Lượm lặt tin 25-12-15

Sự thật căn bệnh giết người nhiều hơn tai nạn giao thông ở VN

 – Trung bình mỗi ngày có 150 người Việt Nam chết vì bệnh tiểu đường, cao gấp 7 lần số người tử vong vì tai nạn giao thông. 

Bệnh tiểu đường (đái tháo đường) là căn bệnh cực kỳ nguy hiểm nhưng lại ít được chú ý tại Việt Nam. Thống kê cho thấy, cả nước hiện có 5 triệu người mắc bệnh này nhưng phần lớn (65%) không biết mình bị bệnh.

Trung bình mỗi ngày có 150 người Việt Nam chết vì bệnh tiểu đường, cao gấp 7 lần số người tử vong vì tai nạn giao thông (khoảng 24 người mỗi ngày, năm 2015). Số người chết vì bệnh tiểu đường chỉ đứng bệnh ung thư, tim mạch.

Infographic dưới đây sẽ cung cấp cho bạn đọc một số thông tin cần thiết cũng như cách phòng ngừa và chữa trị căn bệnh đang bùng phát dữ dội tại Việt Nam này:

tiểu đường, đái tháo đường, cần biết, ngăn ngừa, căn bệnh, nguy hiểm, tieu duong, dai thao duong, can biet, ngan ngua, can benh, nguy hiem,

———————————

Thời tiết 2016 sẽ nóng kỷ lục, vượt cả 2015

Nếu 2015 được coi là năm nóng nhất trong lịch sử thì năm 2016, nhân loại sẽ tiếp tục phải gánh chịu thêm một năm nóng kỷ lục mới, theo dự báo mới nhất từ Cục Khí tượng Anh Met Office.

Năm 2015 được ghi nhận là năm nóng nhất trong lịch sử. Ngay tháng trước, Tổ chức Khí tượng toàn cầu (WMO) cũng đã kết luận rằng, năm 2011-2015 là giai đoạn năm nóng nhất từ trước đến nay. Một phần do biến đổi khí hậu và một phần không nhỏ do diễn biến thất thường của hiện tượng El Nino.

thời tiết 2016, nóng kỷ lục, hiện tượng El Nino, Met Office,

BBC dẫn thông cáo của Met Office cho thấy nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2016 có thể tăng 1,1 độ C, trên mức tiền công nghiệp. (Là mức độ của CO2 trong bầu khí quyển trước khi bắt đầu cuộc Cách mạng công nghiệp. Các mức này được ước tính là khoảng 280 phần triệu (theo thể tích). Mức độ hiện nay là khoảng 380ppm).

Tuần qua tại Hội nghị thượng đỉnh về Biến đổi khí hậu toàn cầu (COP 21), hơn 195 quốc gia đã đạt được bản thỏa thuận lịch sử ràng buộc các nước cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Theo bản thỏa thuận này, các quốc gia sẽ đưa ra các cam kết của mình để nhằm giới hạn nhiệt độ ở mức 2 độ C, phấn đấu mục tiêu dưới mức 1,5 độ C vào cuối thế kỷ 21.

Tại hội nghị, nhóm các nước giàu cũng nhất trí đóng góp 100 tỷ USD/năm dành cho các nước đang phát triển kể từ năm 2020 để ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, giống như một dự báo trước đó của các nhà khoa học, ngay cả khi COP 21 đạt được một thỏa thuận lịch sử, nhiệt độ Trái Đất vẫn có xu hướng tăng tới 3 độ C trước cuối thế kỷ này.

thời tiết 2016, nóng kỷ lục, hiện tượng El Nino, Met Office,

Dự báo của Met Office dựa trên sự kết hợp giữa các mô hình máy tính và phương pháp thống kê cho thấy, nhiệt độ trung bình toàn cầu trong 12 tháng tiếp theo có thể dao động giữa 0,72 và 0,96 độ C, nhiều khả năng sẽ đạt 0,84 độ C, trên mức trung bình từ năm 1961 – 1990.

So sánh với nhiệt độ thời tiền công nghiệp, các dự báo cho rằng nhiệt độ toàn cầu năm tới sẽ là 1,1 độ C, cao hơn giai đoạn 1850 – 1899. Đối chiếu với mục tiêu đã đặt ra tại COP 21 là 1,5 độ C, có thể thấy mức nhiệt độ trên đã tiệm cận rất gần và đáng lo ngại.

Năm ngoái theo dự báo, mức nhiệt độ toàn cầu trong năm 2015 có thể cao hơn 0,64 độ C so với trung bình. Dữ liệu quan sát từ tháng Một đến tháng Mười cho thấy, nhiệt độ trung bình toàn cầu đang đạt ở mức 0,72 độ C, cao hơn so với mức trung bình giai đoạn 1961- 1990.

thời tiết 2016, nóng kỷ lục, hiện tượng El Nino, Met Office,
Biểu đồ nhiệt độ toàn cầu trung bình so với giai đoạn 1961-1990, quan sát từ giai đoạn 1996-2014 (màu xanh dương), năm 2015 (màu vàng) và dự đoán tới năm 2016 (màu hồng tím). Nguồn WMO và Met Office.

Giáo sư Adam Scaife làm việc tại Met Office nói: “Trong năm 2014, chúng ta có mức nhiệt độ trung bình kỷ lục 0,6 độ C, năm 2015 nhiệt độ dưới danh nghĩa kỷ lục đã đạt tới 0,7 độ C. Và năm tới, chúng ta sẽ lại tiếp tục nói về mức nhiệt độ 0,8 độ C. Do đó, bạn có thể thấy sự gia tăng rất nhanh chóng trong vòng ba năm qua và trước khi hết năm 2016, chúng ta sẽ có ba năm nóng kỷ lục”.

