Luật về tội phỉ báng ở Hoa Kỳ

Mỗi năm trên nước Mỹ có hàng trăm vụ kiện các tờ báo, tạp chí, các đài phát thanh và vô tuyến truyền hình về tội phỉ báng. Những người này cho rằng họ bị tổn hại vì sự công khai chỉ trích của giới truyền thông. sự kiện nóng

Năm 1637, một nhà văn người Anh tên là William Prynn đã phạm một lỗi đáng tiếc khi viết một quyển sách chỉ trích nữ hoàng. Prynn bất hạnh đã bị đưa ra xét xử trước một hội đồng thẩm phán, bị kết tội phỉ báng và bị kết án chung thân. Ông ta còn phải chịu một hình phạt bổ sung là cắt tai trước khi bị đẩy vào tù.

Nếu Prynn sống ở nước Mỹ hiện đại hôm nay chứ không phải ở nước Anh vào thế kỷ XVII, chắc chắn ông ta sẽ được tự do viết cuốn sách của mình – dù là về nữ hoàng hay về một Tổng thống Mỹ – mà không phải lo sợ bị mất tai hoặc phải vào tù.


Cung cấp thông tin cho phóng viên trước một vụ kiện một đài truyền hình về tội phỉ báng (nguồn: http://www.montserratreporter.org)Đối với Hoa Kỳ, luật điều chỉnh tội phỉ báng và vu khống đã bắt đầu hình thành thậm chí trước khi các thuộc địa giành lại nền độc lập từ người Anh.

Ngày nay, ở nước này khoảng 90% các phiên tòa về tội phỉ báng do các bồi thẩm đoàn xét xử. Mỗi bang có luật điều chỉnh tội phỉ báng lại khác nhau và trên cả nước không có một bộ luật thống nhất và chặt chẽ nào điều chỉnh vấn đề này.

Tất cả đã thay đổi vào năm 1964 khi Tòa án Tối cao đưa ra quyết định cách mạng hóa luật điều chỉnh tội phỉ báng ở Hoa Kỳ.

Theo đó các công chức không thể thắng kiện trừ phi các phóng viên hoặc biên tập viên bị kết tội “thực sự có ác ý” khi đăng tải những thông tin sai sự thật về họ. Công chức không thể khiếu kiện tội phỉ báng nếu chỉ đơn giản chứng minh thông tin về họ được truyền đi hoặc được đăng tải là sai. Giờ đây, họ phải chứng minh được là nhà báo không những đã cố tình đăng tin sai mà còn không phân biệt thế nào là giả, thật. Đối với cá nhân dân thường, việc kiểm tra để chứng minh tội phỉ báng không khó.

Mặc dù, các phán quyết của Tòa án tối cao được áp dụng ở mọi nơi trên nước Mỹ. Nhưng hầu hết các bang vẫn sử dụng luật riêng của mình trong trường hợp vụ việc liên quan đến dân thường. Thông thường, bộ luật này chỉ áp dụng cho các nhân vật của công chúng, những người cho rằng họ bị phỉ báng, phải chứng minh được nhà báo đã cẩu thả khi đăng thông tin sai về họ.

Mỗi năm trên nước Mỹ có hàng trăm vụ kiện của các tờ báo, tạp chí, đài phát thanh và truyền hình về tội phỉ báng. Những coq quan này cho rằng họ bị tổn hại vì sự công khai chỉ trích của giới truyền thông – thường là buộc tội hoặc cho rằng họ tham gia các hoạt động trái pháp luật, không đúng đắn hoặc có vấn đề!.

Cụ thể như hồi tháng 12/1990, một thẩm phán của Tòa án Tối cao Pennsylvania đã thắng kiện và được bồi thường 6 triệu đô-la trong vụ kiện tờ báo Người điều tra Philadenlphia. Nguyen nhân là năm 1983 báo này đã đăng một loạt bài cho rằng ông ta phạm tội rao bán ảnh hưởng đến uy tín của mình.

Tháng 4/1991, trong một trong những cáo trạng lớn nhất về tội phỉ báng được đưa ra đối với giới truyền thông, cựu công tố viên quận thuộc bang Texas là Victor Feazell đã nhận được 58 triệu đô-la tiền bồi thường sau khi đài truyền hình Dallas cáo buộc ông nhận hối lộ để dàn xếp các vụ lái xe trong khi say rượu.

Tháng 5/1991, bồi thẩm đoàn ở Chicago, Illinois đã quyết định cho nhà kinh doanh Robert Crinkley được nhận khoản bồi thường 2,25 triệu đô-la vì một bài báo trong Tạp chí Phố Wall đã đưa tin sai rằng ông ta có liên quan tới các khoản hối lộ cho các quan chức nước ngoài. Crinkley nói rằng vì bài báo đó mà không ai thuê ông ta sau khi ông không còn làm cho chủ cũ nữa. Bồi thẩm đoàn đã nhất trí rằng ông ta là nạn nhân của tội phỉ báng mặc dù tờ báo đã đăng bài cải chính cho bài báo trên.

Bên cạnh việc phân biệt giữa nhân vật của công chúng và dân thường, các tòa án Mỹ cũng quyết định rằng nhiều loại thông tin đăng tải nhìn chung được miễn tội phỉ báng.

Hầu như không thể kết tội nhà văn phạm tội phỉ báng nếu tác phẩm của họ chỉ đề cập đến ý kiến chứ không phải thực tế. Trong phán quyết về tội phỉ báng năm 1974, Tòa án Tối cao đã khẳng định: “Theo Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp, không tồn tại những thứ như ý kiến sai”.

