‘Thà đừng rút sớm giàn khoan’

Giàn khoan 981 trước khi di chuyển được nhiều tàu Trung Quốc canh gác

Đã hơn một tuần kể từ khi Trung Quốc di chuyển giàn khoan 981, dù có một vài nghi ngại nhưng nhìn chung dư luận Việt Nam đã tương đối lắng dịu, đặc biệt với sự xuất hiện của siêu bão Ramasun và vụ tai nạn máy bay MH17.

Nhìn cách thức đưa tin đoán xu hướng chính trị.

Tại Đài truyền hình Việt Nam, sau khi đưa động thái di chuyển của giàn khoan vào bản tin thời sự 19 giờ ngày 16 tháng 7, ngay hôm sau tin tức về vụ việc gần như biến mất trên chương trình được phát vào giờ cơm tối của mọi gia đình Việt Nam này.

Đài truyền hình Việt Nam là cơ quan báo chí lớn nhất nước (đứng đầu là một Ủy viên trung ương Đảng) và chương trình quan trọng nhất của nhà đài là Bản tin thời sự 19 giờ.

Mọi nội dung của chương trình này đều được giám sát kỹ lưỡng. Có thể nói khi mà thời của báo giấy và đài phát thanh đã qua, cơ quan ngôn luận của Đảng chính là Đài truyền hình.

”Bênh Nga chằm chặp”

Chỉ cần xem bản tin thời sự là biết “trạng thái” của Đảng Cộng sản. Khi đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc khuyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nên từ chức vào tháng 11 năm 2012, việc này chỉ được đưa lên vào bản tin 12 giờ trưa (lúc mọi người đang đi làm) và cắt gần như toàn bộ vào chương trình lúc 7 giờ tối cùng ngày.

Năm nay, đến tận cuối tháng Tư, truyền hình và báo chí Việt Nam vẫn còn bênh chằm chặp Nga trong cuộc khủng hoảng Ukraine khiến cho những ai xem thời sự đều bất bình với lực lượng đã lật đổ chính phủ của Tổng thống Ukraine lúc đó là Yanukovych.

Nhưng sau khi giàn khoan Hải Dương 981 được hạ đặt trái phép từ ngày 1/5, nhà đài bỗng đưa tin một cách vô cùng khách quan về cuộc xung đột ở Crimea.

Lý do là vì Nga đã không hề lên tiếng bảo vệ Việt Nam do phải bắt tay với Trung Quốc trong trận chiến với Mỹ và phương Tây.

Quay trở lại với việc đưa tin về giàn khoan 981, đài truyền hình Việt Nam đã ròng rã suốt hai tháng trời đưa tin hàng ngày về các hoạt động đấu tranh của hải quân ta, nay bỗng dưng câm bặt.

Tối ngày 17/7, tức là chỉ một ngày sau khi Trung Quốc di chuyển giàn khoan, trên bản tin 19 giờ chỉ còn lướt qua một tin duy nhất “liên quan” vào cuối chương trình, đó là việc Mỹ hoan nghênh việc giàn khoan đã được di dời.

Tối 19/7, trên kênh thời sự chính thống đã xuất hiện những dấu hiệu đặc biệt. Đầu tiên là việc đưa tin tỉnh Quảng Bình “tổ chức công bố quy hoạch xây dựng” khu tưởng niệm Vụ thảm sát tại thôn Quyết Thắng – “sự kiện bi thương do đế quốc Mỹ gây ra”.

Việc Trung Quốc đưa giàn khoan 981 thu hút truyền thông quốc tế.

Việc tưởng nhớ những người đã hy sinh trong chiến tranh chẳng bao giờ là xấu, nhưng đưa tin với thời lượng tương đối lâu và dùng những ngôn từ nặng nề trong thời điểm “nhạy cảm” như vậy quả là điều không bình thường.

Chỉ vài ngày trước khi Trung Quốc chưa rút giàn khoan, ai cũng cho rằng Việt Nam đang muốn xích lại gần Hoa Kỳ để tìm sự ủng hộ về quân sự.

Còn về chuyện tưởng nhớ những người con của đất nước trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc, không biết đến bao giờ những người đã ngã xuống trong chiến tranh Biên giới 1979 mới được nhắc đến một cách trang trọng như những đồng đội hy sinh trong cuộc chiến chống “đế quốc” xâm lược.

Lại đâu vào đấy?

Những ai háo hức về một cuộc “thoát Trung” hơn hai tháng nay chắc sắp phải thất vọng

Rất nhiều người đã hy vọng vào cơ hội thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc khi cuộc khủng hoảng trên biển Đông diễn ra trong hơn hai tháng qua.

