doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả như Vinamilk, Hòa Phát , FPT, Nhựa Bình Minh, Coteccons….  thì  thấy rằng không bao giờ có cách thức bổ nhiệm như trên. Mọi chức danh chủ chốt phải được đào tạo và rèn luyện , thử thách qua nhiều vị trí khác nhau, từ thấp lên cao . Trong quá trình làm việc, nếu cán bộ lãnh đạo nào không đạt yêu cầu thì phải tự nguyện thôi chức nếu không sẽ bị sa thải và điều chuyển bởi HĐQT hay Đại hội cổ đông ;

Với những doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp gia đình hay công ty tư nhân lớn cũng không bao giờ xảy ra chuyện ông Bố bổ nhiệm người con không có kinh nghiệm quản trị  nắm giữ các chức danh chủ chốt trong công ty vì nếu làm như vậy thì coi là hành động tự sát của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp đó sẽ bị tổn thất nặng nề hoặc thua lỗ phá sản . Bố có thương con, muốn con nối nghiệp thì họ phải đào tạo và luyện cho người con tại nhiều vị trí công việc trong doanh nghiệp . Còn nếu người con không giỏi hoặc chưa đủ tầm quản lý thì chủ doanh nghiệp tư nhân phải tuyển chọn người tài để quản lý & phát triển cho cơ nghiệp của họ, đồng thời bồi dưỡng kỹ năng quản lý cho con họ.

2. Chậm bàn giao một số doanh nghiệp đã cổ phần hóa về cho SCIC quản lý :

Hơn 10 năm trước , dưới thời nguyên Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Hoàng Trung Hải quản lý thì sau khi SCIC được Chính phủ thành lập, nhiều doanh nghiệp đã cổ phần hóa trực thuộc Bộ được nhanh chóng bàn giao về cho SCIC quản lý phần vốn nhà nước .

Tuy nhiên trong 9 năm dưới thời Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng  thì lại làm ngược lại, điển hình tiêu biểu là Sabeco, Habeco sau 9 năm cổ phần hóa vẫn không được chuyển giao về cho SCIC ;

Mục tiêu của việc thành lập SCIC là nhằm chuyên môn hóa công tác quản lý vốn nhà nước, tách biệt vai trò quản lý nhà nước và vai trò quản lý doanh nghiệp của các Bộ để tránh xung đột lợi ích, giúp các Bộ ngành địa phương có nhiều thời gian cho công tác quản lý nhà nước nhưng tai sao có tình trạng níu kéo , chậm trễ trong việc bàn giao vốn cho SCIC ;

Giới đầu tư tài chính & thị trường chứng khoán không xa lạ gì với hoạt động của SCIC, SCIC vẫn còn nhiều yếu kém trong công tác quản lý cổ phần nhà nước, tuy nhiên năng lực quản lý vốn của SCIC còn hơn nhiều năng lực quản lý vốn của Bộ ngành địa phương, thể hiện ở  các điểm sau :

Thúc đẩy doanh nghiệp niêm yết ;

Trong khâu bổ nhiệm nhân sự chủ chốt như Chủ tịch HĐQT, tổng giám đốc thì SCIC không dám làm liều như Bộ Công thương . Sau vài lần thất bại thì cán bộ của SCIC không dám đảm nhận chức danh Chủ tịch, TGĐ mà thường những chức danh này được tuyển chọn từ doanh nghiệp ;

Vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phê bình bộ máy quản lý của Bộ Công thương  cồng kềnh cần phải tái cơ cấu. Tuy nhiên tại sao cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng lại chậm bàn giao một số doanh nghiệp đã cổ phần hóa về cho SCIC ? Một điều chắc chắn rằng việc chậm trễ bàn giao không phải là do Bộ Công thương có khả năng quản lý vốn tốt hơn SCIC ?

Tại sao cựu Bộ trưởng cứ thích quản lý những doanh nghiệp không còn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ mình ? Nếu tình trạng này không được khắc phục sẽ là 1 thách thức cho sự thành công của việc ra đời   Ủy Ban quản lý doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Chính phủ .

3. Nhiều doanh nghiệp đã cổ phần hóa trực thuộc Bộ Công thương “trốn” niêm yết, người đại diện không thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ:

Từ 15 năm trước cho đến nay, để phát triển thị trường chứng khoán, thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa  & phát triển doanh nghiệp, Đảng  &  Nhà nước đã có  nhiều chủ trương chính sách gắn cổ phần hóa với việc niêm yết chứng khoán ;

Hơn 10 năm trước đây, VAFI từng có nhiều văn bản gửi Bộ trưởng Hoàng Trung Hải  kiến nghị bán bớt cổ phần nhà nước, thúc đẩy doanh nghiệp trực thuộc Bộ niêm yết nhằm tạo hàng hóa phát triển thị trường chứng khoán. Nguyên Bộ trưởng Hoàng Trung Hải đã rất cầu thị và thị trường chứng khoán liên tục đón nhận nhiều hàng hóa chất lượng được bán bớt cổ phần nhà nước và IPO như Vinamilk, Nhựa Bình Minh, Nhựa Tiến phong, Đạm Phú Mỹ, Khoan Dầu khí….