Trong khi đó, giáo sư Chris Folland, một nhà nghiên cứu khác tại Met Office cho biết: “2015 là năm nóng nhất trong lịch sử, và dự báo cho thấy năm 2016 có thể sẽ ấm lên nếu không muốn nói là ấm hơn cả”.

Sự kiện chưa từng có

Các dự báo mới đây của các nhà khoa học đã tiết lộ, El Nino sẽ còn tiếp tục diễn biến thất thường và khiến mùa đông năm 2015 và mùa xuân năm 2016 trở nên ấm “dị thường”. Hiện tượng này khiến cường độ gió mùa giảm tại Ấn Độ, gây suy yếu các cơn bão trên biển Đại Tây Dương và là một phần nguyên nhân gây nên các trận bão hồi đầu mùa đông ở khu vực Bắc Âu trong vài tuần qua.

thời tiết 2016, nóng kỷ lục, hiện tượng El Nino, Met Office,

Các chuyên gia tại Met Office cho biết, El Nino sẽ chính là tác nhân chính gây nên mức giá trị nhiệt độ tăng 0,2 độ vào năm tới. Bên cạnh đó, nếu hiện tượng trên kết hợp cùng với biến đổi khí hậu, những kỷ lục nhiệt độ mới có thể được thiết lập và con người sẽ chính là một trong những sinh vật phải hứng chịu thảm họa đầu tiên trên Trái Đất.

Met Office nhận định, mức tăng nhiệt độ cho năm tới có thể không diễn biến vô thời hạn như các dự báo, thậm chí có thể sẽ giảm xuống dưới mức 1 độ C trong vài năm tới. Nhưng dịch vụ này cho rằng, tín hiệu ấm dần lên có thể kết hợp theo những cách khó dự đoán trước với những dao động tự nhiên nhỏ hơn dẫn tới “những sự kiện chưa từng có”

 

Con đường làm Tổng bí thư của ông Dũng còn lận đận

Kính gởi quý cơ quan truyền thông báo chí,

Lá thư 9 trang của ông Nguyễn Tấn Dũng gởi Bộ chính trị, Trung ương Đảng làm xôn xao dư luận gần đây.

Kính mời quý vị đọc bài phân tích “Con đường làm Tổng bí thư của ông Dũng còn lận đận” của tác giả Trung Điền và kính mong được tiếp tay phổ biến.

Trân trọng,
Mai Hương
Trưởng Ban Liên Lạc Truyền Thông Đảng Việt Tân

Một tuần trước khi khai mạc Hội nghị trung ương 13, ông Nguyễn Phú Trọng đã nói trong một cuộc tiếp xúc với cử tri Hà Nội hôm 8/12 rằng công tác nhân sự cho Đại hội Đảng XII còn “rất khó khăn.”

Trong bài diễn văn bế mạc hội nghị trung ương 13 hôm 21/12, ông Nguyễn Phú Trọng, tuy không lập lại chữ ‘rất khó khăn’ nhưng đã cho thấy là công tác nhân sự vẫn còn khó khăn vì… chưa hoàn tất. Trung ương đảng phải họp thêm kỳ 14 để giải quyết một số ủy viên bộ chính trị hiện nay, tuy đã đến tuổi hưu (trên 65) nhưng lại muốn tái ứng cử hoặc tái đề cử để đảm nhận chức danh lãnh đạo chủ chốt, đặc biệt là ghế Tổng bí thư.

Khó khăn mà ông Nguyễn Phú Trọng nêu ra, đến từ vài nguyên do:

Thứ nhất, ông Nguyễn Tấn Dũng, tuy muốn làm Tổng bí thư nhưng không tự mình điền đơn tái cử như các ủy viên bộ chính trị khác mà để cho các đàn em trong trung ương đảng đề cử. Ông Dũng muốn dùng chính lá phiếu của đàn em để dằn mặt phe chống đối rằng ông “không tham quyền cố vị” mà là do nhu cầu của đảng yêu cầu ông phải…. tiếp tục “hy sinh”. Sở dĩ làm như vậy, ông Dũng muốn chấm dứt thời kỳ “cá mè một lứa” giữa các nhân sự trong bộ chính trị để tóm thu quyền lực dễ dàng hơn khi nắm ghế Tổng bí thư qua đa số phiếu bầu của Trung ương đảng mà ông Dũng biết là khó ai có thể cạnh tranh.

Thứ hai, những người ở tuổi hưu không chỉ vài nhân vật mà có đến trên 6 người như Lê Hồng Anh, Phạm Quang Nghị, Lê Thanh Hải, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng muốn được tái ứng cử hay đề cử để tiếp tục. Những người này cũng đang nhắm đến ghế tổng bí thư và họ không muốn ông Dũng quá mạnh, trở thành một thế lực chi phối toàn bộ sinh hoạt chính trị và kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.

Thứ ba, vấn đề sắp xếp nhân sự trước đây nằm trong tay Tổng bí thư và Bộ chính trị đương nhiệm và Trung ương đảng (TƯĐ) chỉ biểu quyết lấy lệ; nhưng kể từ năm 2014 trở đi, qua chỉ thị 244 của Bộ chính trị, mọi vấn đề sắp xếp nhân sự trong bộ phận trung ương và các chức danh lãnh đạo chủ chốt đều phải mang ra thảo luận và bỏ phiếu kín tại Hội nghị TƯĐ.

Nhưng những khó khăn nói trên chỉ là bề nổi. Vấn đề then chốt hiện nay là sự ảnh hưởng của Trung Quốc lên bài toán nhân sự thượng tầng, đặc biệt là đối với việc ông Dũng lên làm Tổng bí thư.