Nhà cầm quyền dù thân với người láng giềng phương Bắc đến đâu cũng không thể không phản đối hành động xâm phạm quá lộ liễu. Nếu không phản ứng, chính nhà cầm quyền tự làm suy yếu tính chính danh và uy tín của họ.

Nhưng nay sóng gió đã tạm qua, việc liên minh với Mỹ – một hành động bất đắc dĩ vô cùng nguy hiểm có lẽ là không cần thiết nữa.

Hoa Kỳ sẽ giúp “không công” một nước Cộng sản? Không bao giờ! Sự giúp đỡ sẽ phải kèm theo một loạt điều kiện, trong đó chắc chắn phải mở rộng quyền tự do dân chủ mà điều đó có thể dẫn tới một cuộc “Cách mạng nhung”.

Giữ được chủ quyền mà mất chức thì cũng có ý nghĩa gì với những nhà lãnh đạo độc tài. Chính vì vậy, nếu không có biến cố gì xảy ra, việc hòa hoãn với láng giềng anh em Cộng sản vẫn là thượng sách.

Xem ra, việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan lại là một cơ hội tốt để một số nhà lãnh đạo ghi điểm bằng những phát ngôn tương đối “mạnh miệng”.

Nhân dân thì tạm quên đi những tồn tại trong xã hội để bày tỏ lòng yêu nước, người đàn anh phương Bắc thậm chí phải cử người sang “xoa dịu” đàn em.

Lợi đủ đường! Nếu cứ thế này, thỉnh thoảng Trung Quốc cứ kéo giàn khoan ra vài ngày lại không chừng lại là điều hay.

Còn với người dân, những ai háo hức về một cuộc “thoát Trung” hơn hai tháng nay chắc sắp phải thất vọng. Với họ, dù có va chạm với láng giềng một chút mà nền kinh tế, chính trị thay đổi toàn diện để có cuộc sống ấm no còn hơn là “hòa bình, ổn định” lâu dài nhưng mãi mãi trì trệ.

Vậy nên, giàn khoan Trung Quốc, lần sau có hạ đặt thì hãy ở lại lâu hơn một chút rồi hẵng về!

Bài viết thể hiện quan điểm và lối hành văn của tác giả.

Cần ý thức Việt nam vẫn đang là cá nằm trên thớt

Thục Quyên
Hôm nay là ngày thứ 86 kể từ khi China tự tung tự tác, ngang nhiên cắm giàn khoan Haiyang Shiyou 981 và đưa cả tàu quân sự vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, thản nhiên đuổi bắt, đâm chìm tàu bè của ngư dân Việt. Máu đã đổ, người Việt đã chết.

Ngày thứ 76, China đã di chuyển giàn khoan này và bộ ngoại giao của họ kèm ngay tuyên bố khẳng định thế giới không nên nhầm lẫn xem việc di chuyển giàn khoan HS–981 là một động thái rút lui, và đồng thời tiếp tục ngang ngược tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là của họ.

Haiyang Shiyou 981 sẽ cắm ở địa điểm mới nào, vì những lý do gì đã đổi vị trí, âm mưu bành trướng của Bắc Kinh sẽ tiến triển ra sao, theo chiều hướng nào, đều là những câu hỏi mà Việt Nam hoàn toàn không có khả năng nắm vững câu trả lời.

86 ngày người Việt trong và ngoài nước xao động, phân tích, trích dẫn, bàn cãi, góp ý. Quan chức thì câm lặng hay tùy lúc mà “tát nước theo mưa” phát biểu hùng hồn.

Nhưng điều chắc chắn duy nhất và là điều quan trọng nhất mà dân tộc Việt Nam phải nhìn thấy, hiểu, và lo lắng: Chúng ta vẫn hoàn toàn nằm trong thế bị động.

Giáo Sư Carlyle Thayer thuộc Học viện quốc phòng Australia đã tóm tắt tình trạng trong một câu nói đơn giản “Nếu Trung Quốc muốn đặt giàn khoan ở đó vô thời hạn thì Việt Nam cũng không làm gì được”.

Chuyện Biển Đông và giàn Khoan Haiyang Shiyou 981 là chuyện chủ quyền đất nước, phải giải quyết trên bình diện quốc gia với quốc gia, do đó những lực chính nằm trong tay các chính phủ. Nhà cầm quyền Bắc Kinh mưu tính thâm hiểm ra sao, dân Việt Nam không thể biết là điều dĩ nhiên, nhưng nhà cầm quyền Việt Nam đã, đang và sẽ làm gì thì chúng ta có biết hay không?

