5 quán cà phê ‘check in’ siêu đẹp ở Hà Nội

Những quán cà phê không chỉ làm bạn ngất ngây với đồ ăn, thức uống mà còn là địa điểm check in tuyệt đẹp mà bạn chắc chắn không thể bỏ lỡ.

Tearanium coffeeTọa lạc trên con đường được mệnh danh là “con đường lãng mạn nhất Hà Nội”, Tearanium coffee là một địa điểm rất thu hút giới trẻ dạo gần đây. Quán nằm trên tầng 2, với view nhìn thoáng rộng ra con đường tình yêu. Không chỉ vậy, quán còn tràn ngập sắc xanh, được trang trí đẹp tựa như một khu vườn mùa xuân với những chậu cây kiểng nhỏ xinh.

Đặc biệt, nếu bạn là người yêu mèo thì có lẽ Tearanium coffee sẽ là địa điểm không thể bỏ lỡ. Quán mở cửa vào lúc 9 giờ tới 11 giờ tối có đồ uống ngon, món bánh độc đáo, mới lạ với mức giá phù hợp dao động từ 30.000 – 50.000 đồng. Nếu tới đây, bạn nhất định phải thưởng thức món bánh chậu cây cực lạ chỉ có tại quán.

quán cà phê, check in, món ngon, du lịch, Hà Nội, khách
Nếu bạn là người yêu mèo, thích không gian ngập tràn sắc xanh thì có lẽ Tearanium coffee sẽ là địa điểm nhất định phải ghé qua.
quán cà phê, check in, món ngon, du lịch, Hà Nội, khách
Tới đây, bạn nhất định sẽ ngây ngất với thức uống đặc biệt chỉ có tại quán.

D’Alice

Mang đậm phong cách hoàng gia Châu Âu, với những đồ vật trang trí, nội thất sang trọng, điệu đà, cổ điển, D’Alice có thể làm say đắm bất cứ cô gái nào. Quán trà nổi bật với những chiếc ghế đặc biệt, có lưng ghế chùm cao lên đầu, màu sắc tao nhã. Có lẽ bởi vậy, khi nhìn thấy những bức ảnh chụp ai đó với chiếc ghế này, bạn có thể dễ dàng nhận ngay ra nơi “ẩn trú” của người ấy.

Quán mở cửa từ 8 giờ sáng đến 10 giờ 30 tối, phục vụ chủ yếu các loại trà và các món bánh được trang trí vô cùng đẹp mắt. Còn gì tuyệt vời hơn vừa được thưởng thức âm nhạc du dương vừa được nhâm nhi ly trà chiều bên chiếc bánh đẹp mắt trong một không gian cổ điển tại nơi này?

quán cà phê, check in, món ngon, du lịch, Hà Nội, khách
D’Alice là địa điểm check in hoàn hảo cho những ai thích phong cách hoàng gia Châu Âu
quán cà phê, check in, món ngon, du lịch, Hà Nội, khách
Những đồ ăn, thức uống tại đây chắc chắn cũng sẽ làm bạn ngây ngất.

Xofa Café

Nằm trên con phố ẩm thực tấp nập của Hà Nội, Xofa café luôn là một trong những quán café hot của giới trẻ. Quán nổi bật với không gian thoáng mát, nhiều khoảng không, và sân vườn tràn ngập sắc xanh. Bởi vậy, nơi đây được các bạn trẻ ưu ái với tên gọi “thiên đường xanh” giữa lòng Hà Nội.

Nếu đến đây vào buổi tối, bạn cũng sẽ bị choáng ngợp bởi không gian quán lung linh sắc màu. Không chỉ vậy, nét độc đáo của địa điểm này còn được thể hiện qua đồ nội thất. Bàn ghế ở đây mang đậm phong cách Xofa, được Xofa tự thiết kế và đặt làm, rất riêng và cá tính. Quán phục vụ cả ngày với đa dạng đồ uống và các loại bánh đi kèm, mức giá cho đồ uống dao động từ 30.000 – 50.000 đồng.

quán cà phê, check in, món ngon, du lịch, Hà Nội, khách
Quán nổi bật với không gian thoáng mát, nhiều khoảng không, và sân vườn tràn ngập sắc xanh sẽ là nơi lý tưởng cho những bức hình đẹp chụp cùng người thân và bạn bè.

VINTAGE 1976

Nếu bạn là người ưu thích phong cách vintage cổ điển thì VINTAGE 1976 sẽ là địa điểm mà bạn không thể bỏ lỡ. Quán có không gian ấm áp, cổ điển và view đẹp nhìn thẳng ra đường Lý Thường Kiệt.

Đặc biệt với phong cách riêng độc đáo, bạn có thể lựa chọn những góc chụp đẹp mắt, nghệ thuật tại chính địa điểm này. Quán mở cửa từ 7 giờ sáng tới 11 giờ tối, đa dạng các loại đồ uống và các đồ ăn đậm phong cách Âu như súp, salad, pizza, mì Ý… với mứa giá phải chăng, thích hợp cho một buổi nghỉ ngơi cuối tuần.

quán cà phê, check in, món ngon, du lịch, Hà Nội, khách
Nếu bạn là tín đồ của phong cách đậm chất cổ điển, đây nhất định là nơi bạn không thể bỏ lỡ.

Toast’n tea

Nằm trên con phố Hoàng Cầu sầm uất, Toast’n tea thu hút với vẻ yên bình, tránh xa ồn ào thường nhật. Quán có gam màu chủ đạo là nâu, đen kết hợp với màu trắng nhã nhặn, tinh khôi. Bên cạnh đó, với thiết kế các ô cửa kính tạo nên một không gian mở, rộng rãi, với view nhìn thoáng, đẹp. Quán là điểm đến thích hợp cho những ai ưu sự yên tĩnh, muốn thư giãn sau những ngày mỏi mệt, bộn bề công việc.

Những đồ uống, hay đồ ăn mang đậm phong cách châu Âu, với mức giá đồ uống dao động từ 25.000 – 50.000 đồng. Tới đây, bạn nhất định phải thưởng thức món bò bít tết được nướng trực tiếp bằng lò than, ăn kèm với nhiều loại nước sốt do bạn lựa chọn.

quán cà phê, check in, món ngon, du lịch, Hà Nội, khách
Toast’n tea nổi bật với gam màu chủ đạo là nâu, đen kết hợp với màu trắng nhã nhặn, tinh khôi.
quán cà phê, check in, món ngon, du lịch, Hà Nội, khách
Không chỉ nổi bật với không gian check in đẹp mắt, các món ăn, đồ uống tại Toast’n tea cũng vô cùng ấn tượng.

Đầu tư Hàn Quốc đang biến Việt Nam thành cứ điểm sản xuất điện tử toàn cầu

Ảnh Lao Động

Hàn Quốc tiếp tục là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất tại Việt Nam với khoảng 48,5 tỷ USD, và các dự án đang triển khai của đối tác này đang tạo cơ hội lớn để biến Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất đồ điện tử toàn cầu.

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong 6 tháng đầu năm 2016, Việt Nam có 1.145 dự án FDI mới với tổng vốn đăng ký là 7,5 tỷ USD, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ, và có 535 dự án tăng vốn lên 3,8 tỷ USD, tăng 129% so với cùng kỳ. Như vậy, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 11,3 tỷ USD, tăng 105% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 6 tháng đầu năm có 61 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,99 tỷ USD, chiếm 35,37% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.

Nhật Bản đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,229 tỷ USD, chiếm 10,8% tổng vốn đầu tư đăng ký; Singapore đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,129 tỷ USD, chiếm 10% tổng vốn đầu tư.

