Không tinh giản biên chế: Những “vòi bạch tuộc” tiếp tục bám hút tiền thuế của dân (P4)

 

Trân trọng lao động, trân trọng con người là điều mà bất cứ bộ máy chính phủ nào cũng cần nhận thức rõ để đảm bảo tính bền vững cho quốc gia, thay vì không ngừng áp đặt, tận thu thuế, phí bù đắp chi tiêu công. (Ảnh minh họa/Réhahn Photography)

Tóm tắt bài viết

Trong phần 1, vấn đề cần tinh giản bộ máy hành chính được nhìn nhận từ góc độ dư thừa lãnh đạo, tình trạng tham nhũng ở cấp lãnh đạo.

Mặt trái của bộ máy nhân sự này lại được phương thức quản lý dự án “xin-cho” kiểu tập trung bao cấp “tạo điều kiện”, khiến hàng nghìn tỷ đồng ngân sách tiêu pha lãng phí, tham nhũng được hợp thức hóa theo các chương trình xin cấp vốn đầu tư (phần 2).

Phần 3 chỉ ra tình trạng bội chi ngân sách và tận thu thuế với những “vòi bạch tuộc” hành chính bám sâu, nhũng nhiễu doanh nghiệp và người dân.

Phần kết sẽ trả lời cho câu hỏi: Vì sao việc tinh giản biên chế liên tục thất bại trong suốt hơn 10 năm qua?

Phần 4: Vì sao “vòi bạch tuộc” không bị chặt đứt?

Việt Nam đã chịu thâm hụt ngân sách cao tích tụ hàng chục năm. Nhưng dự toán chi thường xuyên cho bộ máy công năm 2016 vẫn chiếm 2/3 tổng chi ngân sách. Điều đó cho thấy tư duy chi ngân sách nhà nước của bộ máy này vẫn vậy, dù vẫn hô hào tinh giản biên chế hơn 10 năm qua. 

Vậy thì vì sao “vòi bạch tuộc” không bị chặt đứt?

Câu trả lời quay trở lại về khả năng tham nhũng trong bộ máy, với những cơ chế nhiều khe hở được tồn tại nhiều năm và tình trạng “nới cửa” để cùng nhau tham nhũng, như đã đề cập đến trong phần 1 và 2.

Không phải chỉ sau câu phát biểu của đại biểu Quốc hội Trần Trọng Dực hồi năm ngoái: “Để đỗ được công chức ở Hà Nội phải mất không dưới 100 triệu đồng”, thì những móc xích trong bộ máy hành chính mới được biết đến.

Năm 2014, Bộ Công Thương ồn ào với vụ gian lận thi công chức khi những thí sinh trúng tuyển là con, cháu của các lãnh đạo ngành Công Thương. “Vậy Cục Quản lý thị trường tổ chức thi làm gì khi biết trước người đỗ?” là câu hỏi không chỉ của một thí sinh tự do bị trượt trong kỳ thi trên đặt ra. Đó là câu hỏi chung của nhiều người đối với hệ thống công chức tuy tốn kém tiền thuế dân, mà đằng sau lại là đục khoét, cơ hội với tấm màn minh bạch được kéo căng.

Đã “chạy” rồi thì vào được là phải “gỡ”. Công chức khởi đầu cũng chỉ là người dân bình thường đi làm với tư tưởng ấy, để rồi nó thành cái nạn đạo đức của toàn xã hội.

Vậy nguồn “gỡ” là từ đâu? Vẫn là từ ngân sách và sách nhiễu người dân, doanh nghiệp. Dây chuyền này vận hành theo đúng kiểu “cá lớn nuốt cá bé” mà thiệt hại cuối cùng là người lao động khi “chi phí bôi trơn” được chia vào thuế, phí, giá tiêu dùng (điện, nước, xăng dầu, hàng hóa). Một mặt chịu thuế phí, một mặt tiếp tục phải trả những “khoản tiền không tên” mỗi khi bước chân vào cơ quan công.

Lớn như tầm thanh tra chính phủ – năm 2014, Nguyên Tổng thanh tra chính phủ Trần Văn Truyền bị “khui” ra khối “tài sản nổi” tính sơ là 6 bất động sản (3 nhà đất ở Bến Tre và 3 nhà đất ở Sài Gòn), trị giá hàng chục triệu USD.

Nhỏ như tầm cấp xã, tháng 12/2015, hàng chục hộ nghèo ở xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn bị xã “ép” mua những con bò già, ốm yếu, bị gãy sừng, mòn răng… Giá mỗi con bò là 20 triệu đồng. Nhà nước hỗ trợ 5 triệu, người dân vay thêm 15 triệu. Người dân ý kiến thì ông Phó Chủ tịch Đạo Văn Sói hù dọa “nếu không bắt về sẽ chuyển nguồn hỗ trợ và vốn vay cho người khác”, theo VOV.

Ngày 9/1/2016, Nguyễn Tường Duy (SN 1968) – nhân viên tại Cục Hải quan TP HCM bị bắt khẩn cấp vì hành vi “Lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ”. Chỉ trong 5 ngày đi du lịch Trung Quốc, ông Duy – một nhân viên hải quan bình thường đã nhận hơn 60 phong bì với tổng số tiền gần 1 tỷ đồng được gửi đến nhà.

Tinh giản biên chế liên tục thất bại trong suốt hơn 10 năm qua còn bởi không ai trong bộ máy khổng lồ ấy muốn giảm biên chế cả.