Jerry Falwell, một chức sắc tôn giáo Mỹ, đã kiện một tạp chí sau khi họ đăng một bài châm biếm chua cay về Falwell, chế giễu lòng mộ đạo của ông ta. Thực sự, bồi thẩm đoàn bang Virgina đã phán quyết cho Falwell được hưởng khoản bồi thường 200.000 đô-la sau khi kết luận rằng tạp chí đã gây ra “nỗi đau khổ về tinh thần” cho vị mục sư nổi tiếng này. Tuy nhiên, Tòa án Tối cao Mỹ sau đó đã bác bỏ phán quyết trên khi giải thích rằng bài châm biếm, dù có làm tổn thương và gây đau khổ cho đối tượng của nó như thế nào, cũng vẫn được Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp bảo vệ.

Trong những năm gần đây, nhiều phòng xử án Mỹ đã biến thành những chiến trường pháp lý dữ dội bởi rất nhiều vụ kiện về tội phỉ báng được công bố rộng rãi đã trở thành tâm điểm của sự chú ý từ khắp nơi trên thế giới. Theo Roslyn Mazer – một luật sư của giới truyền thông tại Washington, hơn một phần tư thế kỷ qua, các tòa án đã thiên vị cho giới truyền thông trong vấn đề phỉ báng. Tuy nhiên, những chiến thắng này của họ phải khó khăn và tốn kém lắm mới đạt được kết quả. Ngoài ra, họ phải mất hàng triệu đô-la để trả cho luật sư và hàng ngàn giờ làm việc của các văn phòng luật sư và phòng xử án.

Bruce Fein, cựu luật gia tư vấn cho Ủy ban Truyền thông Liên bang thuộc cơ quan điều hành của Chính phủ Mỹ đồng thời là một trong những luật sư soạn thảo luật về phỉ báng cho biết: “Mục tiêu cuối cùng của luật phỉ báng là để bảo đảm các nhà báo sẽ đưa tin chính xác tới công chúng những nguồn thông tin tốt về tất cả những sự kiện quan trọng của cộng đồng”.

Tuy nhiên, Bruce Fein cho biết thêm điều quan trọng là giới truyền thông vẫn có quyền tự do lớn trong việc quyết định đăng tin gì. Ông nói: “Trong một xã hội dân chủ, cộng đồng cần phải chấp nhận cả những điểm xấu của giới truyền thông”.

– Steven Prerssman-
San Francisco, California.
(nguồn: Tổng hợp từ Internet)

Nguyễn Hoa Lư – Ngài Bill Clinton và đồng chí Nông Đức Mạnh

Nguyễn Hoa Lư

1. Đây là lần thứ tư cựu tổng thống Hoa Kì đến thăm Việt Nam. Những người dân Đại Việt vốn sẵn tính hiếu khách càng nhiệt thành đón tiếp ngài. Sự hồ hởi, thân thiện của người dân toát ra từ ánh mắt, nụ cười và những cái vẫy tay rối rít.

Nhìn ngài Bill Cliton không hiểu sao tôi cứ miên man nghĩ về cựu tổng bí thư Nông Đức Mạnh. Họ là những đại chính khách nhưng để câu chuyện tăng phần thân mật, tôi xin phép gọi khách là ngài Bill và chủ là bác Tổng.

Có quá nhiều những nét chung giữa hai đại chính khách này.

Trước hết, họ là những kẻ tột cùng của quyền lực, mỗi bên “hùng cứ một phương”. Ngài Bill làm tổng thống xứ Huê Kì trong hai nhiệm kì và cách đó nửa vòng trái đất, bác Tổng cũng ngồi ở vị trí cao chót vót.

Họ đều có dáng đi thanh thoát, có nụ cười rạng rỡ, cách cư xử vô cùng thân thiện. Trong dân gian, các nhà tình dục học nông dân thì hai vị này đều là những người đàn ông có hàm răng chắc, rất chắc!

Họ đều là những nhà hùng biện bẩm sinh. Thế giới rất không công bằng khi bên nặng bên khinh khi chỉ ca ngợi những bài diễn văn của ngài Bill. Ở Việt Nam vẫn truyền tụng câu thơ Kiều mà ngài Bill cao hứng ngâm lên khi nói chuyện với sinh viên Hà Nội. Họ quên bác Tổng nhà mình với những đoạn cao trào thường được bổ trợ bằng việc dơ tay chém một đường trong không khí. Nhát chém đầy uy lực khiến các cao thủ trong võ lâm cũng giật mình xanh mặt.

Như tôi nói ở trên, cái chung ở họ: dáng đi thanh thoát như những chàng rể bước vào phòng tân hôn, gương mặt sáng, mắt có đuôi dài, nụ cười rạng rỡ, hàm răng trắng rất chắc, họ đích thị là những kẻ “sát gái” hạng nhất. Cái sự đào hoa của ngài Bill với cô thư kí mũm mỉm đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực của xứ Hoa Kì rỗi hơi nhiều chuyện. Nó khiến ghế ngồi của ngài lung lay, đến mức ngài phải đứng trước tivi mà đọc bản “tự kiểm điểm” về cái tật trăng hoa của mình. Bác Tổng thì cái sự đào hoa ấy chỉ đến khi đã về vườn và lâm vào cảnh côi cút gà trống nuôi con. Vậy mà dân gian và các tờ báo thù địch cũng thừa dịp mà cười cợt khen chê rôm rả.

Có những sự khác nhau giữa họ nhưng thực ra là để tôn lên cái giống nhau. Đó là mái tóc bồng bềnh như sóng trông rất lãng tử của ngài Bill đối lập mái tóc xanh mướt, bóng mượt của bác Tổng. Cả hai đều cực kì quến rũ với phái đẹp. Trong mắt họ, hai vị ấy đều là những người đàn ông đích thực!