Luỹ kế, Hàn Quốc đã đầu tư khoảng 48,5 tỷ USD vốn FDI vào 5.364 dự án tại Việt Nam, trong khi Nhật Bản đầu tư khoảng 39,8 tỷ USD với 3.117 dự án. Thời gian qua, do kinh tế suy thoái nên Nhật đã đánh mất vị trí đầu tư số 1 tại Việt Nam.

Hàn Quốc đang ngày càng trở thành đối tác đầu tư quan trọng của Việt Nam với lý do không chỉ vì số lượng vốn lớn mà còn vì vốn đầu tư từ quốc gia này đang hướng đúng vào mục tiêu chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam.

Một trong những dự án lớn của Hàn Quốc đang đầu tư tại Việt Nam là dự án Cty SamSung Display Việt Nam với số vốn đầu tư tăng thêm là 3 tỷ USD. Dự án này được cấp phép năm 2014 với số vốn đầu ban đầu là 1 tỷ USD, được đầu tư tại KCN Yên Phong 1, Bắc Ninh, với mục tiêu sản xuất, lắp ráp, gia công, tiếp thị hoặc bán các loại màn hình.

Các dự án quy mô lớn gần đây của các nhà đầu tư Hàn Quốc như Samsung, LG, Posco, Hyundai, Lotte… đã tác động lớn tới kinh tế – xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam.

Một số dự án lớn của Hàn Quốc được cấp phép trong 6 tháng đầu năm 2016 là:

– Dự án LG Display Hải Phòng, cấp phép ngày 15/4/2016, tổng vốn đầu tư đăng ký 1,5 tỷ USD do Công ty LG Display Co. Ltd đầu tư với mục tiêu sản xuất và gia công sản phẩm màn hình OLED nhựa cho các thiết bị di động như điện thoại di động, đồng hồ thông minh, máy tính bảng….

– Dự án Trung tâm nghiên cứu và phát triển Samsung với tổng vốn đầu tư đăng ký 300 triệu USD, do Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam đầu tư với mục tiêu tổ chức triển khai các hoạt động nghiên cứu và phát triển các sản phẩm điện, điện tử và viễn thông công nghệ cao tại Hà Nội.

– Dự án nhà máy điện gió Hàn Quốc Trà Vinh (giai đoạn 2), tổng vốn đầu tư đăng ký 247,6 triệu USD, với mục tiêu sản xuất điện từ năng lượng gió cung cấp vào lưới điện quốc gia.

Về mặt trình độ công nghệ và thân thiện môi trường, các dự án của Hàn Quốc cơ bản đều đạt chuẩn công nghệ quốc tế, ít tác động đến môi trường. Các dự án này cũng đã tạo cơ hội lớn để Việt Nam trở thành cứ điểm sản xuất điện thoại di động, đồ điện tử gia dụng trên toàn cầu.

Nhiều tỉnh phía Bắc như Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng đã tận dụng tốt cơ hội từ các nhà đầu tư Hàn Quốc để phát triển công nghiệp phụ trợ và đã tạo được các động lực tăng trưởng cho khu vực kinh tế phía Bắc.

Thành Long

4 lý do Trung Quốc không thể thắng Việt Nam bằng chiến tranh

Trên trang mạng Quân sự Trung Quốc (Military.china.com) ngày 3/7 có bài viết cho rằng với 4 lý do cốt tử, gần như chắc chắn Trung Quốc sẽ phải gánh chịu thất bại nếu gây chiến tranh với Việt Nam.

Căng thẳng trên biển Hoa Đông giữa Trung Quốc với Nhật Bản hay trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc càng trở nên căng thẳng hơn thì những lời kêu gọi gây chiến không chỉ đến từ các cấp lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc, mà còn bởi một bộ phận người Trung Quốc thiếu hiểu biết, mang tư tưởng chủ nghĩa dân tộc “Đại Hán” cực đoan, luôn cổ vũ cho những hành động mang tính chất ngang ngược vô đạo đối với các nước láng giềng.Nhưng bên cạnh đó cũng những người Trung Quốc hiểu và biết rằng, nếu bây giờ Trung Quốc gây chiến với các nước láng giềng họ sẽ tự chuốc lấy họa.

Trên trang mạng Quân sự Trung Quốc (Military.china.com) ngày 3/7 có bài viết cho rằng với tình hình hiện tại Trung Quốc không thể gây chiến.

1. Theo đó lý do thứ nhất là sự lão luyện thiện chiến của quân đội Việt Nam. Bài viết cho rằng, không phải các lãnh đạo Trung Quốc không dám gây chiến mà bởi vì với những hạn chế hiện tại của Trung Quốc, thì nước này không thể tiến hành một cuộc chiến tranh với bất kỳ quốc gia láng giềng nào.

Nếu Trung Quốc gây chiến với Việt Nam, Trung Quốc sẽ rơi vào cái bẫy. Những bài học từ cuộc chiến với Việt Nam năm 1979 đã cho thấy sự hao tiền tốn của và sinh mạng như thế nào. Chỉ riêng trong trận Lão Sơn, mỗi tuần Trung Quốc tiêu hao gần 200.000 quả đạn pháo, nhưng vẫn thiệt hại từ 4.000 đến 8.000 quân.

Bài báo trên trang mạng của Trung Quốc nói: “Quân đội Việt Nam sử dụng chiến thuật chiến tranh du kích rất lão luyện, họ sẽ đánh bại chúng ta bằng cuộc chiến tiêu hao từ từ cho đến khi chúng ta thất bại, chúng ta không thể khinh thường họ.

Người Mỹ đã hết sức sai lầm khi tuyên bố “đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá” và Việt Nam đã đáp lại bằng câu nói rằng “chúng tôi đã bước vào thời kỳ đồ nhôm” (ám chỉ rất nhiều xác máy bay Mỹ đã xuất hiện trên mặt đất ở miền Bắc Việt Nam)…

Vì vậy Trung Quốc không thể chiến thắng bằng cách gây ra chiến tranh, bài học về các lực lượng không quân và hải quân hùng mạnh nhất thế giới bị Việt Nam tiêu diệt vẫn còn giá trị”.

2. Thứ hai, đó là môi trường chính trị quốc tế, khi gây ra cuộc chiến tranh với Việt Nam, Trung Quốc đầu tiên sẽ phải đối mặt với sự lên án một cách gay gắt từ dư luận phương Tây và Hoa Kỳ cũng như Nhật Bản.

Không những thế, gây chiến với Việt Nam sẽ làm cho Trung Quốc không còn chỗ đứng trên trường quốc tế. Các nước trên thế giới sẽ lên án Trung Quốc vì sức mạnh truyền thông nằm trong tay các nước phương Tây, và trong cuộc chiến truyền thông thì Trung Quốc hoàn toàn bị động.

Cuộc chiến sẽ làm cho Trung Quốc mất dần sức mạnh và suy yếu, các lực lượng thù địch Trung Quốc sẽ thừa cơ can thiệp vào Trung Quốc.

Thứ ba, Trung Quốc phải đối mặt với vấn đề thù trong giặc ngoài. Trong khi chính trong nội bộ lãnh đạo Trung Quốc vẫn còn tồn tại những vấn đề rất lớn thì bên ngoài Trung Quốc lại đang phải đối diện với một vòng vây chữ C của các nước.

Nếu Trung Quốc sử dụng những lực lượng tinh nhuệ nhất, hiện đại nhất để đối phó với Việt Nam thì ở những khu vực khác của Trung Quốc lực lượng sẽ yếu và mỏng đi, Trung Quốc sẽ đối mặt với điều cấm kỵ trong binh pháp đó là cùng một lúc phải đối mặt với hai hoặc nhiều mặt trận.

Có thể dự đoán khi Trung Quốc khai chiến với Việt Nam thì Đài Loan sẽ tuyên bố độc lập ngay tức khắc, lúc đó Trung Quốc không thế nào chiến thắng được trên mặt trận Đài Loan vì Hoa Kỳ sẽ đứng sau hậu thuẫn.