Có một sự việc mà bà Phạm Chi Lan đã chỉ ra như sau: Năm 2015, cơ quan quản lý muốn đánh thuế với các hộ kinh doanh gia đình giống như với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Trước đó, thủ tục hành chính trong ngành thuế vừa giảm từ 872 giờ xuống còn 171 giờ nộp thuế. Điều này “chắc chắn phải cắt giảm được biết bao công chức trong ngành thuế”, bà Lan nói.

Nhưng tôi ngờ rằng giảm được giờ nộp thuế cho doanh nghiệp lại tính chuyện đi thu thuế của các hộ gia đình – tức là họ vẫn muốn nuôi bộ máy thuế khổng lồ hiện nay.

Nhưng theo cách đó thì tất cả những cải cách hành chính thất bại. Một trong những nguyên nhân lâu nay chậm trễ và không đạt được kết quả bao nhiêu cũng là vì cả bộ máy khổng lồ vẫn muốn duy trì cả và không ai muốn giảm biên chế”, chuyên gia kinh tế nhận định.

Một chuyện khác mà ông Nguyễn Đình Quyền – Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp từng nêu trên Việt Nam Net: “Theo quy trình hiện nay, tinh giản biên chế không dễ dàng chút nào cả. Tôi đã làm vụ trưởng, tôi chỉ cần 2 vụ phó thôi nhưng ông thủ trưởng của tôi nói tôi phải cần 4 vụ phó. Tôi chưa cần lấy thêm người, ông thủ trưởng tôi đã bảo phải lấy thêm…”.

Theo đó, trong hơn 10 năm qua, từ Chính phủ, Bộ, Sở tới cấp tỉnh, huyện, xã, bộ máy cứ ngày càng phình to. Bổ nhiệm đúng “quy trình”, để rồi bộ máy đó cùng bàn tròn rút thêm tiền công, rồi lại thống nhất thông qua các khoản thuế, phí mới. Đó là lạm quyền để tham nhũng công khai.

Các chuyên gia kinh tế đã nói nhiều đến vấn đề cắt giảm chi tiêu công. Nhưng khi những sân vận động cả trăm tỷ bỏ không, tượng đài hàng trăm tỷ, nhà văn hóa tiền tỷ dù biết đóng cửa nhưng vẫn xây, thì đó là thể chế có vấn đề.

Do đó, tinh giản biên chế không chỉ là việc sắp xếp lại lao động trong các đơn vị hành chính công quyền, sa thải bớt viên chức thường thường để giảm chi lương. Đó là việc chặn đứng tham nhũng, đặt cơ chế giám sát để xóa bỏ lạm quyền, là thông qua tinh giản để nhân sự trở thành đội ngũ tinh hoa (elite) thực sự, thay vì chỉ đơn giản là giảm cơ học về số lượng trong khi những “vòi bạch tuộc” vẫn không ngừng vươn xuống từ trên.

Còn nếu không thực hiện được những điều đó, thì những tuyên bố tinh giản biên chế phát ra từ bộ máy đó chỉ là những lời chiếu lệ mà thôi.

Phan A / daikynguyen

Vua chúa Việt khi lên ngôi đã ‘tuyên thệ’ những điều gì?

Thời xưa các vua khi lên ngôi thường ban chiếu hoặc lệnh thể hiện các đường lối chính trị mà mình sẽ áp dụng.

Tượng đài Hoàng đế Quang Trung tại núi Bân, Huế – nơi ông lên ngôi năm 1789.Lý Thánh Tông không muốn dân bị oan sai

Năm 1055, năm đầu tiên sau khi lên ngôi, vua Lý Thánh Tông đã ban những chiếu chỉ thể hiện đường lối cai trị nhân đức của mình, trong đó đặc biệt chú trọng tới việc xét án và các tội nhân. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: Mùa đông, tháng 10, rét lắm, vua bảo các quan tả hữu rằng: “Trẫm ở trong cung nào lò sưởi ngự, nào áo lót cầu còn rét như thế này, nghĩ đến người tù giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa biết ngay gian, mà ăn không no bụng, áo không kín mình, gió rét khổ thân, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy hạ lệnh cho hữu ty phát chăn chiếu và mỗi ngày hai lần phát cơm”.

Thương người tù tội nên nhà vua muốn các quan khi xét án nên khoan giảm hình phạt. “Sử ký toàn thư” chép: Mùa hạ, tháng 4 (năm 1066), vua ngự điện Thiên Khác xử kiện. Khi ấy công chúa Động Thiên hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa bảo ngục lại rằng: “Ta yêu con ta, cũng như lòng ta làm cha mẹ dân, nhân dân không biết mà mắc vào hình pháp, ta rất lấy làm thương. Từ năm nay về sau, không cứ gì tội nặng hay nhẹ, đều nhất loạt khoan giảm”.

Đáng nói hơn, nhà vua còn cấp thêm bổng lộc cho các quan lại coi việc hình ngục để họ không nghèo đói mà sinh ra ăn hối lộ làm oan sai cho dân. Điều này trong Sử ký toàn thư, sử thần Ngô Sĩ Liên có ghi nhận: “Thánh Tông lo rằng tù giam trong ngục, hoặc có kẻ không có tội, nhân đói rét mà đến chết, thì cấp cho chiếu chăn ăn uống để nuôi cho sống; lo rằng quan lại giữ việc hình ngục hoặc có kẻ vì nhà nghèo nhận tiền đút lót, thì cấp thêm bổng và thức ăn, đề nhà được giàu đủ; lo rằng nhân dân thiếu ăn thi xuống chiếu khuyến nông; lo rằng năm sau đại hạn đói kém thì ban lệnh chẩn cấp người nghèo, trước sau một lòng đều là thành thực”.