Trong chuyến viếng thăm Việt Nam vào tháng 11 vừa qua, ông Tập Cận Bình đã gặp gỡ tứ trụ nhưng chỉ đưa ra lời mời ông Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Trung Quốc. Lúc đó, dư luận đánh giá rằng lời mời này đã biểu hiện sự ủng hộ của Bắc Kinh hay ít ra là của Tập Cận Bình đối với ghế Tổng bí thư tương lai cho ông Nguyễn Tấn Dũng.

Thực tế, lời mời của họ Tập chỉ là “kế sách” khích động sự khởi đầu cho một chiến dịch tấn công cá nhân và gia đình nhằm răn đe ông Nguyễn Tấn Dũng về mối quan hệ Việt – Trung.

Hàng loạt những thư nặc danh tấn công đời tư, chuyện gia đình của ông Dũng được phổ biến rộng rãi trên Internet. Nhưng quan trọng nhất là việc “buộc tội” ông Dũng đã khơi mào cho làn sóng chống Trung Quốc, dẫn đến cuộc đốt phá 1000 công ty, nhà máy tại Bình Dương sau khi xảy ra vụ Bắc Kinh mang giàn khoan HD 981 vào sâu trong thềm lục địa Việt Nam vào tháng 5/2014.

Nội dung lá thư gửi Bộ chính trị, Trung ương đảng của ông Nguyễn Tấn Dũng đã cho thấy là ông Dũng đã chơi “bài ngửa” đối với phe thân Trung Quốc.

Trong 12 vấn đề nêu ra trong lá thư, những phản bác của ông Dũng về các cáo buộc liên quan đến chuyện gia đình, con cái, tài sản và năng lực lãnh đạo phải nói là khá thuyết phục. Ông Dũng không những chứng minh dựa trên các báo cáo của ủy ban kiểm tra hay của bộ chính trị mà còn luôn luôn đặt mình và gia đình dưới sự chỉ đạo, sắp xếp của đảng.

Nhưng phần trả lời yếu nhất, và là tâm điểm của vấn đề, chính là những lý luận mà ông Dũng đưa ra nhằm viện dẫn lý do vì sao có những phát biểu phê phán Trung Quốc mạnh vào lúc đó. Lời giải thích đã không mấy thuyết phục. Dành gần 1/3 lá thư, ông Dũng cho rằng ông chỉ phản ảnh quan điểm của Bộ chính trị vào lúc xảy ra vụ giàn khoan đầu tháng 5/2014, khi nói “không hy sinh chủ quyền lãnh thổ cho những quan hệ hữu nghị viển vông.”

Trong vụ giàn khoan HD 981, ông Dũng là người đầu tiên và cũng là duy nhất lên tiếng mạnh mẽ chống việc Trung Quốc mang giàn khoan HD 981 vào sâu trong thềm lục địa Việt Nam, trong khi ông Nguyễn Phú Trọng tìm cách liên lạc riêng để gặp Tập Cận Bình nhưng bị từ chối. Lúc đó, ông Dũng còn “dọa” Bắc Kinh rằng mọi hồ sơ kiện Trung Quốc đã chuẩn bị xong chỉ chờ bộ chính trị bật đèn xanh, trong khi thực tế bộ chính trị CSVN không hề thảo luận về vụ việc này.

Qua lá thư 9 trang, người ta mới thấy là những phát biểu về vụ giàn khoan HD 981 xảy ra hồi tháng 5/2014 đang là trở ngại cho chính ông Dũng để được chọn làm Tổng bí thư.

Điều này cho thấy là bóng ma Trung Quốc còn rất lớn trong nội bộ đảng CSVN, khi thành phần đã ít nhiều chịu ơn của Bắc Kinh đang rất lo ngại sự mất quyền lực nếu để cho phe Nguyễn Tấn Dũng thắng thế.

Ngay cả Bắc Kinh cũng vậy, tuy không còn khả năng chi phối nhân sự qua việc “khống chế” tổng bí thư như trong các kỳ đại hội trước dưới triều đại Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trung Quốc lần này không muốn Nguyễn Tấn Dũng mạnh lên để chèn ép các phe nhóm khác. Ngược lại Trung Quốc muốn tình trạng “cá mè một lứa” tiếp tục duy trì trong thượng tầng lãnh đạo để dễ dàng khuynh loát, hơn là tập trung vào tay một người dù là Nguyễn Tấn Dũng hay Trương Tấn Sang.

Nói tóm lại, hiện chưa có một nhân vật nào đủ tầm vóc về tiền, về quyền, và về gian xảo để qua mặt Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng bí thư. Nhưng chính quan điểm chống Trung Quốc về vụ giàn khoan của ông Dũng đã làm Trung Quốc có lý cớ để hậu thuẫn cho phe thân Trung Quốc tạo áp lực cũng như dằn mặt Nguyễn Tấn Dũng chơi trò “thoát Trung” sau khi lên làm Tổng bí thư.

Với quá nhiều bằng chứng “nói một đằng, làm một nẻo” và con người mưu mô của ông Dũng, không ai tin “ảo thuật” thoát Trung và cải cách của Nguyễn Tấn Dũng sẽ mang lại lợi ích cho đất nước. Dũng hay Trọng đều không phải lá phiếu mà người dân Việt Nam sẽ chọn.

Trung Điền

Dựa Trung Quốc Để Làm Chính Trị Nội Bộ

FB Robert Le

Tập Cận Bình đón tiếp Nguyễn Sinh Hùng. Nguồn: internet

Chiều Thứ Tư 23/12/2015 ông Nguyễn Sinh Hùng gặp ông Tập Cận Bình tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh. Theo tường trình của Vietnamnet, ta thấy có những điểm đáng chú ý sau đây.

