Điểm sách “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối ” của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê

Hoàng Nhất Phương

Mặc dù chỉ là quyển sách ghi chép lại từ những cuộc đàm thoại được thu âm, nhưng “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” được xem là tài liệu đặc biệt của Giáo Sư Trần Đức Thảo nói về con người của Hồ Chí Minh “một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời,” [1] và “là một con khủng long ba đầu, chín đuôi.” [1] Giáo Sư Trần Đức Thảo khẳng định:

“Nếu không dám khui ra những sai trái lịch sử của ‘ông cụ,’ không dám đưa ra ánh sáng tội lỗi của Marx thì không bao giờ thoát ra được tình trạng bế tắc chính trị độc hại như hiện nay ở nước ta.” [1]

Dưới cái nhìn của Giáo Sư Trần Đức Thảo, Mao Trạch Đông và Trung Cộng trực tiếp điều khiển “ông cụ” [2] vì muốn nhuộm đỏ Việt Nam. Cộng Sản Việt Nam tôn sùng Trung Quốc, chọn lý thuyết của Marx xây dựng chế độ, chọn chiến tranh xóa hiệp định hòa bình, để phát triển xã hội chủ nghĩa và thống nhất đất nước. Khi bị Đệ Tam Quốc Tế là Liên Xô đuổi về Viễn Đông, “ông cụ” đã vào làm việc cho Bát Lộ Quân, tuyên thệ gia nhập đảng Cộng Sản Trung Quốc, được Mao Trạch Đông ưu ái. “Ông cụ” dùng mọi thủ đoạn loại bỏ các đối thủ như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ…, trở thành Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch nước vào năm 1945.

Theo đánh giá của Giáo Sư Trần Đức Thảo, các nhà nghiên cứu nước ngoài khi viết về Hồ Chí Minh đã bị hào quang huyền thoại của bộ máy tuyên truyền làm chói mắt, không thể nhận biết mặt thật của ông ta. “Chương 12: Giải Mã Lãnh Tụ” [từ trang 258 đến trang 328] trong quyển “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” ghi chép lại ba lần Giáo Sư Trần Đức Thảo trực tiếp gặp “ông cụ.” Những lần gặp gỡ này giúp Giáo Sư Trần Đức Thảo nhận biết “ông cụ” là người có “cuồng vọng làm lãnh tụ.” [1] Di chuyển và sinh sống khắp mọi nơi ở hải ngoại, “ông cụ” có hàng trăm tên và bí danh khác nhau. Đây chính là điểm then chốt để nhận ra tham vọng của “ông cụ” – người không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn nào, miễn là đạt được mục đích riêng.

Giáo Sư Trần Đức Thảo nhận xét:

“Ông cụ” là một con người cực kỳ vị kỷ, mang mặc cảm tự tôn tuyệt đối… “Ông cụ” còn có tính đa nghi như Tào Tháo ấy… Anh phải biết là cho tới nay, những ai đã từng coi thường “Người,” từng tỏ ra ngang hàng với “Người,” thì sau đều đã vĩnh viễn bị loại ra khỏi tầm nhìn của “Người.” Không ít người đã mất mạng, mất cả xác vì dám có ứng xử tay ngang như thế đấy… Người ta ưa kể cho nhau nghe rằng: Tạ Thu Thâu đã chết mất xác vì câu nói: “Ngoài Bắc có Cụ, trong Nam có… tôi” …!”[3]

Vì thần phục thiên triều phương Bắc,”ông cụ” sao y bổn chánh chủ trương khủng bố tàn bạo của Trung Cộng vào Việt Nam, điển hình là chiến dịch Chỉnh Huấn, Cải Cách Ruộng Đất…Đảng Cộng Sản Việt Nam của “ông cụ” đã có rất nhiều hành động sai lầm. Lỗi lầm kinh hoàng đẫm máu nhất là cuộc Cải Cách Ruộng Đất; đây không không chỉ là cuộc thảm sát hàng chục ngàn người dân vô tội, mà còn khiến luân thường đạo lý trong xã hội sụp đổ, bởi vì Việt Cộng dùng chính sách đấu tố buộc người thân quen phải đứng ra chỉ chứng, vu cáo những người vô tội trong thân tộc, trong xóm làng.

Giáo Sư Trần Đức Thảo tìm cách thuyết phục giới lãnh đạo cộng sản “không nên chọn chiến tranh, mà phải dồn mọi năng lực vào việc xây dựng hòa bình…,” [3] nhưng không thành, bởi vì từ Hồ Chí Minh đến Trường Chinh, Lê Duẫn…đều hiếu chiến, khát máu. Chính vì thế họ đã phát động chiến dịch xâm chiếm Miền Nam, không hề nghĩ đến cái giá phải trả. Hậu quả trước mắt cho thấy, dù chiến tranh đã kết thúc, xã hội Việt Nam vẫn không thể nào khôi phục được truyền thống đạo đức và nhân bản của tiền nhân – những giá trị tinh thần này đã bị vùi chôn trong biển lửa, trong màu cờ đỏ nhuộm máu hằng muôn ngàn người vô tội.

Giáo Sư Triết Học Trần Đức Thảo [1997 – 1993] đậu Thủ Khoa bằng Thạc Sĩ Triết Học (Arégation de Philosopie) tại Pháp năm 1942 lúc mới 26 tuổi. Ông từng thay mặt sinh viên và trí thức Việt Nam du học tại Pháp viết thư gửi về Tổ Quốc, bày tỏ tình yêu nước khi Việt Nam giành độc lập vào tháng 8 năm 1945.

*. Năm 1952: Trần Đức Thảo về chiến khu Việt Bắc. Tham gia kháng chiến chống Pháp năm1952.

