Nguyễn Trung – Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy

Nguyễn Trung
Chẳng lẽ đốn đời đến mức phải nói lời cảm ơn với cái giàn khoan HD 981 hả trời đất!? Tôi cảm thấy xấu hổ trong lòng về ý nghĩ này, và quả thực trong bụng có lúc tôi đã nghĩ như vậy!

Sự thật là không ít các bạn đồng niên của tôi cũng có cách nghĩ như thế trước một thực tế đau lòng: Hàng chục năm nay, chí ít là từ khi anh Trần Quang Cơ trong cuốn Hồi ức và suy nghĩ (2001) của mình đã giấy trắng mực đen cảnh báo rành rành trước cả nước về mối họa Thành Đô. Nhưng tất cả cứ như nước đổ đầu vịt! Các lời cảnh báo khác qua mấy khóa đại hội đảng cũng thế…

Thậm chí mãi cho đến ngày 02-05-2014 trở về trước, nghĩa là cho đến khi cái giàn khoan HD 981 cắm sâu vào vùng biển của ta, hễ cứ ai mở miệng phê phán Trung Quốc ăn hiếp nước ta nhiều chuyện, hay biểu tình lên tiếng đòi “NO U” (nói Không với đường lưỡi bò!).., là lập tức bị gán cho cái tội phá đại cục quan hệ Việt Nam – Trung Quốc để lật đổ chế độ!.. Đã có những bắt bớ và tù đầy nhằm đàn áp những chuyện này. Thậm chí ngay cái tên gọi Trung Quốc trong không biết bao nhiêu hành động phải gọi là tội ác ức hiếp nước ta dù là trên bộ hay dưới biển, phía ta cũng phải lờ đi, ngậm bồ hòn làm ngọt, hoặc vì vì lý do nào đấy nếu buộc phải nhắc đến thì cũng phải gọi trẹo đi là tầu lạ, kẻ lạ

Nhưng đúng là từ sau cái ngày 02-05-2014 câu chuyện đã bắt đầu khác. Vâng, mới chỉ bắt đầu khác thôi.

Bây giờ mà có ai cả gan công khai bảo vệ 4 tốt và 16 chữ, chắc chắn sẽ được cả nước ném đá khỏi phải đem đi chôn luôn!

Dù sao, toàn bộ câu chuyện nói trên mới chỉ là chuyện nổ bùng của tình cảm – một tình cảm bị quyền lực và tủi nhục lâu nay đè nén đến ê chề, nhìn đất nước hàng ngày oằn lên dưới sự lũng đoạn mọi mặt của Trung Quốc mà không làm gì được! Nói đúng hơn là: Không được làm gì!

Bây giờ xin cùng nhau giữ cái đầu lạnh một chút, giữ trái tim ấm một chút với đất nước, để cả nước cùng nhau nhìn nhận lại tất cả.

Khi được tin báo về nước là hội nghị Thành Đô đã kết thúc, bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch thốt lên: Một thời Bắc thuộc lần thứ hai bắt đầu!

Câu chuyện giàn khoan HD 981 hôm nay bắt đầu từ đấy.

Thỏa thuận Thành Đô 1990 ra đời trong hoàn cảnh (1) Việt Nam đã thấm đòn cuộc chiến tranh 17-02-1979 của Trung Quốc (chỉ thực sự kết thúc 1989) và chiến tranh Campuchia (do Trung Quốc cài dựng lên để lừa ta vào), (2) Trung Quốc vừa mới đánh chiếm 7 đảo và bãi đá của ta ở Trường Sa năm 1988, và (3) hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa (các nước Liên Xô – Đông Âu cũ) bắt đầu sụp đổ từ 1989. Nỗi lo sự sụp đổ này có thể xóa mất chế độ chính trị ở nước ta là một trong những tác nhân quyết định dẫn tới bước đi nói trên của lãnh đạo phía Việt Nam hồi ấy, chưa kể đến những nguyên nhân khác cá nhân.

Tìm kiếm liên minh ý thức hệ ở Thành Đô trong bối cảnh như vậy chính là tìm kiếm liên minh với kẻ vừa mới thẳng tay làm thịt mình mấy trận liền. (Xin đừng quên: Trung Quốc lúc ấy còn kênh kiệu: Nếu Việt Nam có chịu đến Thành Đô thì cũng chỉ có liên minh thôi, chứ không thể có đồng minh, chỉ là đồng chí chứ không thể là đồng minh!..)

Không thể nói lãnh đạo phía Việt Nam thời ấy không đếm xỉa đến thực trạng quan hệ Việt Nam – Trung Quốc như đã nêu trong Sách Trắng 1979 [1]. Nhưng quyết định Thành Đô là sự lựa chọn của lãnh đạo phía Việt Nam vào thời điểm và hoàn cảnh lịch sử của thế giới cũng như của chính nước ta lúc bấy giờ, với niềm tin sẽ phục hồi lại được quan hệ hữu nghị giữa hai nước, sẽ có hòa bình, và tạo ra được liên minh ý thức hệ, để từ đó có thể bảo vệ chế độ và giữ nước. Những điều cốt lõi này tạo nên quyết định lựa chọn liên mình ý thức hệ.

Hơn nữa, hệ thống thế giới XHCN không còn nữa, Việt Nam phải đi với Trung Quốc để cùng nhau bảo vệ chủ nghĩa xã hội – rất nhiều lần lãnh đạo đã giảng giải như vậy trong nội bộ và trong nhân dân.

Chặng đường một phần tư thế kỷ từ Thành Đô đến giàn khoan HD 981, là chặng đường Việt Nam nhận được một nền hòa bình phải trả giá đắt bằng nhiều nhân nhượng hoặc thua thiệt đau lòng – trong những vấn đề biên giới trên bộ và trên biển, trong quan hệ kinh tế, trong nhiều vấn đề chính trị khác, và lòng tự trọng dân tộc bị tổn thương nặng nề…

Trong những năm gần đây đã có nhiều học giả và cơ quan nghiên cứu trong nước trong nước đưa ra nhiều dữ liệu, sự kiện và những lý lẽ xác đáng cho thấy kinh tế nước ta lệ thuộc nghiêm trọng và trên thực tế gần như trở thành một nền kinh tế phụ trợ cho Trung Quốc: Cung cấp như vơ vét mọi tài nguyên khoáng sản ta có cho Trung Quốc; xuất siêu của ta sang thị trường toàn thế giới không đủ bù nhập siêu của ta từ Trung Quốc; Việt Nam trở thành một thị trường lý tưởng tiêu thụ hàng hóa rẻ, độc hại và chất lượng xấu của Trung Quốc; trong hơn một thập kỷ nay khoảng 2/3 công trình kinh tế lớn xây mới trong cả nước rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc với chất lượng công nghệ thấp, đắt, ô nhiễm môi trường nặng nề, bóp chết khả năng nội địa hóa của nước ta…

Thực tế một phần tư thế kỷ vừa qua cũng cho thấy nội tình đất nước bị quyền lực mềm Trung Quốc lũng đoạn và chia rẽ ngày càng trầm trọng, con đường phát triển của đất nước bị kìm hãm, nhiều cơ hội phát triển của đất nước bị cướp mất, chịu nhẫn nhục ngậm bồ hòn làm ngọt nhiều thứ… Liên minh ý thức hệ dù mang tên 4 tốt và 16 chữ không thể ngăn cản biết bao nhiêu việc làm sai trái năm này qua năm khác của Trung Quốc trên Biển Đông. Về toàn cục, nước ta chỉ gặt hái được một thực tế: ta càng nhân nhượng Trung Quốc càng lấn tới. Và hôm nay nước ta lâm vào tình trạng bị cô lập trước nguy cơ bị lấn chiếm tiếp, bị bao vây và xâm lược từ phía Trung Quốc chưa từng có kể từ 30-04-1975.

Nỗi đau còn nhức nhối hơn ở chỗ Trung Quốc đã làm được như vậy đối với nước ta giữa lúc nước ta đã hội nhập toàn diện vào quá trình toàn cầu hóa, sản phẩm của Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các thị trường quan trọng trên thế giới, hầu hết các quốc gia quan trọng trên thế giới là đối tác chiến lược hay đối tác toàn diện của nước ta. Nói cách khác: Lợi dụng cái liên minh ý thức hệ này, quyền lực mềm Trung Quốc đã thành công trong việc vô hiệu hóa đáng kể những nỗ lực hội nhập quốc tế của Việt Nam để vươn ra bên ngoài, đã giam hãm thành công Việt Nam trong vòng kiềm tỏa của Trung Quốc mà đến hôm nay Việt Nam vẫn chưa có cách gì thoát ra.

Còn một hiện tượng nữa cần lưu ý. Về mặt nào đó, phẩm chất chính trị của chế độ ở thời điểm Việt Nam bước vào Hội nghị Thành Đô so với hôm nay có sự khác biệt nghiêm trọng: Hôm nay là sự tha hóa đến mức nguy hiểm, mà chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng phải thừa nhận là đang đe dọa sự tồn vong của đảng và của chế độ. Ngoài quá trình tha hóa tự thân của chế độ toàn trị một đảng, phải nói quyền lực mềm Trung Quốc chủ yếu bằng sử dụng những thủ đoạn tham nhũng và hủ hóa đã góp phần quan trọng vào làm sâu sắc thêm quá trình tha hóa này của chế độ chính trị ở nước ta. Mười ngày đầu (02-05 đến 11-05-2014) sau khi xảy ra sự kiện giàn khoan HD 981 là mười ngày câm lặng, bất động không biết nên phản ứng như thế nào, mọi nỗ lực “đường dây nóng” đều vô ích hoặc bị cự tuyệt, càng lúng túng đến mức như nhắm mắt làm ngơ giữa lúc đất nước đang có bao nhiêu hội họp quan trọng… Đó là mười ngày phơi bầy ra sự ươn hèn của hệ thống chính trị, làm tổn thương nghiêm trọng quốc thể.

Đến đây có thể rút ra kết luận: Tạo ra liên minh ý thức hệ ở Thành Đô là để mong có hòa bình, bảo vệ được chế độ và giữ được nước, nhưng hôm nay gặt hái được: kinh tế lệ thuộc, độc lập chủ quyền quốc gia tiếp tục bị uy hiếp, chế độ chính trị bị Trung Quốc lũng đoạn sâu thêm, đảng cũng bị Trung Quốc trói buộc cả về tư duy và về hành động vào liên minh này (nên đọc thêm “4 không được” do Trung Quốc đưa ra trước khi Dương Khiết Trì đến Hà Nội 16-06-2014), con đường phát triển của đất nước bị chặn đứng.

Liên minh như thế đúng là mất cả chì lẫn chài.

Toàn bộ những diễn biến của quan hệ Việt – Trung tác động vào Việt Nam trong một phần tư thế kỷ vừa qua thừa nhận: Việt Nam về nhiều mặt và trên thực tế trở thành một chư hầu kiểu mới của Trung Quốc [2].

* * *Trên đây không chỉ là câu chuyện của thất bại tìm kiếm liên minh ý thức hệ. Nó còn là câu chuyện sụp đổ ý thức hệ của chính bản thân ĐCSVN trên 2 phương diện:

(1) Trung Quốc có một ý thức hệ riêng của mình và tùy từng thời kỳ mang những tên gọi khác nhau. Hiện tại tên gọi đó là CNXH đặc sắc Trung QuốcGiấc mộng Trung Hoa. Nhưng trước sau vẫn chỉ là cái gốc bành trướng Đại Hán. Thật ra trước khi có Thành Đô, Việt Nam lần đầu tiên được hưởng quả đắng của ý thức hệ gốc này là năm 1956, khi Trung Quốc lợi dụng tình hình nhá nhem chiếm một phần Hoàng Sa, giữa lúc quan hệ hai nước đẹp như trong thơ: Việt Nam Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông… Thứ ý thức hệ bành trướng Đại Hán này đâu có thèm liên minh, nó chỉ ban tặng cho phía ta 4 tốt và 16 chữ, thế thôi. Đấy chính là thực chất của cái gọi là “liên minh nhưng không phải là đồng minh, đồng chí chứ không đồng minh…” mà Trung Quốc đã giao hẹn trước với phía ta khi chấp nhận ngồi với ta ở Thành Đô.

(2) Ý thức hệ của ĐCSVN đã thất bại trong việc dẫn dắt con đường phát triển của Việt Nam trong 4 thập kỷ đầu tiên xây dựng và bảo vệ đất nước kể từ sau 30-04-1975 [3]. Đất nước đang đứng trước cuộc khủng hoảng toàn diện và đòi hỏi phải tìm một con đường khác để đi vào một thời kỳ phát triển khác – một thời kỳ phát triển mới trong một thế giới đã hoàn toàn thay đổi. Thế nhưng hiện nay ĐCSVN với tư cách là người nắm quyền hành tuyệt đối đang nợ đất nước câu trả lời, nói thẳng ra là không đủ trí tuệ, phẩm chất và bản lĩnh để tìm được câu trả lời. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trước sau đã nhiều lần thay mặt đảng trả lời trước toàn đảng và toàn dân rồi: Phải kiên định con đường của chủ nghĩa xã hội. Câu trả lời này chỉ nói lên đến hôm nay ĐCSVN vẫn chưa có câu trả lời.

Thực tế chặng đường Thành Đô – giàn khoan HD 981 cho thấy một phần tư thế kỷ vừa qua phía ta đã chịu bịt tai, nhắm mắt, ngậm miệng, tự trói chân tay…, chịu biết bao nhiêu thua thiệt và nhân nhượng; nhiều cái Trung Quốc làm sai không dám cãi; nhiều cái lợi ích quốc gia đòi hỏi nhưng không dám đi trước, không dám làm khác hay làm trái Trung Quốc, cả trong đối nội và đối ngoại; nhiều cái lợi ích quốc gia đòi hỏi phải giữ đến cùng nhưng không giữ được; thậm chí phải bỏ qua, che đậy hay cắt xén cả lịch sử để giữ hòa hiếu, cho đội ngũ dư luận viên lung lạc dân (dọa mất sổ hưu!)… tất cả để cố cùng giữ đại cục cho bằng được… Nhưng trước sau nước ta vẫn cứ chịu thua thiệt tiếp, đất nước hôm nay càng lâm nguy. Làm nghề ngoại giao, thực quả đến nay tôi chưa tìm được trên thế giới này có một quốc gia độc lập nào có vị thế quốc tế không thể nói là thấp kém như Việt Nam mà lại chịu để cho một nước láng giềng khép vào khuôn khổ đến như vậy! Hai năm trời nước ta là ủy viên không thường trực Hội Đồng Bảo An mà cứ phải chịu im như thóc trước bao nhiêu việc sai trái của Trung Quốc trên Biển Đông… Nhìn lại quá khứ, tôi cũng chưa thấy nước Việt Nam độc lập trong lịch sử mấy nghìn năm quan hệ với Trung Quốc có thời nào độc lập quốc gia lại bị trói buộc như hôm nay!

