Bên trong ngôi nhà đắt tiền bậc nhất Trung Quốc có giá 3.400 tỷ đồng

Đó là khu dinh thự xa hoa tọa ở tỉnh Tô Châu, mới đây đã được rao bán trên trang web Mansion Global với mức giá hơn 154 triệu USD (tương đương khoảng 3.400 tỷ VNĐ). Số tiền khổng lồ này đã biến căn biệt thự thành bất động sản đắt đỏ nhất Trung Quốc.

Điều gì đã khiến nó đặc biệt đến vậy? Khu dinh thự sang trọng mang một cái tên rất thanh tao là ‘Đào hoa viên’, dịch ra tiếng Việt là vườn hoa đào, vốn là hình ảnh tượng trưng cho chốn thiên đường.

Đào hoa viên có diện tích lên đến hơn 6.700 m2 bao gồm 32 phòng ngủ và 32 phòng tắm, và được thiết kế theo kiến trúc cổ xưa của Trung Quốc. Khuôn viên bên trong khu biệt thự sang trọng còn có một cái hồ, một bể bơi lớn và một hầm rượu vang khổng lồ.

Ngoài ra, ngôi nhà trong mơ này còn có quang cảnh đẹp như tranh vẽ và nhìn thẳng ra hồ Độc Thự.

Nét kiến trúc thơ mộng trong Đào hoa viên làm chúng ta nhớ lại những cảnh tượng quen thuộc trong các bộ phim Trung Quốc cổ trang. Liệu bạn có muốn sống thử trong chốn thiên đường này một lần trong đời?

Bất chấp mức giá ‘trên trời’, một số nhà tài phiệt, tỷ phú nước ngoài vẫn thể hiện nhiều sự quan tâm đến căn biệt thự, một đại lý môi giới cho biết.

Đào hoa viên có lẽ là khu bất động sản có giá trị nhất Trung Quốc. Tuy nhiên ở Hồng Kông, còn có một ngôi nhà đắt hơn, trước đó vào năm 2015, tỷ phú nổi tiếng Jack Ma của tập đoàn Alibaba đã mua một căn biệt thự với giá 1.5 tỷ đôla Hồng Kông, tương đương hơn 4.300 tỷ VNĐ.

Nguồn ảnh: shanghaiist/Daikynguyen

 

Vị Bao Công của Việt Nam là ai?

Một cảnh xử án thời xưa (Ảnh: Internet)

Một cảnh xử án thời xưa (Ảnh: Internet)

Sông núi nước Nam là nơi sản sinh ra những bậc anh hào. Đó là các cao nhân lừng danh kim cổ hay những bậc hiền tài để lại tiếng thơm nơi hậu thế. Nguyễn Mại là một danh nhân như thế.

Sử sách nhắc đến ông như một vị quan văn võ song toàn, quan lại cùng thời ca tụng ông là “bậc thần giáng Hải Đông”, là “quý nhân Nam quốc”, còn dân gian thì tôn vinh ông là Bao Công nơi đất Việt.

Vậy hãy chắp nối từ các ghi chép trong lịch sử và những lưu truyền trong dân gian để cùng đến với bậc hào kiệt của trời Nam.

Quận công Nguyễn Mại

Nguyễn Mại (1655-1720) là người làng Ninh Xá, huyện Chí Linh, Hải Dương. Năm 1691, ở tuổi 36 ông đỗ Hoàng Giáp (vị trí chỉ đứng sau Trạng Nguyên), và làm quan dưới triều vua Lê Hy Tông.

Nguyễn Mại nổi tiếng là người văn chương lại hữu dũng. Sách Đại Nam nhất thống chí mô tả ông là người “có sức khỏe, có mưu lược (…) có chính tích đặc biệt, trộm cướp phải nín hơi, xét kiện sáng suốt, danh vọng rất cao”. Còn Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì viết: “Mại là người khỏe mạnh, có mưu lược lại giỏi bắn cung và cưỡi ngựa”. Trong đó cũng kể lại câu chuyện dũng khí của ông: “Một hôm, Lễ Phiên đang bàn việc, bỗng có con voi bị xổng, từ ngoài đi vào, khiến cho ai cũng hoảng hốt bỏ chạy, duy chỉ có Nguyễn Mại là thần sắc không hề thay đổi, vẫn đứng tiếp tục trình bày công việc như thường.”

Hình ảnh các vị quan thời xưa (Ảnh minh họa: Wikipedia)
Hình ảnh các vị quan thời xưa (Ảnh minh họa: Wikipedia)

Nguyễn Hoàn, một vị quan cùng thời, vốn là người nóng nảy, ưa cạnh tranh. Nhưng mỗi khi nhắc đến Nguyễn Mại, ông lại dành những lời thành kính và mến mộ. Ông từng viết bài “Tụng từ” ngợi ca Nguyễn Mại như sau:

“Văn kinh luân, võ tài lược, trong là cốt cán, ngoài là cánh vây.Chốn vương phủ sung Tri thủy Tri binh, đức vọng vòi vọi tựa Thái sơn Tung nhạc. Về địa phương là Đốc lãnh Đốc trấn, uy phong lẫm lẫm như nắng rực sương thu. Thanh danh vang vọng như chuông vàng nam lữ, tài nghệ sắc nét như thuyền thả Động Đình. Phép tắc nơi ba quân rành trong lòng bàn tay, lưu truyền tựa trí thần Tử Phòng tính toán. Cơ mưu chốn bát trận đầy sẵn trong bụng, tựa như tướng Gia Cát định quốc an dân (…) Tài đủ tiến lui, phong độ vững vàng, triều đình trông cậy”.