*. Năm 1955: Trần Đức Thảo trở thành Giáo Sư Triết Học, và là Phó Giám Đốc Đại Học Sư Phạm Văn Khoa, Chủ Nhiệm Khoa Lịch Sử Đại Học Tổng Hợp Hà Nội – nay là Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn.

Giáo Sư Trần Đức Thảo bị kết tội dính líu đến phong trào Nhân Văn Giai Phẩm khi công bố hai bài báo liên quan đến một số vấn đề về tự do, dân chủ. Sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, ông bị mất chức Phó Giám Đốc Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội, bị cấm giảng dạy, bị chặt đứt mọi liên hệ với thế giới bên ngoài, bị cô lập ngay giữa đồng bào của ông. Giáo Sư Trần Đức Thảo phải dịch thuật để mưu sinh, phải bán những bộ tự điển để có tiền chi dùng, cuộc sống vô cùng khốn khó. Năm 1991 ông sang Pháp chữa bệnh, qua đời tại Paris. Thi hài được đưa về nước, an táng tại Nghĩa Trang Văn Điển, Hà Nội.

Khác với Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường – tác giả quyển hồi ký viết bằng Tiếng Pháp “Un Excommunie,” bản dịch Việt Ngữ “Kẻ Bị Khai Trừ” của Nguyễn Quốc Vĩ, do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương phát hành năm 2011 – Giáo Sư Trần Đức Thảo không để lại một quyển sách nào kể về cuộc đời đau khổ đầy sóng gió của ông, trong suốt 40 năm sống dưới chế độ Cộng Sản. Quyển sách “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” dày 427 trang gồm 16 phần, và một phần Phụ Lục, do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ phát hành năm 2014, là công trình ghi chép của ký giả Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, từ những cuốn băng ghi âm lời nói chuyện của Giáo Sư Trần Đức Thảo với những người bạn thân, trong thời gian ông ở Pháp năm 1991. “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” là tiếng nói duy nhất của Giáo Sư Trần Đức Thảo, nhờ đó người đọc có thể hiểu và cảm thương quãng đời bị cô lập của ông. “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” còn là di ngôn trung thực của người trí thức Trần Đức Thảo kể về “ông cụ,” – một kẻ đầy tham vọng làm lãnh tụ, hiếu chiến, khát máu, đáng bị lịch sử lên án.

Hoàng Nhất Phương

8:24pm Chủ Nhật ngày 6 tháng 7 năm 2014

[1]. Trích từ “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối.”

[2]. Chữ dùng của Giáo Sư Trần Đức Thảo.

[3]. Chương 12: Giải Mã Lãnh Tụ.

Cực lực phản đối Thượng viện Mỹ cầm đèn chạy trước ô tô!

Vo Văn Ve
Dư luận viên Vo Văn Ve nhà tôi mấy tháng nay buộc phải im hơi lặng tiếng, mặc dù vụ giàn khoan HD 981 của Trung Quốc có vẻ ồn ào, bởi làm dư luận viên mà lên tiếng lúc này thì rất dễ bị gán cho nhiều tội như Hán tặc, thân Tàu, rồi thì là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống…

Sự đời thật là rắc rối. Nhưng theo quan điểm riêng của Vo Văn Ve tôi thì câu chuyện giàn khoan Trung Quốc vừa qua cũng chẳng có gì phải ầm ĩ. Tình hình Biển Đông cũng chưa có gì mới!

Ấy thế nhưng những phần tử quá khích, được sự hỗ trợ từ đằng sau của các thế lực thù địch, đã lớn tiếng đòi hỏi Quốc hội Việt Nam phải ra một Nghị quyết về Biển Đông. Rất may là đa số đại biểu Quốc hội của chúng ta đã rất bản lĩnh và sáng suốt, cương quyết không đồng ý với một nghị quyết có nội dung tai hại, chắc chắn sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt – Tàu. Kết quả là Quốc hội nước ta chỉ ra một Thông Cáo (1) về tình hình Biển Đông mà thôi. Thật đáng đời cho các thế lực thù địch!

Ấy thế nhưng ngày 10/7/2014 vừa qua, chẳng hiểu vì lý do gì, bỗng dưng Thượng nghị viện Hoa kỳ lại ban hành Nghị quyết S.RES.412 (2) nhằm “Khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Chính phủ Hoa Kỳ đối với tự do hàng hải và thi hành luật pháp quốc tế về biển và bầu trời trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, và đối với các giải pháp ngoại giao hòa bình để giải quyết các khiếu nại và tranh chấp về lãnh thổ và vùng biển”.

Trong nghị quyết kỳ lạ kia của Thượng nghị viện Mỹ có những lời, những đoạn nói rất chi là không hay về Trung Quốc:

“ Ngày 1 tháng 5 năm 2014, Công ty Năng lượng quốc gia của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đặt giàn khoan HD 981 đi kèm 25 tàu Trung Quốc, trong lô 143, cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý.

Từ ngày 1 đến ngày 9 tháng 5, số lượng các tàu của Trung Quốc hộ tống giàn khoan HD 981 tăng lên hơn 80 tàu, trong đó có 7 tàu quân sự, tăng cường tuần tra và đe dọa tàu Cảnh sát biển Việt Nam, vi phạm COLREGS, cố tình đâm vào nhiều tàu thuyền Việt Nam, sử dụng máy bay và vòi rồng để ngăn cản tàu thuyền Việt Nam.