Lê Thái Tổ chủ trương nhân đạo và thượng tôn pháp luật

Lê Thái Tổ là vị vua khai sáng cơ nghiệp nhà Lê. Ông đã mệt nhọc dãi nắng dầm mưa 10 năm mới đuổi được giặc Minh để giành lại độc lập cho dân tộc. Năm 1428, sau khi quân Minh rút hết về nước, Lê Lợi lên ngôi vua đã sai Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô Đại Cáo” để bố cáo cho thiên hạ biết. Bản bố cáo này có thể coi là một bản tuyên ngôn độc lập, cũng có thể coi là một lời tuyên bố về đường lối chính trị của vua Lê Thái Tổ.

Ngay mở đầu bài cáo đã nói đến tư tưởng của nhà vua là “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Sau đó, tư tưởng nhân nghĩa lại được nâng lên ở câu “lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”.

Đường lối chí nhân của Lê Thái Tổ được thể hiện ra ở ngay trong việc ông đã tha cho toàn bộ quân tướng nhà Minh khi chúng đâu hàng. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Tháng 12, ngày 12 (năm 1427) Vương Thông nước Minh sai quân bộ qua sông Lô đi trước, quân thủy theo sau. Bấy giờ tướng sĩ và người nước ta rất oán người Minh giết hại cha con họ hàng, rủ nhau khuyên vua giết cả. Vua dụ rằng: “Trả thù báo oán là thường tình của mọi người, mà không thích giết người là bản tâm của người nhân. Vả lại người ta đã hàng rồi mà giết thì việc bất tường không gì lo bằng. Để thỏa lòng giận trong một buổi mà mang tiếng giết người đầu hàng mãi muôn năm, chi bằng tha mạng cho ức vạn người mà tuyệt mối chiến tranh sau này, sử xanh ghi chép, tiếng thơm muôn đời há chẳng lớn sao!”.

Bên cạnh đó, Lê Thái Tổ cũng là vị vua ngay từ đầu đã chủ trương chú trọng luật pháp để trị nước. “Sử ký toàn thư” chép rằng ngay trong tháng 1/1428, khi còn chưa làm lễ đăng quang ngôi vua, Lê Thái Tổ đã hạ lệnh ho các quan tư không, tư đồ, tư mã, thiếu úy, hành khiển bàn định luật lệ trị quân và dân, cho người làm tướng biết mà trị quân, người làm quan ở các lộ biết mà trị dân, để răn dạy cho quân dân đều biết là có phép, phàm các công việc đều có người phụ trách.

Lệnh của Thái Tổ nói rõ: “Từ xưa đến nay, trị nước phải có pháp luật, người mà không có phép để trị thì loan. Cho nên bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật, để dạy các quan, dưới đến nhân dân, cho biết thế nào là thiện ác, điêu thiện thì làm, điều ác thì lánh, chớ có phạm pháp”.

Quang Trung chú trọng đoàn kết dân tộc và cải cách giáo dục

Khác với Lý Thánh Tông lên ngôi trong buổi hòa bình và Lê Thái Tổ lên ngôi sau buổi dẹp loạn, Nguyễn Huệ đăng quang giữa lúc thù trong giặc ngoài đang căng thẳng. Ngày 22/11/1789, ông lên ngôi vua lấy hiệu là Quang Trung khi gần 30 vạn quân Thanh đã kéo tới Thăng Long. Quyết định lên ngôi, Quang Trung muốn có danh chính ngôn thuận để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Thanh của nhân dân ta.

Trong bản chiếu lên ngôi, vua Quang Trung nói rõ chí hướng: “… mấy năm gần dây, Nam Bắc gây việc binh đao, nhân dân rơi vào chốn bùn than. Trẫm là người áo vải ở Tây Sơn, không có một thước đất, vốn không có chí làm vua, chỉ vì lòng người chán ngán đời loạn, mong mỏi được vua hiền để cứu đời yên dân, vì vậy trẫm tập hợp nghĩa binh, mặc áo tơi đi xe cỏ để mở mang núi rừng…”

Sau các phần nói về thế sự, vua Quang Trung nói thẳng vào các vấn đề mà nhà vua phải giải quyết và phương hướng giải quyết. Trước hết vua tuyên bố các khoản thuế trong nước ông thu một nửa chỉ trừ các nơi bị nạn binh hỏa thì các quan đến nơi xét thấy đúng mới miễn. Đúng ra các vua khi đăng quang thường miễn thuế và đại xá thiên hạ nhưng lúc này đang đối mặt với mấy chục vạn quân Thanh nếu không thu thuế của dân thì triều đình không có lương thực nuôi quân đánh giặc.

Thứ hai, lúc này còn nhiều quan lại cũng như dân chúng của nhà Lê cũ, phải làm sao để tranh thủ sự ủng hộ hoặc hạn chế đến mức thấp nhất sự chống phá của họ. Để giải quyết việc này, vua Quang Trung tuyên bố: “Bầy tôi và nhân dân cựu triều hoặc bị vạ lây đã phải kết tội nặng, trừ tội đại nghịch bất đạo, còn thì đều cho đại xá… quan viên văn võ cựu triều, hoặc vì tòng vong trốn tránh, cho phép được về nguyên quán, người nào không muốn ra làm quan cũng cho tùy tiện”.

Những tuyên bố trong chiếu đăng quang này nói chung cũng chỉ là một giải pháp trước mắt. Nhưng ít ngày sau, khi gặp gỡ các nhân sĩ trí thức, vua Quang Trung đã bộc lộ hoài bão rất sâu xa về vấn đề xây dựng đất nước sau khi thắng giặc.