Trong khi chăm lo giữ đại cục như thế, cũng xin đảng và nhà nước giao cho hàng nghìn người Việt đang làm việc hay học tập ở Trung Quốc nhiệm vụ tìm hiểu dư luận xã hội và báo cáo trung thực về nước xem Trung Quốc với tính cách là một quốc gia đang nhìn quốc gia Việt Nam như thế nào. Đại sứ quán của ta ở Trung Quốc phải là người trước tiên làm tốt việc này. Đồng thời cũng nên giao ngay cho các đoàn cán bộ đảng và nhà nước mỗi năm hàng trăm người được cử sang học tập ở Trung Quốc làm nghiêm túc việc tìm hiểu này. Một số sinh viên học ở Trung Quốc về nói với tôi: Ông ạ, cháu thấy họ nhìn Việt Nam chưa được một nửa con mắt đâu ạ. Họ khinh nước ta tệ hại hơn thế nhiều… Tại sao báo chí Trung Quốc ra rả hàng ngày những bài và tin tức về Việt Nam như thế, mà nhân dân ta chẳng được hay biết gì ngoài cái 4 tốt và 16 chữ? Tin tức một số báo chí Trung Quốc lâu nay nói thẳng: Việt Nam đáng cho một bài học mới (theo kiểu của Đặng Tiểu Bình), nhân dân Trung Quốc đã được chuẩn bị tư tưởng cho việc này… Ai muốn quy kết những điều tôi viết ra ở đây là kích động chống Trung Quốc thì tùy. Trước sau tôi vẫn nghĩ, muốn có hòa bình và giữ được hòa bình với Trung Quốc, nhất thiết phải hiểu họ, hiểu cho đến tận xương tủy họ [4].

Xin ý chí và trí tuệ cả nước hơn lúc nào hết thấy rõ: Một phần tư thế kỷ khai thác sự lệ thuộc đến mức gần như tự trói tay và tự bịt mắt của nước ta, Trung Quốc đã tạo ra được cho mình một tình huống hôm nay có trong tay đủ mọi kịch bản từ A đến Z để chủ động tùy nghi xử lý Việt Nam – từ những thủ đoạn đê tiện và bẩn thỉu nhất đến chiến tranh. Xin cứ nhìn xem Trung Quốc đang làm gì bằng “hòa bình” và trong hòa bình – ví dụ trước khi cử Dương Khiết Trì sang Việt Nam (16-05-2014) thì đưa ra cho phía Việt Nam “4 không được”, cứ nhìn trong 2 ngày 13 và 14-05-2014 quyền lực mềm Trung Quốc kích động cướp phá thành công khỏang 800 xí nghiệp có FDI từ Bắc vào Nam, cứ nhìn Trung Quốc bầy binh bố trận trên bộ và trên biển chung quanh nước ta, cứ nhìn cái 9 vạch bây giờ thành 10 vạch, cứ nhìn rồi đây cái chiến tuyến trên biển nối liền các căn cứ quân sự Du Lâm (Hải Nam) Gạc Ma, Chữ Thập, rồi kéo tiếp về phía Scarborough (Philippines), và báo chí Trung Quốc đã để ngỏ khả năng lập vùng nhận dạng phòng không (AIDZ) trên Biển Đông… Rồi các ngón đòn kinh tế và quyền lực mềm khác sẵn sàng dành cho Việt Nam… Một số chuyên gia của ta tính toán những đòn kinh tế này có thể dễ dàng làm GDP của Việt Nam tụt 5 – 10%…

Kịch bản Trung Quốc đang thực hiện để xử lý Việt Nam hiện là kịch bản tối ưu số một đối với họ. Bởi vì kịch bản này đang mang lại kết quả nhiều nhất, rẻ nhất, “êm ả” nhất: Duy trì được sự khiếp nhược hiện tại của Việt Nam để lấn chiếm tiếp, uy hiếp tiếp mà không phải dùng đến những biện pháp quân sự trực tiếp và ồn ào hơn. Chừng nào còn sự khiếp nhược này, kịch bản này còn phát huy tốt tác dụng. Làm quá tay dân chúng Việt Nam có thể sẽ nổi lên chống chế độ, mà như thế sẽ rất bất lợi cho kịch bản rẻ, tốt, “êm ả” và đang rất hữu dụng này! Nếu tình hình đòi hỏi chuyển kịch bản cũng không sao, mọi thứ Trung Quốc đã sẵn sàng… Cứ nghe những tuyên bố mới nhất của Tập Cẩm Bình cho rằng Biển Đông là lợi ích cốt lõi không thể nhân nhượng của Trung Quốc, rồi nhìn các hành động leo thang tiếp tục của Trung Quốc đang diễn ra, có thể thấy rõ toàn bộ cục diện Biển Đông hiện nay.

Xin hỏi cả nước:

– Quốc gia trong tình thế hiện nay đã sẵn sàng mọi mặt chưa? Bây giờ vẫn còn đang tính đến Chừng nào ngư dân còn bám biển thì còn giữ được đảoTrước sau vẫn phải kiên định… (các phát biểu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng).

– Quốc gia trong tình thế hiện nay đã phải đặt ra nhiệm vụ cứu nước chưa? Hay là bây giờ nói cứu nước là biểu hiện của hốt hoảng? của thổi phồng tâm lý bi quan, là kích động chống chế độ?..

Vậy chỉ còn mỗi cách mở mắt, mở mồm, cởi trói nhìn thẳng vào sự thật để tìm câu trả lời, tìm lối ra.

Xin nói ngay ở đây thế này: Cái đáng lo đối với nước ta không phải là việc Trung Quốc có thể gọi mưa hú gió trị ta thế nào! Đấy không phải câu chuyện đáng sợ nhất, nước ta đã từng bị thử thách như thế nhiều lần rồi và không sợ. Đất nước này không thể mất về tay Trung Quốc được đâu. Nhưng thật sự cái đáng lo nằm ở chỗ bất ngờ hoặc để xảy ra hoang mang, tự ta phá ta, mắc bẫy vào chính cái võ kích động của quyền lực mềm Trung Quốc… Rồi cái nhân danh chống kích động và bạo loạn đển đàn áp dân… Trong khi đó đất nước đang phải đối mặt với trăm nghìn vấn đề nhạy cảm giữa hòa bình và chiến tranh, giữa ổn định và đổ vỡ. Ngay giữa Hà Nội mà có chỗ cứ lát 1m vỉa hè hết một tỷ đồng! Quảng Trị có nơi hạn hạn nặng hàng tháng nay không có nước cho người, gia súc và cây trồng. Khu công nghiệp Vũng Áng được hưởng ưu đãi đến tột cùng (Tuổi trẻ online 08-07-2014) với hàng nghìn lao động Trung Quốc chỉ cách căn cứ hải Quân Du Lâm ở Hải Nam và giàn khoan HD 981 khoảng trên dưới 200 km sẽ là cái gì đối với Việt Nam? Thể chế chính trị và hệ thống nhà nước hiện hành làm sao có được và quản lý được một nước công nghiệp cơ bản theo hướng hiện đại vào năm 2020? Nhập siêu và nợ công cứ tăng mãi không giảm. Thay thế nhập khẩu nguyên vât liệu từ Trung Quốc như thế nào? Nếu Trung Quốc gây rối loạn trên mặt trận tài chính, ngân hàng thì đối phó ra sao?.. v.v… Vâng, sẩy tay là rối lọan, là đổ vỡ, là dậu đổ bìm leo. Người Việt Nam nào không muốn có hòa bình lúc này để xử lý những vấn đề đang chồng chất ngập đầu mình!..

Thế nhưng trong tình hình này cứ giấu dân, trấn an suông, không cùng với dân chuẩn bị đối phó với mọi tình huống, liệu có yên thân không? Cứ khiếp nhược cầu hòa mãi, liệu Trung Quốc có nương tay không? Thế giới sẽ nhìn Việt Nam ra sao? Giúp hay không nên giúp?.. Việt Nam có thực sự muốn được giúp không, hay là..?..

Chính lúc này hơn bao giờ hết phải bàn kỹ với dân, huy động trí tuệ và sự tham gia ứng phó của toàn dân. Hơn bao giờ hết phải đặt ra nhiệm vụ cứu nước cho cả nước để cùng tìm cách thực hiện. Có tự giúp mình thì thế giới mới giúp mình! Phải đi với dân, đối thoại với dân để bàn việc cứu nước. Đối thoại trực tiếp với tất cả các tổ chức xã hội dân sự đang có, để cùng nhau bàn việc cứu nước, chứ không phải bịt miệng họ, quy kết cho họ đủ mọi thứ để khống chế hay đàn áp họ như vẫn đang làm.

Lúc này vẫn kiên định hàng đầu là bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng như Tổng bí thư yêu cầu thì làm sao giữ được nước? Tại sao không đặt vấn đề ngược lại: Lấy giữ nước, cứu nước làm nhiệm vụ trung tâm, qua đó thay đổi chế độ, thay đổi hay là lột xác đảng để trở thành đảng của dân tộc? Đất nước không cứu được, liệu đảng sẽ còn tồn tại? Mà nếu còn tồn tại thì sẽ là cái đảng gì? Có thể tồn tại như thế mãi được không? Đại hội XII có nên quan tâm vấn đề này không? Đặt vấn đề hay không đặt vẫn đề cứu nước chính là ở điểm nghiêm trọng này.

Tôi nghĩ đại đa số người dân nước ta – trước hết là trí tuệ Việt Nam – đủ hiểu biết và có bản lĩnh làm như thế để cứu nước. Tôi thực sự tin rằng có nhiều đảng viên ĐCSVN cũng đang nghĩ và muốn làm như thế. Chẳng ý đồ đen tối nào có thể kích động nổi chúng ta mù quáng chống Trung Quốc theo bất kể lối suy nghĩ kỳ thị và phân biệt chủng tộc nào. Chính vì muốn sống hòa bình bên cạnh Trung Quốc, nên bây giờ việc đầu tiên phải làm là cứu nước. Cứu nước khỏi cái mù quáng và tự trói đối với Trung Quốc, khỏi tình trạng quyền lực chỉ lo quay về trấn áp trong nước để bảo vệ chế độ, khỏi mọi yếu kém vì đất nước đang khủng hoảng và tha hóa toàn diện, khỏi tình trạng mất phương hướng và tê liệt về con đường phát triển. Cứu nước để tìm ra con đường làm cho đất nước mạnh lên theo mọi nghĩa. Vì chỉ như thế mới có thể chung sống hòa bình với Trung Quốc, rồi từ đó mới có hữu nghị đúng đắn, hợp tác đúng đắn. Một phần tư thế kỷ tự trói vừa qua để giữ đại cục đã dắt chúng ta đến câu trả lời này.

Nếu ai nghĩ rằng làm cho Việt Nam mạnh như thế là chống Trung Quốc, thì cứ để cho họ bênh và bảo vệ Trung Quốc. Ai quy kết rằng gọi mọi sự việc đúng với tên thật trong quan hệ Việt – Trung là kích động chống chế độ, chống đại cục quan hệ Việt – Trung, thì đấy chính là biểu hiện muốn đàn áp những nỗ lực muốn cứu nước. Ai thực sự muốn đục nước béo cò bằng những việc làm kích động thù hận hay xuyên tạc sự thật để gây rối kiếm lợi bẩn thỉu, thì chính những việc làm này nói lên dã tâm của họ. Tất cả những thứ này không phải là công việc của chúng ta và cũng không thể lung lạc chúng ta.

Xin nhấn mạnh, cái sai gốc trong việc tìm kiếm liên minh ý thức hệ ở Thành Đô là ở chỗ: Làm tất cả mọi việc để bảo vệ chế độ, rồi mới tính đến giữ nước. Đấy là cách tính toán có giữ được chế độ mới giữ được nước. Nhất thiết phải sửa cái sai gốc vô cùng tệ hại này.

Trước tình hình đất nước lâm nguy hôm nay, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng kêu gọi trước các cử tri (Hà Nội và một số nơi khác) phải kiên định giữ hòa bình, đoàn kết, bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng, bảo vệ nhà nước, bảo vệ nhân dân, không lầm lẫn đấu tranh chống những sai trái trên Biển Đông với 1,3 tỷ nhân dân Trung Quốc, phải kiên trì gìn giữ mối quan hệ hai nước đã xây dựng được từ lâu đời, phải đấu tranh bằng mọi biện pháp hòa bình – kể cả những biện pháp luật pháp quốc tế, phải đề phòng kẻ xấu kích động…

Tất cả những điều Tổng bí thư đã nói trên hiển nhiên vẫn là nếp nghĩ cũ, vẫn là cách tính toán có giữ được chế độ mới giữ được nước đã từng dẫn tới Thành Đô trước đây 25 năm, là cách ĐCSVN đã làm rất triệt để xuyên suốt 25 năm vừa qua, và hôm nay dẫn đất nước tới cái giàn khoan HD 981 với nhiều hệ lụy mới. Cho đến khi tôi viết những dòng chữ này, chưa thấy một ý kiến nào từ lãnh đạo đảng đặt vấn đề: Đất nước phải tìm một con đường khác để có thể sống được hòa bình bên cạnh Trung Quốc. Hay là đảng đang giữ bí mật?

Không phải chỉ riêng tổng bí thư, toàn thể Bộ Chính trị đến nay chưa ai nói thẳng ra với cả nước để cùng lo liệu: Đất nước đang bị Trung Quốc uy hiếp nghiêm trọng thế này vì yếu quá và có đang có quá nhiều yếu kém đối nội cũng như đối ngoại.

Cũng chưa thấy vị lãnh đạo nào nghiêm túc đặt vấn đề: Duy trì hiện trạng của đất nước, đất nước sẽ thua tiếp, lâm nguy tiếp! Phải tìm đường làm cho nước mạnh lên để cứu nước! Thay vào đó, lúc này lúc khác chỉ có những câu nói trấn an mà chính người nói có lẽ cũng thấy khó tin. Làm như vậy hiểm nguy của đất nước sẽ bớt đi?

(1) Đất nước đang có quá nhiều yếu kém nguy hiểm, con đường phát triển đất nước do có quá nhiều sai lầm nên đang bị cuộc khủng hoảng toàn diện hiện nay chặn đứng, (2) uy hiếp của Trung Quốc ngày càng không kiểm soát được và độc lập chủ quyền quốc gia đang bị xâm lấn tiếp, (3) kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế đã sang trang với những vấn đề và thách thức hoàn toàn mới – cả 3 vấn đề lớn này đảng chưa có đối sách nào, chưa có một hướng chiến lược xoay sở ra sao… Chẳng lẽ tình hình như vậy chưa đủ để nhận định đất nước đang lâm nguy đến mức phải đặt vấn đề cứu nước? Xin cả nước suy nghĩ cho thật kỹ. Ngay hiện tại đã có nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, đối ngoại… nước đến chân rồi mà chưa biết nhảy như thế nào… Chẳng lẽ trước sau chỉ một mực: Ngư dân còn bám biển thì còn đảo!..

Trong ngôn ngữ và sinh hoạt đảng hiện nay hình như đang thiếu vắng hoàn toàn hai chữ cứu nước!?