Ông Tập “gởi lời thăm hỏi, lời chúc tốt đẹp đến TBT Nguyễn Phú Trọng và CTN Truơng Tấn Sang” mà không nhắc gì đến TT Nguyễn Tấn Dũng. Điều này khá lạ vì ông Tập khi thăm VN mới hôm 5-6/11/2015 vừa qua chỉ mời duy nhất ông Dũng đi thăm Trung Quốc và hai ông Dũng-Tập đã ôm nhau từ phải qua trái và từ trái qua phải đến ba lần hết sức thắm thiết.

Điều này chỉ có thể giải thích bằng một trong hai lý do. Thứ nhất, ông Tập có thể đã gởi lời thăm ông Dũng nhưng tam trụ Trọng-Sang-Hùng đang vây đánh nhất trụ Dũng nên đã chơi khâm, cắt lời nhắn thăm ông Dũng bỏ đi khi đưa tin ra ngoài công chúng. Thứ hai, có thể tam trụ Trọng-Sang-Hùng đã nhượng gì với ông Tập có giá trị lớn hơn ông Dũng nhượng nên ông Tập vì tham lam đã sở khanh ông Dũng !?

Ông Hùng ca bài ca con cá sống vì nước với ông Tập, khẳng định “luôn coi trọng việc gìn giữ, kế thừa và phát huy mối tình đoàn kết hữu nghị truyền thống… coi đây là tài sản chung quý báu của hai Đảng…”. Ông xem cái kim cô vương miện 16 chữ vàng và 4 tốt trên đỉnh đầu VN là niềm hãnh diện, cho dù TQ cứ càng ngày càng siết chặc thêm.

Tập yêu! 16 chữ vàng
Biến Hùng thành yểu, biến Sang thành hèn

Ông Hùng thúc đẩy “gắn kết vững chắc hơn quan hệ chính trị, đoàn kết, hữu nghị và hợp tác giữa hai nước”. Điều này có nghĩa là trên phuơng diện chính trị VN nghiêng hẳn về TQ nếu ông Tập giúp tam trụ Trọng-Sang-Hùng giữ vững chế độ độc tài độc đảng ở VN.

Ông Hùng muốn có “sự ủng hộ lẫn nhau tại các cơ chế, diễn đàn quốc tế” khi mà “thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp”. Ông lấy bất biến (luôn sát cánh với TQ) để ứng vạn biến (cho dù TQ có lấy Biển Đông và Hoa Kỳ tìm cách ngăn cản).

Ông Hùng muốn “hai bên cần kiểm soát tốt tình hình, cùng duy trì ổn định, tích cực hợp tác trên biển”. Ông muốn gác tranh chấp cùng khai thác như Đặng Tiểu Bình từng căn dặn với tiền đề chủ quyền là của ta (TQ). Ông Hùng đang tình nguyện đi vào cái bẫy của TQ.

Cả hai ông Tập và Hùng cùng “đẩy mạnh việc tuyên truyền về tình hữu nghị” dù thực tế là một bên được một bên thua, nhưng hai bên cứ ra sức tuyên truyền, bên nào ngu thì bên đó ráng chịu, kiểu cắt máu ăn thề, ai đểu nhất thì thủ lợi, ai cả tin thì bị hy sinh.

Cả hai ông Tập và Hùng cùng nhất trí tiếp tục tăng cường “chỉ đạo, định hướng, thúc đẩy quan hệ song phương phát triển ổn định”, nghĩa là anh sao tôi vậy, tôi chấp nhận thua thiệt để anh dù có ăn hiếp tôi nhưng đừng có đánh tôi, nên nếu anh lấn thì tôi nhường.

Hai ông Tập và Hùng cam kết trong thời gian tới tiếp tục “tăng cường phối hợp, ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn liên nghị viện khu vực và thế giới” – thôi rồi Lượm ơi! làm gì có chuyện kiện cáo như Phi đang làm!

Ông Hùng đi TQ ngay thời điểm này, vừa sau Hội Nghị Trung Ương 13 tranh nhau bất phân thắng bại, vừa trước trận đánh kế tiếp ở Hội Nghị TU 14 khoảng đầu tháng Giêng, và chưa đầy một tháng trước Đại Hội 12, với nội dung vừa cậy dựa TQ vừa dồn ông Dũng vào chân tường.

Rõ ràng là ông dùng ngoại lực để làm chính trị nội bộ, làm ra vẻ chuyện Biển Đông thì ta đây có hùng khí dám đặt vấn đề thẳng mặt với Tập Trạch Đông (nick của TCB). Trong khi ông ngồi Chủ Tịch Quốc Hội hôm 6/11, Tập đến giáo huấn nói Bác Hồ đạo văn Vương Bột và hàm ý sông suối núi non đều phải chảy về biển, hướng về Thái Sơn (TQ là biển, là Thái Sơn) thì ông ngậm miệng ăn tiền.

Bây giờ mới biết tại sao người ta gọi ông là Hùng… hói ông Hùng ơi! vì ông vừa hói tóc trên đầu và vừa hói óc trong đầu.

Đề nghị thanh tra khối tài sản khổng lồ của gia đình Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

@Basam

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Tam Kỳ, ngày 9 tháng 12 năm 2015

Kính gửi:    Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Đồng chí Ngô Văn Dụ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TW

Đồng chí Tô Huy Rứa, Trưởng Ban Tổ chức TW

Các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư

Tôi là Trương Văn Quy, cán bộ nghỉ hưu, hiện đang sinh sống tại phường An Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.Thời gian vừa qua, tôi đã nhiều lần phản ánh với đồng chí Tổng Bí thư và các đồng chí Bộ Chính trị về một số tình hình liên quan đến đồng chí Nguyễn Xuân Phúc (đồng chí Bảy Phúc), nhưng chưa thấy bất kỳ cơ quan nào xử lý, vì vậy tôi xin tiếp tục kiến nghị như sau:

–    Đề nghị Ủy ban Kiểm tra Trung ương cùng với Ban Tổ chức Trung ương làm rõ nguồn gốc số tài sản khổng lồ lên đến gần một nghìn tỷ đồng đứng tên Vũ Chí Hùng, con rể đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, do chính Vũ Chí Hùng khai trong bản kê khai tài sản năm 2013, gồm (1) Căn hộ 269m2 tại khu căn hộ cao cấp, 59 Ngô Tất Tố, Bình Thạnh, tp. Hồ Chí Minh; (2) Căn hộ 180m2, khu đô thị Trung Hòa-Nhân Chính, Hoàng Đạo Thúy, Hà Nội; (3) Căn hộ 127m2, khu căn hộ cao cấp Parkson, 126 Hùng Vương, quận 5, tp.Hồ Chí Minh; (4) nhà mặt tiền đường Đồng Khởi, tp.Hồ Chí Minh; (5) Biệt thự HS04-29, 340m2, Hoa Sữa, Vinhomes Riverside; (6) 02 mảnh đất 1600m2 ở phường Thạnh Mỹ Lợi, quận 2, tp.Hồ Chí Minh và quận 9, tp.Hồ Chí Minh; (7) tiền mặt: 34,5 tỷ đồng; (8) cổ phiếu trị giá 9 tỷ đồng.

Với tuổi đời, nghề nghiệp của Vũ Chí Hùng thì không thể có tài sản đó được. Vậy tài sản đó từ đâu, có phải của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc giao cho con rể đứng tên hộ không? Ngoài ra, trong bản kê khai, Vũ Chí Hùng còn nói rõ, đ/c Nguyễn Xuân Phúc có cho căn biệt thự HS04-29, 340m2, Hoa Sữa, Vinhomes Riverside và căn nhà mặt tiền đường Đồng Khởi, tp. Hồ Chí Minh. Tổng giá trị của 02 tài sản này lên đến trên 40 tỷ đồng. Vậy đồng chí Nguyễn Xuân Phúc lấy đâu ra trên 40 tỷ đồng để mua số tài sản trên để cho con gái?

Tất cả những vấn đề đó, đề nghị cần làm rõ để trả lời trước Đảng và nhân dân, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc tham nhũng hay không tham nhũng, không thể để mập mờ như tình trạng hiện nay được.

–    Đề nghị Ủy ban Kiểm tra Trung ương cùng Ban Tổ chức Trung ương làm rõ việc đồng chí Nguyễn Xuân Phúc và gia đình có được ông Đặng Văn Thành, nguyên chủ tịch Sacombank cho, tặng cổ phiếu ở công ty nước khoáng Đakai, Công ty cổ phần mía đường Bourbon, Sacomreal hay không? Có hay không có việc đồng chí Nguyễn Xuân Phúc sở hữu 02 căn biệt thự ở Mỹ tại số 636 Halliday street, Anaheim, CA92804, 7556 East Calle Durango street, Anaheim, CA92808 đang nhờ ông Đặng Văn Thành đứng tên hay không?

–    Đề nghị đồng chí Tổng Bí thư, đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Trung ương chú ý việc đồng chí Nguyễn Xuân Phúc công khai đi vận động vào vị trí lãnh đạo chủ chốt. Mỗi lần về Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, đồng chí Phúc đều vận động các đồng chí đương chức, lão thành lên tiếng giới thiệu đồng chí Phúc vào tứ trụ, rồi nói xấu đồng chí Nguyễn Tấn Dũng là “tham nhũng nhiều nhất Việt Nam”, “là Gooc Ba Chốp Việt Nam”… Không chỉ vẫn động ở các tỉnh miền Trung, mà đồng chí Phúc còn liên tục gặp gỡ nhiều địa phương, từ tây bắc đến tây nam bộ để vận động, mà gặp ai, cũng thấy đồng chí Phúc cho tiền, không rõ đồng chí Phúc lấy tiền từ đâu ra mà nhiều đến vậy. Phải chăng, đây là tiền tham nhũng mà có (?!). Cũng xin nhắc lại cho các đồng chí biết, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc là một trong những “bậc thầy” chạy phiếu bầu, ngay từ thời Đại hội X, XI đến việc lấy phiếu tín nhiệm ở Quốc hội, điều này chắc đồng chí Tổng Bí thư, đồng chí Chủ tịch nước, đồng chí Thủ tướng đã quá rõ (các đồng chí đã tham gia BCT 3-4 nhiệm kỳ).

Trên đây là một số ý kiến của tôi về đồng chí Nguyễn Xuân Phúc. Rất mong các đồng chí xem xét, chỉ đạo kiểm tra khách quan, nhất định không để những phần tử cơ hội, tham nhũng lọt vào bộ máy lãnh đạo tối cao của Đảng, Nhà nước, như thế sẽ có tội với Đảng, với Bác, với đất nước và nhân dân.

Rất mong các đồng chí thấu hiểu!

Chúc đồng chí Tổng Bí thư và các đồng chí Bộ Chính trị mạnh khỏe, chỉ đạo tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII thành công, tốt đẹp!

Kính,

(đã ký)

Trương Văn Quy

(*) Nguyên văn bản scan lá đơn:

H1H2

Kết thúc ảo tưởng: Việt Nam chọn con đường hòa giải với Trung Quốc thay vì quan hệ đối tác hay liên kết chính trị

Viet-studies

Tác giả: David W.P. Elliot

Người dịch: Trần Văn Minh

Ảnh bìa sách. Nguồn Amazon

Trích dẫn từ sách “Thế giới thay đổi: Sự chuyển tiếp của Việt Nam từ chiến tranh lạnh sang Toàn Cầu Hóa”. NXB University Press năm 2012. Trích dẫn các trang từ 112-116.