Với phẩm cách thanh cao quý, chính trực, không sợ cường quyền, Nguyễn Mại từng thẳng thắn chỉ trích lối sống xa hoa của chúa Trịnh. Cũng vì thế mà chúa Trịnh dù có phần phật ý nhưng vẫn kính nể và trọng dụng ông. Chúa Trịnh cũng là người giao cho ông trọng trách giữ thủy quân, sau làm đốc trấn Cao Bằng rồi chuyển về trấn thủ Sơn Tây.

Cũng tại trấn Sơn Tây, hay mảnh đất xứ Đoài này, mà chúng ta được biết đến tài năng xử án và xét đoán như thần của Nguyễn Mại. Hầu hết các câu chuyện xử án của ông được lưu truyền trong dân gian, dưới đây là một vài trong số đó.

Bao Công nơi đất Việt

Sách Đăng khoa lục sưu giảng viết rằng: Một lần Nguyễn Mại đi qua chợ Bảo Khám ở Gia Bình (Bắc Ninh), thấy người đàn bà mất màn (sách Hải Dương phong vật chí thì ghi là mất con gà) đang to tiếng chửi rủa. Có lẽ vì xót của mà bà ta lôi cả tam đời ngũ đại kẻ đánh cắp ra mà chửi. Ông bèn mắng người đàn bà này là ác khẩu, rồi sai tất cả người dân trong làng, cả già trẻ gái trai, đến vả vào má bà này. Mọi người vì sợ lệnh quan mà miễn cưỡng chấp hành, nhưng vẫn thương hại bà mà giơ cao đánh khẽ. Thế nhưng có một người lại ra sức tát mạnh. Nguyễn Mại lập tức cho bắt lại và tra hỏi. Quả nhiên đó chính là thủ phạm, vì bị chửi rủa mà căm phẫn bất bình.

(Ảnh minh họa: Internet)
(Ảnh minh họa: Internet)

Một lần khác khi đang vi hành chợ Sơn Tây, ông thấy hai người đàn bà đang giành nhau một tấm lụa. Ông phân xử xé đôi tấm lụa cho mỗi người một nửa. Sau đó, một người cầm mảnh lụa vui vẻ rời đi, còn người kia vẫn quỳ đó mà khóc lóc kêu than. Ông bèn phán: “Phàm chỉ có người làm ra tấm lụa mới biết trân trọng, tiếc công sức của mình. Còn chỉ biết hưởng công sức người khác thì mới hí hửng nhường ấy”. Nhờ đó mà ông đã tìm lại chủ nhân chân chính của tấm lụa. Đó cũng là vụ án xé đôi tấm lụa nổi tiếng trong dân gian.

Một vụ án cũng nổi tiếng không kém là vụ trộm chuối. Đó là lần Nguyễn Mại đi qua làng Đông Ngạc ở Từ Liêm (Hà Nội), ông gặp người đàn bà kêu mất buồng chuối. Ông nhìn vết chặt còn mới, đoán biết là kẻ trộm chỉ ở quanh đây. Ông liền ra lệnh cho người làng ra vét ao đình. Sau đó, ông sai mọi người rửa tay sạch để nhận trầu cau. Duy nhất có một người dù đã rửa tay nhưng vẫn lấm lem bùn đất. Nguyễn Mại cho bắt kẻ đó lại và phán rằng: “Chỉ có bàn tay dính nhựa chuối, lại ngâm xuống bùn thì mới bẩn, không dễ rửa sạch như vậy”. Người này sau đó không thể chối cãi, phải trả lại buồng chuối đã lấy.

Chốn quan trường thời xưa (Ảnh: Internet)
Chốn quan trường thời xưa (Ảnh: Internet)

Ngoài những vụ án phân xử công minh, Nguyễn Mại còn có tài năng và đức độ cảm hóa lòng người.

Khi còn là Đốc trấn Cao Bằng, ông từng phải đối phó với giặc cướp từ Quảng Tây tràn sang. Nhận thấy đám giặc phì thực ra chỉ là nông dân nghèo, vì quá đói khổ nên mới tìm đường trộm cướp. Ông chỉ hạ lệnh bắt rồi thả chứ không xét xử, thậm chí có lần còn cung cấp lương thực trước khi trả về. Cứ như vậy, ba lần bắt rồi thả, bắt rồi thả, đám giặc phì phương Bắc cảm động ân đức mà thôi không quấy nhiễu.

Về sau khi làm quan trấn Sơn Tây, công sở của ông bất ngờ bị cháy. Đám cháy lan sang cả nhà ngục, nơi giam giữ những bọn đầu trộm đuôi cướp của xứ Đoài. Ông không ngần ngại sai người mở cửa ngục, thả tất cả tù nhân ra ngoài. Mặc dù có cơ hội lẩn trốn, tìm đường đào tẩu, nhưng bất ngờ là tất cả tù nhân đều cùng nhau dập lửa. Sau đó, không ai bảo ai, bọn họ đều trở lại trại giam không sót một ai. Nguyễn Mại phải có một tâm hồn cao thượng và một tài năng đức độ đến nhường nào thì mới có thể cảm hóa những kẻ được gọi là” lưu manh vô lại” ấy.