Đại hội XII của ĐCSVN sắp đến. Trong quá trình chuẩn bị, dư luận cả nước chỉ được thông báo những việc có liên quan đến chuẩn bị nhân sự đại hội các cấp; kêu gọi các cấp nghiêm túc thực hiện những quyết định của Hội nghị Trung ương 9 về chuẩn bị Đại hội – nhưng dư luận cả nước không biết rõ đấy là những quyết định gì; đặt vấn đề phải tổng kết 30 năm đổi mới nhưng dư luận cả nước không biết là sẽ tổng kết như thế nào (còn tổng kết như các đại hội các khóa trước đã làm thì đã dẫn đến thực trạng đất nước hôm nay…) Nghĩa là cũng như mọi khóa đại hội khác, việc của đảng là việc của đảng, nhân dân là người ngoài cuộc với lọn nghĩa của khái niệm này; nếu có chuyện lấy ý kiến này nọ thì cũng chỉ là làm chiếu lệ cho có vẻ dân chủ.

Song mọi việc đại hội XII của đảng sẽ quyết lại là những việc liên quan đến sự mất còn của đất nước. Cho đến nay chưa thấy một thông báo nào đặt vấn đề đại hội tới sẽ phải làm gì, đảng sẽ phải làm gì. để đất nước mạnh lên để cứu nước? Chẳng lẽ đấy là bí mật của đảng – nghĩa là đất nước này là của riêng đảng. Hay là vấn đề này chưa được đặt ra? Đến bây giờ chỉ có những thông báo phải bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng, kiên định giữ hòa bình, chống bị kích động… – như 25 năm nay vẫn thường làm.

Xin nhắc lại tại đây một chân lý nguyên sơ rất mộc mạc: Đất nước này là của nhân dân, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là của đảng, đơn giản là đảng cũng chỉ là một bộ phận nhỏ trong nhân dân mà thôi. Dù đảng có yêu nước giả thử là hơn dân, thông minh hơn dân vài con sào đi nữa, đất nước vẫn là của nhân dân, trong đó đảng chỉ là một bộ phận. Đấy là giả thử thôi, hôm nay phải nói ngược lại.

Song trên tất cả mọi lý lẽ, đất nước đang lâm nguy, làm cho nước mạnh lên để cứu nước là sự nghiệp của nhân dân cả nước, của toàn thể cộng đồng dân tộc Việt Nam dù sống ở trong nước hay ở nước ngoài. Đây không được phép là việc riêng của đảng. Đây không thể là công việc riêng của ĐCSVN, dù có muốn đảng cũng không làm nổi.

Không bao giờ được phép coi cứu nước là một việc riêng của đảng, bởi vì nhân dân cả nước không bao giờ giao cho đảng một việc riêng như thế. Nhưng nhân dân sẵn sàng để cho đảng phục vụ một sự nghiệp như thế nếu đảng có phẩm chất và năng lực phục vụ sự nghiệp này đúng với ý nguyện của nhân dân và lợi ích của quốc gia. Nếu cứu nước không phải là việc riêng của đảng, nhất thiết đảng phải bàn luận với cả nước. Nếu làm đúng trách nhiệm là đảng đang độc nhất nắm quyền, ĐCSVN phải đứng ra tổ chức để nhân dân cả nước bàn bạc và quyết định việc cứu nước, chứ không phải ngăn cấm hoặc gây cản trở việc bàn luận, bưng bít báo chí… như hiện nay.

Trong sự nghiêp cứu nước, dứt khoát đảng phải chấm dứt việc loại nhân dân ra ngoài cuộc, đơn giản vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc là sự nghiệp của nhân dân, không thể khác được, không ai làm thay được. Thậm chí phải nói, chính vì loại nhân dân ra ngòai cuộc, cho nên đảng đã liên tiếp vấp phải những thất bại nặng nề trong 40 năm đầu tiên đất nước độc lập thống nhất mà lịch sử chắc chắn sẽ không bỏ qua.

Ví dụ:

– Nếu ngay sau khi đất nước độc lập thống nhất ngày 30-04-1975 đảng phát huy trí tuệ và sức mạnh của nhân dân với tới cả tình thần đoàn kết và hòa giải dân tộc để xây dựng nên một thể chế chính trị của nhà nước pháp quyền dân chủ, mọi chủ quyền đất nước thuộc về nhân dân, lựa chọn con đường dân tộc và dân chủ cùng đi với cả thế giới tiến bộ để xây dựng và bảo vệ đất nước, hôm nay Việt Nam sẽ đứng ở đâu trong thế giới này? Vì không làm được như vậy, phải nói đây là thất bại nghiêm trọng nhất trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của ĐCSVN. Con đường đã đi phải trải qua 4 cuộc chiến tranh đẫm máu, thế nhưng hôm nay đất nước vẫn chỉ đạt được mục tiêu dang dở: chưa hoàn thành nốt sự nghiệp cuối cùng đảng đã cam kết là đem lại độc lập tự do cho nhân dân.

– Nếu không loại nhân dân ra ngoài cuộc, nếu dựa hẳn vào nhân dân, coi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc là của nhân dân, tin vào sức mạnh của nhân dân, coi lợi ích của nhân dân và của quốc gia là trên hết, sợ gì mà không phát huy nhân dân đi cùng với cả thế giới để giữ nước và xây dựng đất nước theo con đường dân tộc và dân chủ. Đâu có cần thiết phải đến Thành Đô để tìm kiếm thứ liên minh khốn khổ này?

– Nếu trong toàn bộ quá trình đàm phán biên giới Việt – Trung không bí mật với nhân dân, mà lại lấy nhân dân làm hậu thuẫn và dựa vào lẽ phải trong đời sống quốc tế, kết quả sẽ thế nào?

– Che giấu nhân dân biết bao nhiêu sự việc sai trái của Trung Quốc có làm giảm được tính bành trướng và sự thâm độc của Trung Quốc hay không? Vân… vân…

– …

– …

Bí mật quốc gia lúc nào cũng có, song đấy là những vấn đề chiến lược hay chiến thuật cụ thể. Còn đường lối giữ nước, toàn bộ nhiệm vụ cứu nước thì phải dựa hẳn vào dân. Đấu tranh tổng hợp và toàn diện để giữ nước chống lại kẻ thù lớn hơn mình gấp bội, càng phải dựa vào dân, trang bị cho nhân dân mọi hiểu biết và thông tin để có thể dựa hẳn vào nhân dân, taọ mọi điều kiện phát huy sức mạnh và sự tham gia của dân vào việc nước… Chứ không phải là cung cấp cho nhân dân những thông tin định hướng, dậy dân theo kiểu làm cho nhiều thế hệ trẻ hôm nay vẫn không biết là đã xảy ra chiến tranh 17-02-1979, thậm chí xóa cả những vết tích các tội ác chiến tranh nhân dân ta đã phải chịu đựng, biết tên kẻ cướp mà cứ phải gọi nó là kẻ lạ, tầu lạ…

Và nhất là để cứu nước, đừng bao giờ coi dân là kẻ thù, áp dụng những cách đối xử dân như kẻ thù, trấn áp sự phản kháng chính đáng của dân nhân danh bảo vệ cái này cái nọ.

Nói đi cũng phải nói lại, từng người dân cũng phải ý thức đầy đủ về quyền và trách nhiệm của chính mình: Đất nước này là của chính mình! Đừng bao giờ chịu bị loại ra đứng ngoài cuộc trong những vấn đề sống còn của đất nước.

Đã đến lúc phải đặt ra nhiệm vụ cứu nước là sự nghiệp trọng đại nhất của toàn dân tộc ta lúc này. ĐCSVN bây giờ là gì, chính là thái độ của đảng đối với sự nghiệp trọng đại nhất của toàn dân tộc lúc này là cứu nước.

 

* * * 

Vâng, một phần tư thế kỷ quan hệ hòa hiếu với Trung Quốc vừa qua, sự việc nước ta đi từ thất bại này đến thất bại khác trong mối quan hệ hai nước có một trong những nguyên nhân chiến lược quan trọng nhất là đã không lựa chọn con đường cứu nước phải là con đường làm cho đất nước mạnh lên. Những thất bại ấy là cái giá phải trả cho việc lựa chọn con đường dựa vào liên minh ý thức hệ để bảo vệ chế độ, trên cơ sở đó để giữ nước, và do đó đã đi tới cái quyết định Thành Đô. Con đường ấy được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục khẳng định đi khẳng định lại nhiều lần qua sửa đổi Hiến pháp 2013, và mới đây nhất là khi tiếp xúc với cử tri Hà Nội: Phải kiên trì bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng, bảo vệ nhà nước, bảo vệ nhân dân, đề phòng mọi kích động

Một phần tư thế kỷ vừa qua, vì ưu tiên số một là phải bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng.., chứ không phải ưu tiên số một là làm cho đất nước mạnh lên với đúng nghĩa, nên đã đạt được trong chế độ toàn trị một đảng là: Chế độ “mạnh” lên, đảng “mạnh” lên – mạnh với nghĩa càng chuyên chính hơn với dân, càng “đảng hóa” mọi mặt đời sống đất nước… Còn đất nước ta trở thành cái gì như hôm nay và đang gần như thân cô thế cô như thế này trong cái thế giới mà nước ta đã hội nhập toàn diện thì cả nước đều thấy rõ. Thân cô thế cô giữa lúc cả thế giới – chỉ ngoại trừ Trung Quốc – muốn có một Việt Nam mạnh mẽ đứng vững chãi trên đôi chân của mình! Thật là quái ác làm sao!

Đừng đổ hết mọi cái xấu, mọi cái nguyên nhân thua thiệt của ta cho phía Trung Quốc. Nghiêm túc thì phải tự phê bình – xin tạm mượn cách nói theo ngôn từ ưa thích của Tổng bí thư –: Để cho đất nước yếu kém như hôm nay, để cho Trung Quốc lũng đoạn nước ta trầm trọng như thế này, có nguyên nhân chủ yếu là đảng càng ra sức bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng là ưu tiên hàng đầu. Hệ quả là cả chế độ và đảng ngày càng hư hỏng và tha hóa nhiều hơn. Chỉ cần xem thống kê hàng năm các tội phạm tham nhũng tiêu cực, quy mô các tội phạm này, mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng, số đảng viên phạm tội ngày càng nhiều và chức vụ ngày càng cao – giữa lúc từ nhiều năm nay đang đẩy mạnh học tập đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh… – đủ thấy rõ thực trạng hư hỏng và tha hóa này. Sự yếu kém toàn diện của cả nước hiện nay trước hết là tổng hợp sự tha hóa toàn diện của chế độ và của đảng, chứ không thể đổ lỗi cho Trung Quốc hay cho bất kỳ lực lượng thù địch hay diễn biến hòa bình nào.

Đúng ra còn phải nhận định: Ưu tiên bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng như đã làm suốt một phần tư thế kỷ vừa qua trong khuôn khổ liên minh ý thức hệ Thành Đô với Trung Quốc đã hủ hóa đảng nghiêm trọng, đồng thời làm hỏng cả chế độ, làm hỏng cả đất nước. Nhiều giá trị đạo đức xã hội hôm nay băng hoại nghiêm trọng so với thời kỳ 1990… Đảng đang ngày càng cùn đi về trí tuệ và ý chí chiến đấu, bây giờ chỉ biết cố học đủ mọi thứ từ Trung Quốc, lúc này vẫn đang cử người đi học mọi thứ ở Trung Quốc… Đảng bây giờ chỉ biết ra sức bám vào quá khứ để biện minh cho vị thế chính trị hiện tại đảng đang nắm giữ. Đảng ngày càng co rúm thụ động trước mọi thay đổi diễn ra ở trong nước và trên thế giới, đến mức trên thực tế đảng đã tự đánh mất vai trò lãnh đạo lẽ ra phải có, đơn giản vì bất lực không thể vạch ra được lối thoát đất nước đang đòi hỏi. Đảng càng không dám đi tiên phong tìm lối thoát cho đất nước. Đảng hôm nay trên thực tế chỉ còn lại là một lực lượng chính trị mạnh nhất trong nước đang cai trị đất nước, với mọi quyền lực kinh tế và chính trị lớn nhất, với sự chi phối của các nhóm lợi ích chồng chéo. Đảng với tính chất mới được hình thành trong quá trình tha hóa như thế trên thực tế đang trở thành đảng của các nhóm quyền lực và các nhóm lợi ích khác nhau, rất thuận lợi cho quyền lực mềm Trung Quốc khai thác. Nghĩa là đảng cũng đang trở thành con tin của những thứ nhóm này, trở thành lực cản sự phát triển của đất nước. Trung Quốc đã đi được những nước cờ tệ hại quá đáng đối với nước ta, hù dọa và kiềm tỏa nước ta, ngăn cản được nước ta đi với cả thế giới.., trong đó có nguyên nhân quan trọng là đảng đang ở trong thực trạng yếu kém như hiện nay.

Từng đảng viên, trước hết là những người giữ trọng trách trong đảng, nếu còn quan tâm đến sự nghiệp bảo vệ đảng, nếu còn tự trọng danh dự người đảng viên, còn chút tấm lòng với đất nước, xin hãy cùng nhau nhìn thẳng vào thực trạng hiện nay của đảng.

Riêng đối với đảng viên, tôi xin giãi bầy: Muốn cứu nước thì phải cứu đảng trước! Đấy là món nợ lương tâm và là trách nhiệm chính trị phải trang trải của mỗi đảng viên đối với đất nước. Đảng viên không cứu đảng thì còn ai làm nữa?

Đối với cả nước, tôi không thể đòi muốn cứu nước trước hết phải cứu đảng.

Nhưng đối với đảng viên, tôi bắt buộc phải nói như vậy, vì lẽ: Nếu từng đảng viên không làm được cho đảng của mình với tính cách chỉ còn là lực lượng chính trị mạnh nhất như hiện nay phải thay đổi đến mức lột xác về ý thức hệ và về phẩm chất, để cùng đi chung với toàn dân tộc trong sự nghiệp làm cho đất nước mạnh lên, sẽ là một thảm họa cho đất nước. Vì như thế, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước rồi đây sẽ phải đối kháng với lực lượng chính trị mạnh nhất này trong nước, đầu rơi máu chẩy cho vô nghĩa sẽ là chuyện không thể tránh khỏi. Nếu mỗi đảng viên hôm nay sớm quên hoặc không biết quá khứ đau thương của dân tộc ta trong 4 cuộc chiến tranh vừa qua của đất nước, xin chịu khó học nhờ các bài học xương máu đang nóng hổi của nhân dân các nước Trung Đông, Bắc Phi và Ukraina hiện nay…

Cho nên không gì may mắn hơn cho đất nước chúng ta, nếu làm cho lực lượng chính trị mạnh nhất này ý thức được nhiệm vụ chính trị mới này để tự lột xác cùng đi với cả dân tộc. Đảng dù yếu kém như hiện nay, song biết đặt lợi ích quốc gia lên trên hết vẫn dư lực ý thức được và làm được nhiệm vụ chính trị đáng phải làm này, thậm chí có thể sẽ là quân chủ lực thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng đại này của quốc gia. Làm được như thế, từ trong hàng ngũ các đảng viên của đảng sẽ xuất hiện những gương mặt mới trong hàng ngũ cứu nước của quốc gia, rồi sự rèn luyện của cuộc sống sẽ làm nên tất cả những gì cuộc sống đòi hỏi. Ai suy nghĩ gì về lời giãi bầy này thì tùy, trước sau tôi cho rằng vận mệnh của đất nước trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay và trong thực trạng yếu kém của đất nước chỉ đặt ra cho các đảng viên ĐCSVN sự lựa chọn duy nhất này mà thôi.