Ngày 5 tháng 5 năm 2014, Cục An toàn hàng hải Trung Quốc thành lập một khu vực cấm với bán kính 3 hải lý xung quanh HD 981, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn hàng hải trong khu vực, vi phạm nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước năm 1982 của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc và hành động hỗ trợ cho hoạt động của giàn khoan HD 981 kể từ ngày 1 tháng 5 năm 2014 đã không tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó các quy tắc của Công ước năm 1982 của Liên hợp quốc về Luận Biển, tạo ra một nỗ lực đơn phương để thay đổi hiện trạng bằng vũ lực, vi phạm Tuyên bố năm 2002 về Cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”.

“Kêu gọi Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa rút giàn khoan HD 981 và các lực lượng hàng hải liên quan ra khỏi vị trí hiện nay, tránh các hoạt động hàng hải trái với COLREGS, ngay lập tức quay về nguyên trạng như đã tồn tại trước ngày 1 tháng 5 năm 2014”

Rõ ràng, những nội dung xa lạ kia, tuy được thể hiện dưới giọng điệu ngang ngược của một kẻ bề trên, thể hiện cao nhất ở 3 từ ‘ngay lập tức’, nhưng chúng đều vô giá trị.

Không bao giờ chúng có một chút mảy may ảnh hưởng tới chính sách cường quốc biển của Trung Quốc, cũng như tới Giấc mơ Trung Hoa của Tập Chủ tịch. Chúng càng không thể lay chuyển được mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa Trung Quốc và các nước chư hầu.

Tập Chủ tịch, vị lãnh tụ kính yêu của Trung Quốc và các nước chư hầuHỡi các ngài đang ngồi ở Thượng nghị viện Mỹ! Các ngài đang làm những việc ngốc nghếch, thậm chí điên rồ. Trong khi Quốc hội Việt Nam chỉ ra được có một bảnThông Cáo nhẹ nhàng thì các ngài ngối tại phòng máy lạnh tít bên kia Thái Bình Dương lại giở chứng ban hành hẳn một Nghị quyết về Biển Đông.

Vì sao trong Nghị quyết tào lao kia, các ngài không dám đưa ra một vấn đề mang tính nguyên tắc là “Kiên trì đấu tranh, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước Hoa Kỳ; kiên trì bảo vệ, giữ vững quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước Hoa Kỳ – Trung Quốc”?

Xin báo cho các ngài biết: Nếu thiếu môi trường hòa bình, ổn định thì đất nước Hoa Kỳ của các ngài khó mà phát triển. Còn nếu thiếu quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước Hoa Kỳ – Trung Quốc thì nhân dân Hoa Kỳ của các ngài khó mà chạm tay được tới hạnh phúc. Không tin, các ngài cứ thử hỏi bất kỳ người dân Việt Nam nào thì sẽ rõ.

Lan man thế hơi nhiều. Điều quan trọng nhất tôi muốn nhắn nhủ đến các ngài là hãy quay về với những vấn đề của nước Mỹ đi, đừng bao giờ ban hành những nghị quyết tào lao vớ vẩn vô giá trị như thế nữa. Đừng có mà cầm đèn chạy trước ô tô, nhá!

Ngay trong tối hôm nay, Hội Dư Luận Viên chúng tôi sẽ ra một bản Thông Cáo với tiêu đề ‘Cực lực phản đối Thượng Nghị viện Mỹ’. Xin báo để các ngài biết!

Tập Chủ tịch muôn năm!

VO VĂN VE

CHÚ THÍCH:

1/ THÔNG CÁO CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM:

Quốc hội Việt Nam khẳng định việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam; vi phạm luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982; vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC); trái với thỏa thuận cấp cao giữa hai Đảng, Nhà nước Việt Nam-Trung Quốc. Tình hình biển Đông căng thẳng. Hòa bình và an ninh đang bị đe dọa.

Quốc hội Việt Nam cùng với toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài bày tỏ sự lo ngại và kiên quyết phản đối những vi phạm, sai trái của phía Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng biển của Việt Nam. Quốc hội cũng bày tỏ lòng biết ơn đối với các tổ chức, cá nhân, dư luận quốc tế đã đồng tình, ủng hộ Việt Nam.

Quốc hội tin tưởng và nhất trí cao với chủ trương của Đảng, Nhà nước đã lãnh đạo quân dân ta có nhiều biện pháp kiên quyết trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đồng thời kiên trì đấu tranh, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; kiên trì bảo vệ, giữ vững quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước Việt Nam-Trung Quốc.

Diễn biến tình hình trên biển Đông còn phức tạp và khó lường. Quốc hội đề nghị Chính phủ, các ngành, các cấp cùng đồng bào cả nước đoàn kết, thống nhất và đặc biệt quan tâm giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại của đất nước./.

Nguồn: http://vov.vn/chinh-tri/toan-van-thong-cao-cua-quoc-hoi-phan-doi-hanh-dong-cua-trung-quoc-334464.vov

2/ Nghị quyết S.RES.412: https://beta.congress.gov/bill/113th-congress/senate-resolution/412/text

Nguyễn Thanh Giang – “Mà lòng đã chắc những ngày một hai”

Nguyễn Thanh Giang
Tôi mượn lời Thúy Kiều nghênh tiếp người anh hùng Từ Hải: “Rằng bây giờ mới thấy đây/ Mà lòng đã chắc những ngày một hai” để bầy tỏ nỗi hoan hỉ đón mừng một sự kiện, một nhân vật:

Về một sự kiện –

clip_image0013.jpg

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng (DR)

Ngày 4 tháng 7 năm 2014 Hội Nhà báo độc lập Việt Nam (HNBĐLVN) tên tiếng Anh là Independent Journalists Association of Vietnam (IJAVN) công khai tuyên bố thành lập nhằm “Làm thế nào để báo chí và các nhà báo cất được tiếng nói theo đúng nghĩa của hai từ “tự do”? Làm thế nào để báo chí được làm đúng thiên chức của mình, phản biện và xây dựng một xã hội công bằng, một đất nước thật sự độc lập tự chủ, không cúi đầu hoặc run sợ trước hiểm họa ngoại xâm đang quá cận kề” (Tuyên ngôn Thành lập Hội).