Ông Bill Clinton được đón tiếp nồng nhiệt ở Việt Nam. Ông Nông Đức Mạnh thì sao?
2. Cặp song sinh ấy có sự khác nhau về bản chất. Ấy là cái sự long đong vất vả của ngài Bill và sự an nhàn ẩn dật của bác Tổng. Sự khác nhau đại diện cho hai nền văn minh Đông và Tây!Vừa rời nhà Trắng, ngài Bill chạy ngược chạy xuôi, nào diễn thuyết, nào vận động, nào quảng bá để góp nhóp từng xu nhỏ để lập quỹ này quỹ nọ rồi lại tất tả đi khắp thế giới để phân phát cho thiên hạ. Cái số ngài Bill xem vậy mà khổ. Cứ quanh năm ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng khiến cho Bill phu nhân phải kêu trời về sự nghèo khó đến mức phá sản của gia đình. Số ngài Bill là vậy vì ngài Bill sinh vào ngày 19 tháng 8, một ngày quan trọng của người Cộng sản.

Bác Tổng, trong hồ sơ ghi rõ là sinh ngày 11 tháng 9, ngày thảm họa của nước Mỹ! Bác Tổng rời ghế, nhà nước trợ cấp cho một cái biệt thự để hàng ngày ngối ngắm sóng hồ Tây, sống đời triết nhân ẩn dật. Thỉnh thoảng công chúng lại thấy bác í vận bộ comple rất chi là “à la mode”, xuất hiện trong vài hội nghị hay lễ khởi công hay khánh thành nào đó. Không phát biểu nhưng chắc bác í nhận phong bì. Phong bì để bác í sống với những con sóng hồ Tây.

3. Dân gian vốn độc miệng. Họ nói bác Tổng là tác giả của lời danh ngôn “trồng cây gì nuôi con gì, các đồng chí nghĩ đi”. Các đồ đệ của bác Tổng luôn lấy câu đó làm kim chỉ nam cho các cuộc đi cơ sở thị sát. Đám trí thức nửa mùa và dở hơi lấy đó làm món nộm trong các cuộc bia hơi vỉa hè và ồn ào đưa ra lời giải: trồng cây thuốc phiện, nuôi con cave!

Miệng thế nhân gian cay độc đến thế là cùng. Nhưng có hề chi. Với các bậc chí tôn thì những lời vo ve kiểu đó không làm các ngài bận tâm. Nếu suốt ngày ngồi thanh minh thanh nga với những sự vo vẻ kiểu đó thì còn tâm trí đâu cho đại cuộc!

Có chuyện này, tôi tận mắt chứng kiến qua chương trình tivi. Ấy là lần bác Tổng về thăm một thành phố ven biển miền Trung, tạm gọi là Đà Nẵng. Trước các quan chức địa phương, Bác Tổng hiên ngang, tay chém vào không khí theo một dáng vẻ đầy nội lực quen thuộc. Bác nói: Hải Phòng là thành phố biển. Đà Nẵng là thành phố biển nhưng Đà Nẵng không phải là Hải Phòng. Những thành tựu của Hải Phòng là rất đáng mừng. Đà Nẵng thì sao đây?

Trong đời tôi, chưa từng nghe được phát ngôn nào hội tụ đủ tinh hoa của triết học, giáo dục, chính trị như những lời trên của bác Tổng!

Xuất thân từ nghề trồng rừng mà bác Tổng có tố chất của một nhà sư phạm xuất chúng. Lý thuyết dạy học nói rõ rằng một ông thầy tầm thường thì chỉ biết giải thích và áp đặt kiến thức cho học sinh. Ngược lại, các bậc cao thủ của nghề giáo trong dạy học luôn gợi mở, khích lệ để tạo cảm hứng cho người học.

Nếu bác Tổng không thể cầm tay chỉ việc như một nhà giáo tồi! Nếu vậy thiên hạ sẽ kêu la rầm trời về sự áp đặt, gia trưởng, thậm chí họ sẽ lên án về sự độc tài. Nếu vậy thì oan cho bác Tổng quá.

4. Tóm lại, chỉ riêng đóng góp “trồng cây gì nuôi con gì” vào kho tàng lí luận của nhân loại cũng đủ để bác Tổng hơn hẳn ngài Bill một cái đầu! Vậy nên trong khi ngài Bill cứ gọi là chạy long tóc gáy thì bác Tổng ngồi yên ngắm sóng. Nếu bác í cao hứng lên rồi làm thơ nữa thì đó thực là phúc lớn cho hậu thế vậy!

Kẻ thù lớn nhất của Đảng là… chính họ

YesYou001Trịnh Hữu Long
Một trong những điều người Việt Nam lo ngại nhất khi quan hệ với Mỹ là Mỹ có thể trở mặt bất cứ lúc nào, như đã từng làm với Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975.

Lo ngại này là chính đáng, vì nước nào cũng phải đặt lợi ích quốc gia họ lên trên tất cả (chỉ có vài nước là đặt một chủ nghĩa và một thứ tình anh em siêu ảo lên trên đầu). Nước Mỹ cũng chẳng sai gì khi bỏ rơi đồng minh để bảo vệ đất nước họ.

Nhưng bối cảnh hiện nay có lẽ thuận lợi hơn nhiều cho lãnh đạo Việt Nam, bởi lẽ lần đầu tiên trong lịch sử, và cũng là một trong những điểm độc đáo nhất của chính trị Việt Nam, họ có một cộng đồng người Mỹ gốc Việt rộng lớn ngay trong lòng nước Mỹ. 1,7 triệu công dân Mỹ gốc Việt, chiếm gần 0,6% dân số Mỹ, hầu hết vẫn còn tha thiết với quê hương, có ảnh hưởng vô cùng lớn đến quan hệ Việt – Mỹ. Lá phiếu của họ có thể chi phối chính trường và quan điểm của họ luôn luôn được lắng nghe.