Truyền thống yêu nước là nền móng đầu tiên xác lập nên ĐCSVN khi còn đang mất nước. Trước Cách mạng Tháng Tám, trong 2 cuộc kháng chiến và cả nhiều thời kỳ sau này nữa.., hầu hết hay rất nhiều người gia nhập ĐCSVN trước hết là vì yêu nước, muốn hy sinh chiến đấu giải phóng đất nước, tự nguyện xin được cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tại sao trong đảng không lấy truyền thống yêu nước ấy để hôm nay xác định cho mình con đường cùng đi với cả dân tộc? Hãy bắt đầu từ việc đảng không được phép coi đất nước là của riêng mình. Nhân dân dân là nhân vật trung tâm của sự nghiệp cứu nứơc hôm nay. Hay là bây giờ quyền lực, tiền bạc và mọi lợi ích ích kỷ cùng với mọi sa đọa khác đã làm biến chất đảng tất cả?

Trong tình hình hiện nay, nếu đảng viên không cứu nổi đảng của mình để chọn con đường cùng đi với cả dân tộc như thế, đảng chỉ còn lại sự sàng lọc không thể cưỡng lại của quy luật tự nhiên.

Lựa chọn con đường làm cho đất nước mạnh lên để cứu nước trước hết có nghĩa là tạo mọi điều kiện để người dân thực hiện sự nghiệp làm cho đất nước mạnh lên

 

* * * 

(1) Thế giới đã chuyển hẳn sang một cục diện mới của trật tự quốc tế đa cực, mọi giá trị và phương thức tập hợp lực lượng quốc tế đã thay đổi sâu sắc rất khó lường, quan hệ kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế đặt ra cho mọi quốc gia những vấn đề và thách thức hoàn toàn mới. (2) Trong cái nóng bỏng của trật tự quốc tế mới hiện nay vấn đề Trung Quốc càng làm cho cả thế giới mất ổn định hơn và có nhiều tác động trực tiếp đến nước ta với tính cách vừa là nạn nhân trực tiếp nhất của bành trướng bá quyền Trung Quốc và vừa là trận địa của những đụng độ giữa các quyền lực lớn. (3) Đất nước bắt buộc phải có một thể chế chính trị mới đủ sức phát huy sức mạnh của toàn dân tộc cho việc thoát khỏi khủng hoảng hiện nay và đi vào một thời kỳ phát triển mới bền vững của con đường dân tộc và dân chủ, để từ đó mới có thể đứng vững ngay trên trận địa của đất nước đầy sóng gió. Nội dung của nhiệm vụ cứu nước đặt ra cho nhân dân ta lúc này chính là xử lý thắng lợi 3 vấn đề trọng đại ấy của hôm nay.

ĐCSVN hôm nay là gì? Câu trả lời phụ thuộc vào việc đảng có đặt ra cho mình và cho cả nước câu hỏi Hiện nay có hay không có vấn đề cứu nước? như đã trình bầy trên, cùng bàn bạc với cả nước để trả lời bằng được câu hỏi này.

Nhìn lại 25 năm qua từ Thành Đô, như đã nói ngay ở trên, liên minh ý thức hệ tìm kiếm ở Thành Đô thực chất là do ảo tưởng hay do lo sợ, nên trên thực tế là đã đi tìm kiếm liên minh với kẻ vừa mới làm thịt nước mình liên tiếp mấy trận liền. Chính vì thế trong ¼ thế kỷ tiếp theo của liên minh này nước ta bị ăn thịt tiếp nhiều lần là điều tất yếu, làm sao tránh được? Sự thật này còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy. Bởi vì Thục Dương Vương, giữ hòa hiếu trong tư thế một quốc gia độc lập, Người thua chẳng qua chỉ vỉ mất cảnh giác mà thôi. Còn ở Thành Đô, ĐCSVN tự nguyện ép mình đi hẳn với liên minh mà vẫn thua mất cả chì lẫn chài. Thỏa thuận hòa hiếu cấp cao giữa hai nước mới đây nhất là năm 2011 cũng chỉ là một mớ giấy và chữ, không thể cản nổi cái giàn khoan HD 981. Nó còn cay đắng hơn muôn phần ở chỗ cuối cùng thì Thục An Dương Vương cũng nhận ra được kẻ thù làm mình mất nước là ai. Còn nước ta hôm nay?

Còn hôm nay, ĐCSVN và những người đứng trong hệ thống chính trị của đất nước liệu đã nhận dạng được kẻ đã nhiều lần ăn thịt mình và bây giờ đang lăm le ăn thịt mình tiếp hay chưa? Trả lời câu hỏi này tùy thuộc ĐCSVN lúc này và trong quá trình chuẩn bị cho đại hội XII có đặt ra hay không đặt ra vấn đề cứu nước như đã trình bầy trong bài viết này hay không./.

Nguyễn Trung

Hà Nội, ngày 05-07-2014

_______________

[1] Sách trắng về “Sự thật Quan hệ Việt Nam Trung Quốc 30 năm qua”, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1979. http://thuctu.blogspot.com/2012/07/sach-trang-su-that-ve-quan-he-viet-nam.html/ Tham khảo thêm

[2] Tham khảo thêm: Thư của Nguyễn Trung ngày 28-10-2010 gửi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Http://nguyentrung-vt.blogspot.com, nhãn Đảng Cộng Sản Việt Nam.

[3] Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, “Xin hãy mở to mắt”, http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_HayMoToMat.htm

[4] Tham khảo:

(1) Tổng bí thư Lê Duẩn nói về Trung Quốc http://nguyenxuanhung.com/page/detailinfo/idc/12/id/156/le-duan-noi-ve-trung-quoc-va-canh-bao-am-muu-cua-tq.html.

(2) Sách trắng “SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM & TRUNG QUỐC TRONG 30 NĂM QUA” http://sachhiem.net/LICHSU/NXB_ST/NXBSuThat_1.php.

(3) Trần Quang Cơ: Hồi ức và suy nghĩ http://minhtrietviet.net/lemontee/wp-content/uploads/2014/06/HOI-UC-SUY-NGHI-

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 9-7-14

Trực Ngôn – Liên hiệp Các Hội KH&KT Việt Nam tạo quỹ đen hàng chục tỷ đồng bằng cách “trấn lột” các nhà khoa học

Trực Ngôn

Mấy lời phi lộ: Sau loạt bài tố cáo tội trạng tham nhũng, cố ý làm trái pháp luật của lãnh đạo Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN), Trực Ngôn tôi không muốn tiếp tục viết về cơ quan này nữa, mặc dù vẫn được cung cấp khá nhiều tư liệu. Bởi tôi không muốn lạm dụng diễn đàn của độc giả, nhất là trong hoàn cảnh đất nước hiện nay có quá nhiều vấn đề nóng như chuyện Biển Đông, chuyện chính quyền cướp đất của dân, chuyện người dân tù oan hàng chục năm, gửi hàng yến đơn đi các nơi mà không ai thèm xét… Tuy nhiên nhiều bạn cán bộ ở cơ quan này vẫn tha thiết yêu cầu Dân Luận và Trực Ngôn lên tiếng giúp, biết rằng chính quyền cộng sản không ai điều tra theo thông tin của báo mà họ coi là “lề trái” này, nhưng chí ít cũng để dư luận thấu hiểu thêm bộ mặt của những kẻ trí thức dỏm đang lãnh đạo cơ quan này. Sau đây là nguyên văn thông tin mà các bạn cán bộ ở LHHVN gửi cho Dân Luận và Trực Ngôn, xin chuyển đến quý bạn đọc. Trực Ngôn tôi không thêm bớt một câu nào, để chứng tỏ là tôi khách quan, vì bốn “anh tài” lãnh đạo LHHVN đang tuyên truyền ra bên ngoài là Trực Ngôn thù oán với cơ quan này nên cố tình bôi nhọ họ.

img_1.jpgMỗi năm Nhà nước cấp cho LHHVN 44 tỷ đồng để hỗ trợ các nhà khoa học tham gia phát triển nền KH&CN nước nhà. Khoản tiền khổng lồ này nếu chia đều cho 382 tổ chức KH&CN trực thuộc LHHVN thì mỗi đơn vị cũng sẽ nhận được 100 triệu đồng mỗi năm để hoạt động. Thế nhưng, “bè lũ bốn tên “lãnh đạo LHHVN lại coi khoản ngân sách này là của riêng, chúng vẽ ra hàng trăm hoạt động vô bổ để “rửa tiền” như Dân Luận đã nêu ở các bài trước.

Không chỉ cướp việc của các nhà khoa học, núp dưới chiêu bài quỹ phúc lợi để cải thiện đời sống cho cán bộ nhân viên, LHHVN đã ngang nhiên “trấn lột” các nhà khoa học và đơn vị trực thuộc bằng cách lập quỹ đen từ nguồn thu trái luật như sau:

1. Ban hành trái phép Công văn số 818/CV-LHHVN để “trấn lột” các nhà khoa học.

Công văn này yêu cầu các đơn vị (chủ nhiệm đề tài dự án) nhận ngân sách từ LHHVN phải trích lại 5% số kinh phí nhận được bằng tiền mặt. Thủ quỹ thu và phát cho một phiếu thu ghi là “Nộp phí quản lý theo CV 818”. Nếu đơn vị nào hay chủ nhiệm đề tài/dự án nào không nộp khoản tiền này sẽ không được quyết toán và bị ghi “sổ đen” để không bao giờ được giao nhiệm vụ nghiên cứu nữa. LHHVN lập ra cả một bộ phận để chuyên đốc thúc thu khoản tiền này. Ông Chánh văn phòng phải báo cáo tình hình thu 5% này mỗi khi họp giao ban và coi đây là chỉ tiêu thi đua của Văn phòng và thành tích cá nhân khi tổng kết, đánh giá cán bộ. Đã có nhiều tình huống bi hài trong việc đốc thúc thu tiền từ các nhà khoa học mà chỉ có thể dùng từ “trấn lột” là đúng nhất.

Với khoản ngân sách được cấp 44 tỷ /năm giao cho các đơn vị thực hiện thì số tiền thu được theo tỷ lệ trên mỗi năm là bao nhiêu chắc quý vị tự ước lượng được. Họ đã ăn không của các nhà khoa học hàng tỷ đồng mỗi năm

Ai cho phép LHHVN thu khoản tiền 5% này? Rõ ràng để có 5% nộp cho LHHVN, các chủ nhiệm đề tài phải tự bớt thù lao nghiên cứu của mình hoặc phải làm giả chứng từ để rút tiền đề tài/dự án ra nộp theo kiểu “mỡ nó rán nó”. Khoản thu này chính là phần ngân sách KH&CN bị rút ruột thông qua các đề tài/dự án được cấp kinh phí từ LHHVN. Với cách “trấn lột” tiền mặt trao tay này, các đơn vị khoa học công nghệ và chủ nhiệm đề tài không thể kiện LHHVN được vì không được hạch toán vào chi phí đề tài/dự án và không có chứng từ quyết toán. Mỗi năm hàng tỷ đồng ngân sách KH&CN đã được rút ruột bất hợp pháp dưới cái gọi là “Hỗ trợ của đơn vị” mà nó được tính bằng 5% kinh phí đề tài/dự án. Theo sổ sách và báo cáo tài chính của LHHVN thì khoản thu nội bộ của cơ quan LHHVN là gần 10 tỷ đồng/năm bao gồm khoản “trấn lột 5%” này. Theo Luật Ngân sách Nhà nước, khoản thu nội bộ là một phần của Ngân sách Nhà nước, đơn vị có nguồn thu phải nộp ngân sách Nhà nước và xin phép các cơ quan quản lý nhà nước trước khi chi (nếu Nhà nước cho chi). Tuy nhiên, trên các báo cáo thu chi ngân sách hàng năm cho Bộ Tài chính, LHHVN lại không khai con số thu tại chỗ 5% này mà chỉ khai phần thu lệ phí. Chẳng hạn khi làm kế hoạch xin tiền Nhà nước thì LHHVN cố tình khai phần thu tại chỗ rất ít bằng cách chỉ khai phần thu lệ phí là trên dưới 1 tỷ đồng/năm để được cấp ngân sách nhiều lên. Nhưng khi quyết toán chi thì lại khai chi hết 10 tỷ đồng từ nguồn thu tại chỗ. Như vậy bằng thủ đoạn kế toán, đánh tráo và che dấu khoản mục mỗi năm “bè lũ bốn tên” đã ăn không gần 9 tỷ đồng mà theo luật phải nộp ngân sách. Hàng chục tỷ đồng ăn không của các nhà khoa học đã được Phạm Văn Tân – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký LHHVN, Chủ tài khoản cơ quan biến báo như vậy. Chúng tôi đề nghị thanh tra và Kiểm toán Nhà nước kiểm tra khoản thu 5% này ở LHHVN có hợp pháp hay không? Ai cho phép? Thu bao nhiêu và chi vào việc gì trong hàng chục năm nay?

2. Thu lệ phí 7,2 triệu/năm/đơn vị một cách vô căn cứ, vô lương tâm

Không chỉ “trấn lột” các nhà khoa học khi thực hiện đề tài/dự án, LHHVN còn thu lệ phí từ các tổ chức KH&CN trực thuộc (các Trung tâm, Viện nghiên cứu do họ cho phép thành lập) với mức 7,2 triệu đồng/ năm /đơn vị, bất kể đơn vị có được hỗ trợ kinh phí hay không (Quyết định số 818/QĐ-LHHVN ngày 22/12/2011). Theo quy định này thì với 382 đơn vị trực thuộc, mỗi năm LHHVN đã thu được gần 3 tỷ đồng rồi.
Mức thu 7,2 triệu/năm /đơn vị được tính toán trên cơ sở nào và cơ quan nào cho phép LHHVN thu khoản này? Thu để làm gì khi tiền lương của cán bộ và chi phí bộ máy đã được hạch toán vào nguồn chi hành chính sự nghiệp mà Bộ Tài chính cấp cho, có năm lên đến 9 tỷ đồng ?
Các đơn vị KH&CN là do các nhà khoa học có tâm huyết tự đứng ra thành lập, tự chủ, tự hạch toán. Theo luật, họ chỉ nhờ LHHVN ra quyết định thành lập còn mọi việc họ tự lo liệu thì cớ sao LHHVN lại thu của họ những 7,2 triệu/năm bất kể lớn, bé, làm ăn được hay trên bờ phá sản. Những tưởng thu tiền của đơn vị thì phải có trách nhiệm hỗ trợ họ, nhưng không, Lãnh đạo LHHVN rất vô trách nhiệm khi “mang con bỏ chợ” không đoái hoài gì đến các đơn vị này. Nhiều đơn vị hàng chục năm trời không nhận được đồng tiền hỗ trợ nào từ LHHVN. Nhân viên cơ quan gọi đây là một dạng “bán chữ ký và con dấu” của Lãnh đạo LHHVN. Việc cho thành lập các đơn vị KHCN ngon ăn như vậy nên Phạm Văn Tân và Đặng Vũ Minh cứ “đẻ” sòn sòn hàng chục đơn vị mỗi năm. Chỉ riêng việc ngồi hội đồng xét duyệt thành lập đơn vị 81 thôi thì “bè lũ bốn tên” cũng đã kiếm được kha khá rồi. Không tuần chay nào không có nước mắt, họ không bỏ sót buổi họp nào để kiếm phong bì. Các cán bộ của LHHVN đã chứng kiến có hôm bốn ông Thường trực này ngồi xét duyệt thành lập đơn vị KHCN từ 8h sáng đến 8h tối mà hôm đó mỗi ông thu cả chục triệu đồng phong bì. Theo giám đốc một đơn vị KHCN cho biết, chi phí bỏ ra để thành lập tổ chức KH&CN trực thuộc LHHVN không dưới 20 triệu đồng, vị chi mỗi ông thường trực cũng kiếm được 5 triệu đồng/đơn vị. Với hơn 200 đơn vị được thành lập mới trong nhiệm kỳ 5 năm thì mỗi ông thường trực trong “bè lũ bốn tên” LHHVN thu được tiền tỷ là chuyện bình thường. Nhân viên LHHVN ước tính thu nhập của ông Phạm Văn Tân và Đặng Vũ Minh không dưới 50 triệu đồng/ tháng. Thế bảo sao họ không giàu, ông Đặng Vũ Minh vừa xây xong 2 biệt thự cho 2 cô con gái, ông Phạm Văn Tân thì đang lùng mua đất biệt thự ở Mỹ Đình. Họ sống phè phỡn xa hoa trong khi hàng trăm đơn vị KHCN đang sống dở chết dở, hàng chục đơn vi bị giải thể do không có nguồn thu lại phải đóng lệ phí cho LHHVN và các khoản thuế khác.