Tuy nhiên đến thời Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng thì không như vậy ? Nhiều doanh nghiệp đã cổ phần hóa như Sabeco, Habeco, Vinatex, Petrolimex, nhiều đơn vị thành viên đã cổ phần hóa trực thuộc các tập đoàn …không chịu niêm yết.

Để thúc đẩy mạnh mẽ việc thoái vốn nhà nước và niêm yết chứng khoán, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ban hành QĐ 51/2014/QĐ-CP ngày 15/9/2014 mà tại Điểm 2 Điều 14 của QĐ này qui định : “ Đối với doanh nghiệp đã chính thức chuyển thành công ty cổ phần trước ngày quyết định này có hiệu lực thi hành, đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo người đại diện phối hợp, đôn đốc doanh nghiệp hoàn tất việc thực hiện đăng ký giao dịch và niêm yết trong thời hạn tối đa 1 năm kể từ ngày quyết định có hiệu lực thi hành “ . Nhưng Quyết định này đã không  làm cho nhiều  đại diện cổ phần nhà nước tại Bộ Công thương tuân thủ thực hiện ?

Sabeco và Habeco là điển hình của việc tìm mọi cách trốn tránh niêm yết, không thực hiện chỉ thị của Chính phủ. Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng là thành viên Chính phủ, chắc phải nhiều lần nghe Thủ tướng nói về việc thúc đẩy doanh nghiệp niêm yết nhưng tại sao cựu Bộ trưởng không chấp hành lệnh của cấp trên, không triển khai thúc đẩy việc niêm yết  nhiều doanh nghiệp trực thuộc Bộ. Bộ trưởng mà không quan tâm đến việc thúc đẩy sự minh bạch thì cấp dưới cũng không thực hiện hoặc như Sabeco có nói rằng họ không có quyền cho doanh nghiệp niêm yết.

Cựu Bộ trưởng có biết rằng việc không tuân thủ QĐ 51 là gây thiệt hại cho nhà nước hay không ?

Việc nhiều doanh nghiệp đã cổ phần hóa rồi trốn tránh niêm yết tức là không thực hiện cam kết của Chính phủ với nhà đầu tư chứng khoán, từ đó làm giảm lòng tin từ giới đầu tư ;

Thực tế nhiều DNNN khi IPO mà nhà nước còn nắm giữ cổ phần chi phối xảy ra 2 kịch bản :

Doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả thì không bán được cổ phần hoặc chỉ bán được ít ;

Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả có bán được nhiều  cổ phần nhưng với giá thấp hơn so với giá trên thị trường chứng khoán, thường chỉ bằng từ 30%-50% vì người đầu tư phải phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra với họ như : DN cổ phần hóa trốn tránh niêm yết, việc bổ nhiệm người đại diện vốn nhà nước chất lượng kém .

4. Dưới thời cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng,  phong trào cổ phần hóa đi xuống và  trì trệ :

Không thể sôi nổi và tích cực như thời BT Hoàng Trung Hải ;

Bộ Công thương nắm nhiều doanh nghiệp ở vị thế kinh doanh thuận lợi  nhưng phong trào cổ phần hóa trong nhiệm kỳ 2010- 2015 còn thua xa Bộ Giao thông của nguyên BT Đinh La Thăng ;

Các con số thống kê thực tế nói lên tất cả ;

5. Việc  bổ nhiệm  Vũ Quang Hải làm thành viên HĐQT  kiêm PTGĐ Sabeco mang đậm tính vụ lợi và hành vi này bị  nghiêm cấm theo  Luật Phòng Chống tham nhũng :

VAFI từng đặt câu hỏi VQH về Cục XTTM để làm gì ?  Chắc chắn  không phải vì yêu thích công việc xúc tiến thương mại, hay vì muốn tiến thân theo con đường thuần túy là công chức nhà nước , trả lời cho câu này là VQH chỉ ở Cục XTTM có 1 năm rồi đi về Sabeco ;

Trong thời gian ngắn ngủi ở Cục XTTM  với vai trò là Phó GĐ Trung tâm hỗ trợ xuất khẩu , VQH còn được ưu ái và được bổ nhiệm chức danh Kiểm soát viên Tổng Công ty thuốc lá VN ( Vinataba )  . Việc bổ nhiệm này hoàn toàn phi lý, sai Luật và cũng mang tính vụ lợi :

Luật Công chức nhà nước  qui định điều kiện để làm thành viên BKS tại DNNN , người đó phải là công chức nhà nước, tuy nhiên VQH  nói với Báo Tuổi trẻ rằng khi được tuyển dụng về Trung tâm hỗ trợ xuất khẩu là không theo cơ chế tuyển dụng ngạch công chức nhà nước  ? Như vậy có thể ở thời điểm VQH về Cục XTTM vẫn chưa phải là công chức nhà nước ?