Bởi vậy, một trong những cách tốt nhất để kìm hãm các chính sách bất lợi cho Việt Nam từ phía Mỹ là chính phủ phải thân thiết được với cộng đồng người Việt ở Mỹ và thực lòng tôn trọng họ. Đảng cộng sản Việt Nam, lực lượng đang nắm chính phủ hiện nay, có làm được điều này không là một câu hỏi lớn, bởi để kết thân được với cộng đồng người Việt ở Mỹ, họ buộc phải đánh giá lại toàn bộ cuộc chiến tranh 1954-75, đánh giá lại Việt Nam Cộng hòa, đánh giá lại sự kiện hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi sau năm 1975 và hàng trăm nghìn người đã chết tức tưởi trên biển.

Làm thế nào để Đảng nói với đảng viên của họ, cựu chiến binh của họ và một bộ phận lớn nhân dân về tất cả những điều này? Làm thế nào để Đảng mở được lời xin lỗi? Vốn liếng chính trị lớn nhất của họ chính là cuộc chiến tranh được gọi là “chống Mỹ”, cái mà phần lớn người Việt Nam ngày nay vẫn coi là công lao của Đảng. Từ bỏ được là không dễ.

Thế mới bảo, kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.

Đại dịch PGS – TS – BS

biemhoakyvancuc1.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Entry này có một tựa đề hơi bí hiểm. Nhưng những ai làm trong nghề y đều biết đó là viết tắt của Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ. Chỉ có ở nước Nam. Chỉ có ở nước Nam dưới thời XHCN. Nó là biểu hiện của căn bệnh mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh. Bệnh hám danh đang làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy hiểm cho người bệnh.Có mấy ai còn nhớ đến thầy Phạm Biểu Tâm, thầy Trần Ngọc Ninh? Thầy Phạm Biểu Tâm có sống lại bây giờ không thể là hiệu trưởng trường y. Thầy Trần Ngọc Ninh có ở Việt Nam giờ này cũng không bao giờ thành khoa trưởng, chứ nói gì đến chức danh giáo sư. Cả hai thầy đều không có bằng tiến sĩ. Cái bằng tiến sĩ ngày nay ở đất nước này là một cái bùa hộ mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức. Nó là cái boarding pass cho những phi vụ làm trưởng khoa, làm hiệu trưởng trường y. Đó là luật chơi mới do những người cách mạng đặt ra. Người cách mạng không nhất thiết phải là người trong y giới, cũng chẳng cần làm khoa học. Nhưng họ có giá trị hơn nhà khoa học. Bài giảng của người cách mạng có giá hơn bài giảng của giáo sư tiến sĩ. Ở đất nước này, chính trị thống lĩnh tất cả. Làm cách mạng là làm chính trị. Bởi vậy, người cách mạng chẳng cần phải có tấm bằng bác sĩ để đặt ra luật chơi mới cho ngành y. Họ đang hủy hoại nền y học.

Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn trên bàn cà phê. “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không làm một cái”? Anh bạn tôi hỏi. Tôi ngạc nhiên về chuyện làm một cái. Tiến sĩ là một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu. Mình đã già. Mình không có khả năng làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu. Anh bạn tôi cười lớn nói: Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi. Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.

TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng. Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai. Với đà này, một ngày không xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.

PGS-TS-BS xuất hiện ngày càng dày đặt trong các hội thảo. Nhìn lên bàn chủ tọa chúng ta thấy gì? Có hoa tươi. Có chai nước lọc. Có laptop. Có microphone. Và, có tấm bảng nền trắng chữ đen in những từ viết tắt như PGS-TS-BS. Hoa tươi để làm màu mè. Chai nước lọc vì trí thức không quen uống nước máy sợ nhiễm khuẩn. Laptop để nói rằng ta đây có trình độ IT. Microphone để truyền bá lời vàng ý ngọc. Danh hiệu PGS-TS-BS để khoe thành tựu miệt mài làm khoa học. Một bức tranh đầy hoa sắc, màu mè. Có phần phần cứng (IT, microphone) lẫn phần mềm (hoa, trí lực, bằng cấp).

Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới. Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm. Không ai biết được, nhưng xã hội biết. Xã hội đã từ lâu phong danh tước “tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ “Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu chuyện thường ngày. Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.

Dỏm có nghĩa là những bằng cấp được mua bán, tiền trao cháo múc. Anh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD, 10.000 USD, 20.000 USD đã được đề cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi 500 triệu. Có nhiều lò sản xuất văn bằng tiến sĩ và mỗi lò có biểu giá riêng. Quân y nổi tiếng là một trong những lò đào tạo đắt tiền. Các trường y thì rẻ hơn nhưng không rẻ bao nhiêu. Nhiều đồng nghiệp tôi mua bằng như thế. Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả tiền? Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ. Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta.

Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu tư. Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền. Trường khoa. Giám đốc bệnh viện. Hiệu trưởng. Tất cả đều mua, đều chạy. Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này. Đừng trách tại sao dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã nghèo thì thường chịu phận hèn. Cái cơ chế này làm cho người dân vừa nghèo và vừa hèn.

Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu ma, giả tạo số liệu. Báo chí đã nêu nhiều vấn đề đạo văn. Nhưng báo chí không hề biết những chuyện động trời hơn đạo văn. Đó là chuyện giả tạo số liệu. Những tiến sĩ dỏm chẳng bao giờ làm nghiên cứu cho tốn công. Họ chỉ ngồi đâu đó giả tạo ra số liệu. Có người làm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng khi kết quả không đúng ý, họ sửa số liệu. Chẳng ai hay biết. Thầy cô hướng dẫn chỉ là những người mù vì bất tài, hoặc giả mù vì họ đã ăn tiền. Giả tạo số liệu xong, họ mướn một người nào đó làm phân tích thống kê. Giá phân tích cũng không rẻ chút nào, từ 500 USD đến 2000 USD. Có cậu nọ nay làm chức cao trong trường y từng làm phân tích mướn như thế. Chẳng cần biết đúng sai vì chính người làm mướn cũng mù mờ mà cũng chẳng quan tâm. Phân tích xong, họ mướn người viết luận án. Giá viết cũng từ 500 USD đến 2000 USD. Người viết chỉ cần có bằng cử nhân cũng viết được. “Viết” ở đây có nghĩa là cắt và dán. Hỏi google, dịch, cắt, dán. Vâng, luận án là dịch-cắt-dán. Thế là xong luận án. Thầy dỏm thì làm sao biết được đó là luận án thật hay dỏm. Có thể nói rằng đại đa số những nghiên cứu khoa học ở nước ta hiện nay đều làm theo quy trình như thế. Không có đạo đức khoa học. Không có tinh thần khoa học. Đừng nói đến văn hóa khoa học. Đọc những lời tâm huyết có khi mang tính hô hào của Gs Tuấn về nghiên cứu khoa học mà tôi thấy tội nghiệp cho ông. Ông đâu biết rằng ở trong nước người ta đâu có quan tâm đến nghiên cứu, những lời ông nói ra chỉ là nước đổ đầu vịt mà thôi, chẳng ai nghe đâu.

Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu chất lượng còn thấp hơn luận văn cử nhân của các thầy trước 1975. Nếu có dịp đọc những luận án tiến sĩ của các bác sĩ, người có kiến thức không biết nên cười hay nên khóc. Cười vì những đề tài nghiên cứu như là đề tài của sinh viên học làm nghiên cứu. Khóc vì trình độ thấp đến mức thê thảm. Những đề tài nghiên cứu kinh điển mà thế giới đã làm từ ngày tôi còn ngồi trong trường y cũng được biến hóa thành đề tài tiến sĩ. Có đề tài đánh giá phẫu thuật nội soi mà người đánh giá cũng chính là người thực hiện. Không có cái gì là mới. Không có cái gì để gọi là khoa học. Số liệu đã giả thì làm sao có kết quả thật được. Bản thân thầy hướng dẫn chẳng hiểu tường tận vấn đề thì làm sao có được đề tài mới. Họ để cho trò tự “bơi”. Bơi bằng cách lên mạng, xem người ta ở ngoài làm gì rồi cố gắng làm giống như thế ở Việt Nam. Đại đa số bắt chước mà vẫn còn sai. Sai vì không hiểu vấn đề đến nơi đến chốn. Không có sáng tạo thì làm sao gọi là tiến sĩ được. Cả một nền học thuật chỉ bắt chước mà cho ra lò cả ngàn tiến sĩ mỗi năm. Đó là một nền học thuật ăn theo, dỏm.

Còn luận án thì thế nào? Cũng công thức nhập đề – thân bài – kết luận như ai. Nhưng đọc kỹ thì không khỏi phì cười. Phần nhập đề thí sinh hay nói đúng hơn là người viết mướn tha hồ dịch-cắt-dán từ các nguồn trên internet, có khi đem cả kiến thức từ sách giáo khoa thế kỷ 19, những mớ thông tin chẳng liên quan gì đến đề tài. Dân gian có câu “nói dai, nói dài, nói dở” thật là thích hợp cho luận án tiến sĩ. Phần phương pháp thì chẳng có gì để đọc, vì họ chủ yếu là ngụy tạo. Ngụy tạo số liệu thì làm sao dám viết chi tiết phương pháp được. Vả lại, người viết mướn cũng đâu có trình độ chuyên môn để đi chuyên sâu vào phương pháp. Đến phần kết quả là khôi hài nhất. Một chuỗi bảng số liệu. Một chuỗi đồ thị. Điều khôi hài là đồ thị làm từ bảng số liệu. Hai cách trình bày một thông tin! Chưa hết, thí sinh còn bồi thêm câu diễn giải dưới bảng số hay đồ thị. Tức là 3 cách trình bày chỉ nói lên một thông tin. Người ta cần số trang sao cho đủ nên phải làm như thế. Thừa thải? Không thành vấn đề. Vấn đề là làm cho đủ số trang theo quy định của Bộ. Sai sót? Đây đâu phải là công trình khoa học mà quan tâm đến sai sót. Đến phần bàn luận là một tràng từ ngữ bay múa, những ý tưởng hỗn độn, chẳng đâu vào đâu. Những gì Gs Tuấn chỉ cách viết bài báo khoa học không áp dụng ở đây. Không cần đến logic luận. Nó y như là cái thùng lẩu thập cẩm. Có lẽ vài bạn đọc chưa quen sẽ nói tôi cường điệu hóa vấn đề. Các bạn hãy vào thư viện trường y mà đọc xem các luận án tiến sĩ có xứng đáng cái danh xưng cao quý đó hay không. Người ta xem đó là những “luận án tiến sĩ” có mã số, có bìa đỏ, được lưu giữ cẩn thận. Nhưng tôi xem đó là những chứng cứ hùng hồn nhất cho một thời đại nhiễu nhương trong học thuật. Những kẻ đã, đang và sẽ có bằng tiến sĩ từ những cách học dỏm đó sẽ đi vào lịch sử nước nhà như là những tiến sĩ giấy, những con vi khuẩn làm ô uế nền học thuật nước nhà.