Họ đang tâm cướp cơm chim của các nhà khoa học như thế mà giới trí thức phải chịu họ à? Không rõ các ông/bà ở Đoàn Chủ tịch có được họ chia phần cho không mà không thấy ai lên tiếng?

3. Vi phạm chế độ hạch toán, kế toán tài chính

Không chỉ thu bất hợp pháp hàng chục tỷ đồng mỗi năm như thế, lãnh đạo LHHVN còn vi phạm chế độ hạch toán, kế toán tài chính. Đó là hàng chục năm LHHVN không nộp Ngân sách khoản thu nội bộ mà lại đáo chuyển, che dấu khoản mục (khoản thu 5%) trong các báo cáo tài chính và kế toán để rửa trôi hàng chục tỷ đồng “quỹ đen” này. Chẳng hạn khi xây dựng dự toán thu chi ngân sách để xin tiền Nhà nước, LHHVN khai phần thu tại chỗ chỉ có trên dưới 1 tỷ đồng/ năm nhưng trong báo cáo quyết toán hàng năm thì lại quyết toán phần thu tại chỗ gần 10 tỷ đồng/ năm. Như vậy chênh lệch 9 tỷ đồng giữa thu và chi đi đâu? Đây chính là một thủ đoạn che dấu, rửa các khoản thu bất chính ở LHHVN mà kế toán trưởng đã được Phạm Văn Tân chỉ đạo biến báo để qua mặt các cơ quan cấp phát Ngân sách.

Hơn nữa, các khoản thu chi nội bộ này không công khai cho cán bộ nhân viên biết. Thu chi bao nhiêu chỉ có Phạm Văn Tân và bộ phận kế toán biết với nhau. Nếu có ai hỏi thì Phạm Văn Tân và bộ sậu lấp liếm rằng kế toán chưa tổng hợp xong. Việc chi tiêu khoản thu nội bộ rất tùy tiện chẳng có chứng từ gì. Theo bộ phận kế toán cho biết, có lúc ông Phạm Văn Tân lấy hàng trăm triệu nói là đi “ngoại giao” mà chẳng ai dám hỏi chứng từ. Để bịt mồm các cô kế toán, Phạm Văn Tân một mặt cho phép các cô này tha hồ hoạnh họe các nhà khoa học đến quyết toán đề tài/dự án, đồng thời đẻ ra cái gọi là Tổ thẩm định tài chính đề tài/dự án và giao cho Kế toán trưởng làm Tổ trưởng. Bằng việc nắm Ban Kế hoạch tài chính và Bộ phận kế toán, Phạm Văn Tân đã thâu tóm toàn bộ kinh phí hoạt động của LHHVN. Đơn vị nào muốn xin tiền thì qua Ban Kế hoạch tài chính, còn đơn vị nào muốn tiêu được tiền thì phải lụy kế toán, Phạm Văn Tân đứng giữa điều khiển hai Ban này và nhận phần hậu hĩnh của mình.

Một liên minh ma quỷ giữa Phạm Văn Tân, Ban Kế hoạch tài chính và Kế toán trưởng được hình thành để thao túng và trục lợi. Chả thế mà bộ ba Phạm Văn Tân, Lê Duy Tiến – Trường ban Kế hoạch tài chính và Trần Thị Kim Quy – Kế toán trưởng suốt ngày thì thụt họp kín với nhau để bàn cách kiếm chác.

Gần 10 tỳ đồng thu nội bộ mỗi năm, nếu lấy một nửa chỗ này thôi chia đều cho 63 cán bộ thì mỗi người mỗi tháng được thêm khoảng 5 triệu đồng ngoài lương để nuôi gia đình. Thế nhưng hàng chục năm nay tiền ăn trưa cho cán bộ vẫn chỉ có 800.000 đồng /người/tháng, thưởng tết không quá 3 triệu đồng/năm thì tính sơ sơ quỹ phúc lợi đến tay người lao động chỉ chiếm khoảng 1/3 con số thu nội bộ nói trên. Vậy thì 5-6 tỷ đồng/năm của khoản thu tạo quỹ này chui vào túi ai, hẳn độc giả cũng đã đoán ra.

Chúng tôi mong muốn Thanh tra và Kiểm toán Nhà nước làm rõ các khoản thu chi bất chính này của LHHVN để trả lại cho các nhà khoa học đã bị LHHVN trấn lột khi tham gia các hoạt động của cái cơ quan xôi thịt này.

David Shambaugh – Ảo tưởng về quyền lực Trung Quốc

David Shambaugh
Niềm tin rằng Trung Quốc là một cường quốc thế giới đang lan rộng, điều này có thể hiểu được, nhưng nó hoàn toàn sai lầm.
Sự hiểu biết thông thường nói rằng chiếc xe tăng Trung Quốc là không thể ngăn cản và rằng thế giới phải điều chỉnh trước thực tế rằng anh chàng khổng lồ châu Á này sẽ trở thành một – và có lẽ là duy nhất – cường quốc thế giới. Một cộng đồng nhỏ của những người tiên đoán “sự trỗi dậy của Trung Quốc” đã hình thành trong thập niên vừa qua, tất cả đều vẽ nên một bước tranh về thế giới thế kỷ 21 với Trung Quốc là một nhân vật đóng vai trò chi phối. Niềm tin này đang lan rộng, và có thể hiểu được – tuy nhiên nó hoàn toàn sai.Nhớ lại cách đây không lâu, vào thập niên 1980, những dự đoán tương tự đã được đưa ra về một Nhật Bản trở thành “số một” và gia nhập câu lạc bộ ưu tú của các siêu cường – ngay trước khi nó rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài 3 thập niên và được đánh giá là một cường quốc “chỉ trên một phương diện” (kinh tế) mà không có một nền tảng thuộc tính quốc gia rộng lớn hơn để dựa vào. Trước đó là Liên Bang Xô Viết được cho là sẽ trở thành siêu cường quốc tế (một giả định khiến người ta theo đuổi Chiến Tranh Lạnh suốt nửa thế kỷ), để rồi nó sụp đổ gần như trong một đêm vào năm 1991. Những gì người ta chứng kiến sau cái chết của Liên Bang Xô Viết cho thấy, tương tự Nhật Bản, quốc gia này chỉ mạnh “trên một phương diện” (quân sự) mà ngay cả sức mạnh này cũng đã bị teo dần từ bên trong sau vài thập niên. Với sự trỗi dậy của cuộc Chiến Tranh Lạnh, một số chuyên gia giả thiết rằng một Liên Minh Châu Âu mở rộng và được củng cố sẽ trở thành một quyền lực quốc tế mới, và là một cực của hệ thống quốc tế – để rồi EU chứng tỏ mình là kẻ bất lực và không đủ khả năng đối phó với hàng loạt những thách thức toàn cầu. Châu Âu cũng tỏ ra là một cường quốc “trên một phương diện” (kinh tế). Do đó, khi tới phiên Trung Quốc ngày hôm nay, một chút tỉnh táo và hoài nghi là cần thiết.

Chắc chắn Trung Quốc là một cường quốc đang nổi lên quan trọng nhất của thế giới, vượt xa các quốc gia khác như Ấn Độ, Brazil hay Nam Phi. Và trong một số phương diện, Trung Quốc đã vượt qua một số cường quốc hạng trung như Nga, Nhật, Anh, Pháp, Đức. Theo nhiều thước đo, Trung Quốc đã trở thành cường quốc lớn thứ hai trên thế giới, sau Hoa Kỳ, và về một số phương diện, họ đã vượt qua người Mỹ. Trung Quốc có nhiều nhân tố để trở thành cường quốc thế giới: Một dân số đông nhất thế giới, một diện tích lục địa lớn, một nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, một quĩ dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, một ngân sách quốc phòng lớn thứ hai trên thế giới, một chương trình không gian, một mẫu hạm, một viện bảo tàng lớn nhất thế giới, một đập thủy điện lớn nhất thế giới, một hệ thống xa lộ lớn nhất thế giới, và một hệ thống đường xe lửa cao tốc tốt nhất thế giới. Trung Quốc là quốc gia dẫn đầu về mậu dịch quốc tế, là người tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới, là người phát sinh ra nhiều nhất các loại khí thải gây ảnh hưởng nhà kính, là quốc đứng hàng thứ hai về nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và là quốc gia đứng hàng thứ ba về đầu tư ra nước ngoài (ODI-Oversea Direct Investment). Và là sản xuất nhiều nhất thế giới về nhiều loại hàng hóa.

Tuy thế, khả năng sản xuất chỉ là một chỉ số về sức mạnh của một quốc gia, và trên trường quốc tế; và không phải là chỉ số quan trọng nhất. Nhiều thế hệ các học giả xã hội học đã xác định được chĩ số quan trọng nhất của sức mạnh quốc gia là ảnh hưởng đối với nước khác. Đó là khả năng định hình các sự kiện và hành động của các quốc gia khác. Như học giả nổi tiếng Robert Dahl đã nhận xét: “ A có quyền lực trên B khi có khả năng xui khiến B làm chuyện gì đó mà B không thể làm khác được”. Các khả năng không được chuyển đổi thành hành động để đạt một số mục đích nào đó, thì không có giá trị gì nhiều. Sự hiện diện của các khả năng này có thể tạo ra ảnh hưởng đe dọa hay choáng ngợp lên người khác. Nhưng chỉ có khả năng ảnh hưởng lên hành động của người khác, hay lên kết quả của một sự kiện mới là điều đáng kể. Dĩ nhiên có nhiều cách thức mà các quốc gia có thể sử dụng để ảnh hưởng tới hành động của nước khác, hay tới diễn biến của một sự kiện: lôi kéo, chinh phục bằng ngôn từ, hợp tác, ép buộc, chi tiền, lôi cuốn hay đe dọa dùng vũ lực. Sức mạnh và sự thực hiện nó có quan hệ nội tại tự có. Sự sử dụng những phương tiện này nọ đối với kẻ khác để có thể ảnh hưởng lên tình hình có lợi cho bản thân họ.

Khi chúng ta khảo sát sự hiện diện của Trung Quốc và cách hành sử của họ trên thế giới ngày nay, chúng ta cần bỏ qua những nét gây ấn tượng bề ngoài và tự hỏi: “Liệu ngày nay Trung quốc có được ảnh hưởng lên các quốc gia và lên quĩ đạo các sự kiện quốc tế trong các lãnh vực khác nhau?” Câu trả lời ngắn gọn là: “Không nhiều lắm, nếu không nói là chẳng có gì cả”.

Có rất ít các lãnh vực mà người ta có thể nói Trung quốc thực sự có ảnh hưởng lên các quốc gia khác, tạo ra tiêu chuẩn toàn cầu hay định hình khuynh hướng toàn cầu. Họ cũng không cố gắng giải quyết các vấn đề quốc tế. Trung Quốc là một cường quốc thụ động, phản ứng của họ là né tránh những thách thức, và lẩn trốn khi có cuộc khủng hoảng quốc tế xảy ra. Các cuộc khủng hoảng hiện nay ở Syria và Ukraina là những ví dụ điển hình về tính thụ động của Bắc Kinh.

Hơn thế nữa, nếu khảo sát kỹ hơn về các khả năng của Trung Quốc, người ta thấy chúng không mạnh lắm. Nhiều chỉ số cho thấy đầy ấn tượng về mặt số lượng, nhưng không ấn tượng vế chất lượng. Chính vì thiếu sức mạnh chất lượng mà Trung Quốc thiếu ảnh hưởng thực sự. Người Trung quốc có câu thành ngữ “wai ying, nei ruain” (cứng ngoài, mềm trong). Đó chính là tính chất của Trung Quốc ngày nay. Nếu lục lọi các con số thống kê đầy ấn tượng về Trung quốc, bạn sẽ thấy những yếu kém tràn lan, những khó khăn quan trọng, và nền tảng yếu kém để trở thành đại cường thế giới. Trung Quốc có thể là con hổ giấy của thế kỷ thứ 21.

Điều này có thể được cảm nhận trong 5 lãnh vực: Chính sách ngoại giao quốc tế của Trung quốc, khả năng quân sự, hiện diện văn hóa, sức mạnh kinh tế và các yếu tố nội địa làm giảm vị trí của Trung quốc trên trường thế giới. Chúng ta sẽ xem xét từng khía cạnh.

1- CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO

Về nhiều khía cạnh, chính sách ngoại giao của TQ đã mang tính chất toàn cầu. Trong 40 năm qua, TQ đã đi từ tình trạng bị cô lập đối với cộng đồng quốc tế, và trở thành một thành viên của cộng đồng quốc tế. Ngày nay, Bắc Kinh có quan hệ ngoại giao với 175 nước; TQ trở thành thành viên của hơn 150 tổ chức quốc tế, và tham gia hơn 300 hiệp ước đa phương. Mỗi năm, Bắc Kinh tiếp đón nhiều chính khách nước ngoài hơn hẳn các quốc gia khác, và các nhà lãnh đạo TQ đi ra nước ngoài đều đặn.

Mặc dù hội nhập vào cộng đồng quốc tế, và chính sách ngoại giao tích cực của Bắc Kinh, lãnh vực ngoại giao chính là chỗ cho thấy Bắc Kinh chỉ giữ vai trò cường quốc bán phần một cách rõ nhất. Một mặt, Trung quốc được coi là biểu hiệu của một đại cường thế giới; Họ là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, thành viên của nhóm G-20, và là người tham gia vào các hội nghị quốc tế thượng đỉnh quan trọng. Mặt khác, các viên chức Trung quốc vẫn còn rụt rè và thụ động trong các hoạt động này, và trước những thách thức mang tính toàn cầu. Trung Quốc không lãnh đạo, họ cũng không định hình nền ngoại giao quốc tế, không hướng dẫn chính sách ngoại giao của nước khác, không thành lập được những đồng thuận toàn cầu, không thành lập được liên minh để giải quyết vấn đề… Bắc Kinh không chủ động tham gia giải quyết những vấn đề lớn của thế giới, mà ngược lại, họ tỏ ra thụ động và hay phân vân khi tham gia vào những nỗ lực đa phương do nước khác tổ chức (thường là do Hoa Kỳ tổ chức).