“Ta là ai” nếu không nắm vững thì lấy gì để phòng thân mà hòng làm chủ tình hình, đối đầu với giặc?

86 ngày đằng đẵng, dân Việt đã làm gì để tìm hiểu và định rõ tình trạng đất nước hầu nắm vận mạng dân tộc trong tay? Tình trạng và khả năng chống cự của chúng ta có thay đổi chút nào không?

Mịt mù!

Cách đối phó nguy cơ quốc gia mất chủ quyền của nhà cầm quyền Việt Nam.

Ngày 3/7, trong chương trình quốc hội tiếp xúc với cử tri thị xã Quảng Yên và Thành phố Uông Bí, ông Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đã tóm tắt việc làm của nhà nước Việt Nam trong những ngày tháng qua một cách rất tiêu biểu:

“Đảng và Nhà nước đã thực hiện các biện pháp đấu tranh chính trị – ngoại giao ở mức cao nhất, 3 lần gửi công hàm lên LHQ phản đối hành vi của Trung Quốc, tổ chức 5 cuộc họp báo quốc tế, sử dụng tất cả các kênh để đấu tranh… với mục tiêu giữ vững chủ quyền an ninh, môi trường hòa bình, phát triển quan hệ với các nước để bảo vệ chủ quyền và phát triển đất nước.”

Chúng ta hãy ghi nhận rõ ràng và đứng đắn các sự kiện Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nêu ra để đừng bị lạc hướng bởi những thông tin giật gân hằng ngày.

Đúng như ông Minh nói, trước hết là Đảng. Đảng Cộng Sản trước sau vẫn là trên hết. Quyết định, hành động và chịu trách nhiệm. Người dân phải sáng suốt để hiểu: bất kể ai, im lặng trốn tránh hay tuyên bố rôm rả, thì cũng chỉ là những nước cờ của Đảng. Một mê hồn trận làm người dân chóng mặt, bó tay trước những mưu lược của giặc, trong lúc đáng lý chúng ta cần dồn hết sức bình sinh để chống lại những thủ đọan khủng khiếp của China.

Đảng và nhà nước đã thực hiện các biện pháp đấu tranh chính trị – ngoại giao ở mức cao nhất có nghĩa là họ đã làm tất cả những gì họ muốn và có khả năng làm. Đảng và nhà nước xác nhận không thể làm hơn những gì đã làm cho tới ngày hôm nay. Vậy trách nhiệm của những người Việt còn muốn tranh đấu chống ách xâm lăng của Bắc Kinh là nhận định rõ ràng những việc làm và khả năng của đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam.

Vấn đề của Việt Nam không phải chỉ vỏn vẹn là giàn khoan ở hay đi, mà vấn đề là Tại sao China lại tin tưởng Việt Nam sẽ không dám và không thể chống cự khi bị họ xâm lấn?

Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng họ đã có trong tay từ năm 1958. Vậy còn có những điều kiện thuận lợi nào khác để China ngày nay chắc bước như vậy?

Hơn 40 năm qua nhà nước Việt Nam đã làm gì khi ngư dân Việt Nam bị cấm bén mảng đánh cá tại không gian biển đảo ở Hoàng Sa? Khi ngư dân Việt bị đánh đắm tàu, bắt giam, hành hạ vô nhân đạo, giết chết đòi tiền chuộc xác, hoặc phải ký những bản viết tiếng Trung Hoa thừa nhận đã vi phạm không gian chủ quyền của China thì Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam đã làm gì, nói gì để bảo vệ dân? Tuyên bố gì trước công luận quốc tế?

Hay cho tới ngày giàn khoan Haiyan Shiyun 981 xuất hiện chỉ là một sự tảng lờ trước lời kên cứu của ngư dân, và khi không còn có thể ém nhẹm tin tức thì kiêng nể không dám cả nhắc đến tên thủ phạm? Những danh từ “tàu lạ”, “máy bay lạ”, “tàu mang cờ nước ngoài” đã đi vào lịch sử để đánh dấu khả năng và tinh thần trách nhiệm của Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam hiện nay.

Chính thái độ không phản kháng ròng rã 40 năm này đã là sự mời chào China toàn quyền hành xử trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chính sự né tránh loan tin, đã là tín hiệu chính thức của đảng CS và nhà nước Việt Nam “sẽ chấp nhận và tuân thủ” gởi tới China.