Nổi tiếng là vị quan thanh liêm, cương trực, trong cuộc đời làm quan đã lập nhiều công trạng hiển hách, nhưng cuối đời ông lại chịu nhiều oan khiên và chết trong bí ẩn. Có tài liệu nói là vì mạo phạm can gián chúa Trịnh mà ông bị ám sát khi còn đương chức. Nhiều năm sau khi Nguyễn Mại qua đời, đất nước rối ren, xã hội tao loạn, hai hậu duệ của ông cầm quân khởi nghĩa chống lại triều đình. Vì lý do này mà mộ Nguyễn Mại bị đào lên, xương cốt ném xuống sông; bản thân ông cũng bị thêu dệt nhiều chuyện thị phi. Nhưng dẫu sự đời đổi trắng thay đen thì người dân xứ Đoài vẫn không quên truyền tai nhau những giai thoại đẹp về một tấm lòng trong sạch, một tài năng đức độ, một vị quan thanh liêm sáng suốt, và một vị Bao Công của nước Việt lưu danh ngàn đời.

Quả đúng là:

Ngô Đồng Nguyễn Mại danh hữu bỉnh
Minh mẫn thiên tư trù dữ tịnh
Xuân khoa nhị giáp đạt cao tiêu
Tây trấn lục niên thi đức chính
Đồn khuyển can thường tôi hữu dư
Xuân thu di bút công hàm lệnh
Triết đàn cổ thụ bạch vân đê
Trật điển khoa chương hồng nhật quýnh
Cố lý hưu đàm văn hiệu dĩ
Di phong đạo khởi nhân chiêm kính.

(Chí Linh phong vật chí)

Dịch nghĩa:

Ông Nguyễn mại làng Ngô Đồng* danh tiếng lừng lẫy
Thiên tư minh mẫn dễ ai sánh bằng
Khoa xuân đậu cao đệ nhị giáp
Trấn Sơn Tây sáu năm làm quan có đức chính
Chó lợn can tội thường có dư
Bút Xuân thu chép thì có hại gì đến danh giá ông
Nền thờ bậc hiền triết, cây cỏ mây phủ trắng
Sắc phong tự điểm như mặt trời sáng tỏ
Làng cũ thường bàn đến danh hiệu của ông
Di phong của ông làm cho người sau kính phục.

(*Ngô Đồng là tên gọi khác của làng Ninh Xá, còn gọi là làng Nành, ở Chí Linh, Hải Dương.)

Hồng Liên/daikynguyen

 

‘Bổ nhiệm cuối kỳ’ – chuyến tàu vét cuối cùng của quan chức?

“Ai cũng nghĩ rằng chuẩn bị nghỉ thì không còn gì để mất và cố làm chuyến tàu vét cuối cùng trước khi hạ cánh”.

Vì sao có hiện tượng bổ nhiệm ồ ạt cuối nhiệm kỳ là câu hỏi mà dư luận và gần đây nhất, Đại biểu Lê Thị Nga, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp đã đặt ra tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 11/7 vừa qua.Bà Nga nói: “Đề nghị Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra như ở Thanh tra Chính phủ dư luận phản ánh nhiều, Bộ Công thương cũng có ý kiến phản ánh về việc bổ nhiệm. Việc kiểm tra này không hẳn quá khó khăn vì ai đủ điều kiện, ai không đủ điều kiện có thể biết được. Nên làm một cách rõ ràng để xác định có việc như vậy không, dư luận phản ánh có đúng không?”.

Thật ra, hiện tượng này không mới. Nó đã diễn ra từ lâu mà đỉnh điểm, phải kể đến kỉ lục của nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ, ông Trần Văn Truyền. Chỉ trong vòng khoảng 2 tháng trước khi nghỉ hưu, vị Tổng Thanh tra này đã bổ nhiệm 60 chức danh cấp vụ và tương đương.

Thua kém ông Truyền một chút, tại TP HCM, Giám đốc sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Nguyễn Thành Rum trước khi “hạ cánh” cũng bổ nhiệm 30 chức danh trưởng, phó phòng và tương đương trong khoảng thời gian một tháng.

Gần đây, việc bổ nhiệm ông Trịnh Xuân Thanh trên con đường thăng tiến cũng khiến dư luận đặt nhiều câu hỏi.

Vì thế, có lẽ việc kiểm tra để trả lời câu hỏi có hay không là không cần thiết vì chắc chắn đến 101% là có hiện tượng này. Bà Nga cũng nói rất đúng, rằng “việc kiểm tra này không hẳn quá khó khăn vì ai đủ điều kiện, ai không đủ điều kiện có thể biết được” nên vấn dề là có kiểm tra hay không? Và kiểm tra rồi xử lý như thế nào?

Do đó, câu hỏi cần phải trả lời, đó là “Tại sao cuối nhiệm kỳ một số Bộ, ngành lại bổ nhiệm cán bộ ồ ạt?” như tên bài báo được đăng tải trên Infonet của Bộ Thông tin – Truyền thông ngày 12/7.

Câu hỏi này có hai luồng ý kiến trái chiều nhau.