Là cường quốc thế giới, bạn phải tham gia giải quyết các vụ tranh chấp, mang mọi phe phái ngồi lại với nhau, thành lập liên minh và đưa ra đồng thuận; và khi cần tới, cũng phải dùng áp lực. Bắc Kinh thích ngồi bên lề và chỉ giản dị kêu gọi các nước khác giải quyết tranh chấp bằng các “biện pháp hòa bình”, và tìm ra giải pháp “cùng thắng”. Những ngôn từ trống rỗng đó không giúp giải quyết được gì cả. Bắc Kinh cũng dị ứng với những biện pháp áp đặt, và chỉ đi theo những biện pháp trừng phạt của Hội đồng Bảo an LHQ, khi tình hình cho thấy rõ rệt là nếu không làm như vậy, Bắc Kinh sẽ bị cô lập, và hình ảnh quốc tế của Bắc Kinh sẽ bị hoen ố. Đó không phải là cách hành xử của một quốc gia lãnh đạo thế giới.

Thực thế, chính sách ngoại giao của Bắc Kinh thực sự là màn tuồng trình diễn, chỉ mang tính tượng trưng hơn là có nội dung. Chúng có mục đích hàng đầu là củng cố tính hợp pháp của Đảng Cong sản Trung Quốc đối với quần chúng trong nước; bằng cách cho thấy các nhà lãnh đạo Trung quốc vai kề vai với các nhà lãnh đạo thế giới. Cùng lúc báo hiệu cho cộng đồng thế giới là đất nước đã trở lại vị trí đại cường sau nhiều thế kỷ bất lực. Vì thế, chính phủ Trung quốc đã cố dàn xếp, kéo dài mang đầy kịch tính những cuộc gặp gỡ quan khách quốc tế. Mặc dù vậy, nền ngoại giao Trung quốc cố tránh rủi ro, và nằm dưới sự dẫn dắt của quyền lợi quốc gia thiển cận. Bắc Kinh bình thường chọn những giải pháp có mẫu số chung thấp nhất, chọn lựa những vị trí an toàn nhất, ít gây tranh cãi nhất, và họ thường chờ đợi thái độ của các quốc gia khác trước khi bộc lộ quan điểm của mình.

Tính chất thụ động này có những ngoại lệ, nằm trong các vấn đề được coi là quyền lợi cốt lõi và hạn hẹp của họ: Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương, nhân quyền và tranh chấp lãnh thổ. Trong những vấn đề này, Bắc Kinh tỏ ra siêu cứng rắn, và có chính sách ngoại giao áp chế. Nhưng những nỗ lực để bảo vệ quyền lợi của họ thường tỏ ra vụng về và phản tác dụng cho hình ảnh và mục đích của họ. Ngoài việc bảo vệ các quyền lợi quốc gia thiển cận, chính sách ngoại giao của họ tỏ ra thụ động cùng cực, đối với một đất nước to lớn và quan trọng như vậy.

Khi bàn tới việc quản trị thế giới, việc này đòi hỏi phân phối ngân sách tùy theo khả năng tổng thể của mỗi quốc gia, cách hành xử của Bắc Kinh bình thường mang tình tiêu cực, và đầu óc thiển cận trong ngoại giao. Trung Quốc có đóng góp trên nhiều vấn đề quản trị thế giới: Các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc, hoạt động chống cướp biển vùng vịnh Eden, các biện pháp chống khủng bố ở Trung Á, viện trợ phát triển cho nước ngoài, chống sự phổ biến vũ khí hạt nhân, y tế công, cứu trợ thiên tai, và chống tội phạm quốc tế. Trong những lãnh vực này, Bắc Kinh có đóng góp xứng đáng. Tuy nhiên, Trung Quốc nên làm và có thể làm nhiều hơn thế nữa. Nhưng họ “đấm box” dưới trọng lượng của họ, vì không đóng góp tỷ lệ với tầm vóc của sự giàu có, hay ảnh hưởng tiềm ẩn của họ. Thế giới nên trông đợi và đòi hỏi Trung quốc đóng góp nhiều hơn nữa.

Tại sao chính sách ngoại giao quản trị thế giới của Trung quốc lại bị gò bó như vậy? Có ba lý do chính:

Thứ nhất, có sự bi quan sâu sa ở trong nội bộ Trung quốc về những ý tưởng tự do và về quan điểm cơ bản trong quản trị thế giới. Họ nghĩ đó là những cái “bẫy” cuối cùng do Phương Tây lập ra (nhất là Hoa Kỳ) để làm chảy máu Trung quốc khi đề nghị Trung Quốc can thiệp vào những cuộc khủng hoảng và những nơi mà Trung quốc không có quyền lợi trực tiếp. Như thế sẽ làm phân tán nguồn lực, và ngăn cản “sự nổi lên” của Trung Quốc.

Thứ hai, người dân Trung Quốc sẽ phê phán chính phủ Trung Quốc phân tán của cải ra nước ngoài, trong khi ở trong nước vẫn còn nhiều nhu cầu khẩn cấp.

Thứ ba, Trung Quốc có một phương án tiếp cận mang tính “đổi chác”, để mở rộng nỗ lực, nhất là khi liên quan tới tiền bạc. Điều này bắt nguồn từ văn hóa thương mại, nhưng được nới rộng ra cho nhiều lãnh vực trong cách hành xử của Trung Quốc. Người Trung Quốc muốn biết chính xác họ sẽ được lợi cái gì, và khi nào, từ những dịch vụ đầu tư nào đó. Như thế, quan niệm toàn bộ về hoạt động từ thiện, và đóng góp bất vụ lợi cho phúc lợi quần chúng rất xa lạ đối với lối suy nghĩ của Trung Quốc.

Kết quả là trong lãnh vực ngoại giao – quản trị song phương, đa phương và toàn cầu – Bắc Kinh đã cho thấy sự thụ động rõ rệt và ngập ngừng tham gia. Họ còn lâu mới trở thành người “stakeholder” (người nắm cổ phần) có trách nhiệm như Robert Zoellick kêu gọi vào năm 2005. Ngoại giao của Bắc Kinh giữ nguyên tính chất ích kỷ, thiển cận, và sự tham gia của họ vào chính sách quản trị toàn cầu là tối thiểu và mang tính chất chiến thuật, chứ không phải là mang tính cách tiêu chuẩn và chiến lược. Tính chất thực sự của ngoại giao Trung quốc là kinh doanh. Hãy coi kỹ những phái đoàn tháp tùng Chủ tịch nước hay Thủ tướng của Trung quốc đi ra nước ngoài, người ta thấy có rất nhiều CEO của các công ty, đi tìm nguồn cung cấp năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, cơ hội mậu dịch hay đầu tư. Chính sách ngoại giao trọng thương như vậy không giúp cho Bắc Kinh được sự kính nể của thế giới, và thực ra thì đã có sự phê phán và thầm thì khắp thế giới. (Nhất là ở châu Phi và châu Mỹ La tinh).

2- SỨC MẠNH QUÂN SỰ

Khả năng quân sự của Trung quốc là một lãnh vực khác cho thấy tính chất đại cường bán phần của nước này. Họ ngày càng trở thành cường quốc khu vực, nhưng không bao giờ là cường quốc mang tính toàn cầu. Trung Quốc không có khả năng viễn phóng sức mạnh quân sự của họ ra khỏi vùng phụ cận ở châu Á. (hỏa tiễn đạn đạo liên lục địa, chương trình không gian, và khả năng chiến tranh mạng). Và ngay cả với châu Á, khả năng viễn phóng sức mạnh (mang quân ra nước ngoài) cũng bị giới hạn, mặc dù có tăng lên). Không ai chắc chắn là Trung Quốc có khả năng triển khai sức mạnh 500 dặm (800 km) xa hơn biên giới của họ (Ví dụ tại Biển Hoa Đông và Hoa Nam) và có thể chịu đựng đủ lâu dài để chiến thắng trong tranh chấp. Lực lượng quân sự của họ không có kinh nghiệm chiến trường, họ không có chiến tranh từ năm 1979 (chiến tranh biên giới Việt Nam).

Chắc chắn là Trung Quốc đã hiện đại hóa quân đội từ 25 năm qua. Hiện nay ngân sách quốc phòng của họ đứng thứ hai trên thế giới (131.6 tỉ USD cho năm 2014). Họ có đạo quân thường trực lớn nhất thế giới, chế tạo nhiều vũ khí tối tân, một hải quân ngày càng du hành xa bờ hơn nữa ở miền Tây Thái Bình Dương, đôi khi qua tới Ấn Độ Dương, và một tầu sân bay hiện đại. Do đó, quân đội Trung quốc không dễ bị đánh bại. Chắc chắn nó có đủ sức để bảo vệ Tổ quốc, và có thể gây chiến thành công với Đài Loan (Nếu không có sự can thiệp nhanh chóng của Hoa Kỳ). Trung quốc được nhìn nhận như một đại cường quân sự khu vực ở châu Á, và như vậy, làm thay đổi cán cân sức mạnh trong khu vực. Nhưng lực lượng quân sự Trung quốc vẫn còn chưa có sức mạnh viễn phóng ra toàn thế giới: Trung quốc không có căn cứ quân sự ở nước ngoài, không có mạng lưới viễn thông và hậu cần dài tay, hệ thống vệ tinh bao phủ thế giới còn thô sơ; hải quân chủ yếu vẫn là lực lượng ven bờ; Không quân không có khả năng tấn công tầm xa, hay khả năng tàng hình được chứng thực; và bộ binh không có khả năng triển khai nhanh chóng.

Hơn thế, về chiến lược mà nói, Trung quốc là một “đại cường cô đơn”, thiếu bạn bè thân thiết và không có đồng minh. Ngay cả đối với người bạn thân cận nhất (Nga), có nhiều yếu tố bất tín nhiệm, và nghi ngờ mang tính lịch sử, nằm sâu dưới cái vỏ quan hệ hài hòa giữa hai nhà nước. Không một quốc gia nào trông vào Bắc Kinh để tìm kiếm an ninh và bảo vệ (Ngoại trừ có lẽ Pakistan). Điều này chứng tỏ Trung quốc thiếu một ảnh hưởng chiến lược, với tư cách là một đại cường. Ngược lại, các quốc gia khác ở châu Á lại tìm cách tăng cường liên kết quân sự với Hoa Kỳ, và tìm cách cải thiện quan hệ giữa họ với nhau. Nguyên nhân chính vì sự bât chắc và mối đe dọa họ nhìn thấy từ Trung Quốc.

3- QUYỀN LỰC MỀM

Chuyển từ quyền lực cứng qua quyền lực mềm, Trung quốc đã xây dựng sức mạnh văn hóa toàn cầu của họ ra sao? Không tốt lắm! Không một xã hội nào tìm cách bắt chước nền văn hóa Trung quốc. Không một xã hội nào tìm cách sao chụp hệ thống chính trị Trung quốc. Và hệ thống kinh tế Trung quốc không được bắt chước ở nước khác. Mặc dù chính phủ Trung quốc đã có nhiều chi phí và nỗ lực để xây dựng quyền lực mềm, và để cải thiện hình ảnh trên khắp thế giới kể từ năm 2008. Trung quốc tiếp tục có uy tín toàn cầu từ mức trung bình tới xấu. Các cuộc thăm dò dư luận tại các quốc gia trên thế giới, người ta nhìn Trung quốc một cách trung bình hay tiêu cực, và ngày càng có thêm những vấn đề.

Trung Quốc không phải là cục nam châm cho mọi người bị cuốn hút. – Cả về văn hóa, xã hội, kinh tế hay chính trị – Vấn đề của Trung Quốc là cả trong bốn lãnh vực này, chúng đều mang tính riêng biệt (sui generis). Trung Quốc thiếu sự hấp dẫn phổ quát ngoài biên giới và ngoài các cộng đồng người Hoa. Lý do chính chỉ vì tính quá riêng biệt trong các lãnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội, chính trị. Tính hấp dẫn của quyền lực mềm của Trung Quốc đi từ yếu tới không hiện hữu.

Các sản phẩm văn hóa Trung quốc – nghệ thật, phim ảnh, văn chương, âm nhạc, giáo dục – vẫn còn tương đối được ít người biết đến ở bên ngoài Trung Quốc. Và những sản phẩm này không tạo được chiều hướng văn hóa toàn cầu. Ngay cả nền kinh tế phát triển đáng ngưỡng mộ của Trung quốc, chỉ là sản phẩm của một tập hợp riêng biệt các nhân tố (features), không thể đem áp dụng cho các quốc gia khác.- Kinh tế cạnh tranh tầm vóc lớn, kế hoạch hóa nhà nước theo kiểu Liên Xô, kinh doanh cá thể, một lực lượng lao động lớn có kỷ luật, một định chế lớn cho Nghiên cứu và Phát triển (R&D), và một FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) khổng lồ. – Ngay cả nếu có một “mô hình Trung Quốc” (điều này còn phải bàn cãi), nó cũng không thể xuất khẩu được, bởi vì các nhân tố trong tập hợp này không hiện hữu ở những nước khác. Hệ thống chính trị Trung quốc giống như một hỗn hợp điện tử, gồm có Chủ nghĩa Mác-Lê nin, chủ nghĩa chuyên chế Á châu, chũ nghĩa Khổng giáo truyền thống, và một nhà nước có guồng máy an ninh nội bộ mạnh mẽ. Sự đặc thù của Trung quốc không thể được nhân rộng ra – Không có một quốc gia nào khác muốn thử nghiệm làm như vậy; và người ta cũng không thấy một người nước ngoài nào muốn xin tị nạn chính trị hay quốc tịch của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc.

4-SỨC MẠNH KINH TẾ

Sức mạnh kinh tế Trung quốc có gì lạ? Đây là lãnh vực mà người ta hy vọng Trung quốc sẽ là một đại cường mang tính toàn cầu, và là người định hướng cho thế giới. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Trung quốc lên thế giới quá nông cạn so với kỳ vọng. Giống như mọi lãnh vực khác, số lượng của Trung quốc gây ấn tượng, nhưng chất lượng quá kém. Trung quốc là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới, nhưng hàng hóa xuất khẩu thường là hàng tiêu dùng cấp hạng thấp; hàng của họ cũng có ít thương hiệu nổi tiếng quốc tế. Chỉ có một số nhỏ công ty đa quốc gia của họ thành công ở nước ngoài. Toàn bộ số vốn Trung quốc mang đầu tư hải ngoại (ODI- Oversea direct investment) chỉ đứng hàng thứ 17 trên thế giới; và các chương trình viện trợ nước ngoài chỉ là một phần nhỏ của quĩ viện trợ của Mỹ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản hay Ngân hàng Thế giới.