Việc chọn ngày 4 tháng 7 để ra Tuyên bố được ông Phạm Chí Dũng – Chủ tịch Hội – giải thích: “Ý nghĩa ấy gắn với bản tuyên ngôn độc lập năm 1776 vào thời khai sinh ra Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tính chất độc lập của bản tuyên ngôn này lại rất phù hợp với tính cách độc lập của Hội các nhà báo tự do. Nếu Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hướng đến một sự tách rời hoàn toàn khỏi ý đồ thực dân của nước Anh thì nhiệm vụ của báo giới độc lập Việt Nam vào lúc này và trong những năm tới cũng không khác biệt, tức không chỉ độc lập với các hội đoàn nhà nước mà còn phải đóng góp cho quốc gia để gìn giữ nền độc lập nước nhà trước họa xâm lăng Trung Quốc”.

Ông Nguyễn Công Bằng, chủ tịch Đảng Vì dân Việt Nam gửi lời chúc mừng và đánh giá: “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam là một tập hợp xã hội dân sự mới nhất. Tuy nhiên Hội này không mang tính non trẻ vì, nhìn vào thành phần sáng lập và điều hành, chúng ta thấy được sự tham gia của những người đã và đang có nhiều đóng góp lớn cho công cuộc dân chủ hóa đất nước.

Với tập hợp ban đầu bao gồm nhiều cây bút có xuất xứ khác nhau, kể cả những định hướng đấu tranh khác nhau, sự thành hình Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam là một biểu hiện lớn của tinh thần dân chủ; trong đó mọi sự khác biệt được tôn trọng để cùng góp sức xây dựng một thành quả chung”.

Cùng ngày ra Tuyên bố Thành lập Hội, “Việt Nam Thời báo” – trang báo do chính Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chủ xướng và điều hành – cũng đã ra mắt độc giả khắp nơi.

Trong cuộc phỏng vấn với Truyền thông Chúa Cứu Thế, ông Phạm Chí Dũng – Chủ tịch Hội tuyên bố:

“Chúng tôi muốn so sánh với tờ Bangkok Post. Cố gắng trong 10 năm sắp tới trang mạng của Hội phải so sánh được với Bangkok Post, hoặc hơn nữa như tờ Straits Times của Singapore, hoặc phải nghĩ đến những viễn cảnh xa vời như Le Monde của Pháp”.

Nhiệt liệt hoan nghênh người bạn mới của “Bán nguyệt san Tổ Quốc”. Từ nay Lực lượng Dân chủ trong nước có thêm một Tiếng Nói bên cạnh “Tự do Ngôn luận”, “Tổ Quốc”, “Bauxite Viêt Nam”, “Diễn đàn Xã hội Dân sự”.

Ra đời ngày 15 tháng 9 năm 2006, tập san Tổ Quốc đã tồn tại được gần 8 năm, phát hành được 184 số dưới ba hình thức: đăng trên website, gửi đến các hộp thư email, ấn hành báo giấy. Báo giấy “Tổ Quốc” tuy chưa được phát hành chính thức nhưng nhờ nguồn tài chính hỗ trợ từ Tập hợp Dân chủ Đa nguyên của chính trị gia Nguyễn Gia Kiểng có lúc ấn bản cũng đã lên tới trên dưới 800. Cách làm như sau: Chúng tôi trang bị computer, máy in, máy photocopy cho một số địa chỉ ở các thành phố lớn và một số tỉnh để anh em nhân bản và đem tán phát bí mật. Nhiều người, đến nay, đã trở nên “nghiện” “Tổ Quốc” đến nỗi hốt hoảng mỗi khi thấy báo ra chậm hoặc chậm nhận được báo (vì tâm lý e ngại thường trực, sợ có trục trặc gì hoặc báo đình bản). Trong số “nghiện” “Tổ Quốc” có rất nhiều lão thành cách mạng, kể cả một số cán bộ Đảng đương chức.

Vui mừng thấy HNBĐLVN và “Việt Nam Thời báo” đường hoàng, đĩnh đạc tuyên bố ra mắt công khai mà cho đến nay vẫn được an toàn chứ không phải chui lủi khốn khổ như “Tổ Quốc” buổi sinh thành. Ngày ấy tôi phải bí mật gặp gỡ từng thành viên định đưa vào danh sách Ban Biên tập với thỏa thuận: Hễ bị công an truy bức thì cứ nói mình chưa thật sự nhận lời mà đã bị ghi danh, miễn đừng chính thức tố cáo. Quả nhiên, tất cả đều bị công an triệu tập hoặc đến nhà truy vấn, dọa dẫm. Tuy nhiên, chỉ trừ một người ngụy phản, tất cả đều chung thủy với “Tổ Quốc”. Đại tá Phạm Quế Dương được mời đứng vào vị trí quan trọng nên bị khủng bố mạnh nhất. Mặc dầu Đại tá rất kiên cường nhưng vì cả vợ và con Đại tá đều không chịu nổi sức uy hiếp, lăng nhục rất tàn bạo nên người gọi điện, người viết thư, người đến tận nơi thuyết phục buộc tôi đành rút tên Phạm Quế Dương ra khỏi tờ báo. Vẫn không xong, vì nhiều người khác cũng lâm cảnh lao lung rất đáng thương cảm, đến nỗi tôi phải rút tên tất cả để chỉ còn ghi: “Nhóm trí thức Dân chủ Việt Nam trong và ngoài nước phối hợp thực hiện”.