Sách La Sơn phu tử của tác giả Lê Trọng Hoàn cho biết khi Quang Trung hành quân ra đến Nghệ An có dừng lại tuyển mộ thêm lính và tổ chức duyệt binh lớn. Một ngày trước khi duyệt binh, vua đã gặp Nguyễn Thiếp để tham khảo ý kiến. Vua nói: “Quân địch đông quân ta ít. Phu tử tinh thông lý số, xin bảo cho quả nhân cách đánh thắng quân giặc”.

Nguyễn Thiếp nói đại khái rằng địch tuy đông nhưng đường xa mỏi mệt lại không rõ binh lực của ta cũng như địa hình địa vật trong khi ta biết rõ địch và dũng khí có thừa. Ta lại rút hết về Tam Điệp khiến giặc kiêu ngạo. Nhằm lúc chúng không đề phòng hoàng thượng dùng binh thần tốc, đánh cho chúng không kịp trở tay. Nếu thế hoàng thượng đi ra chuyến này, không quá 10 ngày quân Thanh sẽ bị dẹp tan.

Nhà vua nghe xong rất mừng nói: “Phu tử nói phải! chuyến này quả nhân sẽ đánh cho quân nhà Thanh không còn mảnh giáp. Sau thắng lợi, đất nước yên bình, quả nhân sẽ mời phu tử làm thầy dạy học. Có nghĩa là phu tử sẽ giúp triều đình chấn hưng học vấn trong nước. Vua quan không học thì không biết trị nước. Dân chúng không học thì không biết bổn phận làm dân, không hiểu kỷ cương nhà nước. Cho nên đạo học phải được coi trọng”.

Sau này khi đã thắng giặc, vua Quang Trung đã bắt tay ngay vào việc cải cách giáo dục và mời Nguyễn Thiếp ra giúp nhưng tiếc rằng vua mất sớm nên sự nghiệp này dở dang.

Ba vị vua nói trên chỉ là một vài điển hình về các đường lối trị quốc an dân của cha ông ta. Tuy rằng mỗi thời mỗi khác nhưng các câu chuyện lịch sử này cũng cho chúng ta nhiều điều đáng để suy ngẫm.

Theo KIẾN THỨC

ÔNG TRỌNG PHẢI THẾ NÀO MỚI ĐƯỢC NHƯ THẾ CHỨ

FB Đoan Trang

Ông Nguyễn Phú Trọng. AFP PHOTO/Hoang Dinh Nam

Ở những nước có chế độ dân chủ đa đảng, các chính trị gia thuộc các đảng phái khác nhau cạnh tranh với nhau bằng các chính sách công – cũng giống như việc đưa ra giải pháp, sản phẩm cho “thị trường chính trị”. Chính sách đó thể hiện thông qua đường lối, cương lĩnh, chương trình hành động… của đảng. Ví như đảng theo chủ nghĩa tự do nhấn mạnh các khái niệm “phồn vinh, thịnh vượng chung”, “chính quyền hiệu quả”; đảng theo khuynh hướng bảo thủ thì đề cao “quốc phòng mạnh”, “thị trường tự do, cắt giảm thuế”, “chính quyền nhỏ gọn”, “các giá trị gia đình là cốt lõi”…

Ở Việt Nam từ trước đến nay, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản nắm quyền lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện, kiên định với đường lối XHCN Mác-Lê. Đâm ra về căn bản, thị trường chính trị không có sự cạnh tranh về sản phẩm chính sách công, 100% người tiêu dùng bị cưỡng bức sử dụng một loại sản phẩm duy nhất là chủ nghĩa Mác-Lênin vô địch.

Không có giải pháp nào cho thị trường, các “chính trị gia” xã nghĩa quay ra cạnh tranh với nhau bằng những “đường lối” kiểu như phe này thì có vẻ thân Mỹ và chịu cải cách, nhưng tham nhũng, phe kia bảo thủ, thân Tàu, nhưng được cái trong sạch. Vâng, như thế gọi là “đường lối” đấy ạ. Trong khi không tham nhũng, chống tham nhũng, hay nói cách khác là liêm chính, vốn chỉ là đạo đức căn bản của một người bình thường. Nó không thể là phẩm chất, là đường lối của một chính khách; trong một nền chính trị dân chủ, không chính trị gia nào đi cạnh tranh với nhau bằng việc ông/bà ta không tham nhũng và sẽ chống tham nhũng cả. (Đó là chưa nói đến chuyện chống tham nhũng ở một chế độ như thế là bất khả thi).

Còn chuyện “thân Mỹ”, “thân Tàu”, hay như ngày trước là “thân Liên Xô”, đều chỉ thể hiện não trạng vong thân và tư duy nô lệ, thứ không thể có trong chính sách đối ngoại của một nhà nước bình thường.

Nhìn cuộc tranh giành quyền lực giữa các “chính trị gia” xã nghĩa mà chỉ rùng mình nhận thấy họ không cạnh tranh với nhau bằng chính sách, đường lối quản trị đất nước, mà họ chỉ đang thi thố xem ai đểu giả hơn, lưu manh hơn, tàn bạo hơn và khốn nạn hơn…

Nói cách khác, tất cả những chính khách cạnh tranh lẫn nhau trong cùng một Đảng Cộng sản này, dưới cái mũ chung là “đường lối XHCN” này, đều chỉ đang theo đuổi tà trị chứ chưa bao giờ làm chính trị.