Yếu tố bất ngờ duy nhất cả đôi bên không đề phòng là mức quyết liệt phản đối của dân tộc Việt. Bất ngờ và vũ bão nếu so sánh với thái độ thờ ơ và cam chịu, cũng một phần do thiếu hiểu biết, đối với tình trạng mất đất tại vùng biên giới, mất rừng, núi, mỏ ngay trong lòng đất nước, và sự nô lệ kinh tế trong suốt khoảng thời gian được ru ngủ với “ổn định chính trị, phát triển làm ăn, xây dựng đất nước”.

Đảng CS và nhà nước Việt Nam loay hoay cắt nghĩa về công hàm của ông Phạm Văn Đồng với thế giới nhưng Đảng CS và nhà nước VN cắt nghĩa sao cho hiệu lực về những tài liệu sách giáo khoa địa lý của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do chính Bộ Giáo dục in vào năm 1974, trong đó có nói đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo các tên gọi Trung Quốc, và cũng các tài liệu đó diễn tả các quần đảo này như thuộc về China?

Những điều kể trên không mới mẻ gì, nhưng giá trị quyết định của chúng trong cuộc tranh đấu giành lẽ phải trước công luận thế giới của Việt Nam không giảm mức quan trọng theo thời gian và là những sự kiện đang được China đưa ra trước LHQ mà nhà nước Việt Nam chưa trả lời được thích đáng.

Ông Phạm Bình Minh nhắc tới ba lần gởi công hàm lên LHQ.

Vào kiểm soát hư thực tại trang nhà của Phái Đoàn Thường Trực của Việt Nam tại LHQ (http://www.vietnam-un.org/en/vnun.php?cid=33) thì có thể thấy thư chính thức đầu tiên của Việt Nam gởi cho LHQ là vào ngày 8-06-2014 (mặc dù được để ngày viết là 7-06-2014 và thực sự ngày 11-06 mới tới nơi) sau khi bộ ngoại giao China vừa trưng bằng cớ kết tội Việt Nam và đã được người đại diện China tại LHQ Wang Min chuyển ngay đến Tổng Thư Ký Ban Ki Moon “(Việt Nam đã)… ngăn trở mạnh mẽ một cách bất hợp pháp các hoạt động của Trung Quốc. Những hành động như vậy làm ảnh hưởng đến tự do lưu thông và an toàn hàng hải tại vùng biển này, gây thiệt hại cho hòa bình và ổn định trong khu vực“.

Người dân Việt cần đòi hỏi Đảng CS và nhà nước Việt Nam trả lời rõ ràng tại sao có sự chậm trễ này? Một chậm trễ đã đẩy Việt Nam từ thế chủ động vào thế bị động.

Hơn một tháng sau khi lãnh hải bị xâm lấn mới đưa ra LHQ! Đây là âm mưu gì hay là vấn đề khả năng?

Cũng cần biết trong bản báo cáo chính thức của Việt Nam gửi LHQ ngày 7-07-2014, Việt Nam cho biết kể từ ngày 2-05-2014 đã 30 lần dùng mọi phương tiện liên lạc để yêu cầu China họp bàn về vấn đề giàn khoan HS981.

Trong bức thư của Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại LHQ đề ngày 4-05-2014 gửi Phái đoàn Thường trực China tại LHQ, Việt Nam vẫn giữ vững mong muốn được giải quyết song phương vấn đề, không hề “phát triển quan hệ với các nước để bảo vệ chủ quyền” như ông Phạm Bình Minh tuyên bố.

Việt Nam coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc và sẵn sàng giải quyết một cách hòa bình mọi tranh chấp và khác biệt liên quan đến vấn đề trên biển giữa hai nước thông qua đàm phán song phương.

http://www.vietnam-un.org/en/vnun.php?id=269&cid=33

Thêm điều lạ là không những hiện tượng trích dịch từ các báo ngọai quốc qua các báo lề phải Việt Nam đầy sai lầm và bịa đặt, ngay cả trang nhà chính thức của Phái đoàn Thường trực của Việt Nam tại LHQ tiếng Việt và tiếng Anh cũng khác nội dung nhau một trời một vực. Thí dụ bản tiếng Anh đăng bài phát biểu của tướng Phùng Quang Thanh tại hội nghị Shangri-La cuối tháng năm vừa qua chỉ thấy oai hùng buộc tội China mà chẳng thấy nhắc tới “tình anh em, xích mích trong gia đình” chi cả.