Nay thì, theo nhận định của ông Nguyễn Công Bằng: “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam là một trắc nghiệm nhiều mặt và nhiều thành phần. Nếu nhà nước Việt Nam đàn áp mạnh những nhà báo độc lập, họ sẽ phải trả một cái giá không nhỏ cho hành động phủ nhận quyền tự do ngôn luận — điều mà nhà cầm quyền đang cố gắng né tránh, ít nhất là ở lúc này. Không những thế, sự đàn áp đoàn thể tân lập này sẽ cho thế giới thấy được tính chất độc tài của nhà nước đương quyền, khi họ nhất quyết không chấp nhận một tổ chức xã hội dân sự hoàn toàn ôn hòa

Nói vậy nhưng rồi ông NCB vẫn không thể không quan ngại: “Sự tập hợp các cây bút nổi tiếng và thành hình Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam là một nỗ lực chắc chắn sẽ gặp nhiều thử thách cam go. Biết được điều này và vẫn quyết tâm đi tới, để tồn tại và sinh hoạt một cách hiệu quả, thì tập thể này quả là đầy dũng cảm, đáng được trân trọng và kính phục.

Về một nhân vật –

Nhân sinh nhật vừa qua, tôi có chia sẻ với một số thân hữu mấy vần thơ buồn “Ơ kìa, sao đà sắp tám mươi!/ Mắt đã mỏi, bước chân chừng ngắn lại/ Đêm chỉ còn hạt sao rơi vãi/ Ngày chỉ còn nắng quái chiều hôm”. Đoạn vĩ thanh, bài thơ có cố rướn lên: “Nhưng con tim cứ thúc nhịp trống dồn/ Mạch máu rân rân như còn vượt thác/ Trang giấy tãi chong chong, sao ngủ được/ Có đàn voi rậm rịch chạy trong đầu”. Nhưng, dẫu sao tôi cũng đã như một “Lão ô bách tuế”. May thay, bên cạnh tôi đã từng sải cánh một đàn “Phượng hoàng sơ sinh”: Trần Huỳnh Duy Thức, Vi Đức Hồi, Lê Quốc Quân, Đỗ thị Minh Hạnh, Phạm Hồng Sơn, Lê thị Công Nhân, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Tiến Trung… Nay lại có thêm chú phượng hoàng Phạm Chí Dũng đang vượt lên hàng đầu.

Sinh năm 1966, từng theo học trường Học viện Kỹ thuật Quân sự nhưng Phạm Chí Dũng lại có cả bằng Tiến sỹ Kinh tế.

Nhiều nguồn tin riêng cho biết Phạm Chí Dũng đảm nhận nhiều vị trí công tác cả công khai lẫn bí mật. Về mặt công khai, trước đây Phạm Chí Dũng thuộc Ban Dân vận nhưng vai trò kín là cán bộ Ban An ninh Nội chính Thành ủy Tp. Hồ Chí Minh, cộng tác viên của Tổng Cục Hai. Trong vai trò an ninh nội chính này, mặc dù không phải là trợ lý, Phạm Chí Dũng vẫn thường gặp gỡ báo cáo và tháp tùng với ông Trương Tấn Sang lúc ấy là Bí thư Thành phố HCM.

Sau khi ông Trương Tấn Sang ra trung ương, Phạm Chí Dũng qua công tác bên Ban Tôn giáo một thời gian. Vợ của Phạm Chí Dũng tên là Khanh hiện công tác ở Ban Tôn giáo. Phạm Chí Dũng làm việc ở Ban Tôn giáo một thời gian và sau đó trở lại vị trí An ninh Nội chính

Ngày 17-7-2012, Cơ quan an ninh điều tra Công an TP. HCM đã bắt, khám xét khẩn cấp nơi ở, nơi làm việc của Phạm Chí Dũng với tội danh “Câu kết với một số tổ chức phản động lưu vong ở Mỹ, biên soạn nhiều tài liệu có nội dung bịa đặt, xuyên tạc, phá hoại nội bộ nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”

Sau 6 tháng giam cầm, Phạm Chí Dũng được trả tự do với một quyết định rất lý thú: “Đình chỉ điều tra đối với ông Phạm Chí Dũng. Ông Phạm Chí Dũng có thể trở lại công tác như cũ”.

Phạm Chí Dũng đã từ bỏ Đảng với lý do: “Tôi tự nhận thấy Đảng Cộng sản không còn đại diện và phục vụ cho quyền lợi của đại đa số nhân dân, và điều đó đi ngược với tôn chỉ mục tiêu ban đầu của Đảng cùng lời thề của tôi khi vào Đảng. Do vậy tôi không còn phù hợp với vai trò và nghĩa vụ một đảng viên trong Đảng Cộng sản”.