Một phần trong Chương 4: Quan hệ đối tác thay đổi trong một thế giới thay đổi (1990-1991)

Trong suốt mùa hè năm 1990, những thay đổi được tác động bởi các sự kiện của năm trước bắt đầu chuyển đổi các động lực ngoại giao quốc tế. Hồi ký của Trần Quang Cơ về giai đoạn quyết định trong việc bình thường hóa quan hệ Việt – Trung minh họa đầy đủ cuộc chuyển hóa này. Khi bộ chính trị vẫn tiếp tục tranh luận về việc có nên thử thương lượng với Trung Quốc dựa trên ý thức hệ chung (“giải pháp đỏ”) hay tham gia vào các hoạt động ngoại giao nhiều bất ngờ hơn với Liên Hiệp Quốc, trong đó cũng bao gồm Hoa Kỳ và ASEAN. Ông Cơ hỏi ý kiến ông Phạm Văn Đồng, lúc đó là “cố vấn” cho giới lãnh đạo hàng đầu. Ông Đồng nói với ông Cơ vào đầu tháng 8 năm 1990, “Chúng ta phải dám chơi trò chơi với Liên Hiệp Quốc và Hội đồng Bảo an, với Mỹ và châu Âu. Chúng ta cần phải tận dụng yếu tố Mỹ trong tình hình mới… Kế hoạch này rất hay về mặt lý thuyết, nhưng điểm mấu chốt là làm thế nào để thực hiện nó… Chúng ta không nên đưa ra những yêu cầu quá cao [như] ‘giữ vững thành quả của cách mạng (Campuchia)’. Nếu bạn bè của chúng ta có thể nhận được 50% trong một cuộc tổng tuyển cử, đó sẽ là điều lý tưởng”.

Không lâu sau buổi trò chuyện này, Trung Quốc đưa ra lời mời gặp khẩn cấp và bất ngờ đến Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười (chẳng bao lâu nữa sẽ thay thế Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư) và Phạm Văn Đồng tại Thành Đô xa xôi (người Trung Quốc nói điều này cần thiết để bảo mật) để bắt tay vào nỗ lực giải quyết vấn đề Campuchia và tiến tới bước đột phá trong việc bình thường hóa quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Điều này đến một cách bất ngờ, bởi vì cho đến lúc đó, Trung Quốc vẫn kiên quyết khẳng định rằng vấn đề Campuchia sẽ phải được giải quyết theo yêu cầu của họ trước khi có thể thương lượng việc bình thường hóa.

Phân tích của ông Trần Quang Cơ là Trung Quốc hiện phải thay đổi lập trường bởi vì phát triển kinh tế là ưu tiên hàng đầu của họ, [sự phát triển kinh tế] đã bị cản trở bởi các biện pháp trừng phạt được áp đặt sau Thiên An Môn. Ngoại giao tăng tốc của các các bên khác (trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, và ASEAN) và sự loại bỏ yếu tố chính đã thống nhất lập trường của Trung Quốc với ASEAN (sự chiếm đóng Cambodia của Việt Nam), cùng với các mối quan tâm của ASEAN về mưu đồ của Trung Quốc trong khu vực, đang đe dọa khả năng của Trung Quốc trong việc kiểm soát kết quả việc giải quyết vấn đề Campuchia – vì thế đưa tới ý muốn mau chóng thương lượng với Việt Nam.

Nguyễn Văn Linh và Phạm Văn Đồng đã dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam để gặp người Trung Quốc tại Thành Đô vào đầu tháng 9 năm 1990, trong đó đáng chú ý là, không có Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, mà Bắc Kinh coi là chống Trung Quốc quá mức. Trong các cuộc họp Bộ Chính trị, ông Thạch đã bày tỏ sự phản đối của ông đối với cả “giải pháp đỏ” ở Campuchia lẫn đánh cược toàn bộ con bài ngoại giao của Hà Nội lên lợi ích được cho là chung giữa Việt Nam và Trung Quốc vào việc tham gia lực lượng để “cứu chủ nghĩa xã hội”, như ông Nguyễn Văn Linh và một số lãnh đạo bộ chính trị khác chủ trương. Vị thế của ông Thạch đã bị suy yếu bởi ông không trưng ra được bất kỳ kết quả nào trong việc chơi “con bài Mỹ”. Cuối cùng, giới lãnh đạo đảng quyết định loại ông Thạch lớn tiếng chống Trung Quốc ra ngoài để xoa dịu Bắc Kinh.

Mặc có những dấu hiệu mơ hồ từ phía Trung Quốc về việc Đặng Tiểu Bình có thể tham dự các cuộc họp ở Thành Đô (là điều đã thuyết phục Phạm Văn Đồng đến dự và làm tăng thêm tính kỳ cựu và uy tín của ông trong dịp này), nhưng không thấy Đặng đâu cả, và Giang Trạch Dân cùng với Lý Bằng đại diện cho Trung Quốc. Võ Văn Kiệt sau đó kết luận, đây là một sự cố ý xúc phạm Việt Nam, và rằng phái đoàn “đã rơi vào bẫy” bằng cách gửi đi một nhà lãnh đạo cấp cao mà không có sự đáp trả tương ứng của phía Trung Quốc. Khi đó phái đoàn Việt Nam nhanh chóng phát hiện ra rằng Trung Quốc không quan tâm đến “giải pháp đỏ” hoặc bất kỳ một liên minh ý thức hệ nào với Việt Nam. “Trong tình hình quốc tế hiện nay, nếu hai đảng cộng sản cùng bắt tay, điều này sẽ không có lợi cho cả hai chúng ta”, Việt Nam được cho biết như thế. Sự miễn cưỡng đối với liên kết ý thức hệ bằng cách nuôi dưỡng mối quan hệ đảng với đảng giữa các phe phái cộng sản đối nghịch tại Campuchia đã không ngăn cản Trung Quốc trong việc đánh lừa Bộ Ngoại giao chống Trung Quốc của Việt Nam và thực hiện liên lạc ngoại giao thông qua Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, mặc dù sự nhấn mạnh của Trung Quốc về việc giữ quan hệ với Việt Nam chủ yếu trên cơ sở quốc gia với quốc gia (không theo ý thức hệ) cho thấy rằng ngoại giao nên được thực hiện thông qua sự giao tiếp giữa chính phủ với chính phủ, chứ không phải là kênh đảng với đảng. Điều này tiếp theo cho thấy rằng, Trung Quốc sẽ yêu cầu liên kết đảng với đảng chỉ khi nào phù hợp với lợi ích riêng của họ, và họ vẫn tiếp tục chống lại lời kêu gọi của Việt Nam để thay thế Liên Xô như là “bức tường thành của xã hội chủ nghĩa” trong một thế giới đang thay đổi.