“Tất cả các kênh để đấu tranh đã được Đảng CS và nhà nước Việt Nam sử dụng” như ông Phạm Bình Minh nói là như vậy. Thêm vào là sự lặng câm của ông Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng và ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, là lời tuyên bố xôm tụ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kịp thời để giải tỏa tâm lý người dân, vuốt ve sĩ diện dân tộc. Trong khi mọi sự quyết liệt chỉ thấy được đem ra để đối đầu với chính những người dân Việt biểu tình bất bạo động, công khai chống bành trướng Bắc kinh.

Những người này đang bệnh hoạn, mòn mỏi chờ chết trong các nhà tù Việt Nam!

Cách đối phó nguy cơ quốc gia mất chủ quyền của người dân Việt

Khả năng tập trung vào những điều quan trọng là một năng lực rất mạnh, có lẽ quan trọng nhất trong một đất nước mà con người liên tục bị thông tin không trung thực thao túng.

Đứng trước mối nguy ngoại xâm và để hoạch định một chương trình chống cự có hiệu quả, tiên quyết là định rõ sức mạnh và vị trí cùng thế đứng của mình, rồi mới tới của đối phương. Sự èo uột ngày hôm nay của Việt Nam không từ thực tế Việt Nam là một nước nhỏ đối đầu với một China khổng lồ vì thực tế này đã có từ ngàn xưa và ông cha ta đã chứng minh có cách để đối trị. Sự èo uột là do dân Việt đã chấp nhận giao vận mạng dân tộc cho trí thông minh, sự đạo đức và khả năng của một nhóm người quá nhỏ là đảng Cộng Sản. Nguy hiểm hơn nữa là người dân Việt đã chấp nhận hay cả không cần lưu tâm tới những quyết định trên sự sinh tồn của dân tộc mà Đảng Cộng Sản Việt Nam không những toàn quyền quyết định mà còn giữ bí mật tuyệt đối cho tới ngày hôm nay, vì “bí mật” chính là sức mạnh của họ.

Sự èo uột là do thói quen than vãn, khao khát nhưng không có khả năng giải quyết bằng hành động. Vài chục ngàn bài viết rủa xả nhà cầm quyền là hèn nhát, bán nước, không bằng hành động cùng nhau đổ ra đường, cương quyết đòi nhà cầm quyền tường trình, rõ ràng và với chứng cớ, không những về Thỏa thuận Thành Đô mà về tất cả những thỏa thuận, nhượng bán quyền lợi, đất đai của Việt Nam cho China hay cho các nước khác. Đó là quyền và bổn phận của người dân Việt phải biết chuyện gì đã và đang xảy ra cho mình và con cháu mình. Trách nhiệm đòi hỏi và luật pháp cho phép. Phải biết rồi phải chủ động quyết định có chấp nhận hay không?

Chỉ cần một chút thiện chí và tổ chức là có thể trong vòng vài tuần lễ có được một tấm bản đồ những nơi China đã đem người đến cư trú trên lãnh thổ Việt Nam và con số ước lượng những nhóm người này. Sợ bị ngoại xâm mà không ai nắm vững sự hiện diện của những đoàn ngoại nhân này thì một mai nước có mất e rằng còn bị thế giới xếp dân tộc mình vào loại thiếu trí khôn. Nói rằng đó là việc của nhà cầm quyền, rất đúng. Nhưng nhà cầm quyền đã không làm bổn phận của họ thì dân phải giải quyết, bằng cách này hay bằng cách khác, như nhiều dân tộc khác đã làm.

Bằng chứng là trong vụ giàn khoan HS 981, Đảng CS và nhà nước Việt Nam e dè thần phục trước sự hung hãn của China, nhưng khi người dân cương quyết tỏ ý chí thì cả hai đảng CS anh em Tàu-Việt đều hiểu rằng phải tính con đường khác. Nhà cầm quyền China cũng phải nhận thấy chửi rủa nhóm cầm quyền CSVN là vô ơn bạc nghĩa thì những người này cũng không thể đi ngược lại quyền lợi của dân tộc Việt Nam trong thanh thiên bạch nhật.

Con đường mới, sau khi giàn khoan HS981 đổi vị trí, là trở về con đường cũ “đàm phán song phương” trong bí mật, con đường từng đem biết bao lợi lạc cho China cho tới ngày nay.

Vẫn những người cũ, mưu đồ cũ, cách thức cũ.

Liệu người dân Việt có lại ngoan ngoãn làm con cá nằm trên thớt, hớp từng hớp không khí cuối cùng?