* * *

Cá nhân tôi nể (tuy không kính) ông Nguyễn Phú Trọng. Câu nói nổi tiếng của ông, “mình phải thế nào người ta mới thế chứ”, nghe tuy ngớ ngẩn nhưng về bản chất, nó đúng. Ông phải thế nào thì mới chiến thắng tất cả và tiếp tục là người cầm đầu một đội ngũ chính trị gia xã nghĩa đểu giả, lưu manh như thế chứ.

Tôi nể ông còn vì: Một trong NHIỀU phẩm chất của người làm chính trị là chữ NHẪN. Dù thế nào, ông Trọng cũng là người thể hiện được chữ Nhẫn ấy, ngay cả trong những thời kỳ tưởng như là sóng gió nhất của ông, khi vây cánh bị triệt hạ và đồng chí X. đắc thắng làm khuynh đảo cả chính trường Việt Nam.

Nói riêng về chữ Nhẫn này: Nếu coi đó là một trong những phẩm chất của người làm chính trị, thì chỉ tính riêng về khía cạnh đó, ông Nguyễn Phú Trọng đã chiến thắng rất nhiều nhà hoạt động nhân quyền hiện nay ở Việt Nam – những người mà cái tôi quá lớn luôn khiến họ sẵn sàng chiến đấu với nhau… trên mạng và ăn thua đủ với độc giả trên từng comment. Tất nhiên, việc đó không có gì sai, bởi vì họ là các nhà hoạt động nhân quyền chứ đâu phải chính khách; chỉ có điều nếu vậy thì họ sẽ rất khó để trở thành đối thủ của ông Trọng và đảng của ông.

Ông Trọng: Tổng Bí thư quyền lực nhất?

FB Đoàn Xuân Lộc

Hình ông Trọng tại Đại hội 12. Credit: Hoang Dinh Nam.

Dù ông ở lại chỉ ‘mang tính thừa kế’, ông Nguyễn Phú Trọng là người quyền lực nhất trong Bộ Chính trị (BCT) khóa 12. Có thể ông cũng là Tổng Bí thư (TBT) nhiều quyền lực nhất ở Việt Nam thời hậu Lê Duẩn.

Với việc 9 trong 16 người, thuộc trường hợp quá tuổi trong BTC khóa 11 – đặc biệt trong đó có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người mà tới gần đây luôn được dư luận Việt Nam và giới quan sát quốc tế cho rằng có nhiều cơ hội nhất để trở thành TBT – đều (xin) rút lui, ông Trọng là người lớn tuổi nhất, thâm niên nhất trong số 19 ủy viên BCT hiện tại.

Ông sinh năm 1944 và là ủy viên BCT từ năm 1997 (khóa 8). Như vậy đến giờ ông Trọng đã ở trong BCT đến 19 năm.

Trong khi đó, trong 6 người còn lại thuộc khóa 11 được tái cử, chỉ có ông Đinh Thế Huynh (sinh năm 1953), ông Nguyễn Xuân Phúc (1954), bà Tòng Thị Phóng (1954) và ông Trần Đại Quang (1956) là ủy viên BCT từ năm 2011. Tổng thời gian có mặt trong BCT của bốn người là 20 năm – nhiều hơn ông Trọng chỉ một năm.

Hai người còn lại thuộc khóa 11 là bà Nguyễn Thị Kim Ngân (1954) và ông Nguyễn Thiện Nhân (1953) chỉ được bầu bổ sung năm 2013.

Từ năm 1986, chưa có một TBT nào vượt xa các ủy viên BCT khác về thâm niên trong BCT hay công tác, chức vụ trong ĐCS Việt Nam như vậy.

Tại Đại hội 11, khi ông Trọng được bầu làm TBT cách đây 5 năm, trong BCT có hai người vào cơ quan quyền lực này của ĐCS sớm hơn ông một năm là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ông Sang và ông Dũng vào BCT từ Đại hội 8, năm 1996, trong khi ông Trọng chỉ được bầu bổ sung tại hội 4 của khóa 8 năm 1997.

Hơn nữa, xét về chức vụ, ông Dũng đã là Phó Thủ tướng thường trực từ năm 1997 và ông sang là Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996. Trong khi vào thời gian đó ông Trọng chỉ là Phó bí thư Thành uỷ Hà Nội, phụ trách công tác tuyên giáo.

Cũng vì vậy, dù là TBT, ông Trọng không phải là người có ảnh hưởng nhất trong BCT và Ban Chấp hành (BCT) Trung ương khóa vừa qua. Có lúc ông bị ông Dũng qua mặt. Chuyện ông phải ‘nghẹn ngào’ thông báo trước toàn ĐCS và toàn dân rằng BCH Trung ương đã không kỷ luật ông Dũng tại hội nghị 6 năm 2012 như BCT đề nghị là một ví dụ.

Các TBT trước đó – từ ông Nguyễn Văn Linh đến ông Nông Đức Mạnh – không có ai hoàn toàn vượt trội các ủy viên BCT khác về thâm niên công tác, chức vụ trong ĐCS.

Chẳng hạn, tại Đại hội 6 năm 1986, khi ông Nguyễn Văn Linh được bầu làm TBT, trong BCT cũng có người có thâm niên, ảnh hưởng tương tự, như Võ Chí Công, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, hay thậm chí lớn hơn ông Linh – như Phạm Hùng. Ông Hùng đã vào BCT từ năm 1960, trước ông Linh đến 4 năm.

Năm 1991, khi ông Đỗ Mười làm TBT, bên cạnh ông có ông Võ Văn Kiệt. Cả hai đều được bầu làm ủy viên dự khuyết BCT tại Đại hội 4, năm 1976.

