Mì chính có độc hại như người ta tưởng?

Gia vị dựa trên mì chính của Kikunae Ikeda có tên là Ajinomoto (‘tinh chất của vị giác’) hiện được thấy trên bàn ăn ở khắp thế giới. (Ảnh: Richard Masoner/Cyclelicious/Flickr/CC BY-SA 2.0)

Trước đây người ta gọi là ‘Hội chứng Nhà hàng Trung Quốc’: đó là một tập hợp các triệu chứng như nhức đầu, buồn nôn và cảm giác tê tê mà một số người hình như cảm thấy sau khi ăn đồ ăn Trung Quốc, nó còn hơn cả sự buồn nôn thông thường và ý nghĩ tự trách mình đã ăn quá nhiều bánh bao nhân thịt lợn. Thành phần bị đổ lỗi được sử dụng phổ biến gọi là monosodium glutamate (viết tắt là MSG), hay mì chính.

Tiếng xấu về mì chính bắt đầu vào năm 1968 khi tiến sỹ Ho Man Kwok viết một lá thư cho Tạp Chí Y Khoa New England suy ngẫm về nguyên nhân có thể có của một hội chứng mà ông đã trải nghiệm bất cứ khi nào ăn ở nhà hàng Trung Quốc tại Hoa Kỳ. Đặc biệt, ông mô tả một cảm giác tê tê ở sau cổ mà nó lan xuống cánh tay và lưng, cũng như bị yếu đi và mạch đập nhanh.

Ông cho rằng nguyên nhân có thể là xì dầu (nhưng rồi loại bỏ nó vì ông dùng nó để nấu ăn ở nhà mà không thấy làm sao) hoặc do dùng dùng quá nhiều rượu nấu ăn Trung Quốc ở các cơ sở thương mại. Rồi đến thứ gây hại: có lẽ là do mì chính được dùng vị trong các nhà hàng Trung Quốc.

Như các lý thuyết về sức khỏe có liên quan đến thức ăn thường được bàn đến, ý kiến của ông lan tỏa nhanh trên mạng, sản sinh ra rất nhiều các nghiên cứu khoa học, các sách nói ‘sự thật’ của mì chính, các sách dạy nấu ăn không dùng mì chính, và thậm chí làm cho các nhà hàng Trung Quốc phải quảng cáo là họ không dùng mì chính để nấu ăn.

 
Sự lo sợ về tác động phụ khiến các nhà hàng Trung Quốc phải quảng cáo là họ không dùng mì chính để nấu ăn

Mì chính là muối natri của acid glutamic, hoặc nếu bạn muốn gây ấn tượng với ai đó trong bữa tiệc tối thì nói là disodium 2-aminopentanedioate. Như giáo sư hóa học Kikunae Ikeda của Đại Học Tokyo đã phát hiện ra nó vào 1908 thì mì chính là muối ổn định nhất được hình thành từ acid glutamic và là thứ tốt nhất tạo ra vị ngọt thịt được ưa thích.

‘Umami’, dịch là ‘ngọt thịt’, gắn với vị thịt, và là phát hiện của ông Ikeda. Ông theo đuổi nó và tin rằng còn có một vị nữa ngoài bốn vị giác cơ bản là ngọt, mặn, chua, đắng.

Glutamate là thành phần mầu nhiệm trong mì chính. Nó là một acid amin được tạo ra một cách tự nhiên trong rất nhiều thực phẩm kể cả cà chua, pho mát parmesan, nấm khô, xì dầu (nước tương), là thành phần chính trong quả và rau, và trong sữa phụ nữ.

Ikeda đã tách nó ra từ rong biển nâu Kombu mà vợ ông (cũng như tất cả những người làm bếp Nhật Bản khác trên thế giới) sử dụng làm nguyên liệu nấu canh cá dashi rất phổ biến ở Nhật. Khi bổ sung natri vào, là một trong 2 nguyên tố của muối ăn, làm cho glutamate ổn định ở dạng bột và cho vào thức ăn, và thế là tạo ra mì chính và làm cho ông Kikunae trở thành người giàu có. Gia vị dựa trên mì chính có tên là Ajinomoto (‘tinh chất của vị giác’) hiện được thấy trên bàn ăn trên khắp thế giới.

Sau bức thư của Kwok là một sự sôi động các thí nghiệm trong đó nhiều động vật, kể cả người, tham gia thử nghiệm với một lượng mì chính lớn bằng cách ăn hoặc truyền máu.

Thoạt đầu ta thấy hình như Kwok có thể đã phát hiện ra điều gì. Nhà nghiên cứu của Trường Đại Học Washington, tiến sỹ John W. Olney thấy rằng khi tiêm những liều rất lớn mì chính vào dưới da chuột con mới đẻ sẽ nảy sinh các đốm tế bào chết ở não chuột. Khi các con chuột này trưởng thành chúng nhỏ bé, béo phì, và trong một vài trường hợp, vô sinh. Olney cũng lặp lại thử nghiệm với khỉ nâu con, cho chúng mì chính qua đường miệng và thấy kết quả vẫn như vậy. Nhưng 19 nghiên cứu khác với khỉ do các nhà nghiên cứu khác thực hiện đã không cho ra kết quả như vậy, thậm chí không tương tự như vậy.