Phạm Chí Dũng còn được xem như một nhà văn, nhà phê bình có tài. Ông bắt đầu sáng tác từ năm 1986, đã xuất bản các tác phẩm: tập truyện ngắn “Những bông hoa hoang dã” (1993), tập truyện ngắn “Tự thú” (1994), tập truyện ngắn “Những chiếc bồn tắm định mệnh” (2005), tiểu thuyết “Cuộc phiêu lưu của linh hồn cầm cố” (2005), tiểu thuyết “Ngài nghị sĩ” (2006). Ngoài ra, nhà văn Phạm Chí Dũng còn có tập phê bình sân khấu “Vẫn ngôi nhà trái tim tan vỡ ấy” (2004) tập kịch bản sân khấu “Thuyền chở nước Côlômba” (2005), và các tập nghiên cứu “Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chí Minh” (2005), “Viện trợ phi chính phủ ở Việt Nam: con cá hay cần câu?” (2006) “Tự sự chứng khoán – Những gam màu ám ảnh” (2007)

Ông còn viết báo với các bút danh: Việt Thắng, Viết Lê Quân, Trường Sơn…

Phạm Chí Dũng đúng bằng tuổi con trai tôi nhưng tôi không chỉ yêu quý mà có thể nói là còn kính nể bởi tài năng và sức làm việc phi thường của anh. Hơn thế nữa, chúng tôi lại đã từng “Đồng thanh tương ứng/ Đồng khí tương cầu”.

Về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc tôi từng đã viết nhiều bài, trong đó có: “Tỉnh táo trong quan hệ quốc tế”, “Đáng sợ nhưng quyết không khuất phục”, “Rất đáng phàn nàn về ông Nguyễn Phú Trọng”, “Nguy cơ Lê Chiêu Thống hiện đại”, “Việt Nam cần có vũ khí nguyên tử” “Nắm tay Trung Quốc, cảnh giác Đại Hán”, “TBT Nguyễn Phú Trọng chưa nên đi Trung Quốc”, “Tầm cao chiến lược là cái chi chi”, “Trung Quốc trong nhãn quan Nguyễn Du”, “Trung Quốc đang xâm lược Việt Nam”, “Phải làm gì khi Trung Quốc nhất định chiếm Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của ta?”, “Lại nói về nguy cơ Lê Chiêu Thống hiện đại”, “Mấy nghi vấn đối với Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc do ông Nguyễn Phú Trọng ký kết”, “Hợp tác với Hoa Kỳ là yêu cầu bức thiết không chỉ vì nước giầu dân mạnh mà còn vì độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ”, “Tưởng niệm hải chiến Hoàng Sa và chiến tranh Biên giới”, “Hữu nghị nhưng phải cảnh giác”, “Không liên minh với Hoa Kỳ để chống Trung Quốc, nhưng cần/phải liên minh với Hoa Kỳ để giữ Biển Đông”, “Dầu khí ở Biển Đông”, “Bộ trưởng Quốc phòng chống lại Thủ tướng”, “Lý thắng phải là lý của kẻ mạnh”…

Thấy tôi khẳng định chỉ có khẩn cấp thiết lập Liên minh Quân sự với Hoa Kỳ và Nhật Bản mới mong giữ được Biển Đông, một số người chưa thông thấu lắm, Phạm Chí Dũng đã giảng giải thêm:

Chỉ có thể xây dựng một quan hệ chiến lược về quốc phòng với Mỹ, người Việt Nam mới nhận được sự hỗ trợ đủ mạnh để đối phó với tham vọng khống chế Biển Đông và cả đất liền của Trung Quốc. Bằng chứng sống động và gần gũi nhất là mới vào cuối tháng 4/2014 ngay trong chuyến công du của Tổng thống Barack Obama đến Philippines, hai quốc gia này đã ký kết với nhau một bản hiệp ước về tương trợ quốc phòng”.

“Ngay lập tức, những động tác “ném đá dò đường” của Trung Quốc đối với các đảo nhỏ của Philippines lắng hẳn đi, còn Manila tuyên bố không ngần ngại tiếp tục chương trình kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, và trong thực tế họ đã bắt giữ tất cả những tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng lãnh hải Philippines”.

“Chúng ta đã thấy bài học của Nhật Bản và Hàn Quốc là những quốc gia đã cộng tác quân sự với Mỹ từ hơn ba chục năm qua. Còn Philippines cũng là một đồng minh quân sự và được Mỹ bảo vệ cho đến giờ này. Tất cả những quốc gia ấy có bị Trung Quốc hiếp đáp như đối với Việt Nam không? Câu trả lời là không hoặc rất ít. Âu đó cũng là một bài học phản tỉnh cho Nhà nước Việt Nam khi họ chọn quan hệ đu dây mà chẳng đi tới đâu, thậm chí còn bị lật ngửa như mới đây”. (Trả lời phỏng vấn RFI ngày 13/6/14).

Vài người nào đó lại e ngại Hoa Kỳ sẽ “không thèm” liên minh với ta. Tôi định viết bài phân tích cho rõ thêm thì Phạm Chí Dũng đã đỡ lời rất sáng tỏ:

Về phía Mỹ, Tổng thống Obama lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ đã đưa ra lời tuyên bố cứng rắn với Trung Quốc về chuyện khả năng Mỹ có thể đưa binh lực tới khu vực Biển Đông để giải quyết những xung đột vũ trang có thể phát sinh tại khu vực và cũng là để bảo đảm cho những lợi ích của người Mỹ về vấn đề tự do hàng hải, an ninh hàng hải ở khu vực Biển Đông. Đó là một động thái khá kiên quyết về phía Mỹ theo một lối mở mà như tư lệnh của quân đội Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương – ông Locklear – đã tuyên bố, đã bắn tiếng trên Reuters là phía Mỹ có thể xây dựng một đối tác chiến lược với phía Việt Nam. Mà trở thành đối tác chiến lược thì anh có thể hình dung nó cần thiết với Việt Nam thế nào rồi, bởi vì trước đây ông Trương Tấn Sang chưa thể hy vọng việc trở thành một đối tác chiến lược mà chỉ là đối tác toàn diện mà thôi. Đối tác chiến lược ở đây phải nói tới là chiến lược về an ninh và về quốc phòng, đó chính là điều mà người Việt Nam cần nhất hiện nay, hơn cả Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TTP). Chỉ có đối tác chiến lược đầy đủ với Hoa Kỳ mới có thể tạo ra một hàng rào chắn, một lá chắn đủ mạnh, đủ xung lực, đủ hỏa lực để ngăn chặn hạm đội Nam Hải của Trung Quốc. Các động thái gây hấn của Trung Quốc là không chỉ ở Biển Đông mà còn ở biên giới phía Bắc, đó là điều cực kỳ quan trọng đối với Việt Nam. Nếu như Việt Nam không thể đạt được điều đó thì có thể nói là không có một điều gì, không có một con người nào, không có tài sản của một quan chức nào ở Việt Nam có thể an toàn.. (Trả lời nhà báo Trần Quang Thành 7/6/14)