Liệu người dân Việt có cấp thời hành động để Việt Nam bắt lại thời điểm cùng với Mỹ và các nước ASEAN thương lượng với China? Hay chịu chết chờ thời điểm đàm phán China-Mỹ trên đầu dân tộc?

Thục Quyên

Phạm Quang Nghị sang Mỹ làm gì?

bi-thu-thanh-uy-ha-noi-pham-quang-nghi-tham-hoa-ky 2nguyenhuuvinh

Bỗng nhiên, Phạm Quang Nghị sang thăm Mỹ, làm việc với các nghị sĩ Mỹ và quan chức Bộ Ngoại giao. Điều này gây nhiều câu hỏi trong cư dân mạng vốn quen lối suy nghĩ theo quy củ, nghĩa là theo logic thông thường trên thế giới loài người hay sử dụng.

Người ta hỏi nhau nháo nhác mà không có câu trả lời chính thức, người ta đồn đoán, nhận định, rồi cả hi vọng và thất vọng. Tại sao Phạm Quang Nghị lại có chuyến đi trái khoáy này?

Lẽ thường, anh ta chỉ là Bí thư Thành ủy Hà Nội, dù có là Ủy viên Bộ Chính trị đi chăng nữa, thì cũng chỉ là một “anh đầy tớ” cấp cao trong đảng của anh ta mà thôi, chẳng có tư cách ngoại giao ngoại thớt gì hết. Hoặc cứ cho là có thể theo kiểu tay ngang đi nữa, thì anh ta cũng chỉ hoạt động cho lĩnh vực và khu vực anh ta đang làm, đang ở. Nghĩa là chỉ là về những công việc của đảng hoặc là những việc chỉ liên quan đến cái Hà Nội, nơi anh ta có chức quyền mà thôi.

Chẳng hạn, anh Nghị có thể sang thăm ĐCS Mỹ (Nghe đâu vẫn còn mấy người là thành viên), gặp các đồng chí trong Đảng bộ CS Mỹ vùng Washington DC để bàn bạc về vấn đề Quốc tế Cộng sản đã làm và đang lâm nạn mà Hồ Chí Minh đã di chúc lại là: “Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”.

Hoặc anh ta sang gặp thủ lãnh đảng Dân Chủ Mỹ, để tìm hiểu xem cái gọi là “Dân chủ Mỹ” nó khác cái dân chủ trên Quốc hiệu Cộng hòa XHCNVN nó ra sao. Trong trường hợp cần thiết, thì anh ta có thể giảng cho họ một bài học khi mà nền dân chủ của Việt Nam đã gấp vạn lần dân chủ Mỹ. Hoặc anh ta sang gặp lãnh đạo đảng Cộng Hòa, để xem cái gọi là Cộng Hòa Mỹ nó khác cái Cộng Hòa ở Việt Nam ra sao…

Còn nếu với tinh thần hỏa giải hơn, thì có thể anh ta sang Mỹ, đến gặp một Bí thư Thành ủy nào đó của Việt Tân mà hoặc thăm hỏi, hòa giải, nhân kỷ niệm 10 năm ban hành Nghị quyết 36 về vấn đề kiều bào ra đời và “đi vào cuộc sống”. Hoặc nếu không ổn mà cần thiết thì đấu tranh “chống khủng bố” tận sào huyệt của cái đảng mà đảng của anh đã nhiều lần trao tặng danh hiệu “Khủng bố”. Ngày xưa, Nguyễn Minh Triết đã chẳng từng sang tận nơi gặp Obama để “phân hóa nội bộ” nước Mỹ đấy thôi.

Nếu anh Nghị đi Mỹ với tư càch như trên thì hẳn là chẳng ai thắc mắc làm gì, hoặc cùng lắm là anh đi thăm con, cháu đang gửi sang các nước tư bản để học xem nó giãy chết ra sao như các quan chức CS khác. Đằng này anh ta lại sang Mỹ, để làm việc với Thứ trưởng Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, rồi các nghị sĩ Mỹ… Trong các cuộc làm việc, không thấy anh ta nói về vấn đề của Hà Nội, mà to hơn, anh ta nói về các vấn đề của Việt Nam, thậm chí cả quan hệ Việt – Mỹ. Thế mới trái khoáy và cũng chính vì thế mà người dân mới có cái để đồn thổi, đoán già đoán non. Và đa số người dân thấy choáng.

Người dân thấy choáng, bởi vì nhiều điều.

Trước hết, bởi người dân ta, nhất là người dân Hà Nội đều biết Phạm Quang Nghị là ai.