Một tập hợp các triệu chứng đi kèm với việc dùng mì chính trước đây được gọi là ‘Hội Chứng Nhà Hàng Trung Quốc’ (Ảnh: Thinkstock)

Những nghiên cứu trên người cũng không đủ cơ sở để kết luận. Trong một nghiên cứu, 71 người khỏe mạnh được xử lý với liều lượng tăng dần mì chính thật và ở dạng viên con nhộng giả mì chính. Các nhà nghiên cứu thấy rằng cái gọi là triệu chứng Hội chứng Nhà hàng Trung Quốc xảy ra xấp xỉ như nhau, cho dù người tham gia uống mì chính thật hay uống viên giả mì chính.

Nhằm giải quyết dứt điểm chủ đề này, vào năm 1995 Cục Quản Lý Thuốc và Thực Phẩm Mỹ (FDA) đã giao trách nhiệm cho Hiệp Hội Các Công ty Mỹ Về Sinh Học Thực Nghiệm xem xét tất cả các bằng chứng sẵn có để quyết định xem mì chính có phải là “quái vật thực phẩm” như người ta tưởng không.

Để khởi sự, hội đồng chuyên gia đã loại bỏ thuật ngữ ‘Hội Chứng Nhà hàng Trung Quốc’ vì nó “mang nghĩa miệt thị và không phản ánh đúng mức độ và bản chất của triệu chứng”, và thay bằng thuật ngữ ‘tổ hợp triệu chứng MSG’ để mô tả nhiều triệu chứng khác nhau do dùng mì chính.

Nhưng họ có kết luận rằng có đủ bằng chứng khoa học để nói rằng có tồn tại một nhóm người khỏe mạnh trong dân chúng có thể có phản ứng xấu nếu sử dụng một lượng lớn mì chính, thường thì phản ứng xảy ra một giờ sau khi sử dụng. Nhưng phản ứng này được thấy khi nghiên cứu với 3 gram (hoặc nhiều hơn) mì chính đi kèm với nước, không có thức ăn; một tình huống không xảy ra trong thực tế mà, theo FDA, phần lớn người ta dùng khoảng 0,55 gram mì chính một ngày và lẫn trong thức ăn.

Mì chính là muối ổn định nhất được hình thành từ acid glutamic và là thứ tốt nhất tạo ra vị ngọt thịt ‘umami’ (Ảnh: Claudia Stocker/Science Photo Library)

Một nghiên cứu vào năm 2000 đã cố gắng để đi sâu hơn nữa với 130 người mà tự họ cho rằng họ có phản ứng với mì chính. Những người mạnh khỏe này trước tiên nhận được một liều mì chính không kèm thức ăn. Nếu ai đó có số triệu chứng vượt qua một mức nhất định trong bảng 10 triệu chứng, thì họ sẽ được thử nghiệm lại với cùng liều như cũ (hoặc mì chính giả) để xem phản ứng có nhất quán hay không. Họ cũng được thử nghiệm với liều cao hơn để xem có tăng triệu chứng không.

Sau một vòng nữa thử nghiệm lại, chỉ thấy có 2 người trong số 130 người là có biểu hiện phản ứng nhất quán với mì chính thật, không có phản ứng với mì chính giả. Nhưng sau đó, khi họ được thử nghiệm lại với mì chính trong thức ăn thì phản ứng của họ khác đi, điều này làm ta nghi ngờ tính vững chắc của việc tự đánh giá là nhạy cảm với mì chính.

Nhưng ngoài ra, glutamate là hết sức thấp về độc tố. Một con chuột có thể tiếp nhận 15-18 gram cho 1 kg trọng lượng trước khi bị rủi ro chết vì ngộ độc glutamate. Nên biết chuột nhắt sơ sinh đặc biệt nhạy cảm với tác động của mì chính.

Do vậy trong khi không thể khóa sổ về khoa học (và tiến sỹ John Olney đã dành gần cả đời mình, sau lần thử nghiệm ban đầu trên súc vật, để vận động cho quy chế chặt chẽ hơn với việc sử dụng mì chính) thì nay Cục Quản Lý Thuốc và Thực Phẩm Mỹ (FDA) nói rằng việc cho mì chính vào thức ăn ‘nhìn chung được công nhận là an toàn’.

Đó là sự đảm bảo với những người thích món ăn Trung Quốc mà đối với họ thì một kỳ cuối tuần sẽ không trọn vẹn nếu không ghé vào nhà hàng Trung Quốc.

@bbc

Phái đoàn EU ‘thất vọng’ về chính quyền VN

Ông Nguyễn Văn Đài

Phái đoàn Liên hiệp Châu Âu tại Việt Nam nói họ “đặc biệt thất vọng” trước việc luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài bị bắt giữ.

Trong thông cáo phát đi ngày thứ Năm 17/12, ông Bruno Angelet, trưởng phái đoàn Liên hiệp Châu Âu (EU) tại Việt Nam nói EU và các đại sứ của các nước trong khối “bày tỏ quan ngại sâu sắc với cuộc bắt giữ ông Nguyễn Văn Đài hôm qua”.

Ngày 16/12/2015, Bộ Công an đã thi hành lệnh bắt luật sư Nguyễn Văn Đài sau khi ra quyết định khởi tố ông về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước” theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự.

Phái đoàn EU nói việc bắt giữ ông Đài “đặc biệt gây thất vọng”.

Thông cáo cho biết ông Andrus Ansip, phó chủ tịch Ủy ban Châu Âu, đã nêu vụ bắt giữ luật sư Đài trong phiên họp toàn thể của Nghị viện Châu Âu ngày 16/12 tại Strasbourg, Pháp.

Trước đó trong phiên đối thoại nhân quyền EU – Việt Nam ngày 15/12, phái đoàn Châu Âu cho biết họ đã “nhắc lại những quan ngại sâu sắc về việc gây phiền nhiễu, bắt và giam giữ những nhà bảo vệ và hoạt động nhân quyền”.