Theo Điểm 1e Điều 3 qui định về tiêu chuẩn điều kiện bổ nhiệm thành viên Ban kiểm soát của  (Nghị định số 66/2011/NĐ-CP ngày 1/8/2011  qui định việc áp dụng Luật cán bộ, công chức đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý công ty TNHH 1 TV do nhà nước làm chủ sở hữu ) thì :

Việc bổ nhiệm KSV phải tuân thủ  qui định tại Điều 122 Luật Doanh nghiệp 2005 và các qui định khác của pháp luật ;

Điểm 1b Điều 122 Luật DN 2005 qui định : “ Thành viên BKS không phải là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ , mẹ nuôi, con, con nuôi, anh,chị, em ruột của thành viên HĐQT, giám đốc hoặc TGĐ và người quản lý khác “ . Ông Vũ Huy Hoàng là BT, là người đại diện quản lý vốn cao nhất có quyền bổ nhiệm các thành viên HĐQT thì rõ ràng việc bổ nhiệm VQH  là không đúng Luật ;

Bổ nhiệm VQH làm KSV tại Vinataba để làm gì ? VQH có xứng đáng được bổ nhiệm không ? Có phải là vì mục tiêu quản lý vốn nhà nước cho Bộ không ? Rõ ràng là không vì chỉ sau 1 năm ở Cục XTTM,  VQH lại nhảy về Sabeco ?

Thông thường khi người ta chọn người làm KSV ở Bộ để thực hiện giám sát vốn nhà nước   người ta thường lấy người ở các Vụ, Cục có nhiệm vụ quản lý vốn nhà nước tại DNNN đó, tức là kiểm soát viên phải lấy từ Vụ Tài chính, Vụ Tổ chức hay Vụ quản lý ngành chứ người ta không lấy người ở Cục , Vụ khác không có nhiệm vụ quản lý vốn tại doanh nghiệp đó . Và Trung tâm hỗ trợ xuất khẩu không có nhiệm vụ quản lý vốn nhà nước tại Vinataba .

Để làm được  thành viên Ban Kiểm soát tại các Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước, ngoài việc bằng cấp về tài chính thì còn đòi hỏi KSV phải ít nhất có kinh nghiệm quản lý vốn và tài sản nhà nước trong 3 năm , bởi vì người KSV phải cập nhập kiến thức và chế độ chính sách của nhà nước liên quan đến rất nhiều lĩnh vực từ quản lý tài chính kế toán, luật doanh nghiệp, bất động sản, xây dựng, chế độ chính sách về tiền lương….Với trường hợp bổ nhiệm VQH tin rằng xuất phát điểm là không có kiến thức quản lý nhà nước về những nội dung nêu trên .

Từ  phân tích trên để khẳng định rằng VQH không đủ tư cách làm Kiểm soát viên tại Vinataba và không thể có chức Phó Vụ trưởng . Việc bổ nhiệm chức PVT cho VQH cũng là hành vi mang tính chất vụ lợi và bị pháp luật nghiêm cấm .

Trong vòng 1 năm, VQH có đóng góp gì cho Cục XTTM hay không ? Không thể có đóng góp gì dù là người có năng lực ,  vì sao :

Phải mất nhiều thời gian tìm hiểu công việc mới ;

Phải mất rất nhiều thời gian và công sức để hoàn thành các khóa học về hành chính công, quản lý nhà nước, các khóa tập huấn về chính trị…

Cho nên có thể khẳng định thêm rằng VQH về Cục không phải là cống hiến sức lực của tuổi trẻ mà chỉ là tạo ra 1 lý lịch đẹp để trở thành hàng ngũ lãnh đạo của Bộ Công thương và từ đó có thế mạnh  về làm lãnh đạo Sabeco ;  Nếu điều chuyển thẳng VQH từ TGĐ PVFI về Sabeco chắc là không thể thành công  , cho nên hành vi điều động VQH về Sabeco hay dưới dạng Sabeco tha thiết xin VQH mang đậm tính chất vụ lợi.