Nếu không can thiệp mà để cho Trung Quốc tự tung tự tác, Mỹ sẽ gặp bất lợi lớn về tự do hàng hải, an toàn hàng hải ở Biển Đông và do đó có thể sẽ bị phá sản phần lớn chính sách xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ. Ai cũng biết rằng Biển Đông có vị trí như một cửa ngõ cho giao thương hàng hải và nếu cần có thể khống chế hoạt động quân sự của cả khu vực phía Nam và các nước xung quanh. Hiện nay cuộc đua lớn nhất giữa Trung Quốc và Mỹ chính là điểm xung yếu này. Do vậy nếu bị Trung Quốc qua mặt ở Biển Đông, mục tiêu an toàn hàng hải của Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng, vai trò của Hạm đội 7 cũng có không ý nghĩa đủ lớn, làm cho chính sách của Mỹ về bảo vệ an ninh thế giới và cũng là an ninh của công dân Mỹ sẽ lạc điệu.

Lời bắn tiếng về mối liên kết “đối tác chiến lược” với Việt Nam của Tư lệnh quân đội Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Locklear là một minh chứng khá hoàn hảo về việc người Mỹ hoàn toàn không bỏ qua ý đồ phong tỏa Biển Đông của Trung Quốc” (Trả lời phỏng vấn RFI)

Nghe diễn văn của Phùng Quang Thanh ở Shangri La, không nén nổi sự khinh bỉ tột độ, tôi đã nặng lời: “Có người bảo diễn văn của Phùng Quang Thanh đã được Bộ Chính trị duyệt từng câu từng chữ. Tôi rất không tin. Trong 16 con người ấy dù có những kẻ Lú thì cũng còn phải có Người khôn chứ. Đóan rằng, trước khi đi, đồng chí Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương chỉ thỉnh thị ý kiến ông Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Cho nên cái văn khi ở đây mới ám phải mùi tử khí khăm khẳm đến thế!”.

Mấy hôm sau, tôi nhận được sự đồng tình của Phạm Chí Dũng:

Nhưng Hội nghị Shangri-la đã chứng tỏ bản lĩnh quá yếu kém của phía Việt Nam. Hoàn toàn không đạt yêu cầu khi đưa một ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra để chỉ nói những câu văn vẻ không có nghĩa gì hết, gây phản cảm rất lớn trong dư luận, cho thấy một vị thế quá yếu kém của Việt Nam trên chính trường quốc tế. Điều đó gây ra hậu quả là quốc tế họ coi thường Việt Nam, họ đánh giá Việt Nam là chỉ có lời nói mà không có hành động, mà nếu như chỉ có lời nói mà không có hành động thì khi xảy ra chiến tranh với Trung Quốc thì quân đội Việt Nam sẽ đánh nhau như thế nào đây với một vị Đại tướng nói không nên lời? Đó là điều quá rõ” (Trả lời nhà báo Trần Quang Thành 7/6/14).

Trước đây tôi từng tích cực góp phần vận động Việt Nam tham gia WTO, bây giờ tôi khấp khởi chờ mong Việt Nam sớm được gia nhập TPP. Tôi phản đối những ai muốn dìm đất nước trong đói khổ để hy vọng nhân dân sẽ nổi lên lật đổ ĐCSVN. ĐCSVN cần phải bị tước bỏ đặc quyền, đặc lợi, độc tài, độc đoán, tốt nhất là bị thay thể trong môi trường dân chủ đa nguyên đa đảng. Tuy nhiên, trong bất kỳ tình huống nào cũng không được đem nhân dân làm vật thí thân. Như vậy là tàn bạo, tàn bạo hơn cả cộng sản.

Phạm Chí Dũng không chỉ “đồng khí tương cầu” với tôi, mà còn tiên đóan một cách rất đáng ngưỡng vọng:

Tôi nói với quý vị về cảm nhận của tôi là một người trong nước. Theo tôi, có thể là ngay trong năm nay, vào khoảng tháng 9, tháng 10 sẽ có những tín hiệu mới về vấn đề TPP, tức nhà nước Việt Nam có thể được tham gia vào TPP một cách đặc cách chứ không phải theo cách bình thường. Những vấn đề được đặt ra vào năm 2013 và lời hứa của ông Barack Obama – tổng thống Hoa kỳ – về khả năng sớm nhất để Việt Nam có thể tham gia vào TPP.. “, (Nhà báo Phạm Chí Dũng hội luận với giáo sư Carl Thayer và người Việt ở Úc ngày 24/6/14).