Trong thông tin được phái đoàn này đưa ra, họ đã nhắc đến những nhà hoạt động như ông Nguyễn Hữu Vinh (blogger Anhbasam), bà Nguyễn Thị Minh Thúy, ông Đặng Xuân Diệu, ông Ngô Hào và bà Bùi Thị Minh Hằng đang bị giam giữ.

‘Bàng hoàng’

Trong khi đó, Đặc ủy nhân quyền của Đại sứ quán Đức tại Hà Nội, ông Christoph Strässer cũng đã lên tiếng: “Tôi bàng hoàng khi biết tin ông luật sư Nguyễn Văn Đài, một người bảo vệ nhân quyền và một blogger, đã bị bắt giữ hôm nay tại Việt Nam.”

Ông Nguyễn Văn Đài trong một cuộc gặp gỡ các nhà ngoại giao

Trong một tuyên bố trên kênh chính thức của Đại sứ quán Đức, ông Strässer đề nghị: “Tôi yêu cầu các cơ quan chính quyền Việt Nam từ bỏ những buộc tội đối với ông Nguyễn Văn Đài và trao trả tự do cho ông ấy ngay lập tức”.

Nói về cuộc bắt giữ, ông Phil Robertson- phó giám đốc khu vực châu Á của tổ chức nhân quyền Human Rights Watch – nói với BBC Tiếng Việt: “Vấn đề là Việt Nam biết đối thoại nhân quyền diễn ra mỗi năm một lần. Họ có thể nói bất cứ gì họ muốn trong hội nghị, và ngay sau hội nghị họ quay trở lại với những chiến thuật hung hãn để đàn áp các sự việc như chúng ta thấy hôm nay.”

Trước đó, ngày 6/12, ông Nguyễn Văn Đài cáo buộc đã bị tấn công và gây thương tích khi ông có một cuộc gặp nhằm phổ biến kiến thức về nhân quyền tại Nghệ An.

Ông Nguyễn Văn Đài là một trong số tám nhà đối kháng Việt Nam được một tổ chức nhân quyền của Hoa Kỳ trao tặng giải thưởng hồi tháng 2/2007.

Năm 2007, ông bị bắt và kết án bốn năm tù giam và bốn năm quản chế tại địa phương theo điều 88 Bộ Luật Hình sự. Ông ra tù năm 2011.

Giải mã chiến lược quân sự của Tập Cận Bình

Quan điểm về chiến tranh thông tin của Trung Quốc đứng từ góc nhìn của quốc gia yếu thế hơn, chứ không phải là quốc gia áp đảo hơn về công nghệ. Điều này dẫn tới sự nguy hiểm.

Tháng trước, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vừa loan báo đề cương cải cách quân đội. Theo đó, nước này sẽ cấp tập đột phá trong công cuộc xây dựng quân đội (PLA), hoàn thành trước năm 2020. Những phân tích dưới đây nhằm

Bài viết của tác giả Nguyễn Thế Phương là nghiên cứu viên thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học KHXH&NV, ĐHQG TP. HCM sẽ giúp độc giả thấy được phần nào chiến lược của ông Tập Cận Bình.

Chiến tranh thông tin “mang đặc sắc Trung Quốc”

Từ đầu những năm 2000, các sĩ quan và quan chức cấp cao Trung Quốc đã thúc đẩy khái niệm “cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự” (RMA) như là một định hướng xây dựng và hiện đại hoá quân đội Trung Quốc (PLA). Mặc dù chưa bao giờ được định nghĩa rõ ràng, các tính chất của “RMA mang đặc sắc Trung Quốc” được thể hiện thông qua Sách trắng quốc phòng các năm.

Sách trắng quốc phòng Trung Quốc năm 2013 có đề cập tới hai điểm quan trọng giúp định hướng quá trình hiện đại hoá PLA. Thứ nhất là sự trỗi dậy của các mối đe doạ an ninh hàng hải hướng biển; và thứ hai là sự nổi lên của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông (một trong những thành tố quan trọng nhất của RMA). Từ hai điểm này, Trung Quốc đưa ra khái niệm “chiến thắng một cuộc chiến tranh thông tin hoá ở mức độ khu vực”.

Các tranh luận nội bộ PLA về RMA và vai trò của công nghệ thông tin nổi lên mạnh mẽ từ sau chiến dịch “Bão táp sa mạc” tại Iraq, trong đó Mỹ đã tận dụng rất hiệu quả vai trò của tác chiến điện tử.

Chiến trường thông tin hoá như đã được đề cập đã làm lu mờ các khái niệm cũ. Ví dụ, trong chiến tranh thông tin, không có “hậu phương” hay “tiền tuyến”, mà là không gian chiến trường “đa chiều”, tổng hoà của điều kiện tác chiến trên không, trên bộ, trên biển, trong không gian, và tác chiến điện tử trở thành bộ phần không thể thiếu.

Sự thành bại trên chiến trường không chỉ phụ thuộc vào bên nào sở hữu hoả lực mạnh hơn, mà là bên nào phát hiện được đối phương trước, phản ứng nhanh hơn và tấn công chính xác hơn. Hai bên sẽ cạnh tranh nhau về khả năng tình báo cũng như khả năng chỉ huy và kiểm soát.

Cần lưu ý rằng, không giống như Mỹ, quan điểm về chiến tranh thông tin của Trung Quốc đứng từ góc nhìn của quốc gia yếu thế hơn, chứ không phải là quốc gia áp đảo hơn về công nghệ. Điều này dẫn tới sự nguy hiểm của chiến tranh thông tin cấp độ khu vực của Trung Quốc. Lúc này, nó được sử dụng như một đòn tấn công phủ đầu nhắm vào tất cả các căn cứ của đối thủ tại một khu vực tác chiến cụ thể.