Gọi hội nghị Thành Đô là một thất bại ngoại giao của Việt Nam, ông Trần Quang Cơ nói rằng, lời giải thích chính là Việt Nam đã tự lừa dối mình bằng cách bám víu vào sự tin tưởng rằng Trung Quốc quan tâm đến một liên minh ý thức hệ để tự vệ chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” của đế quốc, để tận diệt các nước cộng sản còn lại. Sự thất bại của các nỗ lực không thành với “giải pháp đỏ” là một bước quan trọng trong sự lụi tàn tất yếu của sức mạnh bóng ma “diễn biến hòa bình”, được giới bảo thủ ở Việt Nam vịn vào như một lý do để chống lại việc thỏa thuận với các lực lượng tích hợp của hệ thống toàn cầu hóa hậu chiến tranh lạnh.

Bồi thêm sự xúc phạm vào vết thương, những cuốn băng do Trung Quốc vui vẻ tiết lộ về cuộc thảo luận với các nhà lãnh đạo Việt Nam qua việc đồng ý về một ưu thế cho các lực lượng chống Hun Sen trong một liên minh chính quyền; thực ra là bán đứng đồng minh chính của Việt Nam ở Campuchia, là lực lượng thắng thế tại Campuchia thời bấy giờ; cho chính Hun Sen, cũng như một loạt các bên khác. Một trong những mục tiêu của việc tiết lộ cuộc đàm phán được cho là bí mật, là để dựng nên một hình ảnh về một Việt Nam dối trá, không đáng tin cậy cho đồng minh [của Việt Nam] biết, và để gieo sự bất hòa trong giới lãnh đạo Việt Nam. Về vấn đề này, Trung Quốc đã thành công: trong một cuộc họp bộ chính trị giữa tháng 5 năm 1991, Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự hối tiếc vì bị ép buộc phải ủng hộ một chính sách thiếu khôn ngoan. Đỗ Mười cũng lấy làm tiếc về kết cuộc, với lý do là điều đó sẽ làm cho Việt Nam trở thành một người bạn không đáng tin cậy trong con mắt các đối tác. Nguyễn Cơ Thạch cũng nói với lãnh đạo đảng, ông Linh, rằng ông đã phạm một sai lầm nghiêm trọng.

Vào ngày 2 tháng 9 năm 1990, ngày quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, một ngày trước khi khai mạc cuộc đàm phán bí mật giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Thành Đô, địa chỉ chính của ông Đỗ Mười ở cho dịp này đã thừa nhận rằng cú điện thoại của Lý Bằng nói “hai người hàng xóm” (không phải “hai đồng chí” ) khôi phục quan hệ bình thường và tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia. Ông Mười nhớ lại sự hỗ trợ của Liên Xô và Trung Quốc đối với Việt Nam trong cuộc đấu tranh vũ trang, và nói rằng: “Hôm nay, trong nhiệm vụ ‘đổi mới’ đất nước của chúng ta, sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế sẽ có một ý nghĩa rất lớn”.

Một cách hiểu điều này là, Việt Nam báo hiệu rằng họ đang chuyển từ tư thế địa chính trị trên bàn cờ thế giới sang phát triển kinh tế; trong đó bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc sẽ có lợi, nhưng không quan trọng như mọi khi trong lĩnh vực chiến lược. Trong phần đầu bài phát biểu, Đỗ Mười nói: “Tình hình quốc tế đang tiến triển một cách rất phức tạp. Cuộc khủng hoảng ở các nước XHCN Đông Âu là vô cùng nghiêm trọng, và sẽ có tác động không phải là không đáng kể vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Các lực lượng đối phương đang tiến hành nhiều hoạt động phá hoại sự phát triển và bảo vệ Tổ Quốc của nhân dân ta“.

Thêm một chỉ dấu cho thấy, các lãnh đạo Việt Nam đang thay đổi quan điểm của họ về bản chất của các mối quan hệ quốc tế, Đỗ Mười đã phác thảo đề cương rộng lớn về những gì sẽ được biết đến như là “toàn cầu hóa”. “Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ và xu thế của toàn cầu hóa kinh tế đang đưa đến cho dân chúng trên thế giới nhiều khả năng tuyệt vời để phát triển”. Nhận thức rằng, “nhiều sai lầm đã phạm phải” trong chính sách kinh tế “trong nhiều năm qua“, ông Mười nói rằng: “Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với thực tế là mức sống và trình độ phát triển của nhân dân ta quá thấp. Đó là một tình huống căng thẳng và một thách thức lớn cho nhân dân ta“.