3. Tiếp theo là Nhật Bản sẽ kiểm soát hoàn toàn quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, Trung Quốc sẽ đánh mất cơ hội kiểm soát Bắc Triều Tiên, Ấn Độ đánh chiếm khu vực tranh chấp và thôn tính miền Nam Tây Tạng…

Việc Trung Quốc không thể lấy bài học của Hoa Kỳ tại Lybia hay bài học của Nga tại Georgia bởi vì không chỉ là sức mạng quốc gia của họ mạnh hơn Trung Quốc mà với các cuộc chiến trên thì Nga và Mỹ họ đều có sự thuận lợi về yếu tố địa chính trị, họ không có những vấn đề lớn phức tạp với các nước láng giềng và sự ổn định cơ bản trong nội bộ đất nước, do đó họ không phải lo lắng áp lực từ bên ngoài và nội bộ để có thể giành chiến thắng.

4. Và điểm cốt lõi quan trọng nhất trong cuộc chiến Iraq, Afghanistan là bởi đó là những quốc gia sa mạc, Không quân Mỹ có thể dễ dàng oanh kích kẻ thù, trong khi đó Georgia vốn chỉ là một đồng bằng chỉ cách ba mươi sáu cây số từ Nga, vì vậy lực lượng cơ giới Nga có thể ngay lập tức cơ động đánh chiếm.

Nhưng với Việt Nam thì khác, những bài học trên không thể áp dụng được, Việt Nam được bao bọc bởi đồi và núi. Pháp, Hoa Kỳ và cả Trung Quốc đã phải nếm trải những thất bại đau đớn tại đây, một cuộc chiến với Việt Nam sẽ hết sức khó khăn,

Việt Nam rất lão luyện trong chiến tranh du kích, do đó việc sử dụng tên lửa, máy bay chiến đấu là một sự ngu ngốc! Các đơn vị cơ giới (của Trung Quốc) sẽ bị chặn lại bởi các dãy núi, vì vậy chắc chắn họ sẽ rơi vào một cuộc chiến tranh tiêu hao kéo dài.

Theo INFONET

HỒ SƠ FORMOSA HÀ TĨNH

FB Trần Kiên

PHẦN 1

TL, DR: lý do nào làm cho một công ty chuyên về hóa dầu và hóa chất, chưa bao giờ sản xuất thép như Formosa Đài Loan lại bỏ 10 tỉ USD xây nhà máy thép tại Việt Nam?

NHỮNG THỨ PHI LÝ TRONG 10 TỈ ĐÔ

Phi lý thứ nhất: Tại sao một tập đoàn chuyên về hóa dầu hóa chất, chưa bao giờ sản xuất thép như Formosa, lại đầu tư sản xuất thép ở Việt Nam?

Hai. Tại sao trong dự án thép đầu tiên của nó, Formosa lại không hề sợ rủi ro mà bỏ ra một số tiền khổng lồ tới 10 tỉ USD?

Ba. Tại sao Formosa chưa từng sản xuất, chưa từng bán thép thì lấy khách hàng đâu để tiêu thụ hết sản lượng khổng lồ 7.5 triệu tấn năm?

Bốn. Tại sao chưa bán được kí thép nào mà Formosa đã dự tính tăng gấp đôi rồi gấp ba công suất ban đầu là 7.5 triệu tấn năm?

Phi lý thứ năm. Vào năm 2008 khi Formosa bắt đầu trình dự án sản xuất thép ở Hà Tĩnh thì giá thép thế giới đã đạt đỉnh rồi bắt đầu lao dốc không phanh. Ngành thép thế giới rơi vào khủng hoảng giá thấp và dư thừa công suất cho tới giờ. Tại sao Formosa không dừng dự án này mà ngược lại, vẫn triển khai với tốc độ tối đa?

Những ai đã làm kinh doanh sẽ thấy ngay lập tức sự phi lý không thể tin nổi trong những câu hỏi bên trên cho một dự án làm ăn trị giá tới 10 tỉ USD, cũng là dự án kinh doanh lớn nhất Việt Nam từ trước tới nay. Trong phạm vi bài viết này, tôi sẽ cố gắng giải đáp những điều phi lý trên.

AI ĐANG NGỒI TRONG MÂM NÀY?

Công ty gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh có ba cổ đông là Formosa Plastics Group (FPG) của Đài Loan, China Steel Corporation (CSC) của Đài Loan (nhấn mạnh, của Đài Loan, không phải Trung Quốc), và JFE Corporation (JFE) của Nhật Bản, với cổ phần tương ứng là 70%, 25% và 05%.

Một là FPG. Đây là tập đoàn đa ngành có quy mô thuộc loại lớn nhất Đài Loan, hoạt động nhiều nơi trên thế giới. Lĩnh vực chính của FPG là hóa dầu và hóa chất. Xét về doanh thu nó là công ty hóa chất lớn thứ sáu thế giới, sau BASF hay Dow Chemical, và trên cả Bayer hay DuPont vốn là những công ty hóa chất hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh lần nữa là FPG trong lịch sử 50 năm tồn tại, nó chưa bao giờ sản xuất thép cho tới năm 2008, khi bắt đầu dựng nhà máy thép tại Hà Tĩnh.

Hai là CSC. Đây là công ty thép lớn nhất Đài Loan, với sản lượng chừng 15 triệu tấn thép năm, chiếm 2/3 toàn bộ sản lượng thép của Đài Loan (khoảng 22 triệu tấn). Nó cũng là công ty thép lớn thứ 23 thế giới. Điều đặc biệt quan trọng, xin nhấn mạnh, cổ đông lớn nhất của CSC là chính phủ Đài Loan!! Chính phủ nước này chiếm 21.3% cổ phần CSC, trong khi cổ đông lớn thứ hai chỉ có 4%.

Ba là JFE. Đây là công ty thép lớn thứ nhì Nhật Bản sau hãng Nippon Steel & Sumitomo Metal. Nó cũng là công ty thép lớn thứ chín thế giới.

Dựa trên những thông tin về ba cổ đông, kết hợp với những điều phi lý đã nói trên, ta có thể dự đoán, rằng công ty thép lớn nhất Đài Loan CSC mới thực sự là nhân vật chính, là ông chủ chính trong cái mâm thép đang bày ra tại Vũng Áng, Hà Tĩnh. Và khi đã biết CSC do chính phủ Đài Loan “chống lưng” thì những phi lý đã nêu có thể được trả lời khá dễ dàng.

Như vậy, công ty thép CSC và chính phủ Đài Loan có thể đã mượn danh Formosa để thực hiện dự án nhà máy thép tại Vũng Áng, Hà Tĩnh.

VÌ SAO NÊN MƯỢN DANH FORMOSA?

Lý do thứ nhất. Formosa trước năm 2008 đã làm ăn tại Việt Nam. Từ năm 2001 cho tới nay, Formosa đã mở tại Đồng Nai một số nhà máy sản xuất sợi, hạt nhựa…với tổng đầu tư chừng 1 tỉ USD. Sẽ là hợp lý nếu Formosa tiếp tục “mở rộng kinh doanh” bằng cách… sản xuất thép! Hợp lý giống như điện lực EVN mở rộng kinh doanh vào ngành…viễn thông di động vậy!

Lý do thứ hai. Nếu CSC công khai muốn xây dựng nhà máy thép 7.5 triệu tấn tại Việt Nam thì nó sẽ gặp khó khăn lớn. Vì với quy mô lớn hơn tất cả các nhà máy thép khác ở Việt Nam cộng lại, nó có thể tiêu diệt bất cứ hãng thép Việt Nam nào trong nháy mắt.