Chiến tranh mạng trên Biển Đông

PLA xây dựng học thuyết chiến tranh mạng dựa trên khái niệm có tên gọi là “mạng tác chiến điện tử hỗn hợp” (INEW). Đây là sự kết hợp giữa ba yếu tố bao gồm mạng lưới máy tính (CNOs); tác chiến điện tử (EW) và tấn công quy ước nhằm vô hiệu hoá hệ thống mạng lưới thông tin của đối phương, và tạo ra “điểm mù” trong khả năng chỉ huy kiểm soát, thông tin liên lạc, máy tính, tình báo, trinh sát và giám sát (gọi tắt là C4ISR) của đối thủ. Hoạt động này được tiến hành trên mọi mặt trận, mà quan trọng hơn cả là mặt trận trên môi trường mạng máy tính.

Một cuộc tấn công mạng nhắm vào lực lượng đối phương sẽ được tiến hành trong khoảng thời gian đầu của cuộc chiến. Đánh phủ đầu sẽ khiến cho các loại vũ khí công nghệ cao, cũng như mạng lưới C4ISR của đối thủ bị đứt quãng hay thậm chí là bị phá huỷ. Đạt được sự thống trị về mặt thông tin sẽ giúp cho PLA triển khai nhanh chóng và chiếm chế thượng phong về không quân và hải quân.

Các đơn vị chiến tranh mạng còn thực hiện các nhiệm vụ do thám và thu thập thông tin trong thời bình, với mục đích đa dạng.

Tại Biển Đông, các tranh luận về chiến tranh mạng dường như chưa được chú ý bằng sự phát triển của không quân và hải quân Trung Quốc. Trong trường hợp thực sự có xung đột xảy ra, việc Trung Quốc áp đảo trên môi trường không gian mạng là việc có thể lường trước được.

Cơ sở hạ tầng an ninh mạng của các nước ASEAN vẫn còn yếu và thiếu. Các quốc gia Đông Nam Á có liên quan tới tranh chấp Biển Đông, cũng như các công ty tư nhân đang hoạt động ở khu vực đều là nạn nhân của các cuộc tấn công mạng từ Trung Quốc. Các đơn vị tác chiến mạng của Trung Quốc đã xâm nhập thành công hệ thống mạng khu vực, chủ yếu nhắm vào các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hay Philippines thông qua hình thức từ chối dịch vụ (DoS).

Thực tiễn kiểm nghiệm rằng, vũ khí càng hiện đại thì càng dễ bị phong toả. Vai trò của thông tin và tác chiến mạng là quan trọng trong bối cảnh Việt Nam và các nước khác đang tiến hành hiện đại hoá không – hải quân.

Theo VIETNAMNET

Phía sau ‘người Việt ở hải ngoại được ứng cử tại Việt Nam’ ẩn giấu gì?

Blog VOA

Phạm Chí Dũng

 

Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: AP

Liệu đang tồn tại một thế lực chính trị nào trong đảng muốn mượn hơi hướng “tranh cử độc lập” của người Việt hải ngoại và giới dân chủ trong nước như một tiền đề chuẩn bị cho xu thế tách đảng và đa đảng khó tránh khỏi trong vài ba năm tới?

‘Lãnh đạo rất cao cấp’

Cùng với câu chuyện muôn thuở về “tàu lạ” mang quốc tịch Trung Quốc bắn giết ngư dân Việt, một hiện tượng lạ khác cũng đang len lén xâm nhập vào đời sống chính trị ở Việt Nam: người Việt ở hải ngoại có thể được tham dự bầu cử và ứng cử tại “quê hương”.

Ngày 9/11/2015, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, báo Nhân Dân tổ chức một cuộc hội thảo, trong đó có nói về vai trò của người Việt ở hải ngoại. Chi tiết được giới quan sát chú ý là trong cuộc hội thảo này đã có ý kiến đề nghị “cho người Việt ở hải ngoại được tham dự bầu cử và ứng cử tại Việt Nam”.

Có vẻ lần này đảng và chính quyền Việt Nam cố gắng biểu hiện thái độ “thành tâm chính trị” hơn, cho dù cơ chế “đảng cử dân bầu” vẫn không hề suy suyển trong một chế độ chưa hề hứa hẹn đa đảng.

Khối người Việt hải ngoại cũng khó quên được câu chuyện từ năm 2003 – khi Nghị quyết số 36 về “công tác người Việt Nam ở nước ngoài” ra đời – cho đến gần đây đã có khá nhiều cuộc hội thảo về “kiều bào ta” do các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức chính trị – xã hội của đảng cầm quyền trình diễn, nhưng kết quả vẫn chỉ mang tính kịch nghệ.

Chỉ vào lần này – lần đầu tiên sau 12 năm qua – “khúc ruột ngàn dặm” người Việt hải ngoại mới được một bộ phận nào đó trong chính đảng Việt Nam mưu sự “cơ cấu” vào cơ thể chính thể như một biểu cảm “đồng nguyên”.

Trước hiện tượng “lạ” trên, đài RFA đặt câu hỏi: “Liệu đây có phải là một tín hiệu cho thấy đảng Cộng sản Việt Nam sẽ chấp nhận sự đa nguyên chính trị trong tương lai?”.