Một phía thì cho rằng, việc ồ ạt bổ nhiệm mang lại một nguồn lợi to lớn cho cả hai phía, người bổ nhiệm và người được bổ nhiệm. Tóm lại, luồng ý kiến này cho rằng có vấn đề gì gì đó về cái gì gì đó được đựng trong cái… gì gì đó.

Tuy nhiên, còn một ý kiến khác và mình thuộc “phe” này. Đó là khâm phục, rất khâm phục các vị ấy ở tinh thần trách nhiệm với những người kế nhiệm.

Này nhé, cái khó nhất của người làm lãnh đạo là tạo dựng một guồng máy hoàn chỉnh để có thể vận hành trơn tru nhất, kể cả khi họ không có mặt.

Thế nhưng trong khi đương nhiệm, họ quá bận mải nên không, hoặc quên chưa nghĩ đến điều trọng đại này. Khi gần về hưu, còn một hai tháng nữa chẳng hạn, mới “giật mình ngã ngửa” biết mình không trong cơ cấu, trong khi đó thì bộ máy chưa chưa hoàn chỉnh.

Thế là lập tức, họ vò đầu bứt tóc, là nghĩ ngày, nghĩ đêm để làm sao tạo lập được một guồng máy hoạt động hiệu quả.

Và thế là hàng loạt cán bộ “bỗng dưng” thăng tiến, ồ ạt kéo nhau làm… lãnh đạo.

Khổ. Gian nan thế, vất vả thế, hết lòng, hết sức vì thế hệ sau, vậy mà thiên hạ nỡ lòng nào nghi này, ngờ nọ nhỉ?

Dư luận còn đặt vấn đề “có hay không chuyến tàu vét”, ví việc cố “chén” đến miếng cuối cùng trước khi “tàn bữa tiệc” bằng ngôn ngữ của dân cờ bạc mới đau.

Mà không phải dư luận, một đại biểu rất uy tín là bác Lê Như Tiến – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội trả lời báo chí cách đây 2 năm (10/2014) cũng nói:

“Tôi đã nhiều lần nói với cơ quan thông tin và cơ quan quản lý là nên có quy định cấm cán bộ lãnh đạo quản lý trước khi nghỉ hưu ký quyết định nhân sự và công trình đầu tư, dự án. Đó chính là phòng ngừa. Chừng nào không phòng ngừa thì vẫn còn xảy ra vì ai cũng nghĩ rằng chuẩn bị nghỉ thì không còn gì để mất và cố làm chuyến tàu vét cuối cùng trước khi hạ cánh”.

Oan, oan cho các bác ấy quá. Xưa bị oan, Thị Kính còn đến cửa Phật mà nương nhờ, nay thì chẳng biết các bác ấy nương nhờ, trông cậy vào đâu? Mà phải ngậm nỗi oan đến suốt cuộc đời thì đau đớn quá.

Mà theo các bạn, việc bổ nhiệm ấy là do “cái gì gì đó” hay là bởi tinh thần trách nhiệm “ngút ngát trời xanh” của các bác ấy nhỉ?

Theo DÂN TRÍ

Nỗi cô đơn của ông Võ Kim Cự!

FB Ngô Nguyệt Hữu

Ông Võ Kim Cự, cựu Chủ tịch UBND tỉnh, cựu Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh. Ảnh: internet

Ông Võ Kim Cự – Nguyên Chủ tịch, rồi Bí thư tỉnh Hà Tĩnh, tri kỷ tri âm với Formosa, người sẵn sàng gây hấn với tất cả những ai phản đối Formosa thời ông còn nắm cương vị lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh. Báo Tiền Phong có bài phản ánh, ông Cự đay nghiến mãi không thôi.

Nhà báo Phong Cầm của Báo Tiền Phong viết với đại ý rằng, “Tôi gọi cho ông Võ Kim Cự trình bày muốn hỏi về Formosa, ông Cự lập tức ngắt máy. Một lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh cho biết, hiện tại Chủ tịch hay Bí thư tỉnh Hà Tĩnh gọi điện thoại, ông Cự cũng không nhấc máy”.

Ông Cự, đang rất cô đơn. Trái ngược hoàn toàn, với cơn tăng động ngày trước. Những năm Formosa mới vào Hà Tĩnh, ông Cự vô cùng hào hứng với dự án này.

Bất chấp hơn 3.000 hecta đất nội bất xuất ngoại bất nhập nếu không có thẻ từ cá nhân được Formosa cung cấp thì không thể vào khu công nghiệp Vũng Áng, ông Cự vẫn hào hứng.

Bất chấp Formosa trình bày chỉ có 2,7 tỷ USD và nếu không được tạo điều kiện vay ngân hàng trong nước hoặc quốc tế thì dự án khó hoàn thành, ông Cự vẫn hào hứng.

Bất chấp trước Formosa có tập đoàn thép bề dày cả trăm năm kinh nghiệm của Ấn Độ xin đầu tư vào Hà Tĩnh, ông Cự vẫn hào hứng chọn Formosa.

Bất chấp Chủ tịch huyện Kỳ Anh từng bị dân vây đánh đến mức nhập viện vì dân phản ứng di dời lấy đất cho Formosa, ông Cự vẫn hào hứng.

Bất chấp vùng tái định cư của dân chỉ có cây đột điện và không có điện, những đứa trẻ không được đến trường vì thay đổi môi trường sống, ông Cự vẫn hào hứng.