Hoặc nó có thể tiêu diệt toàn bộ ngành thép nội địa của Việt Nam. Khi đó, mục tiêu trở thành nước công nghiệp hóa của Việt Nam chắc chắn thất bại, vì tất cả các nước Châu Á đã công nghiệp hóa thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc đều có ngành thép thống trị bởi các hãng nội địa. Như vậy, Việt Nam sẽ thất bại cả về mục tiêu chính trị lẫn kinh tế nếu tiếp tục “chứa” nhà máy thép Vũng Áng khổng lồ này.

Hãng thép Posco của Hàn Quốc (lớn hơn CSC nhiều) đã thất bại khi muốn vào Việt Nam dựng một nhà máy có quy mô tương tự Formosa Hà Tĩnh, có lẽ bởi lý do thứ hai này. Trong khi “CSC và cộng sự” lại thành công! Những người Đài Loan con cháu Tôn Tử có lẽ đã mưu toan “phản khách vi chủ” thành công.

Lý do thứ ba. Hãy trở lại với câu hỏi “tại sao Formosa Hà Tĩnh muốn nâng công suất lên 15 triệu rồi 22 triệu tấn thép năm?”, nghĩa là gấp hai, gấp ba lần công suất khổng lồ ban đầu trong khi chưa hề bán ra kí thép nào! Sau đây là một cách lý giải.

7.5 triệu tấn, công suất ban đầu, hơn tổng sản lượng của tất cả các nhà máy thép hiện hữu của Việt Nam. Trong ngành thép thì lợi thế do quy mô (economy of scale) là quan trọng nhất. Vậy ai sẽ thắng khi cạnh tranh? Một Formosa hay Tất Cả Các Hãng Thép Việt Nam? Câu trả lời là khá rõ.

15 triệu tấn, công suất nâng cấp thứ nhất, có ý nghĩa gì? Nó bằng toàn bộ sản lượng của CSC!! Phải chăng CSC muốn ngầm chuyển phần lớn khâu sản xuất từ quặng tới thép thô vốn tốn kém nhất và ô nhiễm nhất sang Việt Nam? Để cắt giảm chi phí, và để bảo vệ môi trường…Đài Loan?

22 triệu tấn, công suất nâng cấp thứ hai, có ý nghĩa gì? Nó bằng toàn bộ sản lượng thép của Đài Loan!! Phải chăng chính quyền Đài Loan muốn ngầm chuyển phần lớn khâu sản xuất từ quặng tới thép thô vốn tốn kém nhất và ô nhiễm nhất sang Việt Nam? Để cắt giảm chi phí, và để bảo vệ môi trường…Đài Loan?

Cho nên, từ ba lý do vừa nêu, có khả năng chính quyền Đài Loan và CSC đã mượn danh Formosa để vào Việt Nam. (còn tiếp).

Phần 2

TL,DR: con số 500 triệu đô la Mỹ mà Formosa Hà Tĩnh bồi thường do hủy diệt môi trường biển miền Trung dựa trên cơ sở nào?

Trong sự kiện Formosa Hà Tĩnh công khai nhận tội làm hủy diệt môi trường biển miền Trung hôm 30/06/2016 vừa rồi, điều làm tất cả mọi người dân Việt đánh dấu hỏi nhiều nhất là: cơ sở nào cho con số bồi thường 500 triệu đô la Mỹ? Nó từ đâu ra? Trong phạm vi bài này, tôi sẽ thử lý giải câu hỏi trên.

AI ĐƯA RA CON SỐ NÀY?

Bên nào đã đưa ra con số 500 triệu đô la? Chính Phủ Việt Nam? Hay Formosa Hà Tĩnh? Theo ông bộ trưởng tài nguyên môi trường Trần Hồng Hà trong trả lời phỏng vấn bài báo “Bộ trưởng Trần Hồng Hà: tôi vừa trải qua 84 ngày căng thẳng nặng trĩu.” của VnExpress ngày 30/06/2016, khi được phóng viên hỏi cơ sở nào của con số bồi thường 500 triệu đô thì ông ta đã trả lời là “Chúng tôi dựa trên nhiều yếu tố như thiệt hại trực tiếp của người dân, thiệt hại về môi trường, về du lịch…”

Thật ra tôi tin ông Hà chỉ nói bừa chơi vậy thôi chứ ông ta hiện không có một cơ sở nào, một dữ liệu nào đáng tin cậy để giải thích cho con số 500 triệu đô kia. Có ba lý do cơ bản làm tôi tin như vậy.

Một, chính con số tròn trĩnh tới mức không thể tin nổi, 500 triệu đô, đã nói lên điều đó. Nó tròn trĩnh, nó đẹp tới mức phi lý! Tác hại khủng khiếp do sự hủy diệt môi trường mà nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh đã gây ra có độ phức tạp quá lớn, bao trùm vô số khía cạnh đời sống, từ sức khỏe tới kinh tế, tâm lý, luật pháp, chính trị, kỹ thuật… nên nó là một bài toán đa biến không bao giờ dẫn tới một đáp số tròn trĩnh 500 triệu như trong sách giáo khoa! Cá nhân tôi ước tính tổng thiệt hại vật chất và tinh thần phải là 690.69 triệu đô la Mỹ, ông Hà ạ!

Hai, nếu việc truy tìm ra nguyên nhân và thủ phạm gây ra hủy diệt môi trường đã là khó, thì việc đánh giá thiệt hại còn khó hơn gấp nhiều lần. Đó là vì tôi đã nói ở trên, nó có độ phức tạp quá lớn do liên quan tới vô số lĩnh vực. Cho nên, nếu mất gần 3 tháng để tìm ra thủ phạm hủy diệt môi trường, thì ước tính phải mất 69 tháng mới có thể đánh giá được tổng thiệt hại. Tuyệt đối không bao giờ có một đánh giá quy thành 500 triệu đô nhanh như chớp mà công chúng đang chứng kiến. Tôi nhận xét nhóm chịu trách nhiệm trong phi vụ đánh giá thiệt hại này rất giống “đội cực nhanh” trong tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma”.

Ba, bằng chứng rõ ràng nhất chính là cái “hội đồng đánh giá thiệt hại do Formosa gây ra” của chính quyền Hà Tĩnh. Theo bài báo “Hà Tĩnh lập hội đồng đánh giá thiệt hại do Formosa gây ra” (xin xem hình số 1) của VnExpress thì, cuối ngày 30/06/2016 chính quyền Hà Tĩnh mới lập ra hội đồng nêu trên, nghĩa là chỉ sau khi thủ phạm hủy diệt môi trường được công bố! Nghĩa là, hiện thời chính quyền Hà Tĩnh không hề có bất cứ một dữ liệu đáng tin cậy nào về tác hại do Formosa gây ra! Đúng! Hà Tĩnh, nơi đặt nhà máy thép Formosa, nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất mà chính quyền tỉnh này còn chưa có đánh giá thiệt hại, thì các cơ quan nhà nước khác lấy căn cứ đâu mà xổ ra con số 500 triệu đô? Cho nên, đó là lý do tại sao mà tôi kết luận ông Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường chỉ nói bừa chơi cho vui vậy thôi!

Từ ba lý do trên, tôi kết luận con số 500 triệu đô la Mỹ không phải do phía chính phủ Việt Nam đưa ra. Nghĩa là, nó do phía Formosa Hà Tĩnh đưa ra.

FORMOSA DỰA VÀO ĐÂU ĐỂ CHO RA CON SỐ 500 TRIỆU ĐÔ?