Đài này cũng thông tin:Cũng trong khoảng thời gian diễn ra cuộc hội thảo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ban Tuyên giáo Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam, Luật sư Vũ Đức Khanh, hiện sống và làm việc ở Canada, cho biết ông nhận được điện thoại từ một lãnh đạo rất cao cấp của đảng Cộng sản Việt nam, đề nghị cho biết ý kiến về tiến trình dân chủ tại Miến Điện sau khi đảng đối lập thắng lớn. Luật sư Khanh cho biết thêm là cuối buổi nói chuyện, vị lãnh đạo Việt Nam nói rằng ông hy vọng một ngày không xa luật sư Khanh có thể ra tranh cử tại Việt Nam”.

Câu hỏi và những thông tin của đài RFA là rất đáng chú ý.

Cho tới nay và lồng trong bối cảnh chuẩn bị cho Đại hội 12, kỷ luật nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam vẫn là một chủ đề tương đối gắt gao, mà bằng chứng mới nhất là tiêu chí lựa chọn nhân sự cao cấp không được dính dáng đến “vấn đề chính trị hiện nay”. Chuyện một lãnh đạo cao cấp của chính quyền thăm hỏi người Việt hải ngoại về gia đình và sức khỏe là không thành vấn đề, nhưng việc một “lãnh đạo rất cao cấp” chủ động gọi điện cho những người như luật sư Vũ Đức Khanh – một nhà hoạt động chính trị hải ngoại mà trước đây vẫn thường bị chính quyền Việt Nam coi là “địch” – và nói sang đề tài chính trị chưa từng có tiền lệ thì lại là “diễn biến” khác hẳn. Lẽ dĩ nhiên, nhân vật lãnh đạo ấy sẽ phải chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định có thể xảy đến với cá nhân ông ta khi vi phạm quy chế nội bộ đảng. Trong bối cảnh niềm xung khắc trong nội bộ đã lên đến đỉnh điểm, bất kỳ một nước cờ sai lệch nào cũng có thể khiến người chơi phải trả giá, thậm chí trả giá cực đắt bởi những thế lực cú vọ đối đầu.

Vế còn lại là mối lợi mà nhân vật lãnh đạo đó – có thể thu được trong mối quan hệ với một cộng đồng nào đó của người Việt hải ngoại – sẽ lớn hơn hẳn so với cái nhìn thiếu thiện cảm cùng động tác quy chụp quan điểm rất có thể xảy ra từ các đồng chí không đồng lòng trong nội bộ đảng.

Đa đảng?

Tháng 5 năm 2016 sẽ diễn ra cuộc bầu cử Quốc hội Việt Nam. “Dàn giáo” đã được sắp sẵn với ông Nguyễn Sinh Hùng – sau khi “nghỉ” Bộ Chính trị – sẽ phụ trách công tác đặc biệt quan yếu này.

Nhưng trong tất cả những lần bầu cử Quốc hội trước đây, không có bất kỳ một cánh cửa quan yếu nào dành cho khối người Việt hải ngoại.

Chỉ có điều lần này, tình thế lẫn cán cân lực lượng giữa một đảng cầm quyền với gần 4 triệu đảng viên ở Việt Nam với khối gần 4 triệu người Việt ở hải ngoại, kể cả với hàng chục đảng chính trị của người Việt ở nước ngoài, đã đổi khác nhiều.

Giảm số đại biểu kiêm nhiệm và tăng số đại biểu chuyên trách, trong đó chấp nhận một tỷ lệ tăng hơn của số đại biểu độc lập và không phải đảng viên Cộng sản là một xu thế gần như không cưỡng lại được, bắt đầu vào năm 2016.

Vào thời gian này, có vài thay đổi ngầm kín đang “tự diễn biến”. Không chỉ có thể “cho người Việt hải ngoại tham gia bầu cử hay ứng cử”, thậm chí vài thông tin ngoài lề còn cho biết đã có “ý tưởng” trong nội bộ về chuyện trong tương lai (chưa biết gần hay xa), chính quyền Việt Nam sẽ có thể mời vài ba nhân vật người Việt hải ngoại “có máu mặt” về Việt Nam để “tham gia chính phủ”. Chỉ cần tin tức này có một phần cơ sở, đó cũng là sự đổi khác khá lớn về quan điểm chính trị nói chung và cung cách “địch vận” nói riêng của chính quyền Việt Nam đối với khối người Việt hải ngoại so với một chục năm trước đây.

Nhưng tại sao đảng và chính quyền Việt Nam lại không “tâm tư” về vai trò của người Việt hải ngoại từ năm 2001, khi bắt đầu cụ thể hóa chính sách bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ; hay vào năm 2006 khi những lãnh đạo cao cấp của Việt Nam được đặt chân vào Nhà trắng?

Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà “ý tưởng” dành cho người Việt hải ngoại một chỗ đứng nào đấy trong “chính phủ hỗn hợp tương lai” được nêu ra vào thời gian này, sau chuyến công du “thành công ngoài mong đợi” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Washington tháng 7/2015, sau khi Bộ Chính trị Việt Nam đã phải chấp nhận gần như vô điều kiện định chế Công đoàn độc lập – một thành tố gắn liền với Hiệp định TPP, bất chấp việc chỉ mới gần đây Công đoàn độc lập còn bị giới công an trị Việt Nam gắn chặt với lịch sử “bạo loạn và lật đổ” của Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan vào những năm 80 của thế kỷ trước.

Một câu hỏi khác: Vì sao chính quyền Việt Nam đột nhiên lại cần đến vai trò của người Việt hải ngoại như thế? Một sự thành tâm chính trị như Thein Sein đã bày tỏ với giới trí thức Myanmar ở hải ngoại?