Về cá nhân, từ Thanh Hóa bươn bả ra Hà Nội làm công tác của đảng, Phạm Quang Nghị đã có một thời được coi là ứng cử viên vào chân Tổng Bí thư Đảng CS, một ngôi vua thật sự của chế độ Cộng sản vốn vẫn lên án chế độ phong kiến là thối nát.

Thế nhưng, sự đời vốn nhiều khi không chiều lòng người và nói theo ngôn ngữ dân gian, thì “gieo gió, ắt phải gặt bão”. Ngay sau trận đòn oanh tạc hội đồng một cách man rợ và bẩn thỉu lên đầu TGM Giuse Ngô Quang Kiệt bằng cách cắt xén câu nói của ngài tại UBND TP Hà Nội, trận lụt lịch sử đã nhấn chìm Hà Nội chỉ trong một chiều mưa. Và cơn lụt lội đó, đã thể hiện được bộ máy chính quyền Hà Nội dưới tay Phạm Quang Nghị ra sao, nó có vì dân, vì nước như báo đài ra rả dạy đạo đức những ngày đánh TGM Hà Nội? Thực tế là sau khi dân tình chết cả hàng mấy chục, thì Phạm Quang Nghị vẫn cùng đám đàn em họp để “tổng kết vấn đề tôn giáo” mà thực chất là vụ cướp hai khu đất Tòa Khâm sứ và Thái Hà.

Hai ngày sau, ngày 2 tháng 11 năm 2008, Phạm Quang Nghị lên báo chí với lời phát biểu để đời: “Tôi thấy nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm…” và đến đây, thì sự phẫn nộ của người dân không còn có thể kìm nén hơn được nữa, buộc anh ta phải xin lỗi công khai.

Những tưởng với một con người, chỉ cần vậy thôi sẽ biết rõ tâm địa, tầm mức của mình có khả năng để lãnh đạo hay không. Và với cái đảng “quang vinh, đạo đức” mà đưa một người như vậy cầm đầu, e rằng hơi… cùn. Nên người ta cho rằng hi vọng của anh bị dập tắt bởi không biết ai đã bóp mồm bóp miệng anh để nói ra câu đó để trả món nợ vì đã dám “giơ chân đạp mũi nhọn”.

Về nghề nghiệp.

Nghề của anh ta là “nghề Đảng”. Trước khi về phụ trách việc đảng ở Hà Nội, anh ta là Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam. Năm 2006 anh ta về làm Bí thư Thành ủy Hà Nội, thì những năm sau đó anh ta nổi tiếng với những vụ Hà Nội dẫn đầu về tình trạng cướp đất tôn giáo trắng trợn để chia chác. Điển hình là vụ Tòa Khâm sứ và Giáo xứ Thái Hà.

Có thể nói, đó là những thất bại thảm hại của chính Phạm Quang Nghị nói riêng và của Đảng CSVN nói chung những năm tháng anh ta làm Bí thư Thành ủy Hà Nội.

Những hành động của Hà Nội đối với Công giáo thời gian qua, chỉ nói lên một điều: Chính sách khốc liệt, bạo lực, dối trá nhằm tiêu diệt Công giáo là điều không thể chối cãi. Nó được thực hiện bằng những biện pháp mất nhân tính và bất chấp mọi luật lệ, luật pháp và bằng mọi giá.

Tuy nhiên, quy luật tự nhiên là vậy, sức nén càng mạnh thì sức bật càng tăng. Ngay từ những năm 2007, chỉ một năm sau khi Phạm Quang Nghị cầm quyền những cuộc cướp bóc trắng trợn đất đai tôn giáo cho các tập đoàn phe nhóm để chia chác, đã làm dấy lên sự phản ứng mạnh mẽ. Và hại thay cho đảng, người công giáo đã buộc phải nhận lấy trách nhiệm đi đầu trong việc chống lại độc tài cướp bóc, bằng sự đoàn kết.

Và phong trào đấu tranh bất bạo động đã thực sự được thực hiện và “đi vào cuộc sống” như một quy luật tất yếu để tồn tại.

Dưới sự lãnh đạo của Phạm Quang Nghị với vai trò Bí thư Thành ủy, nhiều tình hình mới đã xuất hiện ở Hà Nội, thủ đô cả nước và lan rộng trong toàn quốc mấy năm qua. Nhiều sự việc lần đầu tiên xuất hiện ở Hà Nội.