Khi thông tin về số tiền bồi thường 500 triệu đô được công bố, cũng giống như tất cả mọi người, câu hỏi lập tức sinh ra trong đầu tôi là: con số này ở đâu ra? Rồi tự nhiên tôi thấy con số này quen quen! Tôi tìm lại trong dữ liệu của mình, và…

Hồi đầu tháng 05/2016, tôi đi tìm số liệu để trả lời cho câu hỏi sau: “Nếu nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh chạy hết công suất 7.5 triệu tấn thì mỗi năm nó phải chi bao nhiêu tiền để xử lý chất thải (rắn/lỏng/khí) theo đúng quy định?” Và sau đây là một ước tính do tôi làm.

Theo Steel Statistical Yearbook 2015 của World Steel Association thì sản lượng thép năm 2014 của Hoa Kỳ là 88.174 triệu tấn. Mặt khác, trong một nghiên cứu tên An International Comparison of Pollution Abatement Waste Management Costs được công bố ngày 06/03/2015 bởi MAPI Foundation (Manufacturers Alliance for Productivity and Innovation) thì ngành thép Hoa Kỳ năm 2014 chi tổng cộng 6.22 tỷ đô la Mỹ cho xử lý chất thải (rắn/lỏng/khí). (xin xem mẫu tài liệu ở hình số 02, Table 4, dòng Iron and Steel). Như vậy, trung bình chi phí xử lý chất thải cho sản xuất thép là 70.54 đô la Mỹ/tấn.

Tiếp theo, với công suất tối đa là 7.5 triệu tấn, và giả định nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh tuân theo quy định xử lý chất thải nghiêm ngặt của US EPA (tôi kỳ vọng sắp tới bộ tài nguyên môi trường Việt Nam sẽ xây dựng riêng cho Formosa Hà Tĩnh quy định về xử lý chất thải theo đúng chuẩn US EPA), thì CHI PHÍ TỐI ĐA HÀNG NĂM ĐỂ XỬ LÝ CHẤT THẢI CỦA FORMOSA HÀ TĨNH LÀ 529 TRIỆU ĐÔ LA MỸ.

Đúng vậy! 529 triệu đô là Mỹ mỗi năm! So với con số 500 triệu đô mà Formosa Hà Tĩnh đề nghị bồi thường thì sai số chỉ là 5.8%. Và khi nó nâng công suất lên gấp đôi gấp ba như dự kiến thì chi phí tối đa là 1.058 tỷ hay 1.587 tỷ đô la Mỹ mỗi năm.

Cho nên, cá nhân tôi cho rằng đây có thể là cách Formosa Hà Tĩnh đã lấy làm cơ sở để đề nghị với chính phủ Việt Nam con số bồi thường là 500 triệu đô la Mỹ. Họ có thể mưu toan rằng, bằng cách chấp nhận bồi thường để chính thức đi vào hoạt động, họ sẽ thu lại con số 500 triệu đô đã mất bằng cách gian lận xả thải trong những năm tiếp theo, đúng như cái cách họ vừa làm. Với thời hạn đầu tư 70 năm, bỏ đi năm đầu tiên, Formosa Hà Tĩnh còn đúng một con số hấp dẫn là 69 năm để “sắp xếp”. Làm một phép tính đơn giản, 69 x 529 triệu đô thì món lợi tối đa mà họ có thể thu được bằng cách gian lận xả thải sẽ là 36.5 tỷ đô la Mỹ. (hay tối đa 73 tỷ, hoặc 109.5 tỷ đô la Mỹ cho công suất lần lượt gấp đôi, gấp ba hiện thời).

Họ có thể kiếm được món tiền khổng lồ như vậy không? Có thể lắm, nếu người dân Việt Nam chấp nhận số tiền 500 triệu đô la bồi thường kia! Bởi vì khi đó, hàng triệu ngư dân, thương nhân, hay tất cả những ai có nghề nghiệp liên quan tới biển miền Trung đều phải bỏ nghề. Biển miền Trung sẽ chính thức trở thành biển chết vĩnh viễn, và sẽ không còn ai biết tới để tố cáo tội ác hủy diệt môi trường giống như vừa rồi họ đã tố cáo đích danh nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh.

KẾT PHẦN 2

Cá nhân tôi, với tư cách là một người dân Việt, thì tôi không chấp nhận Formosa Hà Tĩnh bồi thường theo cái cách nó đang diễn ra, dù với bất cứ giá tiền nào.

Tôi tha thiết kêu gọi những người công dân Việt Nam có trách nhiệm và đạo đức, dù quý vị đang ở đâu, dù quý vị đang làm gì trong khu vực tư hay trong các cơ quan nhà nước, hãy lên tiếng và hành động, không bao giờ chấp nhận để Formosa Hà Tĩnh dắt mũi chúng ta! Chúng ta không được quyền bán tương lai của con cháu chúng ta, với bất cứ giá nào!

(còn tiếp)

Formosa cần bồi thường 1.000 tỷ USD và đóng cửa Formosa Hà Tĩnh

CƠ SỞ KHOA HỌC TÍNH TOÁN THIỆT HẠI THẢM HỌA SINH THÁI TẠI VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG VIỆT NAM TỪ THẢM HỌA FORMOSA VŨNG ÁNG: 1000 TỶ USD VÀ KHÔNG FORMOSA

TS Nguyễn Thị Hải Yến, CHLBĐ

Cấu trúc bài viết này gồm 5 phần:

Phần 1: cung cấp thông tin về lượng và chất các hệ sinh thái biển Việt Nam, đặc biệt là ở dọc bờ biển 4 tỉnh miền Trung nơi bị ảnh hưởng trực tiếp từ thảm họa Formosa Vũng Áng. Mục đích cung cấp cho cơ sở tính toán thiệt hại;

Phần 2: cung cấp phương pháp tính toán các giá trị của các hệ sinh thái biển làm cơ sở chuyển đổi sang các giá trị thiệt hại;

Phần 3: cung cấp chi tiết tính toán thiệt hại về mặt sinh thái của các hệ sinh thái dọc bờ biển 4 tỉnh miền Trung làm cơ  sở để Việt Nam yêu cầu Formosa bồi thường thiệt hại. Đồng thời cũng cung cấp thông tin để thấy rằng sự  thiệt hại môi trường và tài nguyên khủng khiếp như thế nào, từ những chính sách đầu tư ngu xuẩn. Cũng là thông điệp để các nhà đầu tư đã, đang và muốn có đầu tư vào Việt Nam cần phải cẩn trọng cam kết bảo vệ môi trường thay vì lợi dụng chính quyền, qua mặt người dân;

Phần 4: cung cấp thông tin về việc sử dụng tiền cho việc đền bù, đặc biệt là công việc bảo đảm an sinh của ngườì dân và nghiên cứu khoa học nhằm phục hồi lại chức năng sinh thái của các hệ sinh thái biển;

Phần 5: kết luận và yêu cầu.

1- PHÂN BỐ VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CÁC HỆ SINH THÁI BIỂN (RỪNG NGẬP MẶN, CỎ BIỂN VÀ SAN HÔ) CỦA  VIỆT NAM

1.1- Đa dạng sinh học biển Việt Nam

Vùng biển Đông Nam Á được đánh giá là vùng biển bậc nhất của của hệ sinh thái biển trên thế giới về mức độ đa dạng  thành phần loài sình vật.  Hình 1 bản đồ hệ số đa dạng sinh học dựa trên chỉ số  Shannon’s Index (SI) (hệ số đo lường mức đa dạng về thành phần giống loài các sinh vật biển) được tổ chức môi trường thế giới UNEP đánh giá và xếp loại năm 2014. Nằm giáp ngay với Philippine và gần với Indonesia, tuy nhiên, mức độ đa dạng sinh học của hệ sinh thái biển của Việt Nam lại kém hơn rất nhiều so với mức độ đa dạng sinh học của Philippine và Indonesia.  Điều này là do yếu tố kiến tạo địa tầng tự nhiêni. Vùng biển từ Quảng Ngãi ra tới Quảng Ninh và vùng biển Kiên Giang chỉ số  SI được đánh giá từ 5,4 đến 6,5 với vùng mở rộng ra cả vùng bên ngoài quần đảo Hoàng Sa hoặc sang tới vùng biển của Campuchia. Tuy nhiên, vùng từ Quảng ngãi trở vào Vũng Tàu, chỉ số SI không thay đổi nhưng chỉ một dải hẹp sát bờ, còn lùi ra vài chục km mức độ đa dạng sinh học đã giảm xuống chỉ ở mức 4,3 đến 5.4. Đặc biệt vùng biển của vùng ĐBSCL (Đồng bằng sông Cửu Long), chỉ số SI chỉ còn đạt 3,2 đến 4.3 [1].