Bất chấp tình hình các băng nhóm giang hồ người Trung Quốc tranh giành địa bàn, thiếu nữ Hà Tĩnh bị bắt cóc bán vào nhà thổ phục vụ cho công nhân Trung Quốc làm việc tại Formosa (chủ nhà thổ đòi 20 triệu mới trả về, sau phải nhờ công an can thiệp), ông Cự vẫn hào hứng.

Bất chấp mấy nghìn lao động chui đang hoạt động bền bỉ trong đại công trường Formosa, ông Cự vẫn hào hứng.

Và sự hào hứng của ông Cự đối với Formosa, chuyển sang cho cả thế hệ lãnh đạo kế nhiệm của ông.

Để rồi bây giờ, chính hậu sinh của ông Cự cũng cô đơn như nỗi cô đơn mà ông Cự đang nhận lãnh. Cô đơn đến độ con dân Hà Tĩnh có đến 16 Ủy viên Trung ương Đảng (13 chính thức, 3 dự khuyết), ngoại trừ Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường Trần Hồng Hà còn vì phạm vi quản lý mà lên tiếng, thì bói không ra một cảm thán khác từ những người con Hà Tĩnh đang làm quan to.

Cô đơn đến độ Bí thư, Chủ tịch, rồi Phó Bí thư lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh im lặng xem thảm họa do Formosa là chuyện ở Đài Loan chứ không phải ở nước mình. Kiểu như, chúng ta đọc báo về đảo chính ở Thổ Nhĩ Kỳ vậy.

Lãnh đạo Hà Tĩnh rời nhiệm sở cô độc, lãnh đạo đương nhiệm cũng cô đơn. Chỉ có nhân dân Hà Tĩnh bấu víu vào nhau mà hạnh phúc viên mãn thôi. Chỉ có nhân dân mấy tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình liền kề siết tay chúc nhau như lời cụ Nguyễn Công Trứ ngày xưa mà thôi.

Chúc rằng, “Kiếp sau xin chớ làm người / Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

Sống như vậy, thác xuống gặp tiên tổ thì biết ăn nói làm sao? Mà đến mức này, vẫn có thể sống được thì cũng hay tận cùng rồi, tài tận cùng rồi.

Tại sao ông Cự vẫn là Đại Biểu Quốc Hội? Ông ấy sẽ đại diện cho quyền lợi hợp pháp của ai?

Tại sao Việt Nam không kiện Trung Quốc?

Phán quyết 12/7 của Tòa PCA là chưa từng có tiền lệ

Câu hỏi “Kiện hay đàm phán?” đã được đặt ra sau khi Tòa Trọng tài PCA ra phán quyết ngày 12/7 về vụ Philippines đơn phương kiện Trung Quốc về cách diễn giải và áp dụng bộ Luật Biển 1982.

Kết quả phán quyết ra sao mọi người đều biết: Philippines đã thắng lớn trong vụ kiện.

Đường chữ U chín đoạn, yêu sách của Trung Quốc về “quyền lịch sử” (và trong chừng mực “danh nghĩa lịch sử”) ở khu vực Biển Đông đã bị Tòa bác bỏ. Đơn giản vì các yêu sách về lịch sử này đã không được Trung Quốc chứng minh.

Dầu vậy, theo Tòa, ngay cả khi các yêu sách (lịch sử) này được chứng minh, chúng cũng không còn ý nghĩa, vì nó đi ngược lại tinh thần Công ước về Luật Biển 1982 (UNCLOS).

Tòa cũng cho rằng các đảo thuộc Trường Sa không có cái nào được xem là “đảo” để có thể yêu sách vùng “kinh tế độc quyền” 200 hải lý. Phán quyết 12/7/2016 vì vậy hạn chế yêu sách của Trung Quốc thể hiện qua tấm bản đồ đường 9 đoạn gởi lên LHQ năm 2009.

Trên lý thuyết, yêu sách đường chữ U chín đoạn của Trung Quốc không còn lý do hiện hữu ở vùng biển Trường Sa nữa. Việt Nam vì vậy cũng thắng lớn.

Nguyên nhân thất bại của Trung Quốc, dĩ nhiên đến từ các yêu sách vừa phí lý, vừa quá lố của nước này. Nhưng chính yếu là do Trung Quốc đã không tham gia vụ kiện.

Các động thái của Trung Quốc, ngay vừa khi Tòa bắt đầu nhận đơn của Philippines, như cho bồi đắp, xây dựng các đảo nhân tạo tại các bãi cạn, đá… mà họ chiếm được của Việt Nam năm 1988… đối với Tòa là một sự khiêu khích trắng trợn, coi thường luật pháp quốc tế.

Phán quyết ngày 12/7 của Tòa là một cái tát vào mặt Trung Quốc (và là một bài học cho Việt Nam). Đáng lẽ phán quyết đã không đến nỗi nặng nề như vậy. Nguyên lý là kẻ vắng mặt lúc nào cũng bị thiệt thòi.

Việt Nam kiện, hay đàm phán, về cái gì với Trung Quốc?

Trung Quốc tiếp tục tuyên truyền về chủ quyền ở Nam Hải (Biển Đông)

Phán quyết của Tòa PCA ngày 12/7 đã không chỉ giải quyết những tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc tại khu vực Trường Sa mà còn mở cho Việt Nam nhiều cơ hội pháp lý (và ngoại giao) để giải quyết Hoàng Sa, vấn đề đã bị “đông lạnh” ít ra từ năm 1975 đến nay.