Động lực cho sự nhượng bộ ở Thành Đô vì lợi ích của việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc là cả chính sách thực dụng (bù lại cho sự mất mát hỗ trợ của Liên Xô và cúi chào trước thực tế về vị thế chiến lược gia tăng của Trung Quốc) lẫn ý thức hệ (bảo tồn và củng cố một số cốt lõi nhỏ nhoi các nước cộng sản còn lại). Bài diễn văn của Đỗ Mười vào tháng 9 năm 1990, là sự mở rộng thêm diễn văn của ông hồi tháng 12 năm 1989 (được thảo luận trong chương 3), cũng chỉ ra rằng Việt Nam đang cố gắng hiểu rõ ý nghĩa của kỷ nguyên mới trong quan hệ quốc tế, trong đó không phải chính sách thực dụng cũng không phải yếu tố ý thức hệ, sẽ có tính quyết định trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách nhất của Việt Nam: sự lạc hậu về kinh tế của mình. Tuy nhiên vào thời điểm đó, việc truất bỏ vấn đề Campuchia nan giải và tìm kiếm một thỏa hiệp với Trung Quốc để cho phép Việt Nam tập trung vào phát triển kinh tế là điều cần thiết.

Mặc dù đoàn Việt Nam đến Thành Đô đã có sự nhượng bộ lớn về việc đồng ý với đề nghị của Trung Quốc, có thể làm nghiêng cơ chế cai trị được đề nghị tại Campuchia về phía các đối thủ của Hun Sen, Nguyễn Văn Linh và lãnh đạo quân đội Lê Đức Anh đã bay sang Phnom Penh và cố gắng thuyết phục bạn hàng Hun Sen Campuchia của họ đồng ý hợp tác với lực lượng Pol Pot, bởi vì khung cảnh lớn là các đế quốc đang cố gắng tiêu diệt xã hội chủ nghĩa, và người Campuchia có thể làm phần của họ để cứu CNXH bằng cách đạt được sự hòa giải giữa cộng sản Hun Sen và Khmer Đỏ. Nguyễn Văn Linh đã nói với các lãnh đạo Campuchia, “ Chúng ta phải thấy rằng cũng có những mâu thuẫn giữa Trung Quốc và các đế quốc về vấn đề Campuchia. Chúng ta phải có một chiến lược để khai thác những mâu thuẫn này. Đừng tranh cãi với Trung Quốc tới mức đẩy họ đứng về phía với các đế quốc’. Lê Đức Anh giải thích thêm lập luận này: ‘Người Mỹ và phương Tây muốn có một cái cớ để loại bỏ chủ nghĩa cộng sản. Họ đang loại bỏ chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu. Họ đã loan báo rằng họ sẽ loại bỏ chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng họ là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Chúng ta phải tìm kiếm đồng minh. Đồng minh đó là Trung Quốc’.” Giải pháp đỏ vẫn tồn tại trong tâm trí của các nhà lãnh đạo quân sự và đảng của Việt Nam, nhưng không có sự hỗ trợ của Trung Quốc giải pháp đỏ phải cam chịu thất bại.

Giải pháp đỏ cũng làm đồng minh Campuchia của Việt Nam xa lánh. Đại sứ Việt Nam tường thuật rằng sau cuộc họp này, thái độ của Hun Sen đối với Việt Nam thay đổi; mà cuối cùng dẫn đến cảnh tượng được mô tả ở trên về vị đại sứ Việt Nam Ngô Diên “cô đơn” bị buộc phải chứng kiến sự giải tán của Đảng Cộng sản Campuchia. Kết cục là một Việt Nam không có nước cộng sản đỡ đầu và không có bạn hàng cộng sản. Trần Quang Cơ có lẽ không phải là người duy nhất kết luận rằng cuộc họp Thành Đô là một “vết nhơ trong ngoại giao của Việt Nam”. Không những Việt Nam tiết lộ mong muốn theo đuổi một chính sách lỗi thời về tình đoàn kết ý thức hệ với Trung Quốc, mà sự tiết lộ tinh quái của Trung Quốc về sự thất bại của Việt Nam để đạt được “giải pháp đỏ” và sự phản bội đồng minh của họ làm suy yếu nỗ lực của Việt Nam để đa dạng hóa chính sách đối ngoại của mình và đạt được nhiều khoảng trống hơn để hoạt động.

Lập trường của Trung Quốc đã làm cho sự kiện này trở thành lựa chọn ngoại giao khả thi duy nhất cho sự lệ thuộc toàn bộ của Việt Nam vào Trung Quốc. Ngay cả tường thuật rất thành thực của Trần Quang Cơ về cuộc họp Thành Đô giữa các lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc cũng không đề cập đến một đề nghị (được biết) của Trung Quốc, đi xa hơn vấn đề Campuchia. Một tờ báo của Anh tường thuật rằng, các nguồn tin tình báo Tây Phương cho rằng Trung Quốc đã đề nghị thay thế hàng hóa mà Liên Xô không còn khả năng cung cấp, trả lại một phần đáng kể quần đảo Trường Sa (một khu vực có trữ lượng dầu tiềm năng). “Đổi lại sự giúp đỡ của mình, Trung Quốc đã yêu cầu Hà Nội ‘cộng tác’ – nói cách khác là lệ thuộc – chính sách ngoại giao của mình với chính sách của Bắc Kinh. Một nguồn tin tình báo ở Bangkok cho biết: ‘Các chính sách rất gần nhau. Và đó là những gì thực sự làm tôi ngạc nhiên, chứ không phải là sự từ chối cuối cùng của họ. Củ cà rốt cho Hà Nội rất lớn, và họ đã phải suy nghĩ lâu dài và kỹ lưỡng trước khi từ chối toàn bộ. Điều đó cho thấy người Việt Nam tuyệt vọng thế nào”. Thực ra, tình hình chiến lược tồi tệ của Việt Nam chẳng bao lâu sẽ dẫn họ đến việc chấp nhận một cách miễn cưỡng vai trò lệ thuộc mà Trung Quốc đòi hỏi; thậm chí chẳng có củ cà rốt nào.