H1Hình 1: Bản đồ biểu diễn chỉ số Shannon’s Index of Biodiversity  năm 2014 (Nguồn UNEP) 

1.2- Hệ sinh thái rừng ngập mặn

Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển kéo dài dọc đất nước lên đến 3290 km. Tuy nhiên, sự phân bố và độ phủ (diện tích) cũng như năng suất sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM) của Việt Nam lại rất hẹp và thấp. Hình 2. Phân bố và năng suất sinh học (NSSH) RNM chủ yếu phân bố ở vùng ĐBSCL. NSSH của RNM ở vùng ĐBSCL và vùng miên trung từ Nghệ An đến Đà Nẵng tuy chỉ ở mức trung bình của thế giới nhưng lại là những vùng có NSSH cao của RNM Việt Nam. Vùng RNM của các tỉnh ven biển phía bắc NSSH tương đối thấp.  Ở Việt Nam đã ghi nhận 35 loài chủ yếu và 40 loài tham gia rừng ngập mặn [2]. Vùng ven biển Bắc Trung Bộ (BTB), gồm 6 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên –Huế) có 30.974 ha đất ngập mặn, trong đó có 1.885 ha có RNM, 2.505 ha đất nuôi trồng thủy sản (NTTS), và 26.584 ha đất tiềm năng trồng RNM hoặc NTTS [3].

H1

1.3- Hệ sinh thái cỏ biển

Khác với các loài rong biển là thực vật bậc thấp. Cỏ biển là những thực vật bậc cao, tổ chức cơ thể phân chia thành thân rễ lá. Hệ sinh thái cỏ biển thường phân bố rất rải rác nơi nền đáy cát, hoặc cát với rất ít bùn, nhiều ánh sáng.  Cỏ biển phân bố ở vùng nước sâu thường không quá 6 m. Tthành phần loài cỏ biền rất ít. Hình 3 cho thấy ở vùng biển đa dạng nhất Phillipine chỉ đạt 12 – 15 loài. Ở vùng biển Bắc Trung Bộ của Việt Nam số loài chỉ đạt ở mức 3-6, vùng từ Phú Yên đến Ninh Thuận thành phần loài có thể tăng lên đến 7- 9. Trong khi đó vùng bờ biển của ĐBSCL nơi biển đục do phù xa nhiều không là môi trường thích hợp cho những loài cỏ biển sống đáy cần nhiều ánh sáng để quang hợp phát triển. Ở Việt Nam đã tìm được 16 loài cỏ biển. Diện tích cỏ biển tại 4 tỉnh miền Trung nơi bị ảnh hưởng trực tiếp từ thảm họa Formosa Vũng Áng là 2.170 ha (Bảng 1)

Bảng 1: Diện tích cỏ biển phân bố ở vùng biển 4 tỉnh miền Trung Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng [5].

H1

H1

Hình 3: phân bố (năm 2015) và mức độ đa dạng thành phần loài (năm 2003) của hệ sinh thái cỏ biển ở  Việt Nam (Nguồn: UNEP) [6].

1.4- Hệ sinh thái san hô

Hệ sinh thái san hô, đó là một hệ sinh thái đặc thù, ở đó san hô là những loài động vật  phát triển nên một nền đáy đá, đá vôi, là động vật nhưng các loài san hô đều phải sống cộng sinh với các loài tảo (ngoại trừ các loài san hô sừng phát triển ở các vùng biển sâu). Chính vì thế, hệ sinh thái san hô thường phân bố ở những vùng biển có độ sâu không quá 30 m, nơi cường độ ánh sáng trong nước có thể đáp ứng như cầu quang hợp của các loài tảo sống cộng sinh. Hình 4 biểu diễn sự phân bố của san hô ở biển Việt Nam và ở 4 tỉnh miền Trung từ Nghệ An đến Đà Nẵng [7].

H1Hình 4: Phân bố của hệ sinh thái san hô ở vùng biển Việt Nam và 4 tỉnh miền Trung năm 2015 (Nguồn: UNEP)

Theo số liệu của UNEP thì tổng diện tích phân bố của san hô toàn cầu là 284.300 km2. Indonesia và  Phillipine là hai quốc gia có diện  tích san hô lớn nhất khoảng hơn 20.000 km2. Trong đó Việt Nam đứng ở vị trí 35 về diện tích san hô trên thế giới, với tổng diện tích là 1270 km2 so với Indonesia và phillipine. Trung Quốc đứng thứ 31 với diện tích là 1510 km2 [8].

Vùng biển Việt Nam tập trung khoảng 340 loài san hô trong tổng số 800 loài của thế giới, phân bố rộng rãi từ Bắc tới Nam. Rạn san hô biển tập trung với mật độ cao ở vùng biển Nha Trang, Trường Sa, Hoàng Sa, biển Hòn Mun – Khánh Hòa. Sống cùng với hệ sinh thái này là trên 2000 loài sinh vật đáy và cá trong đó khoảng 400 loài cá san hô cùng nhiều hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, bào ngư, trai ngọc, hải sâm… Ở vịnh Hạ Long, phát hiện được 205 loài san hô cứng, 27 loài san hô mềm. Ở Côn Đảo, có 219 loài san hô, tập trung thành khu vực lớn kèm theo 160 loài cá san hô [9].

Cùng với hai hệ sinh thái RNM và cỏ biển, hệ sinh thái san hô đóng góp giá trị kinh tế cao nhất hành tinh về giá trị sinh thái. Nếu quản lý tốt 1 km2 hệ sinh thái san hô hàng năm có thể cung cấp 15 tấn cá và các loại đặc hải sản. Giá trị sinh thái và giá trị về đa dạng sinh học của hệ sinh thái san hô (TEEB = the Economisc of Ecosystems and Biodieversity) là khoảng 1.25 USD/ha/năm từ dịch vụ du lịch, bảo vệ đới bờ, bảo vệ sinh học và nguồn lợi thủy sản [10].

2- PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CÁC GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CÁC HỆ SINH THÁI BIỂN

Một nghiên cứu tổng kết đánh giá những giá trị sinh thái của 9 hệ sinh thái đặc biệt toàn cầu dưới sự kết hợp giữa các trường đại học đến từ Mỹ, Anh, Châu Âu và các tổ chức liên hiệp quốc như UNEP và Viện nghiên cứu tài nguyên môi trường của Châu Âu năm 2012 đăng trên tạp chí Ecosystem Service, Elsevier  [11]. Dựa vào kết quả của 320 nghiên cứu cho 300 điểm nghiên cứu cứu trên toàn cầu, với bốn nhóm thông số của 22 thông số (Bảng 2) và chi tiết hóa thành 90 thông số cụ thể để đo lường giá trị sinh thái của 10 loại hình sinh thái.