Khi ông Lê Khả Phiêu được bầu làm TBT tại Hội nghị 4 năm 1997, trong BCT lúc đó có hai người vào cơ quan này trước ông – là Nông Đức Mạnh và Nguyễn Đức Bình (năm 1991) – và một người cùng lúc với ông là Nguyễn Mạnh Cầm (năm 1993).

Khi ông Mạnh được bầu làm TBT tại Đại hội 9 năm 2001, bên cạnh ông có Phan Văn Khải. Cả hai đều vào BCT năm 1991. Ông Khải thậm chí được bầu làm Thủ tướng tại hội nghị 4, năm 1997, trong khi ông Mạnh chỉ được bầu giữ chức Chủ tịch Quốc hội lúc đó.

Năm năm sau đó, tại Đại hội 10, ông Mạnh được bầu tiếp tục giữ chức TBT, trong khi ba người còn lại trong ‘tứ trụ’ lúc ấy – là Trần Đức Lương, Phan Văn Khải và Nguyễn Văn – đều nghỉ.

Đại hội 12 là đại hội thứ hai – kể từ năm 1986 – TBT được tại chức, trong khi ba người giữ vị trí Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội rời chức vụ.

Nhưng so với ông Mạnh năm 2006, ông Trọng bây giờ có nhiều ảnh hưởng, quyền lực hơn.

Bên cạnh ông Mạnh lúc đó có nhiều nhân vật khác – như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – có ảnh hưởng trong BCT không thua gì ông Mạnh.

Còn trong BCT hiện tại, không ai ‘cùng lớp’ và đủ kinh nghiệm, thâm niên và ảnh hưởng để có thể cạnh tranh với ông Trọng.

Các ủy viên BCT và BCH Trung ương khóa 12 chỉ là ‘em’, ‘cháu’ hay thậm chí ‘con’ của ông Trọng.

Vẫn biết rằng đồng thuận là nguyên tắc lãnh đạo chính trong ĐCS, ông Trọng sẽ có vai trò rất lớn trong việc quyết định đường lối, chính sách của ĐCS và cũng là của Việt Nam trong khóa này.

Đây là điều làm không ít người dân lo ngại vì ông Trọng được coi là người bảo thủ, giáo điều và thân Trung Quốc. Trong khi Việt Nam cần một lãnh đạo có đầu óc đổi mới để có thể phát triển, tránh tụt hậu và có uy tín, bản lĩnh, biết tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, các nước khu vực để đối phó, ngăn chặn tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

Trước Đại hội 12, có tin cho rằng ông Trọng sẽ chỉ ở lại một hay hai năm. Nhưng dựa trên thông tin ông cho báo giới biết sau khi được tái cử, giờ không rõ ông giữ chức TBT 2, 3 hoặc năm năm. Nhưng dù ông ra đi giữa hay cuối nhiệm kỳ, ông sẽ đóng một vài trò quan trọng trong việc chọn người kế nhiệm ông.

Đây có thể cũng là một điều nữa làm những ai muốn Việt Nam đẩy mạnh cải cách băn khoăn. Những gì ông Trọng và ĐCS quyết định trong vấn đề chính sách và nhân sự trong những năm tới không chỉ có ảnh hưởng đến đất nước, người dân trong thời gian ông làm TBT mà có thể còn tác động rất lớn đến vận mệnh đất nước trong nhiều năm, thập kỷ sau đó.

Thủ tướng Dũng đã ‘thi thố’ hết tài năng?

@bbcThủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã được Đại hội 12 của Đảng CSVN đồng ý ‘cho rút’ khỏi danh sách nhân sự bầu vào Ban chấp hành Trung ương khóa mới.

Thủ tướng Việt Nam ông Nguyễn Tấn Dũng ‘đã hoàn tất’ hai nhiệm kỳ và đã ‘thi thố hết tài năng’ với kết quả ‘thực sự không khả quan’ trước khi ông rời khỏi cơ cấu quyền lực mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, sau quyết định ‘đồng ý cho rút’ của Đại hội 12, theo một nguyên Đại biểu Quốc hội của Việt Nam.

Trao đổi với BBC ngay sau khi kỳ Đại hội họp từ ngày 21-28/01/2016 quyết định xong dàn lãnh đạo mới mà trong đó ông đương kim Thủ tướng không có tên trong Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị khóa 12, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, người từng thách thức Thủ tướng Dũng từ chức vì trách nhiệm với các vụ Vinashin vỡ nợ, phá sản trước đây tại Quốc hội VN, nói:

“Về phía Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thì tôi nghĩ ông cũng đã hoàn tất hai nhiệm kỳ của mình, tổng cộng là 10 năm, có tài gì thì cũng đã thi thố rồi, và kết quả thì chúng ta cũng đã thấy thực sự là không được khả quan.

“Nền kinh tế của Việt Nam thì hiện nay càng ngày càng xuống dốc và về mặt ngân sách nhà nước thì có thể nói hiện nay là rỗng không, nếu không muốn nói con số nợ công là khủng khiếp.

“Thế thì tôi nghĩ là ông kết thúc công việc cũng được rồi và về cá nhân tôi, tôi cũng không lưu luyến, nhưng mà tôi nghĩ dù sao ông Nguyễn Tấn Dũng cũng sắp sửa thôi chức Thủ tướng, cho nên tôi cũng không muốn bình luận nhiều về ông nữa.