Cho rằng Việt Nam thắng lớn không phải là quá lố.

Vấn đề Trường Sa coi như “không đánh mà thắng”, không mua mà được. Việt Nam còn có thể khai thác “chiến thắng” này cho khu vực Hoàng Sa, tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bao gồm: tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, khác biệt lập trường phân định biển (đến từ các việc đối kháng về cách diễn giải về Luật Biển như vùng nước quần đảo, tình trạng pháp lý các thực thể ở Hoàng Sa…)

Kiện, vấn đề thuộc “pháp lý”, đàm phán thuộc ngoại giao. Vấn đề là Việt Nam có thể kiện, hay đàm phán, với Trung Quốc về cái gì tại Hoàng Sa?

Tranh chấp về chủ quyền Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc đã kéo dài hơn thế kỷ.

Từ thập niên 30-40 của thế kỷ trước, nhà nước bảo hộ Pháp, đã hai lần thách thức Trung Quốc giải quyết tranh chấp Hoàng Sa trước một trọng tài quốc tế. Cả hai lần Trung Quốc đều khước từ.

Trung Quốc cũng không hề “đàm phán” với nhà nước bảo hộ Pháp về Hoàng Sa. Họ chờ dịp thuận tiện thì ra tay. Tháng Giêng 1974 mở ra cho Trung Quốc cơ hội ngàn năm: Việt Nam Cộng hòa đang bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa uy hiếp về quân sự trong khi “đồng minh” Mỹ đã rút lui theo Hiệp định Paris 1973.

Trung Quốc đưa quân chiếm trọn Hoàng Sa, qua một cuộc chiến bất cân xứng về lực lượng giữa hải quân Trung Quốc và hải quân VNCH.

Sau 1975, VNDCCH thắng trận và “thống nhất đất nước”, không thấy hai bên Việt Nam và Trung Quốc đả động gì đến Hoàng Sa.

Chỉ đến tháng Hai 1979, chiến tranh biên giới bùng nổ, Việt Nam ra tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa cũng như giải thích lại nội dung các tuyên bố đơn phương trước đây của Việt Nam liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa như Công hàm 1958).

Không có đàm phán

Hòa bình được thiết lập, bang giao hai bên Việt-Trung được hàn gắn, từ đầu những năm 90, qua hệ quả của Hội nghị Thành Đô.

Từ đó đến nay không hề nghe có “đàm phán” nào giữa hai nước về Hoàng Sa. Việc phân định vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, tiếp nối theo việc phân định Vịnh Bắc Bộ (hiệp ước ngày 25-12-2000), vẫn trong tình trạng bế tắc mặc dầu công trình phân định Vịnh Bắc Bộ đã kết thúc từ lâu. Nguyên nhân dĩ nhiên đến từ tranh chấp chủ quyền cũng như hiệu lực các đảo Hoàng Sa.

Cho đến khi Trung Quốc kéo giàn khoan HY 981 đặt trên thềm lục địa Việt Nam, cách đảo Lý Sơn của Việt Nam khoảng 100 hải lý, cách đảo Tri Tôn (thuộc Hoàng Sa) khoảng 20 hải lý, mâu thuẫn giữa hai bên Việt Nam và Trung Quốc mới được biểu lộ ra trước công chúng.

Đối với Việt Nam, hành vi Trung Quốc đặt giàn khoan HY 981 nhằm thám hiểm, thăm dò thềm lục địa là xâm phạm đến quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, được thiết lập theo Luật Biển 1982. Lập luận của Trung Quốc là giàn khoan HY 981 hoạt động trong khu vực biển và thềm lục địa của quần đảo Hoàng Sa.

Khủng hoảng đem đến do giàn khoan HY 981 hiển nhiên bắt nguồn từ việc đối kháng cách diễn giải bộ Luật Biển 1982 về “hiệu lực các đảo” thuộc quần đảo Hoàng Sa theo điều 121. Ngoài ra còn có quan điểm của Trung Quốc về lãnh hải, thể hiện qua hệ thống đường cơ bản của quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã công bố từ năm 1996.

Khủng hoảng do giàn khoan HY 981 đem lại ít nhiều hệ quả trong xã hội Việt Nam. Dầu vậy vẫn không có “đàm phán” nào giữa hai bên Việt Nam và Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa.

Tin tức từ trong nước cho biết, từ lâu, Trung Quốc không nhìn nhận “có tranh chấp với Việt Nam về Hoàng Sa”. Đối với Trung Quốc, Hoàng Sa là chuyện đã rồi, đã thuộc về Trung Quốc. Trung Quốc không chấp nhận bất kỳ một “đàm phán” nào với Việt Nam về vấn đề này.

Sau vụ giàn khoan HY 981, ta có thể khẳng định rằng tin tức nói trên là đúng. Không hề có “đàm phán” nào giữa Việt Nam với Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa. Vị trí mà Trung Quốc đặt giàn khoan cho ta biết yêu sách về biển của Trung Quốc.

Chưa bao giờ Trung Quốc muốn ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam về vấn đề Hoàng Sa cả.

Vụ giàn khoan 981 đánh động dư luận trong nước về vấn đề Hoàng Sa

Nhưng từ phán quyết ngày 12/7 của Tòa, Việt Nam có thể “ép” Trung Quốc ngồi vào bàn “đàm phán” với mình về tranh chấp Hoàng Sa.