Bảng 2: Các nhóm và thông số đánh giá giá trị

H1

10 loại hình sinh thái đặc trưng được tổng kết từ 300 điểm nghiên cứu bao gồm: 1) Vùng biển xa bờ = open sea (14); 2) hệ sinh thái san hô = coral reefs (94); 3) Hệ sinh thái ven bờ = coastal systems (28); 4) Hệ sinh thái đất ngập nước ven biển = coastal wetlands (139); 5) Hệ sinh thái đất ngập nước ngọt = inland wetlands (168); 6) Hệ sinh thái sông hồ = Rivers and lakes (15); 7) Hệ sinh thái rừng nhiệt đới = tropical forest (96); 8) Hệ sinh thái rừng ôn đới = temperate forest  (58); 9) Hệ sinh thái rừng gỗ = woodlands (21); 10) Hệ sinh thái đồng cỏ = grass lands (32).  Các giá trị trung bình, lớn nhât và nhỏ nhất của mỗi loại hình sinh thái biểu diễn ở Bảng 3. Bốn hệ sinh thái trong khung màu đỏ là các hệ sinh thái biển. Sẽ được sử dụng để thảo luận và tính toán cho Phần 3 áp dụng cho đánh giá thiệt hại của thảm họa Formosa Vũng Áng.

Bảng 3: Giá trị sinh thái của 10 loại hình sinh thái (USD/ha/năm tính vào thời điểm giá USD năm 2007)

H1

Việc tính toán này được tính theo các tỷ số để cần bằng tôi đa giữa các vùng miền, giữa các hệ sinh thái, và được qui đổi từ tiền địa phương ra đồng Đô la tại thời điểm năm 2007.

Như vậy:

Hệ sinh thái vùng biển xa bờ có tổng số giá trị kinh tế là 491 USD/ha/năm, thấp nhất trong 4 hệ sinh thái biển và ven bờ. Trong đó có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số từ 1 đến 4 là: 491 USD =  102 + 65 + 5 +  315 USD.

Hệ sinh thái san hô có giá trị vượt lên rất nhiều so với các hệ sinh thái khác. Trong đó tổng giá trị và lần lượt các giá trị đóng góp cho các nhóm thông số từ 1 đến 4 là:  352.249 USD = 55.724 + 171.478 + 16.210 + 108.837 USD.

Hệ sinh thái ven bờ có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 28.917 USD = 2.396 + 25.847 + 375 + 300 USD.

Hệ sinh thái đất ngập nước ven bờ có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 193.845 USD = 2.998 + 175.515 + 17.138 + 2.193 USD

Kết quả chi tiết giá trị đóng góp của mỗi loại hình sinh thái ứng với mỗi thông số của 4 nhóm thông số và 22 thông số chi tiết với giá trị trung bình. Đây là bảng dữ liệu thuyết phục để sử dụng tính toán cho thảm họa Formosa Vũng Áng thiệt hại lên các hệ sinh thái ven biển 4 tỉnh miền Trung, và cũng là cơ sở tính toán phân phối tiền đền bù cho người dân, cũng như tiền lưu trữ cho an sinh xã hội liên quan đến sự mất mát cho đến khi phục hồi của các hệ sinh thái này. Đa dạng sinh học và mức độ phân bố của các hệ sinh thái biển Việt Nam hầu hết đều nằm ở ngưỡng trung bình so với thế giới. Vì thế giá trị trung bình ở Bảng 4 là thuyết phục áp dụng cho thực tế ở Việt Nam.

Bảng 4: Tính toán chi tiết giá trị sinh thái cho mỗi 22 thông số của mười loại hình sinh thái (USD/ha/năm)

H1

3- TÍNH TOÁN THIỆT HẠI SINH THÁI DO THẢM HỌA FORMOSA VŨNG ÁNG

Theo thông báo của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường Trần Hồng Hà, ngày 30 tháng 6 về thảm họa Formosa Vũng Áng thì tổng thiệt hại diện tích san là 400 ha, chiếm 50% diện tích san hô phân bố ở 4 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng. Mặc dù ông Trần Hồng Hà cùng quan chức chính phủ cho rằng hệ sinh thái RNM không bị ảnh hưởng và không tính hệ sinh thái cỏ biển trong khu vực. Nhưng kết quả người dân cho biết nhiều nơi RNM bị chết. Vì thế trong bài này việc tính toán được dựa trên diện tích thống kê của các báo cáo khoa học trong nước.

Vùng biển xa bờ, tại thời điểm này chưa có đánh giá về ảnh hưởng của chất thải Formosa đến vùng biển xa bờ.

Hệ sinh thái san hô: 400 ha san hô đã bị chết, tại thời điểm chính quyền Hà Nội điều tra, tháng 5 và tháng 6 năm 2016. Tuy nhiên, việc đánh giá ảnh hưởng lên hệ sinh thái san hô sẽ còn phải tiếp tục. Những chỗ san hô chết hiện nay là do nồng độ quá cao của độc tố, chết do sốc. Nhưng dư lượng của chất  độc vẫn còn tồn  dư nhiều trong trầm tích đáy và rất nhiều hấp thụ vào những khoang cơ thể của san hô. Chì cần một lượng rất nhỏ san hô sẽ âm thầm chết.  Việc đánh giá ảnh hưởng của độc tố từ xả thải của Fomosa xảy ra hồi đầu tháng 4 năm 2016 cần phải tiến hành lên hàng chục năm.  Việc tính toán thiệt hại ở bài viết này đối với hệ sinh thái san hô mới chỉ dừng lại ở mức thiệt hại trước mắt. Dựa vào thông tin Phần 2,  1 ha san hô một năm cung cấp 352.249 USD = 55.724 + 171.478 + 16.210 + 108.837 theo 4 nhóm thông số đánh giá ở trên ta sẽ có kết quả áp dụng cho 400 ha, san hô bị phá hủy do thảm họa Formosa Vũng Áng và áp dụng cho 50 năm với hy vọng sự phục hồi của hệ sinh thái san hô, kết quả thu được như ở Bảng 5.

Hệ sinh thái ven bờ, chỉ môi trường ven bờ nói chung. Với 20 hải lý (= 37,04 km) chiều ngang tính từ  bờ biển ra. Vùng ảnh hưởng mà độc tố đã quét dọc theo bờ biển 4 tỉnh miền Trung là 250 km. Như vậy tổng diện tích vùng ven bờ cũng là hệ sinh thái ven bờ là 30,04 km (rộng)  x 250 km (dài)  = 9.260 km2 (=926.000 ha). Tính toán cho mặt nước, thì tổng diện tích mặt nước sẽ là 926.000 ha. Và với  Hệ sinh thái ven bờcó giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 28.917 USD = 2.396 + 25.847 + 375 + 300 USD, Vì dòng hải lưu và biển mở, nên trường hợp này tính toán áp dụng cho 1 năm. Kết quả ở mục 3.1 Bảng 5.  Tuy nhiên, ảnh hưởng vùng này đối với hệ sinh thái nền đáy sẽ được trù đi diện tích cỏ biển là 2.170 ha, và 800 ha san hô, và cũng áp dụng cho ít nhất là 30 năm (cơ sở từ thảm họa Minamita). Ta có kết quả thiệt hại đối với hệ sinh thái ven biển từ thảm họa Formosa Vũng Áng như mục 3.2 Bảng 5.

Ở Bảng 1, ta có 2.170 ha hệ sinh thái cỏ biển nằm trong vùng bị tàn phá bởi thảm họa Formosa Vũng Áng. Với kết quả từ Phần 2: Hệ sinh thái đất ngập nước ven bờ có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 193.845 USD = 2.998 + 175.515 + 17.138 + 2.193 USD. Và cũngáp dụng cho 30 năm (cơ sở từ thảm họa Minamita). Ta có kết quả như ở Bảng 5.