Dỏm có nghĩa là người thầy hướng dẫn cũng dỏm. Sự suy thoái của giáo dục y khoa là một chu kỳ bắt đầu từ người thầy. Sự suy đồi của người thầy bắt đầu từ những ông quan cách mạng. Dưới mắt của quan cách mạng, hồng quan trọng hơn chuyên, đảng viên quan trọng hơn người ngoài đảng. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên sau 1975 có những vị mang danh “giáo sư” mà kiến thức còn thua cả bác sĩ gia đình, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có “giáo sư” đi tuyên truyền cho xuyên tâm liên trị bá bệnh, bo bo bổ dưỡng hơn gạo. Ngày nay, kẻ bất tài nhưng có đảng tịch thì vẫn được cất nhắc làm thầy, được “tạo điều kiện” làm tiến sĩ. Có người được “cơ cấu” (một danh từ mới) chức trưởng khoa, giám đốc bệnh viện rồi, “tổ chức” (cũng là một từ mới) sẽ tìm cho họ cái bằng tiến sĩ. Bằng tiếng sĩ vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh trong cái nền học thuật nhếch nhác hiện nay. Bằng tiến sĩ nó tầm thường đến nỗi người ta nhạo báng ra đường gặp tiến sĩ. Nó rẻ tiền vì chúng ta biết rằng bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là bằng dỏm, không bao giờ xứng đáng với danh vị đó. Không dỏm thì cái bằng đó cũng chỉ là thứ được cấu thành từ những giả tạo, những “nghiên cứu” loại rác rưởi khoa học, những dữ liệu có được từ vi phạm y đức. Bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là thứ rác rưởi trong thế giới học thuật ngay chính trên đất nước Việt Nam. Thế là chúng ta có thầy dỏm. Thầy dỏm đào tạo ra trò dỏm. Trò dỏm đào tạo tiếp trò dỏm. Sẽ không lâu chúng ta sẽ có nhiều thế hệ tiến sĩ dỏm, giáo sư dỏm. Và chúng ta sẽ phải trả giá cho những cái dỏm đó. Thực ra, bệnh nhân đang trả giá cho cái dỏm.

Cái giá mà bệnh nhân phải trả cho hệ thống y khoa hám danh này là cái chết. Nhiệm vụ của người bác sĩ lâm sàng trước hết là chữa trị bệnh nhân. Nhiệm vụ đó đòi hỏi kỹ năng lâm sàng tốt. Ngoài ra, còn có sự cảm thông, chia sẻ với bệnh nhân. Nhưng bác sĩ hám danh ngày nay chỉ chạy theo bằng cấp dỏm, làm nghiên cứu dỏm, gây tác hại cho bệnh nhân. Họ không trao dồi kỹ năng lâm sàng. Họ không có thì giờ để đọc sách. Họ thừa thì giờ đi nhậu để làm “ngoại giao”. Thiếu kiến thức lâm sàng. Chẩn đoán sai. Làm xét nghiệm không cần thiết. Đối diện với bệnh nhân thì chỉ hách dịch ra lệnh chứ không biết nói. Hậu quả là chẩn đoán sai, điều trị sai, bệnh nhân chết. Nếu còn sống thì gặp biến chứng, hoặc thương tật suốt đời. Dỏm trong các ngành khác như khoa học xã hội thì có thể không gây tác hại nguy hiểm, nhưng dỏm trong y khoa thì hậu quả khôn lường. Rất tiếc là các quan cách mạng không nhìn thấy hay không nhìn thấy điều hiển nhiên đó để cho sự hám danh và dỏm lên ngôi. Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử nước nhà.

Bệnh hám danh trong y giới ngày nay đã trở thành đại dịch. Có lần trong một hội thảo chuyên môn, một anh kia tên là D, học y trước 1975 nhưng ra trường sau 1975, thuộc thành phần răng đen mã tấu – “cách mạng 75″ như người Sài Gòn vẫn nói, được người ta giới thiệu anh ta là TS, nhưng khi anh ta lên bục giảng câu đầu tiên anh ta nói là chỉnh người giới thiệu, rằng chức danh của anh ta bây giờ là PGS. Chính xác hơn là PGS-TS-BS. Cả hội trường có phần sững sờ trước sự khoe khoang hợm hĩnh. Tôi cũng ngạc nhiên khi biết anh ta có bằng tiến sĩ và càng sững sờ khi biết anh ta là PGS. Hỏi đồng nghiệp làm cùng bệnh viện với anh ta, ai cũng cười. Nghiên cứu là con số 0. Lâm sàng? Đã có nhiều bệnh nhân thành nạn nhân của anh ta. Thế là biết. Tất cả chỉ là mua bán. Thế mới biết cái cơ chế có khả năng nhào nặn một con người có tư cách thành một kẻ háu danh hợm hĩnh. Và chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng trường hợp của anh D chỉ là một hạt cát trong sa mạc y giới. Ngày nay có hàng chục ngàn người như thế. Nó đã thành một đại dịch. Dịch hám danh. Dịch hám bằng cấp. Đại dịch hám danh và hám bằng cấp còn nguy hiểm đến bệnh nhân hơn các đại dịch H1N1 nhiều.

Đại dịch hám danh không chỉ trong y giới mà còn lan tràn ra các địa hạt khác ngoài xã hội. Ai cũng cố gắng tạo cho mình một cái danh xưng trước tên. Ngày nào xã hội biết đến bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư… nhưng ngày nay người ta còn gắn CN và Master trước tên mình. CN là cử nhân. Master là cao học. Chưa bao giờ tôi thấy một sự háu danh quái đản như hiện nay. Trong y giới, người ta còn gắn thêm TS-BS, hoặc PGS-TS-BS. Nếu có danh xưng gì khác như thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú, người ta cũng gắn vào luôn. Nếu một người nông dân không có bằng cử nhân thì họ được gọi là gì. Không là gì cả. Do đó, đại dịch dịch hám danh nó phân chia xã hội thành những người có và những người không có. Nó dẫn đến nạn kỳ thị. Kẻ có danh xem thường người không có danh. Vì thế người ta phải chạy theo danh, phải mua danh bán tước. Đại dịch hám danh tạo ra một thị trường mua bán tước danh, bằng cấp. Từ cấp trung ương đến địa phương, hiện tượng mua bán bằng cấp xảy ra hàng ngày. Mua bán tước danh và bằng cấp là hành động xem thường kỷ cương phép tắt trong học thuật. Vì thế dịch hám danh không chỉ làm phân hóa, kỳ thị xã hội, mà còn làm hủy hoại nền học thuật quốc gia.