Việt Nam có thể vịn vào 3 khoản : 1/ các đảo Hoàng Sa, tương tự như Trường Sa, không có cái nào phù hợp cho đời sống một cộng đồng dân chúng cũng như có thể có một nền kinh tế tự tại. 2/ không hiện hữu vùng nước quần đảo và 3/ ngư trường Hoàng Sa là ngư trường truyền thống của ngư dân Việt Nam.

Từ những luận điểm này Việt Nam có thể “đàm phán song phương” với Trung Quốc để thực hiện các điều: 1/ phân định vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và xác định đường phân định giữa bờ biển Việt Nam và đảo Hải Nam. 2/ Trong vùng lãnh hải 12 hải lý các đá thuộc Hoàng Sa là ngư trường lịch sử của Việt Nam.

Đàm phán “song phương”, bởi vì các việc phân định biển và việc xác định ngư trường truyền thống các đá ở Hoàng Sa là chuyện “riêng” giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Chỉ khi nào Trung Quốc một mực từ chối “đàm phán”, lúc đó ta mới có thể nghĩ đến việc đi kiện.

Bởi vì, việc “đi kiện” (trước Tòa án về Luật Biển) chỉ được một bên áp dụng khi mà mọi phương án “ngoại giao” (tức đàm phán) đều cạn kiệt. Luật Biển 1982 xác định rõ việc này ở các điều 281 và 282.

Việt Nam bị ràng buộc bởi các tuyên bố chung, theo đó hai bên giải quyết các tranh chấp thông qua thủ tục “đàm phán” và (việc đàm phán) dựa trên căn bản:” tuân thủ những nhận thức chung quan trọng đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước… nghiêm túc thực hiện những Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc”.

Do đó, ngay khi cả việc “đàm phán” đã kiệt, vì Trung Quốc không chấp nhận đàm phán, như vụ giàn khoan 981, việc đi kiện đối với Việt Nam vẫn không dễ.

Kiện gì? Ở đâu?

Đường lưỡi bò yêu sách chủ quyền của Trung Quốc

Chúng ta đâu ai biết được “những nhận thức của lãnh đạo” về Hoàng Sa và Trường Sa là gì? Lãnh đạo này là ai? (Nếu là ông Hồ Chí Minh hay ông Phạm Văn Đồng, thì Việt Nam xem như mất Hoàng Sa và Trường Sa). Những “thỏa thuận” giữa hai bên về “nguyên tắc cơ bản” gồm những nguyên tắc nào?

Vì vậy, theo tôi, nếu ta không làm sáng tỏ những chi tiết ghi trên thì việc “lo liệu hồ sơ” đi kiện cũng hoài công.

Bởi vì, tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về Hoàng Sa đã trên 100 năm, tranh chấp Trường Sa bắt đầu từ sau Thế chiến Thứ hai, cũng đã tròn 70 năm. Từ 1975, Việt Nam đã có vô số cơ hội đi kiện Trung Quốc để giải quyết vấn đề mà Việt Nam đã không đi kiện.

Tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines chỉ bộc phát mới đây. Philippines chỉ bắt đầu yêu sách một số đảo Trung Quốc từ thập niên 50, mà nguyên tắc về thụ đắc chủ quyền lãnh thổ của Philippines cũng không tuân thủ theo tập quán quốc tế. Manila chỉ kiện Bắc Kinh qua sự việc Trung Quốc chiếm các đá Scarborough, uy hiếp quân đội Philippines ở bãi Cỏ Rong, cho xây dựng đảo nhân tạo ở bãi chìm Vành Khăn… Tức những sự kiện chỉ xảy ra mới đây, không quá 5 năm.

Việt Nam không kiện Trung Quốc hẳn nhiên có một số lý do tiềm ẩn. Và có thể Việt Nam sẽ không bao giờ kiện được Trung Quốc, cũng bởi những lý do tiềm ẩn này.

Nhưng từ phán quyết 12/7 của PCA, Việt Nam có thể vịn vào một số phán lệnh làm cơ bản, từ đó “ép” Trung Quốc ngồi vào đàm phán với mình về Hoàng Sa. Nếu Trung Quốc chấp nhận đàm phán, tức là Trung Quốc đã nhìn nhận “có tranh chấp” ở Hoàng Sa.

Nếu đi kiện, Việt Nam cũng không thể kiện ra ngoài nội dung các bảo lưu của Trung Quốc (về chủ quyền, về phân định biển). Việt Nam chỉ có thể kiện ở các nội dung tôi đã liệt kê ở trên.

Mà theo các điều 282, 283 của Luật Biển, Việt Nam chỉ có thể kiện khi “đàm phán” đã kiệt. Phi lý là vậy. Ý kiến của một số học giả không chủ trương đàm phán với Trung Quốc, vậy thì Việt Nam có thể làm gì? Nếu kiện thì kiện cái gì và kiện ở đâu?

Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong riêng của tác giả, nhà nghiên cứu sống ở Pháp.

Đường Lưỡi Bò từ đâu mà ra?

BBC

Một tác giả Trung Quốc, ông Tiết Lực giải thích về Đường Chín Đoạn hình thành ra sao từ thời Tưởng Giới Thạch và cho biết cả chính sách liên quan từng bị Tổng thống Trần Thủy Biển của Đài Loan xóa bỏ.