Ở mục 1.2, ta có có 30.974 ha đất ngập mặn nằm trong vủng Bắc Trung Bộ, trong đó có 1.885 ha có RNM, 2.505 ha đất nuôi trồng thủy sản (NTTS), và 26.584 ha đất chưa sử dụng. Và cũng áp dụng với hệ sinh thái đất ngập nước ven bờ, và 30 năm như tình toán cho cỏ biển. Ta sẽ có kết quả lần lượt cho giá trị thiệt hại lên RNM, đất NTTS và đất chưa sử dụng như mục 4.2, 4.3 và 4.4 Bảng 5 như sau.

Bảng 5. Thiệt hại sinh thái của thảm họa Formosa Vũng Áng lên hệ sinh thái biển đọc 4 tỉnh miền Trung (đơn vị: USD)

H1

Ghi chú: (NA: không áp dụng)

4- SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ TIỀN ĐỀN BÙ

Theo phương pháp tính toán như ở Phần 2 và kết quả ở Bảng 5, thì:

4.1. Sử dụng

+ Số tiền thiệt hại hơn 70 tỷ USD ở cột (1) Bảng 5, là những giá trị được tính bằng những giá trị hàng hóa, có giá cả trực tiếp ở thị trường (direct market values). Phần này chính là nguồn tài nguyên phục vụ trực tiếp cho những người dân  có những hoạt động liên quan đếnh đánh bắt và tiêu thụ các sản phẩm do đánh bắt từ biển ít nhất 50 năm, nghĩa là 3 thế hệ người Việt phải tối thiểu đam bảo cuộc sống cũng gia đình như việc học hành của con cái. Phần này bổ xung cho phần tính toán của luật sư Lê Văn Luân và Trịnh Mộc Thường [12, 13]. Một phần sẽ được dùng chi trả cho việc nghiên cứu phục hồi nguồn dược liệu và phục hồi nguồn gene từ môi trường biển.

Trong khi đó số thiệt hại ở các cột (2) (3) (4) là những giá trị không trực tiếp từ thị trường (indirect maker values), nó măng nặng giá trị chức năng phục vụ của các hệ sinh thái.

+ Số tiền thiệt hại hơn 889 tỷ USD ở cột (2) Bảng 5, chính là sự thiệt hại vì mất đi qui luật tự nhiên về chức năng cân bằng sinh thái. Nghĩa là sau khi bị thảm họa, các hệ sinh thái biển này không còn chức năng tự nhiên của nó. Khoản thiệt hại này chiến gần hết số tiển thiệt hại. Số tiền thiệt ại này sẽ được dùng trong các hoạt động nghiên cứu và xây dựng cho mục đích phục hồi các chức năng tự nhiên của các hệ sinh thái.

+ Số tiền thiệt hại hơn 27 tỷ USD ở cột (3) Bảng 5, chính là số sự thiệt hại do các sinh vật mất đi vùng sinh sản, và sâu xa hơn là mất đi nguồn gene khi quá trình sinh sản đã bị ảnh hưởng. Số tiền này sẽ được sử dụng trong các nghiên cứu phục hồi các bãi sinh sản và vườn ươm sinh thái dưới đáy biển.

+ Số tiền thiệt hại hơn 12 tỷ USD ở cột (4) Bảng 5, chính là số tiền thiệt hại đối với các dịch vụ du lịch và liên quan du lịch biển, và các nhu cầu về giải trí nghệ thuật liên quan biển. Một phần số tiền này sẽ được sử dụng để chi trả cho các hoạt động du lịch biển, và các dịch vụ phục phụ du lịch kèm theo. Một phần số tiền này sẽ được sử dụng cho các hoạt động nhằm duy trì và phát triển các loại hình nghệ thuật liên quan đến biển.

4.2. Quản lý

– Số tiền này sẽ được quản lý bằng một ủy ban độc lập do dân bầu ra, thành phần là những người đại diện của những nhóm bị tổn thương bao gồm cả các ngư dân, nhà khoa học, nhà nghệ thuật….

– Nhóm đại diện quản lý đại diện này phải xây dựng lộ trình và kế hoạch sữ dụng số tiền này và các hoạt động đảm bảo an sinh và phục hồi sinh thái cho chặng đường 30 và 50 năm.

– Tất cả mọi hoạt động của ủy ban này cùng việc sử dụng số tiền này phải được trưng cầu và giám sát của người dân.

5- KẾT LUẬN VÀ YÊU CẦU

– Áp dụng 50 năm phục hồi của san hô và 30 năm phục hồi của các hệ sinh thái cỏ biển, RNM (chủ yếu là nền đáy) thì tổng thiệt hại qui ra USD sẽ là 1.000.553.486.297 (1000 tỷ USD) không bao gồm tiền nạo hút cải tạo môi trường. Yêu cầu chính quyền Hà Nội cung cấp báo cáo điều tra chi tiết để các nhà khoa học đánh giá độ tin cậy về thông báo kết quả của chính quyền. Nếu không người dân có quyền đòi Formosa bồi thường như tình toán trong bài viết này. Và quan trọng là KHÔNG FORMOSA.

– Việc áp dụng 30 năm cho sự phục hồi đối với các hệ sinh thái cỏ biển, RNM, vùng ven biển và đất ngập nước khác, là dựa trên cơ sở dữ liệu từ thảm họa thủy ngân ơ Vinh Minamita. Mức thiệt hại này sẽ giảm đi theo số năm, tùy thuộc vào mức độ hút nạo đáy biển rửa tấy chất độc mà Formosa thực hiện.

Yêu cầu chính quyền Hà Nội cung cấp tên theo danh thức hóa học của gần 300 loại hóa chất mà Formosa nhập và sử dụng. Từ đó sẽ giúp người dân và các nhà khoa học giám sát việc tẩy rửa chất độc mà Formosa sẽ thực hiện.

– Bản tính toán này được dựa trên mức tái tạo của hệ sinh thái san hô là 50 năm, và với diện tích 400 ha. Tuy nhiên, thực tế việc chính quyền Hà Nội kết luận chỉ 400 ha san hô bị ảnh hưởng là không thỏa đáng. Những mảng san hô chưa bị chết trắng đang đứng đó đã không còn chức năng sinh thái nữa, chúng có thể sẽ chết dần mòn trong tương lai.

– Việc bỏ qua thiệt hại về RNM và hệ sinh thái cỏ biển cũng như các hệ sinh thái khác, càng chứng tỏ chính quyền Hà Nội không thực tâm trong việc kiềm soát xả thải của Formosa cũng như việc bảo về tài nguyên thiên nhiên của VN.

[1] http://data.unep-wcmc.org/

[2] (http://de.slideshare.net/NinhHuong/rng-ngp-mn)

[3] http://xttm.agroviet.gov.vn/Site/vi-vn/76/tapchi/141/145/824/Default.aspx

[4] http://data.unep-wcmc.org/datasets/39

[5] http://lrc.tnu.edu.vn/upload/collection/brief/46439_842015103129hesinhthaicobien.pdf.

[6] http://data.unep-wcmc.org/datasets/9

[7] http://data.unep-wcmc.org/datasets/1

[8] http://coral.unep.ch/Coral_Reefs_files/reef%20area%20by%20country%20.jpg

[9] http://www.biendong.net/the-gioi-dai-duong/tai-nguyen-bien/1366-tim-hiu-h-sinh-thai-rn-san-ho.html

[10] http://coral.unep.ch/Coral_Reefs.html

[11] http://ac.els-cdn.com/S2212041612000101/1-s2.0-S2212041612000101-main.pdf?_tid=8e95a3cc-41b5-11e6-9be1-00000aab0f02&acdnat=1467616051_aac27473c311f348bf70cf7bb9040a6b.

[12] và [13] https://anhbasam.wordpress.com/2016/07/03/8999-uoc-tinh-mot-phan-thiet-hai-kinh-te-do-formosa-gay-ra/