Sau khi gặp bạn tôi gặp trong hội thảo tuần qua làm tôi có cảm hứng viết entry này tôi lên taxi về nhà. Trên đường về nhà bị kẹt xe, anh tài xế phải vất vả nhích từng cm. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Đường xá ngập nước như trong cơn bão lụt. Ngay giữa thành phố có thời mang danh Hòn ngọc viễn đông. Anh tài xế cùng độ tuổi tôi lắc đầu ngao ngán. Anh nhìn tôi ái ngại vì quá trễ giờ. Chúng tôi nói chuyện đời. Anh chỉ vào con đường ngập nước và nói họ đang phá nát thành phố này. Tôi đồng ý. Nhưng tôi muốn thêm rằng họ cũng đang hủy hoại nền học thuật nước nhà bằng cách tạo ra một đại dịch PGS-TS-BS.

Nếu Việt Nam vỡ nợ công

Nam Nguyên – Phóng viên RFA

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Hội nghị Ngành Kế hoạch và Đầu tư ở Đà Nẵng hôm 7/8/2014.

Gánh nợ quốc gia nguy ngập?

Phát biểu tại Đà Nẵng hôm 7/8/2014 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trấn an toàn dân: “Việt Nam dứt khoát không để vỡ nợ.”Thực tế gánh nợ quốc gia của Việt Nam nguy ngập thế nào mà Thủ tướng phải lên tiếng như vậy.

Trả lời Nam Nguyên, ông Bùi Kiến Thành một chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về thị trường tài chính quốc tế từ Hà Nội nhận định:

“Thủ tướng nói như thế nhưng lấy cái gì để bảo đảm Việt Nam không vỡ nợ công. Nếu Việt Nam cứ tiếp tục đi vay nợ như thế này trong tình hình kinh tế không sáng sủa, doanh nghiệp chết hàng loạt. Kinh tế Việt Nam thì khó khăn mà mình cứ việc đi vay như thế thì lấy gì bảo đảm sẽ không vỡ nợ.”

Ngay từ đầu năm nay, TS Lê Đăng Doanh chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội đã bày tỏ sự đặc biệt quan ngại về tình trạng nợ công của Việt Nam. Ông nói:

“Theo tôi vấn đề nợ công rất là phức tạp, hiện nay cứ mỗi ba tháng ngân sách Nhà nước phải trả nợ nước ngoài khoảng 1 tỷ USD. Đấy là một khoản nợ không phải là nhỏ và số nợ công trong những năm gần đây đã tăng lên một cách nhanh chóng. Đấy cũng là một yếu tố rất đáng chú ý và rất đáng lo ngại.”

Theo tôi vấn đề nợ công rất là phức tạp, hiện nay cứ mỗi ba tháng ngân sách Nhà nước phải trả nợ nước ngoài khoảng 1 tỷ USD. Đấy là một khoản nợ không phải là nhỏ.

» TS Lê Đăng Doanh

Ngày 31/7/2014 vừa qua Argentina một quốc gia Nam Mỹ đã vỡ nợ lần thứ nhì, sau khi mất khả năng thanh toán 1,5 tỷ USD trái phiếu quốc gia cho cho hai quỹ đầu tư của Mỹ. Một trong các tổ chức đánh giá tín nhiệm là Fitch Ratings đã định giá trái phiếu Argentina xuống mức hạng Junk bond tức không khác gì giấy lộn. Như thế Argentina không thể vay tiền được nữa kể cả từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cho đến khi khả năng trả nợ được phục hồi.

Giả thiết trường hợp Việt Nam rơi vào tình trạng vỡ nợ thì điều gì sẽ xảy ra, chuyên gia Bùi Kiến Thành phát biểu:

“Nếu Việt Nam vỡ nợ, tất nhiên hệ số tín nhiệm của tín dụng đối với Việt Nam sẽ rất là thê thảm, trong trường hợp nhà nước muốn vay tiền chỉ số tín dụng từ BB sẽ rơi xuống B- và xuống hơn nữa….như thế làm sao Việt Nam có thể tồn tại trên thị trường tài chính quốc tế. Những chuyện ấy sẽ kéo theo làm cho một nước không thể ngóc đầu lên nổi. Chúng ta đã thấy chuyện đó xảy ra rồi, thí dụ bên Argentina vỡ nợ lần thứ hai kéo theo bao nhiêu hệ lụy của nền kinh tế.”

Từ hai năm qua, các đại biểu Quốc hội, chuyên gia đã lên tiếng báo động về tình trạng nợ công của Việt Nam. Báo động không những về cách tính nhằm giảm nhẹ tổng nợ công thực tế mà còn về tình trạng lãng phí nợ vay nước ngoài thực hiện tràn lan các dự án. Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Phải tìm cách hãm lại gánh nợ công, hãm lại đầu tư công, hãm lại những thứ gọi là những phí phạm trong vấn đề quản lý nhà nước, hãm lại những cái rút ruột công trình, hãm lại vấn đề cán bộ nhà nước không kiểm tra đầy đủ chi tiêu nợ công.”