Trên cơ sở nhận định thực tế hiện nay chưa có lực lượng nào đủ khả năng tấn công và thay thế ĐCSVN nên đành dựa vào những nhân tố khả dĩ nhất trong Đảng để cải tạo và hóa giải ĐCSVN. Nhân tố có thể kỳ vọng hơn cả hiện nay là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chủ trương đó của tôi, không ngờ, bị ngay cả một số người có nhãn quan chính trị rất sắc bén không đồng thuận. May sao, lại có Phạm Chí Dũng “đồng thanh tương ứng”:

Nếu không xét đến những gương mặt chính khách chưa xuất hiện, trong tất cả những gương mặt hiện nay và trong khoảng hai năm tới, tôi chỉ hy vọng vào một nhân tố duy nhất là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng hy vọng này cũng chỉ mới manh nha và còn rất chập choạng.

Cơ sở để có thể có đôi chút hy vọng vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là bởi ông ta đang trong tình thế phải “cứu nhà, cứu nước”. Nước mất thì nhà tan. Nhưng muốn cứu nhà thì trước hết và dù muốn hay không cũng phải cứu nước.

Sau vụ giàn khoan Hải Dương 981, có vẻ ông Nguyễn Tấn Dũng đã dứt khoát hơn trong chính sách chuyển hướng xoay trục sang phương Tây. Để đối chọi với Trung Quốc, trước mắt người Việt cần ít nhất sự hỗ trợ của Hạm đội 7 của Mỹ, sau đó là một bản hiệp ước tương trợ quốc phòng với Hoa Kỳ, như kết quả mà Philippines đã vừa đạt được. Và cuối cùng, tốt nhất Việt Nam trở thành một đồng minh quân sự với Hoa Kỳ như trường hợp Nhật Bản và Hàn Quốc”.

“Nếu một cuộc chiến tranh được kích động từ Trung Quốc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liệu có thể dựa vào 3/4 trong số gần 200 ủy viên trung ương đảng để chiến đấu, hay ông ta phải dựa vào 90 triệu dân chúng? Có lẽ đó là lý do để ông Dũng trở thành người duy nhất trong bộ tứ triều đình đưa ra một vài tuyên bố có vẻ cứng rắn đối với Bắc Kinh”.(PCD trả lời phỏng vấn RFI).

Khả năng viết và diễn giảng của Phạm Chí Dũng thật đáng trân trọng và khâm phục. Chỉ trong vòng một năm qua PCD đã viết hơn 200 bài báo và trả lời hơn 100 cuộc phỏng vấn. Vì vậy, có lúc PCD gở miệng, đã tuôn ra những dòng bi quan, yếm thế lạc lõng đến mức ngạc nhiên này:

Làm sao để chiến thắng Trung Quốc nếu Tổ quốc ta bị xâm lược? Làm sao để chiến đấu, hay chỉ là biểu lộ cơn giận dữ trả thù dân tộc cực đoan, nhưng sau đó chính những kẻ cực đoan này sẽ biến mất ngay khi chiến tranh ập tới?

….. Kinh tế sẽ hoàn toàn đình đốn. Đất nước sẽ rơi vào hỗn loạn và tan hoang. Không chỉ chế độ mà nhiều gia đình sẽ tan nát. Một góc hình ảnh nạn đói 1945 sẽ có thể tái hiện…” (Tâm thư gửi công nhân: Người với người không thể giết nhau).

Cho nên, tôi muốn đề nghị PCD nên “phanh” bớt bầu nhiệt huyết lại. Đầu tư thời gian công sức viết những bài có sức khái quát, có tầm tư tưởng, tầm chiến lược cao hơn.

Những hoạt động năng nổ, nhất là Tuyên bố thành lập HNBĐLVN chưa bị “sờ đến” không có nghia là người ta thực sự buông tha. Họ thâm độc lắm, họ thiện nghệ lắm. Không đấm được vào mặt thì họ sẽ thụi ngầm sau lưng đấy. Không trực diện đương đầu được, rất có thể họ sẽ sử dụng chính anh em thân cận nhất của mình diệt mình. Sự tung hoành năng nổ đang làm uy tín của Dũng lên rất cao nhưng chính vì thế cũng có thể làm cho không ít bằng hữu cùng chiến tuyến đố kỵ tỵ hiềm mà vô tình hay cố ý bị các thế lực chống dân chủ hóa lợi dụng biến thành nội công của họ. Kinh nghiệm đau xót của tôi cho thấy họ có khả biến những người từng sát cánh mình nhất, những tả phù hữu bật mình, thậm chí cả người đã từng chịu ơn mình quay lại triệt hạ mình bằng nhừng lời vu khống, xuyên tạc ty tiện nhất, tàn độc nhất.

Tuy nhiên, tôi tin ở sự thông minh, từng trải của Dũng. Đọc đoạn tường trình buổi bị truy vấn của Dũng thấy rất giống những buổi họ từng truy vấn tôi. Khác một điều là khi họ đưa các bài viết của tôi rút từ trên mạng, chỉ đọc qua đầu đề là tôi ký xác nhận ngay tức khắc, còn Dũng, Dũng đòi tự mở files của mình, tự in ra, rồi mới ký vào đó.

Vả chăng tin rằng Dũng vốn là người có thủy có chung khi viết những dòng sau đây về buổi đến mừng Đỗ thị Minh Hạnh vừa được trả tự do:

Trở về ngoài đời mới thấy mọi chuyện như một giấc mơ. Thật đúng như một giấc mơ! Em cứ tự hỏi làm sao mà các anh lại hy sinh và làm được nhiều như thế trong những năm qua?” – Minh Hạnh thốt lên với tôi, giọng rổn rảng đầy âm sắc. Còn tôi lại thật sự xấu hổ: “Làm sao có được giấc mơ này, nếu không có những người đi đầu hy sinh như Hạnh?”.

Hà Nội, 11 tháng 7 năm 2014
Nguyễn Thanh Giang
Mobi: 0984 724 165
website: www.nguyenthanhgiang.com