“Và tôi nghĩ rằng qua trường hợp của ông Nguyễn Tấn Dũng thì những người khác, mình lên cầm quyền và nhất là cầm quyền trong một giai đoạn rất là khó khăn của kinh tế và tài chính Việt Nam, thì phải rút được rất nhiều bài học từ những người tiền nhiệm,” nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Việt Nam nói với BBC.

Tập trung mọi quyền bính

Khi được hỏi đâu là nguyên nhân thực sự của việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không còn trong cơ cấu Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam sau Đại hội 12, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, nhà quan sát và vận động cho xã hội dân sự và dân chủ hóa ở Việt Nam, nói:

“Tôi nghĩ rằng người ta đã chuẩn bị mấy năm rồi, với quy định 244 thì ai cũng hiểu rằng ông Dũng sẽ khó mà trụ lại được, mà thực sự không chỉ có ông Dũng, mà còn rất nhiều người khác nữa, toàn bộ Bộ Chính trị (khóa 11) còn lại có 7 người và 9 người ra về.

Đại hội 12
Theo một số dự phóng, Thủ tướng tương lai của Chính phủ Việt Nam hậu Thủ tướng Tấn Dũng, người sẽ được Đảng CSVN giới thiệu ra bầu cử trong tháng Năm, là một đương kim Phó Thủ tướng.

“Tôi nghĩ chuyện ấy cũng là một chuyện bình thường.

“Và tôi cũng chia sẻ ý kiến của anh Thuyết là thực sự ông Dũng có thể là một người rất khéo nói, nhưng mà nếu chúng ta để ý đến cái việc làm của ông ấy, thì thấy rằng sự khéo nói đấy với cái sự dở làm, thì nó đi ngược nhau rất là nhiều.

“Tôi nói thí dụ về chính sách kinh tế, các Tập đoàn Kinh tế là tác phẩm của ông ấy và kết quả như thế nào thì ai cũng rõ.

“Hệ thống ngân hàng mà bây giờ nó be bét như bây giờ, tôi nghĩ đấy cũng một phần lớn là tác phẩm của ông ấy, thực sự là tác phẩm của hai ông Thống đốc và hai ông Thống đốc về sau là Thống đốc (Nguyễn Văn) Giàu và Thống đốc (Nguyễn Văn) Bình, thì tôi nghĩ chỉ là những người gọi là đi quét dọn, dọn dẹp hệ thống mà thôi.

“Nhưng mà những người mà phải đương đầu thì nhiều khi người ta lại bị dư luận đổ lỗi cho, thì nếu xét về tất cả những thành tích, thì tôi nghĩ là ông Dũng rút lui như thế là tốt cho ông ấy và cũng tốt cho cả đất nước nữa.

“Bởi vì quyền bính mà được tập trung quá lớn vào tay một người và người đấy mà có những chính sách về kinh tế, về xã hội mà nó trật một cái, thì lúc đó tai họa rất là lớn.”

Lý do nào thực sự

Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu cao cấp thuộc Viện Chiến lược Quốc tế (IISS) và Viện Đông Nam Á (ISEAS) tại Singapore chia sẻ quan điểm về nguyên nhân chính của việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ‘ra đi’. Ông nói với BBC:

“Nó có rất nhiều nguyên nhân của nó, những nguyên nhân về mặt năng lực về mặt thời gian công tác, rồi về mặt hiệu quả công tác, về mặt năng lực lãnh đạo thì đã thấy mọi người nói rồi, nhưng về mặt cấu trúc và về mặt thực hành chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thì nó có một điểm mà chúng ta nên xem, để mà trở thành lãnh đạo, hay là để mà đứng ra ứng cử vào một chức vụ nào đó thì cái nguyên tắc căn bản nhất của nó là nguyên tắc phải có thực hành cạnh tranh chính trị, phải dựa trên một nguyên tắc là cạnh tranh chính trị.

“Và nguyên tắc cạnh tranh chính trị đặt ra tất cả những tiêu chuẩn rất rõ ràng, minh bạch và ai cũng công nhận để cho cái đó, cho việc được ứng cử và được bầu. Thế thì năm 1946 thì Hồ Chí Minh sửa cái chữ gọi là ‘cạnh tranh chính trị’ thành một cái từ chỉ ở Việt Nam có thôi gọi là ‘thi đua yêu nước’. Thế thì từ đó đến giờ cái này xảy ra núp dưới các thực hành về mặt nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng. Chúng ta nên nhớ lại rằng các Đảng Dân chủ, Xã hội, người ta cũng theo nguyên tắc.

“Thế nhưng các nguyên tắc của các đảng Dân chủ, Xã hội ở bên ngoài Việt Nam thì được thực hành trong bối cảnh đa nguyên, ở Việt Nam, nguyên tắc tập trung dân chủ không phải ở trong bối cảnh đó, cho nên nó mới nảy sinh ra Quyết định 244 vừa rồi, mà điều 244 vừa rồi bao gồm tất cả mọi thứ và cuối cùng nó dẫn đến cái việc là Thủ tướng Chính phủ không thể tái cử.”

Nhà báo Trần Nhật Phong
Nhà báo Trần Nhật Phong cho rằng trách nhiệm cuối cùng trong nhiều vấn đề phải là của Tổng Bí thư Đảng chứ không phải của Thủ tướng điều hành Chính phủ.