Theo báo điện tử VnEconomy, tại Hội nghị ngành kế hoạch đầu tư tổ chức tại Đà Nẵng ngày 7/8/2014 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo xin trích nguyên văn “Việt Nam dứt khoát không để vỡ nợ, phải bố trí đủ để trả nợ, chủ yếu là trả nợ phần đầu tư xây dựng trước. Trái phiếu cũng phải tính 5 năm. Tổng trái phiếu chính phủ và địa phương sẽ được tính kỹ, căn cứ vào bảo đảm nợ công rồi mới tính phát hành trái phiếu thế nào để có nguồn vốn bổ sung cho đầu tư phát triển nhưng đồng thời phải giữ vững an toàn cho nền tài chính quốc gia.”

Tính nợ công mập mờ?

Ảnh minh họa. AFP PHOTO.

Báo cáo của Bộ Tài chính đưa ra tại hội nghị Đà Nẵng cho thấy tổng số nợ công tính đến cuối năm 2013 chỉ là 41,5% GDP. Đây là một chỉ số đẹp toàn hảo nhưng bị các chuyên gia ngoài chính phủ cho là một con số ảo. Theo các chuyên gia độc lập, cách tiếp cận vấn đề nợ công của Chính phủ Việt Nam hoàn toàn khác với thông lệ quốc tế.

Cách tính nợ công mập mờ tách rời những món nợ lớn của doanh nghiệp nhà nước mà chính phủ bảo lãnh gây ra nhiều tranh cãi trong giới chuyên gia.

Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Chúng ta thấy tỷ lệ nợ công không rõ ràng, có thể nói là nhà nước không thực sự công bố hết nợ công, phần nợ công nào đi vay nước ngoài, nợ công nào đi vay trong nước; nợ công nào trực tiếp của Trung ương; nợ công nào của địa phương; nợ công nào nhà nước bảo lãnh cho các tập đoàn nhà nước… nếu mà cộng hết những cái đó lại thì không phải 50%-60% GDP như công bố mà có nhiều chuyên gia nói là có thể hơn 100% GDP. Vấn đề ở đây là nợ công và sự an toàn của nó là khả năng trả nợ. Phải có nền kinh tế phát triển tốt thì lúc đó mới có tiền vào ngân sách để trả nợ. Trong khi nền kinh tế Việt Nam ba bốn năm nay các doanh nghiệp chết hàng loạt thì làm sao có khả năng mà trả nợ nổi.”

Báo chí Việt Nam trích lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đó là tiền đề cho sự thúc đẩy tăng trưởng, tạo nền tảng ổn định vĩ mô, tạo công ăn việc làm và đảm bảo an sinh xã hội.

Chúng ta thấy tỷ lệ nợ công không rõ ràng, có thể nói là nhà nước không thực sự công bố hết nợ công, phần nợ công nào đi vay nước ngoài, nợ công nào đi vay trong nước.

» Bùi Kiến Thành

Tuy vậy trên các diễn đàn, chuyên gia ngoài chính phủ trong ngoài nước nhiều lần kêu gọi Việt Nam cải cách thể chế, công khai minh bạch và dân chủ trong kinh tế thì mới có thể phát triển kinh tế bền vững. Tham nhũng đi đôi với lãng phí và đầu tư không hiệu quả. Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Thanh tra kiểm tra không đủ cho nên bao nhiêu công trình bị rút ruột. Tất cả các vấn đề nó phải giải quyết chứ không thể để nhà nước bỏ ra 100 đồng mà vào trong công trình có 40-50 đồng còn lại thì bị ăn xén ăn bớt hết, tạo ra những công trình không có chất lượng rồi phải đầu tư thêm để sửa chữa những công trình ấy. Có những công trình không sửa chữa được, một con đường đã hỏng rồi như Đại lộ Thăng Long đi lên Láng Hòa Lạc làm chưa xong đã hỏng rồi, cái nền ở dưới nó hỏng thì phải đào hết nó lên để làm lại hai ba lần. Ông Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư nói là chi phí làm đường ở Việt Nam cao hơn bên Mỹ tới hai ba lần, như thế là làm sao? Không phải chỉ nói nợ công đó là bao nhiêu mà nợ công đó làm gì có ích lợi gì, tồn tại bao lâu. Cái nợ công đó tạo ra nợ công khác. Phải có những biện pháp khống chế vấn đề tiêu xài của nhà nước như thế nào đừng gây ra lãng phí.”

Không riêng nợ công và cách tính nợ công khác thường của Bộ Tài chính Việt Nam cho ra một con số đẹp, cách tính GDP tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam cũng gây cho giới chuyên môn một trận cười bất tận. Thời báo kinh tế Việt Nam trích lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 7/8 tại Hội nghị Đà Nẵng, xin trích nguyên văn: “Cách tính GDP của các tỉnh thành hiện nay là không xác thực và so với quốc tế thì không giống ai.” Thủ tướng yêu cầu các tỉnh thành từ nay phải tính toán xác thực không tô hồng hay làm sai lệch vì trong những năm qua tỉnh thành nào cũng báo cáo GDP tăng trưởng 10% tới 15% nhưng GDP cả nước chỉ tăng từ 5% đến 7%.

Theo các chuyên gia cách tính GDP không xác thực dẫn tới sai lầm dây chuyền trong nền kinh tế, từ kế hoạch phát triển cho đến đầu tư sai lạc và dàn trải kém hiệu quả. Lần đầu tiên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhìn nhận phương pháp tính GDP của Việt Nam không xác thực và phải mau chóng cải cách. Các kế hoạch kinh tế của 63 tỉnh thành ở Việt Nam dựa trên những con số tô hồng chuốt lục dẫn tới những sai lạc cho cả quốc gia.

Một đất nước với các chỉ số ảo về tăng trưởng GDP, nợ công không được công bố một cách đầy đủ và minh bạch thì khó có thể đảm bảo không có ngày vỡ nợ. Những khoản nợ công bị phung phí ngày hôm nay chính là gánh nặng cho các thế hệ Việt Nam mai sau.