Đó là lần đầu tiên, Hà Nội đã đẩy người Công giáo kết thành một khối hàng vạn người đối diện với dùi cui, súng đạn, chó và công an cũng như các vũ khí bạo lực khác. Nhưng cũng qua đó, nhà cầm quyền Hà Nội thấy được sự dũng mãnh, sự hào hùng trong việc bảo vệ Đức tin của người Công giáo Việt Nam. Họ đã bất chấp tất cả, kể cả cái chết để bảo vệ Đức tin của mình, Giáo hội của mình.

Lần đầu tiên, người dân Hà Nội vượt qua sợ hãi của mọi trò đe dọa, chia rẽ bấy lâu nay vẫn dùng đối với người dân. Người Công giáo Hà Nội được sự đùm bọc, hiệp thông không chỉ trong cả nước mà cả thế giới. Tất cả lên án một chính quyền bạo tàn và man rợ.

Lần đầu tiên, mọi trò thô bỉ, bẩn thỉu và hèn hạ độc ác như dùng dùi cui điện đàn áp giáo dân, xịt hơi cay vào phụ nữ trẻ em… được thi thố mà không có chút tác dụng gây sự sợ hãi nào.

Lần đầu tiên, nhà cầm quyền Hà Nội đưa ra lời đe dọa sắt máu “sẽ dùng biện pháp mạnh sau 17h ngày 27/1/2008” nhưng đã buộc phải dừng bàn tay bạo lực nhuốm máu của mình lại bởi sự hiệp thông trên toàn thế giới.

Lần đầu tiên, nhà cầm quyền Hà Nội sử dụng con bài “Quần chúng tự phát” để dùng côn đồ bao vây tu viện, Thánh thất, nhà thơ công khai đòi giết người, giết các lãnh đạo Giáo hội. Và thực tế thì từ đó đám “quần chúng tự phát” đã xuất hiện và “phát huy hiệu quả” khắp nơi, buộc nhà cầm quyền phải ngày đêm luyện tập trong cả nước để “chống bạo loạn và lật đổ”.

Lần đầu tiên, ở Việt Nam, người dân biết dùng mạng Internet để chống lại cơn bão truyền thông đỏ bẩn thỉu vu cáo, hù dọa, trù dập, bịa đặt với cuộc đấu tranh của mình. Giáo dân Hà Nội đã dẫn đầu trong việc tận dụng tiến bộ của mạng truyền thông quốc tế và dân sự để đấu tranh với chế độ độc tài. Chỉ với vài ba trang web, một số blog, nhưng các hình ảnh, tư liệu và thực chất cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình cũng như những đòn bẩn thỉu của nhà cầm quyền được vạch rõ, kịp thời trước dư luận thế giới. Nhiều phen làm cho thế lực cầm quyền bạo lực không kịp trở tay. Điển hình là màn cắt xén lời nói của TGM Giuse Ngô Quang Kiệt tại UBND TP Hà Nội bị vạch trần đã cho thấy bản chất của hệ thống cầm quyền và hệ thống tuyên truyền dối trá của nó.

Lần đầu tiên dưới thời Cộng sản, ở Hà Nội có dòng người dài cả chục km đi dự Tòa án xét xử mấy giáo dân vì “tội” đã phá một hàng rào xây dựng trái phép trên đất đai của mình. Đó cũng là lần đầu tiên, người Công giáo đã thực hiện quyền được biểu tình, quyền được đi dự các phiên tòa công khai xử kín và các khẩu hiệu nói lên nguyện vọng của minh đã lần đầu tiên công khai xuất hiện trên đường phố Hà Nội.

Không chỉ ở Hà Nội mà trong cả nước, thậm chí là trên toàn thế giới, lần đầu tiên có hai vườn hoa xây dựng cấp tốc nhằm cướp đoạt bằng được đất đai của Giáo hội Công giáo khi bị bẽ gãy về luật và lý. Bất chấp bão lụt và ngày đêm, hai vườn hoa hoàn thành trong một tuần. Một kỷ lục về thời gian và là kỷ lục về sự vô liêm sỉ của một nhà cầm quyền được lãnh đạo bởi một đảng luôn tự xưng là “đạo đức, văn minh”.

Và cũng là lần đầu tiên, chế độ toàn trị đươc thực hiện bằng chính sách công an trị dựa trên sự sợ hãi vốn có của người dân đã bị thất bại thảm hại ngay giữa Thủ đô.

Có lẽ, với những “thành tích” lẫy lừng như vậy, Phạm Quang Nghị được sang Mỹ để nhân rộng mô hình này chăng?

Hà Nội, Ngày 25/7/2014

@rfa