Khi được hỏi nếu giả định ông Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng Bí thư của Đảng CSVN, thì cơ cấu nhân sự lãnh đạo cao cấp của Đảng có khác so với ban lãnh đạo đã được Đại hội 12 bầu ra, với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử, hay là không, TS. Hà Hoàng Hợp nói:

“Thực ra từ Hội nghị Trung ương 13 người ta đã có kế hoạch rồi, người ta đã có kế hoạch khác rồi, cho nên bây giờ, đương nhiên mà giả định là ông Nguyễn Tấn Dũng lên Tổng Bí thư thì chắc cái cơ cấu nó phải khác… Nó khác rằng là Thủ tướng sẽ khác, Chủ tịch Nước sẽ khác và kể cả Chủ tịch Quốc hội sẽ khác, và cơ cấu của Nhà nước, tức là của Quốc hội và của Chính phủ sẽ khác… Nhưng cơ cấu của các tỉnh sẽ không khác, vì cơ cấu của các tỉnh được làm từ dưới lên trên, thì người ta đã làm xong rồi,” nhà phân tích chính trị Việt Nam nói thêm.

Trách nhiệm chỉ một phần

Từ California, Hoa Kỳ, đạo diễn, nhà báo tự do Trần Nhật Phong bình luận về ‘khả năng’ và ‘trách nhiệm’ của ông Dũng, cũng như nêu quan điểm về rốt cục bất luận ‘ai lên, ai xuống’ thì Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền sẽ đi tới đâu. Ông Phong nói:

Tôi có hai ý và một trong hai ý, lúc nãy một trong các vị khách có nói là vấn đề ‘khả năng’ của ông Dũng, thì tôi nghĩ ông Dũng chỉ chịu trách nhiệm có một phần cho cái gì nó đã xảy ra cho Việt Nam trong thời gian qua, nhưng người cuối cùng chịu trách nhiệm chính vẫn là ông Nguyễn Phú Trọng chứ không phải (là) ông Dũng.

Lý do là bởi vì cơ chế của Việt Nam, khi các vị muốn nắm một chức vị nào đó ở trong cơ chế, thì quý vị phải là Đảng viên, vậy thì Tổng Bí thư là người cuối cùng chịu trách nhiệm cho những tiêu cực của Đảng viên đó chứ không phải ông Thủ tướng của Chính phủ.

“Ông Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, nhưng với điều kiện người đó phải là đảng viên, do đó tôi cho rằng trách nhiệm chính là phần của ông Nguyễn Phú Trọng chứ không phải là ông Nguyễn Tấn Dũng đâu.

“Ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ là Thủ tướng điều hành chính phủ thôi, còn ông Nguyễn Phú Trọng là Tổng bí thư Đảng, là người gạn lọc ai có thể trở thành Đảng viên và tại sao có những tiêu cực đó. Đó là điểm thứ nhất.

“Điều thứ hai, tôi cho rằng điều tiêu cực nhiều hơn là sự bầu bán lần này và ai cũng nghĩ rằng Việt Nam sẽ có thay đổi, tôi cho rằng thay đổi của Việt Nam chỉ mang tính chất chắp vá thôi, tức là những lỗ hổng nào thì vá, vá, vá và cứ tiếp tục vá, mà không có sự thay đổi toàn diện xã hội.

“Mà với sự bầu bán lần này, tôi cho rằng phía Việt Nam cũng sẽ lặp lại bài toán đó.”

Dù ai lên ai xuống

Và nhà báo, đạo diễn từ Mỹ nói thêm:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tự xin rút tên khỏi danh sách đề cử bầu nhân sự vào Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN tại Đại hội 12 dù đã được nhiều đoàn đại biểu địa phương tiến cử.

“Còn nhớ thời gian trước đây, khi Việt Nam gia nhập vào WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới), quý vị thấy cũng có nhiều áp lực, nhiều thành phần xã hội, kể cả quốc tế áp lực Việt Nam thay đổi cơ chế đó để có thể hội nhập, nhưng mà cuối cùng khi họ vào được WTO rồi, thì mọi việc lặp lại như cũ.

Lần này TPP (Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương) thì cũng như vậy thôi, họ cứ tìm cách họ lấn, họ né và họ tránh được cái nào, hay cái đó, thí dụ Công đoàn Độc lập họ tránh không được, thì họ đẻ ra một thứ khác để có thể hợp pháp.

“Hoặc là những vấn đề khác họ lại lấy lý do văn hóa, cơ chế, con người để họ tiếp tục quyền tự do ngôn luận của người ta, hay là giới hạn những sự phát triển của xã hội, do đó tôi cho rằng sự thay đổi của Việt Nam không có nhiều dưới thời của ông Nguyễn Phú Trọng sắp tới là vì họ chỉ thay đổi theo kiểu chắp vá chứ không thay đổi toàn diện xã hội.

Do đó tôi cho rằng là có thể Đại hội lần này làm cho người ta hào hứng một chút vì tới giờ chót không ai biết được người nào lên, người nào xuống, tuy nhiên rồi người ta cũng thấy nó sẽ đi vào vết cũ và không có gì thay đổi cả,” đạo diễn, nhà báo từ Hoa Kỳ nói với BBC.

Tại Đại hội 12 của Đảng CSVN, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã xin rút tên khỏi danh sách được nhiều đoàn Đại biểu từ các địa phương tiến cử vào Ban chấp hành Trung ương Khóa mới. Ông sẽ tiếp tục đảm nhận nốt chức vụ hiện nay tại Chính phủ ít nhất cho tới sau khi Việt Nam tiến hành kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp ở toàn quốc dự kiến vào tháng Năm tới đây.

Mời quý vị theo dõi toàn bộ cuộc Tọa đàm của BBC nhìn lại Đại hội 12 của Đảng CSVN vừa bế mạc, trong đó có các nội dung trao đổi như trên, tại đây.