Dù gì và sau quá nhiều thất vọng của lịch sử, điều duy nhất có ý nghĩa vẫn là một câu châm ngôn từ bao đời trong cộng đồng hải ngoại “hãy nhìn những gì Cộng sản làm”.

Nếu không phải xuất phát từ “thành tâm chính trị”, chỉ có thể là chính sách tiếp tục và gia tăng thu hút lượng kiều hối hàng chục tỷ đô la hoặc hơn mỗi năm. Con số này đặc biệt mang ý nghĩa “lá lành đùm lá rách” trong hoàn cảnh ngân sách chế độ đang thủng ruột do tham nhũng và chi xài vô tội vạ tiền đóng thuế của nhân dân, một loạt nước cắt giảm viện trợ đối với Việt Nam, còn Ngân hàng thế giới mới đây lại tuyên bố sẽ ngừng các khoản cho vay ưu đãi đối với quốc gia đang “hóa rồng”.

Một câu hỏi nữa: Lôi kéo người Việt hải ngoại vào cuộc hôn phối chính trị bế tắc ở Việt Nam chỉ đơn thuần là một liệu pháp mị dân và qua đó dùng người Việt hải ngoại làm cầu dẫn đến các chính phủ Hoa Kỳ và Tây Âu?

Lẽ tất nhiên nếu diễn ra trót lọt, động tác trên sẽ đạt hiệu ứng hơn hẳn việc giới quan chức Việt Nam “diện kiến” trực tiếp giới chính trị Mỹ. Trường hợp Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị tại Washington vào tháng 7 năm 2014 có lẽ xứng đáng là một ví dụ thất bại.

Hoặc… một câu hỏi thâm sâu hơn: Liệu đang tồn tại một thế lực chính trị nào đó trong đảng – những người muốn mượn hơi hướng “tranh cử độc lập” của người Việt hải ngoại và giới dân chủ trong nước như một tiền đề chuẩn bị cho xu thế tách đảng và đa đảng khó tránh khỏi trong vài ba năm tới?

Và nếu các câu hỏi trên đều hợp lý, liệu “lãnh đạo rất cao cấp” nào trong chính thể Việt Nam đang trù tính mưu đồ này?

Ban Chấp hành Trung ương tiếm quyền Đại hội XII?

Blog VOA

Bùi Tín

Trụ sở đảng Cộng sản Việt Nam tại Hà Nội. Ảnh: Reuters

Cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ) Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) lần thứ 13/Khóa XI đã diễn ra để «đề cử xong Bộ Chính trị khóa XII».

Chuyện thật mà cứ như đùa.

Vì không thể tưởng tượng được cả 2 cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng CS là BCHTƯ và Bộ Chính trị khóa XI lại mù mờ về Điều lệ đảng đến như vậy.

Điều lệ đảng cuối cùng, thông qua ngày 19/1/2011, không hề có điều khoản nào quy định BCHTƯ khóa trước lại họp đề cử, như là bầu chính thức Bộ Chính trị khóa tiếp theo. Theo Điều lệ đảng CSVN đó là hoàn tòan thuộc thẩm quyền của Đại Hội XII, sẽ họp vào tháng 1 năm 2016.

Trong Chương II ghi rõ:

-Điều 9: Nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc; giữa 2 kỳ Đại hội, cơ quan lãnh đạo của đảng là BCHTƯ.

Do đó việc BCHTƯ hiện tại bỏ ra 3 cuộc hội nghị TƯ liền để bàn riêng việc giới thiệu, bầu cử, đề cử người vào Bộ Chính trị là việc làm phạm nguyên tắc tổ chức của đảng. Việc này còn sẽ bàn xong vào cuộc họp BCHTƯ lần thứ 14 nữa. Thật không thể hiểu nổi. Công việc này xưa nay là hoàn toàn công việc của Đại hội đảng, khi Đại hội đang họp.

Xưa nay chưa có Đại hội nào mà trước đó BCHTƯ khóa trước lại tổ chức giới thiệu, bầu cử, đề cử danh sách tên tuổi cả 16 hay 17 ủy viên Bộ Chính trị khóa sau, như đinh đóng cột như thế.

Đây là việc làm vượt quá quyền hạn, là một kiểu tiếm quyền, phản ánh tình hình chưa bao giờ có cuộc tranh dành ghế căng thẳng khốc liệt như hiện nay, không những tranh nhau 16 hay 17 chức ủy viên Bộ Chính trị, mà đặc biệt là dành nhau 4 chiếc ghế Tổng bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng và chủ tịch Quốc hội.

Cuộc tranh dành ngoạn mục, dơ dáng này biểu hiện rõ bản chất xôi thịt của các cường hào kỳ mục thời phong kiến, dành nhau đến chết cái thủ lợn, hai tai lợn hay cái đuôi lợn giữa đình làng.

Cùng lắm là BCHTƯ khóa trước chỉ bàn và giới thiệu một danh sách nhiều hơn hay ít hơn số ủy viên BCT cần bầu, gợi ý một danh sách tham khảo mà thôi. Không làm cũng được, không bắt buộc vì điều lệ không quy định rõ.