Thế nhưng, trong bối cảnh tranh chấp tại Biển Đông lên cao, Đường Chín Đoạn mà người Việt Nam hay gọi là Đường Lưỡi Bò, lại được Trung Quốc ‘tiếp quản’, và đề cao.

Trả lời trang The Diplomat hôm 06/07/2016, trước ngày phán quyết của Toà Trọng tài Thường trực (PCA) tháng này, ông Tiết Lực (Xue Li) từ Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc giải thích ngọn nguồn vụ việc:

“Ý tưởng rằng Đường Chín Đoạn phân định ra vùng nước lịch sử là do Đài Loan đề ra, và sau được đưa vào trong ‘Nam Hải Chính sách Cương lĩnh – Nanhai Zhengce Gangling’ năm 1993.

“Vùng nước lịch sử giống vùng nội thủy nhưng có ý nghĩa pháp lý thấp hơn.”

“Tổng thống Trần Thủy Biển đã bác bỏ chính sách này vào năm 2003 khi ông lên cầm quyền, nhưng Đài Loan chưa bao giờ ra tuyên bố về vùng nước nằm trong Đường Chín Đoạn, nên các vùng nước này vẫn có thể bị cho như là vùng nước lịch sử.”

Ông Trần Thủy Biển từng bỏ Chính sách Nam Hải năm 2003

Mơ hồ vì vẽ bản đồ kém?

Ông Tiết Lực nêu quan điểm rằng Đường Chín Đoạn chỉ nên được coi là đường phân định chủ quyền của các hòn đảo vì cách hình thành với các lý do kỹ thuật khiến chúng thiếu chính xác:

“Khi đường này được chính quyền Trung Hoa Dân quốc của Quốc Dân Đảng vẽ ra năm 1947, Trung Quốc không có khả năng đo lường các hòn đảo để xác định mọi địa hình tạo đường phân định cho khu vực hành chính xung quanh.”

“Vì thế, họ vẽ ra đường chạy qua điểm giữa các hòn đảo và vùng đất lân bang để chỉ ra rằng các đảo nằm bên trong đường vẽ ra là lãnh thổ Trung Hoa.”

Có bản đồ in Đường 11 đoạn nhưng Chu Ân Lai ra lệnh xóa đi hai vạch, còn lại 9

“Đường này nói chung chạy qua điểm trung tuyến giữa các điểm nhô ra nhất của các hòn đảo và địa hình của đất liền xung quanh. Không hề có các vị trí địa lý cụ thể được nêu ra, và những bản đồ mỗi thời in một kiểu lại có chút ít khác biệt về điểm chính xác của đường chín đoạn này.”

Theo ông Tiết Lực, Trung Hoa lục địa sau này đưa Đường Chín Đoạn và Luật lãnh hải năm 1992 và ra công bố ngoại giao khẳng định “chủ quyền không tranh cãi” về các đảo ở biển Nam Trung Hoa và mọi vùng nước xung quanh.

Nhưng theo ông, “đường chín đoạn nên được coi như là ranh giới chủ quyền của các hòn đảo” mà thôi.

Ông cũng giải thích vì sao Trung Quốc cho xây cất trên các bãi đá ở Biển Đông.

“Trung Quốc chỉ làm những gì các nước khác đã làm. Ở quần đảo Nam Sa (Trường Sa), có 50 đảo hiện đang được chiếm giữ thì 29 do Việt Nam, 5 do Malaysia, 8 do Philippines, và 7 do Trung Quốc, và 1 do Đài Loan chiếm.”

Trung Quốc không muốn ở vào vị trí bất lợi nên bắt đầu xây đắp từ 2013, và điều khác biệt là chương trình bồi đắp của Trung Quốc lớn hơn [các nước kia] về tầm vóc, ông nói.

Bản tiếng Trung bài phỏng vấn với ông Tiết Lực được đăng trên trang 21ccom.net.

Ông Tiết Lực, hiện giữ chức chủ nhiệm Ban nghiên cứu chiến lược quốc tế, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc, không phải là người đầu tiên và duy nhất trong giới chuyên gia tiếng Trung lên tiếng về tính thiếu chính xác của Đường Chín Đoạn.

Một học giả khác, giáo sư Uông Tranh từ Đại học Seton Hall, Hoa Kỳ, cũng có bài gần đây nói về tính mơ hồ của Đường Chín Đoạn.

Cũng viết trên trang The Diplomat, ông nói ông chưa tìm thấy bất cứ sách nào xuất bản ở Trung Quốc “phân tích cụ thể, đầy đủ và khách quan về cả sự kiện và lịch sử Biển Nam Trung Hoa cũng như quá trình hình thành bản đồ Đường Chín Đoạn và ý nghĩa của nó”.

Đường Chín Đoạn nay chính thức được Trung Quốc tuyên truyền khắp nơi

Hôm 12/7, Tòa Trọng tài Thường trực tại Hague, Hà Lan đã ra phán quyết chung cuộc vụ Philippines kiện Trung Quốc về Đường Chín Đoạn.

Tòa nói không có bằng chứng lịch sử cho thấy Trung Quốc có thể kiểm soát đặc quyền các vùng biển và nguồn tài nguyên ở Biển Đông.

Trung Quốc nói sẽ không công nhận phán quyết của Tòa và tiếp tục bảo vệ quyền lợi của mình.