Khi khảo sát về chất lượng thay vì số lượng, dung mạo kinh tế mang tính toàn cầu của Trung quốc không có gì ấn tượng. Nó còn là một nền kinh tế chế biến và lắp ráp, chứ không phải là nền kinh tế sáng tạo và sáng chế. Hầu hết hàng hóa sản xuất ở Trung quốc để xuất khẩu ra nước ngoài, đã được sáng tạo ra ở nước khác. Tình trạng ăn cắp phổ biến quyền sở hữu trí tuệ, và chính sách nhà nước “sáng tạo bản địa” (Đã đổ hàng tỷ USD cho R&D mỗi năm), là chỉ dấu cho thấy rõ rệt họ đã thất bại trong việc sáng tạo ra các mặt hàng. Điều này có lẽ sẽ thay đổi với thời gian, nhưng cho tới nay, Trung quốc đã không tạo được tiêu chuẩn quốc tế trong công nghệ hay dây chuyền sản xuất. (Cũng giống như trong khoa học tự nhiên, khoa học y tế, xã hội và nhân văn). Tương tự, Trung quốc chỉ có hai trường đại học nằm trong danh sách 100 đại học tốt nhất thế giới, (Theo báo cáo của Times Higher Ranking – World University Ranking for 2013-2014).

Nếu Trung quốc muốn đẩy mạnh sáng tạo, dĩ nhiên họ phải đầu tư thêm cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Theo National Science Foundation (Quĩ quốc gia về Khoa học) vào năm 2009, Trung quốc chỉ dành có 1.7% GDP cho R&D; so với Mỹ 2.9%, Đức 2.8%, và Nhật Bản 3.3%. Chi phí cho R&D của Trung quốc cũng không nằm trong danh sách 20 quốc gia chi phí nhiều nhất cho R&D của thế giới. 80% quĩ này ở Trung quốc được dùng cho phát triển hàng hóa, và chỉ có 5% dùng cho nghiên cứu cơ bản. Một chỉ dấu cho hiện tượng này là Trung quốc không có nhiều giải Nobel. Từ 1949-2010, có 584 giải Nobel được phát ra, người gốc Hoa chỉ được có 10 giải. Nhưng 8 trong số 10 người này lại sống ở nước ngoài. Chỉ có 2 ngoại lệ là Lưu Hiểu Ba được Giải Hòa bình 2010, và Mặc Ngôn, giải Văn chương 2011. Một chỉ dấu khác là những bài viết có trích dẫn sách Trung quốc. Số bài viết (trong mọi ngành khoa học) của Trung quốc được trích dẫn là 4%, so với Mỹ 49%.

Kết quả là Trung Quốc bị thâm hụt sáng chế triền miên. Quốc gia này đang tiến tới “cái bẫy thu nhập trung bình”. Con đường duy nhất để tránh cái bẫy này là sáng chế, giống như Nhật Bản, Hàn quốc, Đài Loan, Singapore đã làm trước đây. Và điều này đòi hỏi nhiều thứ hơn là quĩ đầu tư cho R&D của chính phủ. Nó đòi hỏi hệ thống giáo dục dựa trên tư duy phê phán, và tự do khám phá. Điều này lại đòi hỏi một hệ thống chính trị tương đối cởi mở và dân chủ, và không cho phép chính sách kiểm duyệt hay “vùng cấm” trong nghiên cứu. Sinh viên và trí thức phải được tưởng thưởng, chứ không phải bị đàn áp hay trừng phạt khi họ dám thách thức sự khôn ngoan qui ước và phạm phải lỗi lầm. Chờ tới lúc đó, Trung quốc sẽ rơi vào “cái bẫy thu nhập trung bình”.- Lắp ráp và sản xuất, chứ không sáng tạo và phát minh-.

Nhìn theo cách này, cỗ xe khổng lồ Trung quốc rất yếu, so với cái vỏ bề ngoài. Các điểm yếu tương tự của Trung quốc cũng nằm trong ODI (Đầu tư trực tiếp hải ngoại). Mặc dù chính phủ dành đặc quyền cho các công ty đi ra ngoài, nhưng tới giờ đầu tư hải ngoại của Trung quốc còn quá nhỏ. Như đã nói ở trên, vốn ODI của Trung quốc chỉ nằm trong danh sách 20 quốc gia hàng đầu thế giới, mặc dù tiền vốn chảy ra ngoài tăng rất nhanh, và đứng hàng thứ ba trên thế giới. (88.2 tỷ USD vào năm 2012). Tuy vậy, số tiền này chỉ bằng 1/4 số tiền ODI của Mỹ, cùng vào thời điểm đó.

Điều đáng nói hơn, như mọi lãnh vực hoạt động khác của Trung quốc, người ta cần nhìn vào thống kê số lượng để đặt ra câu hỏi về chất lượng: Những số vốn này đi đâu? Và có phải là đầu tư thực thụ không? Điểm đến và cơ cấu của ODI Trung quốc thay đổi nhanh chóng từ năm 2011. Nhưng một số lớn là quĩ porfolio (đầu tư vào chứng khoán hay gửi ngân hàng) chảy qua các vùng như Virgin Islands thuộc Anh, hay đảo Grand Cayman. Chúng là điểm đến thứ 2 và thứ 3 của vốn Trung quốc. Như thế, một số không phải là đầu tư hải ngoại. Chúng là những số tiền mang ra nước ngoài để trốn thuế. Điều này không chỉ đúng với chính phủ Trung quốc, mà còn đúng cho vốn của các cá nhân nữa. Trong Sách Xanh về Di dân Trung quốc trên thế giới do Center for Chinese Globalization ấn hành, người ta báo cáo là từ năm 1990, đã có 9.3 triệu người Trung quốc di cư ra nước ngoài, mang theo với họ 2.800 tỷ Nhân dân tệ (46 tỷ USD). Đây không phải là điều mới mẻ, nhưng khuynh hướng này ngày càng tăng trong thập kỷ vừa qua. Khi giới tinh hoa kinh tế rời bỏ đất nước với số lượng lớn như vậy, và quá lo lắng bảo đảm an toàn cho số tiết kiệm cá nhân của họ, điều đó nói lên sự thiếu tin tưởng vào hệ thống chinh trị, kinh tế của chính phủ họ.

Tuy nhiên, gần đây, cách thức đầu tư hải ngoại của Trung quốc có thay đổi: Trung quốc tăng cường đầu tư và mua sắm khắp châu Á, Mỹ la tinh, châu Âu và Hoa Kỳ. Người mua Trung quốc mua hết các loại tài sản – Bất động sản thương mại hay gia cư, xí nghiệp, khu công nghiệp, cơ sở nghiên cứu, nông trại, rừng, mỏ, mỏ dầu khí, và các tài nguyên khác. Các công ty Trung quốc tích cực mua hoặc hòa nhập với công ty nước ngoài. Các tư nhân Trung quốc cũng mua nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị trên thị trường đấu giá. Như thế, cách thức đầu tư hải ngoại của Trung quốc đã thay đổi, nhưng hậu quả thế nào chưa ai biết rõ.

Còn các công ty đa quốc gia Trung quốc đang làm gì? Ở nước ngoài, họ có sức cạnh tranh không? Cũng như các loại hình hoạt động khác, họ có nhiều yếu kém hơn sức mạnh. Về mặt bề ngoài, theo số liệu của Fortune Global 500, các công ty Trung quốc xếp hàng thứ hai, chỉ thua các công ty đa quốc gia của Mỹ. Nhưng việc xếp loại này chỉ dựa trên tổng thu nhập và lợi nhuận, chứ không dựa vào nơi chốn công ty làm ra tiền. Khi quan sát danh sách công ty Trung quốc trong năm 2013, người ta thấy ngay rất ít công ty này hoạt động ở nước ngoài, và chỉ có một số nhỏ kiếm được hơn nửa số thu nhập ở hải ngoại. Như thế, chúng không phải là những công ty đa quốc gia thực thụ, mà đúng hơn, chỉ là những công ty hoạt động nội địa.

Nhiều công ty có lẽ kỳ vọng vươn ra thế giới. Nhưng tới nay, nhiều công ty đã thử sức nhưng không thành công. Có nhiều câu chuyện thất bại hơn là thành công cho những công ty đa quốc gia Trung quốc. Những vụ mua bán, sáp nhập công ty bình thường đổ vỡ, bởi vì lãnh đạo công ty Trung quôc không hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ, hoặc vì va chạm văn hóa. Về nhiều mặt, điểm yếu kém của các công ty đa quốc gia Trung quốc là nguồn nhân lực, nhất là trong quản lý.

Có một số ít quản trị gia quí hiếm, biết nhiều ngôn ngữ và nhiều văn hóa, và các công ty Trung quốc bình thường không thuê người nước ngoài có chuyên môn làm quản trị cao cấp (Hai trường hợp ngoại lệ là Huawei và Haier). Công ty Trung quốc và ban quản trị của họ thường xuyên cho thấy họ không thoát khỏi văn hóa công ty và cách hành xử kinh doanh mang tính quốc gia. Vì họ chú trọng tới thứ bậc, và vị trí nhân viên rõ ràng, người Trung quốc không thích hợp với cách quản trị ngang hàng, nguồn gốc của phân quyền và sáng kiến cá nhân. Khuynh hướng này đã mang lại hậu quả là sự va chạm văn hóa trong các vụ sáp nhập công ty Trung quốc với công ty Tây phương. Các công ty Trung quốc còn cho thấy họ có khó khăn thích ứng với môi trường luật lệ, thuế má, chính trị của nước ngoài. Sự minh bạch trong quản trị công ty bình thường không được thực hiện. Qui trình lấy quyết định của họ bình thường bị mờ đục, cách hành xử trong kinh doanh bình thường tham nhũng, qui trình kế toán bị gian dối. Người ta đã khám phá ra nhiều công ty Trung quôc đã khai man với các cơ quan kiểm tra chứng khoán ở Mỹ, trước khi phát hành IPO (Bán cô phiếu lần đầu tiên cho công chúng).

Sự yếu kém của công ty Trung quốc trong cạnh tranh nổi rõ trong nhãn hiệu quốc tế về hàng hóa. Chỉ có một số ít công ty có khả năng hoạt động ở nước ngoài: Bia Tsingtao, sản phẩm trắng của Haier, viễn thông của Huawei, Hàng không Trung quốc, ô tô Geely, và một số ít nhãn hiệu khác.

5- MỘT SỐ THƯỚC ĐO KHÁC

Một số thước đo khác về sản xuất nội địa cũng cho thấy không có cấp hạng tốt. Năm 2014, Freedom House xếp hạng Trung quốc thứ 183 trên tổng số 197 quốc gia về tự do báo chí. Từ năm 2002, Chỉ số Quản trị Thế giới Tổng hợp (Worldwide Governance Indicators) của Ngân Hàng Thế giới luôn luôn xếp hạng Trung quốc trong nhóm thứ 30 phần trăm về ổn định chính trị và kiểm soát tham nhũng.; nhóm thứ 40 phần trăm cho chất lượng kiểm tra và pháp trị, và dưới 10 phần trăm cho kế toán. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) trong bảng chỉ số cạnh tranh thế giới năm 2013, đã xếp Trung quốc hạng thứ 29, về tham nhũng, hạng thứ 68; và đạo đức làm việc, hạng thứ 54. Tổ chức Minh Bạch quốc tế còn xếp hạng Trung quốc thấp hơn nữa về chỉ số tham nhũng (hạng thứ 80) trong bảng xếp hạng chỉ số tham nhũng năm 2013. Trong hầu hết các phạm trù này, thứ hạng của Trung quốc đã xấu đi nhiều trong thập kỷ vừa qua. Qua những thước đo như vậy, rõ rệt là uy tín trên trường quốc tế chỉ ở mức trung bình là cao nhất. Trong nhiều khía cạnh, Trung quốc đứng ngang hàng với các quốc gia có thành tựu thấp, và ít được kính trọng trên thế giới.

Bảng báo cáo về Sự Phát triển Con người của Liên Hiệp Quốc năm 2013 cho thấy rõ: mặc dù những tiến bộ kinh tế, xã hội, đáng khâm phục của Trung quốc từ thập kỷ 1980, quốc gia này vẫn mang tình chất của một nước đang phát triển. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đứng hàng thứ 101 trên tổng số 187 quôc gia về chỉ số tổng hợp. Thu nhập bình quân đầu người (Tính theo mãi lực tương đương -ppp) khoảng 8000 USD/năm, tuy thế 13.1% dân số vẫn sống dưới mức 1.25USD/ngày. Về tuổi thọ, tử vong trẻ sơ sinh, bảo hiểm y tế, chất lượng giáo dục, và bất bình đẳng xã hội…Trung quốc còn thua xa các quốc gia công nghiệp. Sự hủy hoại môi trường và ô nhiễm đứng vào hạng xấu nhất trên thế giới, và là nguyên nhân của sự phát triển mạnh mẽ của bệnh ung thư. Mặc dù những nỗ lực gần đây của chính phủ: Mở rộng hoạt động y tế, bảo hiểm sức khỏe, hầu hết người dân Trung quốc phải đối mặt với những bất trắc lớn khi bị bệnh tật. Chỉ số Gini (Để đo độ bất bình đẳng xã hội, với 0 là bình đẳng hoàn toàn, 1 là bất bình đẳng hoàn toàn) nằm gần mức 0.5 là mức cao nhất thế giới. Các trường học sơ cấp và trung cấp đã có thành tựu ngang tầm quốc tế, nhưng hệ thống đại học còn chậm lụi rất nhiều so với các trường tốt trên thế giới.

KẾT LUẬN

Những nhận xét này không phải để làm giảm bớt những thành tựu phát triển thần kỳ của Trung quốc trong ba thập kỷ vừa qua, nhưng chúng chỉ giúp ta nhận thức rõ là Trung quốc không đứng đầu thế giới trong các thể loại phát triển.

Đó là cái nhìn về Trung quoc ngày nay, 10 hay 20 năm nữa, vị trí Trung quốc trên thế giới có thể cải thiện trong các thể loại này, và Trung quốc có thể hoạt động trên cơ sở toàn cầu cũng như Hoa Kỳ. Nhưng vào lúc này, cùng lắm, Trung quốc chỉ là một đại cường thế giới bán phần. Tuy thế, người ta không nên giả định là quĩ đạo phát triển của Trung quốc sẽ tiếp tục mãi mãi như vậy. Còn có hai khả năng có thể xảy ra: Tù đọng và suy thoái.

Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng quốc gia này đã đi tới điểm ngoặc về nhiều phương diện: Tăng trưởng tổng thể đang nằm ngang (lý do vì chi phí sản xuất tăng cao, và lợi thế so sánh giảm), và chính phủ đang cố duy trì mức tăng trưởng 7%, rất quan trọng để tạo đủ công ăn việc làm cho người dân, thâu nhận nhân công mới vào thị trường lao động, và duy trì ổn định xã hội. Có lẽ họ đã thử làm, nhưng chính phủ không thể chuyển đổi nền kinh tế từ phụ thuộc vào xuất khẩu, đầu tư qua một nền kinh tế dựa trên tiêu thụ nội địa, và một nền kinh tế dựa trên trí thức sáng tạo. Nền sản xuất không leo lên được bậc thang cao hơn về giá trị và công nghệ, và “cái bẫy thu nhập trung bình” đã xuất hiện, và có thể tồn tại lâu dài. Nợ của nhiều địa phương tăng cao, và nhiều địa phương nằm bên bờ vực phá sản. Bất bình đẳng xã hội trở nên gay gắt, và tham nhũng tràn lan ở cả trong nhà nước và ngoài xã hội, mọi lãnh vực xã hội đều bất mãn. Số người giầu có chạy trốn khỏi đất nước ngày càng tăng, giới trung lưu bị tù hãm, hệ thống chính trị bị hóa thạch và trở nên đàn áp. Cùng lúc đất nước không chấp nhận cải tổ chính trị và luật pháp.(Những cải tổ này rất cần cho giai đoạn tăng trưởng sắp tới), bởi vì chúng va chạm trực tiếp tới tính độc quyền của Đảng Cộng sản Trung quốc.