Còn việc xem xét, thăm dò, bầu thử rồi bầu thật số lượng bao nhiêu, bao gồm những ai là do Đại hội XII mới tòan quyền quyết định, không có sự can thiệp của ai hết, vì lúc ấy cả BCHTƯ và Bộ Chính trị cũ đều đã mãn hạn, không còn quyền gì nữa hết. Cho nên nếu cần thì BCHTƯ cũ chỉ giới thiệu một danh sách tạm thời, sơ bộ. Xưa nay, các đại hội đảng cũ đều làm như thế. Không lần nào làm như lần này là BCHTƯ cũ bầu ra Bộ Chính trị cho khóa sau, coi đó là chính thức, tuy chưa công bố nhưng rồi mọi người sẽ biết là những ai do cuộc tranh dành sát phạt nhau giữa các phe phái đặc quyền đặc lợi là rất quyết liệt.

Rõ ràng là các cơ quan lãnh đạo cao nhất đã hoặc là mù tịt, coi thường, vi phạm nghiêm trọng Điều lệ đảng, do đó đã “cầm đèn chạy trước ô tô”, hoặc là cố tình chà đạp điều lệ đảng, nghĩa là đạo Luật cao nhất của đảng CSVN.

Đại hội đảng XII hoàn toàn có quyền phớt lờ cuộc bầu cử tiền chế trơ trẽn này, để tự mình tìm ra và bâu lên những con người mới, có đức có tài, bác bỏ hẳn các cánh cường hào xôi thịt CS tham nhũng vô độ, quay lưng lại với nhân dân, bỏ bê việc “cầm quyền” thật sự do chỉ quen thói “cầm tiền”, cầm phong bì.

Hàng chục tỷ USD có thể ‘ngầm’ ra khỏi Việt Nam bằng cách nào?

Blog VOA

Cao Huy Huân

Hình minh họa. Nguồn: AP

Mới đây, Global Financial Integrity (Liêm chính Tài chính Toàn cầu, gọi tắt là GFI), nhóm nghiên cứu về chuyển tiền qua biên giới có trụ sở tại Washington (Hoa Kỳ) đã công bố báo cáo “Illicit Financial Flows from Developing Countries: 2004-2013” (Dòng chảy tài chính bất hợp pháp từ các nước đang phát triển giai đoạn 2004-2013”. Điều đáng lưu ý là trong số các nước có tên trong danh sách này, có nhắc đến Việt Nam.

Hàng chục tỷ USD ‘ngầm’ ra nước ngoài mỗi năm

Trước hết, có một số ý kiến cho rằng báo cáo của GIF không có độ tin cậy. Tuy nhiên, dù thông tin về danh sách các nước tuồn “tiền đen” ra nước ngoài chỉ xuất hiện trên trang web chính thức của GIF và được tranh luận mạnh mẽ trên các trang mạng xã hội là chính, nhưng nếu tìm hiểu kỹ thì những con số mà GFI đưa ra, theo tôi, không phải là hoàn toàn không có căn cứ để tin tưởng. Thực tế nghiên cứu của GIF được thực hiện dựa trên báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) – tổ chức thu thập số liệu uy tín hàng đầu thế giới; và số liệu mà GFI có được về sở hữu, chuyển nhượng hoặc sử dụng tiền trái phép của các nước đang phát triển.

Trong báo cáo này, lượng tiền thất thoát của Việt Nam, hay được tuồn từ Việt Nam ra nước ngoài tính trung bình là 9,29 tỷ USD mỗi năm, tức 92,9 tỷ USD trong một thập kỷ vừa qua (2004-2013). Với con số này, Việt Nam xếp hạng thứ 18 sau một số quốc gia có lượng “tiền đen” bị tuồn ra nước ngoài rất cao như Trung Quốc, Nga, Mexico, Ấn Độ, Malaysia… Tuy với thứ hạng này, Việt Nam không được nhắc đến trong tốp các nước tuồn tiền đen ra nước ngoài nhiều nhất, nhưng nếu nhìn vào chỉ số GDP của Việt Nam thì quả thật đáng lưu tâm. Số tiền bất hợp pháp từ Việt Nam đổ ra nước ngoài chiếm đến hơn 9% GDP – tỷ lệ cao hơn so với các nước lân cận như Thái Lan, Myanmar, Indonesia, Philippines…và nhiều nước khác trên thế giới.

Kinh tế vĩ mô của Việt Nam những năm gần đây phát triển không thật sự thuận lợi, nếu như không muốn nói là khó khăn, chật vật trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng. Số tiền “thất thoát” ra nước ngoài hàng năm lên đến gần chục tỷ USD không phải là con số đáng bị lãng quên hay không cần lưu ý, ngay cả khi có nhiều người hoài nghi về tính chính xác của các con số do GFI đưa ra (dù thiếu cơ sở để hoài nghi).

Thông qua dịch vụ VIP?

Tiền bất hợp pháp ra nước ngoài thực tế bằng nhiều con đường khác nhau, có thể qua con đường kinh doanh, đầu tư, hay chuyển tiền, gửi tiền ở các tổ chức tài chính. Ví dụ như Trung Quốc, quốc gia có dòng tài chính bất hợp pháp ước tính đạt gần 1,4 nghìn tỷ USD trong một thập kỷ, mức lớn nhất đối với các quốc gia đang phát triển.

Trong khi theo luật pháp quy định người dân Trung Quốc chỉ được phép chuyển ra nước ngoài số tiền nhiều nhất 50.000 USD/năm, một số ngân hàng ngầm mời khách hàng dùng dịch vụ “VIP” với giao dịch nhanh và lượng chuyển tiền không giới hạn. Gần đây nhất là hồi tháng 11 vừa qua, truyền thông quốc tế đưa tin cơ quan điều tra đã cáo buộc Tổng giám đốc Công ty kỹ thuật cảng Trung Quốc (một doanh nghiệp nhà nước tại Bắc Kinh) đã chuyển 3 triệu USD tiền có được từ tham nhũng thông qua một ngân hàng ngầm của Trung Quốc đại lục.

Cụ thể, các ngân hàng ngầm có dịch vụ “VIP” sử dụng chiêu bài “hàng rào kiểm toán”. Bản chất của chiêu trò này là chuyển đổi 18 triệu nhân dân tệ trong tài khoản của vị tổng giám đốc nói trên thành khoản ngoại tệ tương đương trong tài khoản ở nước ngoài của ngân hàng ngầm. Về lý thuyết, tiền không được chuyển trực tiếp hay bằng điện tử qua biên giới, khiến cho những giao dịch này hoàn toàn không thể phát hiện được. Đó là lý do tại sao giới chuyên môn gọi đó là chiêu tạo “hàng rào” chống lại các cuộc kiểm toán. Dịch vụ “VIP” này, tất nhiên không chỉ xuất hiện tại Trung Quốc, mà hoàn toàn có thể xuất hiện tại nhiều nước khác trên thế giới.

Hay dựa vào các doanh nghiệp ‘ma’?

Bên cạnh đó, người ta có thể chuyển tiền bất hợp pháp ra nước ngoài thông qua việc mở ra các doanh nghiệp “ma”, trá hình chuyển tiền bất hợp pháp. Nhiều “kẻ ma cô” ở Trung Quốc đã mở dịch vụ ngân hàng ngầm trá hình với vỏ bọc giao dịch trong lĩnh vực thương mại và vận tải với hàng chục công ty, còn bản chất thực là chuyển tiền trái phép. Các công ty kinh doanh “ma” giả các dữ liệu xuất nhập khẩu để che đậy các khoản tiền giao dịch ra nước ngoài. Dù Trung Quốc đã ban hành luật quy định cho phép các công ty chuyển đổi hợp pháp số ngoại tệ trong hạn ngạch 50.000 USD/năm, nhưng thực tế từ năm 2013, cảnh sát Trung Quốc cho biết các băng nhóm lợi dụng chính sách khuyến khích xuất khẩu quốc gia để chuyển trái phép ra nước ngoài gần sáu triệu USD.

Rủi ro và hàm ý chính sách

Tác hại của các dòng tài chính “đen” chảy ra nước ngoài đã được nhiều chuyên gia, các nhà làm chính sách nhắc tới trong suốt những năm gần đây, kèm theo đó là các câu chuyện điển hình mà bất cứ quốc gia nào, kể cả Việt Nam – quốc gia “thất thoát” hàng chục tỷ USD mỗi năm, cũng phải lưu tâm.

Điều này được Chủ tịch GFI, Raymond Baker, khẳng định về bản báo cáo của GFI: “Nghiên cứu này chứng minh rất rõ ràng rằng các dòng tài chính bất hợp pháp là một trong những yếu tố gây thiệt hại lớn nhất cho hầu hết các nền kinh tế phát triển và mới nổi của thế giới”. Tất nhiên thứ hạng càng cao, hay tỷ lệ thất thoát so với GDP càng lớn thì gánh nặng tài chính của quốc gia sẽ càng lớn.

Hãy nhìn vào “quán quân” chuyển tài chính “đen” ra nước ngoài – Trung Quốc. Các đánh giá của hãng Bloomberg cho thấy rằng chính thực trạng chuyển tiền ra nước ngoài bất hợp pháp là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mức thâm hụt dự trữ ngoại hối của Trung Quốc lớn nhất trong năm 2015.

Tại Việt Nam, trang tin Infonet (tờ báo của Nhà nước, do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý), hồi tháng 11-2015 cũng cho biết vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong mấy năm gần đây ngày một gia tăng, nhưng hiệu quả thu được từ dòng vốn này vẫn chưa được kiểm soát triệt để, gây lo ngại rằng nguồn vốn sẽ bị lợi dụng để dòng tiền bất hợp pháp “chảy” ra nước ngoài. Chính Cục Đầu tư nước ngoài cũng thừa nhận rằng việc chấp hành chế độ báo cáo của các doanh nghiệp theo luật định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chưa được thực hiện nghiêm túc, ví dụ: thông tin về doanh nghiệp còn thiếu, cơ chế giám sát chưa hiệu quả. Một chuyên gia không tiết lộ tên tuổi cũng phát biểu trên Infonet rằng “Không tránh được những trường hợp lập dự án ảo để chuyển ngoại tệ ra nước ngoài một cách hợp pháp cho nhiều mục đích khác nhau nhằm mục đích lẩn tránh thuế, rửa tiền hoặc không phù hợp với định hướng”.

Trên cả những lo lắng về thất thoát và ảnh hưởng kinh tế, việc dòng tiền bất hợp pháp chảy ra nước ngoài một cách cao ngất tạo ra các lo ngại về tình hình tham nhũng. Dù vừa qua, cả hai thành phố đầu tàu của Việt Nam là Sài Gòn và Hà Nội đều tuyên bố “không tìm thấy tham nhũng”,  hầu hết các cử tri và nhiều người dân vẫn bày tỏ bức xúc về tình trạng tham nhũng đang diễn ra trên thực tế hiện nay, dù chỉ dừng ở hiện tượng và hoài nghi. Thế nên, báo cáo của GFI về số tiền bất hợp pháp của Việt Nam chảy ra nước ngoài cũng là bằng chứng cho thấy tình hình tham nhũng cần được xem xét một cách chính đáng hơn; và các giải pháp ngăn chặn dòng tài chính bất hợp pháp chảy ra nước ngoài là điều bức thiết nếu muốn dân vẫn đặt niềm tin vào nhà nước.