Nhiều nhà Trung quốc học hiện nay cho rằng chính Đảng Cộng sản Trung quốc là chướng ngại cho sự tăng trưởng và phát triển trong tương lai của Trung quốc. Đảng trở thành một định chế ngày càng bất an, sơ cứng, yếu ớt, đã bị tê liệt từ năm 2008. Một phần lý do của sự tê liệt này là sự chuyển đổi lãnh đạo xảy ra vào năm 2012 và cuộc đấu tranh phe phái (Vụ Bạc Hi Lai là một). Họ còn phải đối phó với các cuộc nổi loạn ở khắp nước (Đặc biệt là ở Tây Tạng và Tân Cương). Còn có thêm một số nhân tố khiến Đảng co cụm lại, và tăng cường đàn áp trong 5 năm qua, kể cả mối lo sợ do Mùa xuân Ả Rập mang lại.

Nhưng người ta không nhận thấy tiến triển về cải tổ từ khi Tập Cận Bình được chuyển giao quyền lực. Ngược lại, đàn áp chính trị lại được tăng cao từ khi Tập nắm quyền. Ngay cả cuộc họp thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương tháng 11-2013, được loan báo là sẽ có cải tổ chính trị, cuối cùng chỉ là một mơ ước chứ không phải là sự thật.

Đó là những vấn đề cháy bỏng rất nguy hiểm mà các chuyên gia về Trung quốc nghĩ rằng quốc gia này đang đối mặt. Đó là một loạt thách thức cho người dân và chính phủ Trung quốc phải giải quyết. Như thế, người quan sát không thể mù quáng nghĩ rằng tương lai Trung quốc sẽ có được động lực như 30 năm qua, hay đó là con đường đi tới qui chế đại cường thế giới sẽ tiếp tục.

David Sambaugh, giáo sư về chính trị và chính sách đối ngoại Đại học George Washington, Giám đốc Chương trình Chính sách Trung Quốc, Thành viên của Viện nghiên cứu Brookings. Tác giả cuốn sách: China goes global: The Partial Power, Oxford University Press 2013.

Nguồn: National Interest. Bản dịch tiếng Việt được chia sẻ trên diễn đàn ICT-VN.

@Danluan

‘Thảm họa nếu Mỹ – Trung đối đầu’

Chủ tịch Tập Cận Bình tiếp Ngoại trưởng Mỹ John Kerry

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói sẽ là thảm họa nếu Bắc Kinh và Hoa Kỳ ở thế đối đầu.

Ông Tập bình luận như vậy giữa lúc đối thoại thường niên Mỹ – Trung diễn ra ở Bắc Kinh.

Dự kiến các nhà ngoại giao sẽ bàn về đồng nhân dân tệ của Trung Quốc, Bắc Hàn và căng thẳng trên Biển Đông.

Phái đoàn Hoa Kỳ do Ngoại trưởng John Kerry dẫn đầu và ông nói trong diễn văn khai mạc rằng Hoa Kỳ không tìm cách “kiềm chế” Trung Quốc.

Ông Tập nói lợi ích của hai nước “gắn kết với nhau hơn bao giờ hết” và hai bên sẽ được lợi nhiều khi hợp tác.

“Đối đầu Trung – Mỹ, đối với hai nước và với thế giới, sẽ chắc chắn là thảm họa,” ông nói.

“Chúng ta cần tôn trọng lẫn nhau và đối xử với nhau bình đẳng, tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền, cũng như tôn trọng sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi nước.”

Trong khi đó ông Kerry nói Hoa Kỳ “không tìm cách kiềm chế Trung Quốc” và thúc giục Bắc Kinh không nên “xem đó như chiến lược toàn diện” của Hoa Kỳ mỗi khi Washington không đồng ý với Trung Quốc về những vấn đề nhất định.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng nói trong một tuyên bố rằng Hoa Kỳ “hoan nghênh sự trỗi dậy của một đất nước Trung Quốc ổn định, hòa bình và thịnh vượng”.

“Chúng tôi vẫn quyết tâm đảm bảo rằng hợp tác là yếu tố căn bản của mối quan hệ tổng thể,” ông nói.

‘Vai trò có trách nhiệm’

Mặc dù vậy các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ cũng kêu gọi Trung Quốc góp phần giữ ổn định ở châu Á.

Ông Kerry nói Hoa Kỳ hoan nghênh Trung Quốc “góp phần cho ổn định và phát triển trong khu vực và đóng vai trò có trách nhiệm trên thế giới”.

Đàm phán với Trung Quốc diễn ra khi Bắc Kinh đang có tranh chấp gay gắt với vài nước láng giềng trong vùng, nhất là Việt Nam và Philippines, liên quan tới Biển Đông.

Về phía mình, Hoa Kỳ đã tăng các cuộc tập trận với Philippines và sự hiện diện của quân đội tại đó, điều khiến Trung Quốc lo ngại.

Hai tuần trước, một cuộc diễn tập như vậy đã diễn ra ở Biển Đông.

Ngôn ngữ chống Nhật tại Trung Quốc cũng gia tăng mấy tuần gần đây, sau khi chính phủ Nhật diễn giải lại hiến pháp, cho phép quân đội nhiều quyền hơn tại nước ngoài.

@bbc

Từ an ninh Nhật – Úc đến 50 dàn khoan TQ

Hugh White, cựu Thứ trưởng Quốc phòng Úc

Nhân chuyến thăm Úc của Thủ tướng Nhật Bản, Shinzo Abe và các diễn biến tiếp tục tại Biển Đông, BBC Tiếng Việt xin trích đăng một số ý kiến đánh giá cục diện an ninh và chính trị khu vực.Trả lời BBC tiếng Trung về đối thoại chiến lược Mỹ – Trung tuần này ở Bắc Kinh và về chính sách xoay trục sang châu Á của Obama:

Bằng việc dồn ép Philippines và Việt Nam, Trung Quốc đang muốn cho các đồng minh và bạn của Mỹ thấy là Hoa Kỳ không thể tin tưởng được. Bằng hành động đó, Trung Quốc hy vọng sẽ làm suy yếu ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực. Họ đang đánh cược rằng Mỹ sẽ không đối đầu với Trung Quốc.

Người ta có thể hiểu vì sao Bắc Kinh nghĩ vậy. Chúng ta có thể thấy bảng thành tích của Obama ở Trung Đông, rằng Mỹ rất do dự khi quyết định tham gia vào xung đột ở đây, ở Ukraine, và các nơi khác.

Nhưng có rủi ro là suy nghĩ đó có thể sai, bởi lợi ích của Mỹ ở châu Á là rất quan trọng. Ví dụ như nếu họ thất bại trong việc trợ giúp Nhật Bản trong cuộc khủng hoảng ở Senkaku/Điếu Ngư, điều này sẽ làm tổn hại quan hệ của Mỹ với Nhật, cũng như vị trí của Washington tại khu vực.

Trung Quốc có thể đã sai bởi Mỹ có thể muốn trợ giúp Nhật Bản. Đó là lý do vì sao rủi ro đối đầu là khá cao. Chúng ta có một tình huống cổ điển ở đây như hồi năm 1914 (thời điểm Thế chiến thứ nhất diễn ra).

Trung Quốc nghĩ có thể dồn ép bởi Mỹ sẽ lùi bước, còn Mỹ cũng nghĩ có thể dồn ép bởi Trung Quốc sẽ lùi bước. Cả hai có thể đều sai.

Hoa Kỳ muốn tăng sự hiện diện quân sự ở châu Á

Ở châu Á, ông Obama muốn giữ vai trò chủ đạo của Mỹ, và phản ứng lại bất cứ thỏa hiệp nào với Trung Quốc. Đó thực sự là chính sách “xoay trục” của Obama.

Ngay chính giữa của chính sách xoay trục là ý tưởng rằng nước Mỹ phải sử dụng, như lời Obama, tất cả các yếu tố của sức mạnh Mỹ để bảo vệ hiện trạng, không chấp nhận nhượng bộ với Trung Quốc. Tôi nghĩ đó là chính sách sai lầm. Tôi cho là ông ấy không thực hiện nó một cách hiệu quả.

Cuối cùng, chính sách xoay trục đã không đưa lại nhiều sức mạnh Mỹ đến châu Á. Nếu nó làm được, sẽ khó để chỉ đơn giản là chấp nhận thách thức từ Trung Quốc và từ chối thỏa hiệp. Sau cùng, Trung Quốc hiện đang gần có một nền kinh tế lớn hơn Mỹ tính theo ngang giá sức mua (PPP).

Vì thế việc Trung Quốc đối đầu với Mỹ là mối nguy lớn nhất mà Mỹ từng đối mặt.

Về mặt kinh tế, họ mạnh hơn hẳn Liên Xô ngày xưa. Vì thế tôi nghĩ sẽ không thực tế cho chính sách ngoại giao của Obama khi cứ giả định rằng Mỹ có thể duy trì địa vị số một tại châu Á và từ chối thỏa hiệp với Trung Quốc.

Nhưng đó là điều mà Obama đã cố làm. Ông ấy đã thử và thất bại, kết quả là uy tín an ninh của Mỹ tại châu Á đã bị xói mòn.

Tôi nghĩ đó là những thứ mà chúng ta thấy trong việc Nhật Bản lo lắng về tương lai đồng minh của mình. Và đó là thứ đứng phía sau các thay đổi trong chính sách ngoại giao gần đây của Nhật B

**********

Roger Mitton viết trên Myanmar Times

Sang thăm Việt Nam, Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì nói thẳng với lãnh đạo Việt Nam rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục “sử dụng mọi biện pháp có thể” để bảo vệ chủ quyền và hoạt động của dàn khoan dầu, mà theo quan điểm của Bắc Kinh, đang nằm hoàn toàn trong lãnh hải Trung Quốc.

Ông cảnh báo rằng Việt Nam sẽ hứng chịu nặng nề nếu hợp tác với các nước khác, ví dụ như Hoa Kỳ, nhằm chống lại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc hay tham gia cùng Philippines để khiếu nại lên Liên Hiệp Quốc.

Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói thêm “Việt Nam cần phải đình chỉ quấy nhiễu đối với sự tác nghiệp của Trung Quốc, đình chỉ thổi phồng bất đồng, gây ra tranh chấp mới, xử lý và khắc phục tốt hậu quả các vụ bạo lực nghiêm trọng gần đây.”

Đắng ngắt vì bị mắng mỏ, các lãnh đạo Hà Nội đã mở một cuộc họp Bộ Chính trị nữa ngay sau khi ông Dương ra về. Một cuộc tranh luận nảy lửa đã xảy ra.

Sau chuyến thăm của ông Dương, Bộ trưởng Phạm Bình Minh đã phải hoãn chuyến đi Mỹ

Ông Edmund Malesky, chuyên gia quan sát Việt Nam tại Đại học Duke, Hoa Kỳ nói:

“Ban lãnh đạo Việt Nam bị giằng xé về quan hệ với Trung Quốc,”

Một nhóm, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu, lập luận rằng Hà Nội cần đứng vững và tiếp tục vận động để Washington trợ giúp.

Một phái khác, do TBT Đảng, Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu, chống lại chủ trương đó và kêu gọi để làm sao Bắc Kinh không bị bực bội thêm nữa, và phe của ông ta đã thắng.

Kết quả là, một chuyến thăm dự tính xảy ra trong tháng này của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sang Hoa Kỳ đã bị xếp lại.

Về cơ bản, Hà Nội đã đầu hàng. Sẽ không có thêm cuộc biểu tình nào cả, cũng chẳng có chuyện khiếu nại gì lên Liên Hiệp Quốc, không có diễn tập quân sự với Hoa Kỳ và cũng không đi đầu một khối ASEAN thống nhất chống lại Bắc Kinh.

Trong khi đó, Trung Quốc đã đưa thêm một dàn khoan vào khu vực lãnh hải tranh chấp và nói họ có kế hoạch đưa them khoảng 50 dàn khoan nữa trong những năm tới. Và đó là điều Trung Quốc sẽ làm.

************

Erin Zimmerman trong bài trên The Diplomat

Có nhiều lợi ích trong việc tăng cường gắn kết với Trung Quốc thông qua các diễn đàn đa phương.

Trước hết, đưa Trung Quốc vào các tiến trình khu vực sẽ tạo ra môi trường gắn kết mang tính xây dựng, khuyến khích Bắc Kinh chứng tỏ ảnh hưởng tích cực của họ đến khu vực.

Thêm vào đó, các nước châu Á nhỏ hơn có thể sử dụng các tiến trình đa phương như Hội nghị Thượng định Đông Á, Diễn đàn Khu vực ASEAN, và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM – Plus) để giảm thiểu ảnh hưởng của Trung Quốc và cho thấy một mặt trận thống nhất về những vấn đề an ninh.

Sự thật là Bắc Kinh đã tăng cường tham gia vào các đối thoại đa phương, mặc dù có quá khứ chống đối điều này.

Nó cho thấy sự cởi mở của Trung Quốc trong việc gắn kết khu vực, xu thế mà nên được khuyến khích bởi tất cả các quốc gia có lợi ích an ninh ở châu Á.

Trung Quốc tham gia các diễn đàn khu vực như ASEAN

Nói tóm lại, các nhân tố chính trị ở châu Á cần hiểu rõ tình hình chính trị nội địa của Trung Quốc và nhỏ tiếng hơn trong các diễn đàn chung, nếu không họ sẽ làm tăng thêm sự bất ổn mà chính họ muốn tránh.

Các bên nên cho thấy nỗ lực công khai trong việc gắn kết Trung Quốc trong an ninh khu vực nhiều nhất có thể.

Làm như vậy, họ sẽ loại trừ được bất cứ lý do nào Bắc Kinh đưa ra cho những hành động đơn phương, và tránh kích động tình huống nội địa ở Trung Quốc mà dẫn đến cách hành vi khiêu khích.

Không nên im lặng các chỉ trích, nhưng nó nên được đưa ra một cách riêng tư hơn, qua đó cho phép Bắc Kinh phản ứng mà không chịu áp lực của chủ nghĩa dân tộc. Làm như vậy sẽ khiến sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc dễ đạt được hơn.

************

Celia Hutton, BBC News Blog

Trong quá khứ, lễ kỷ niệm vụ Nhật tấn công Trung Quốc 7/7/1937 (biến cố Lư Cầu Kiều hay Marco Polo Bridge Incident) thường được tổ chức rất nhỏ.

Năm ngoái, truyền hình quốc gia Trung Quốc có chạy hai phút tin mô tả quan chức Đảng Cộng sản ở địa phương đặt hoa ở Lư Cầu Kiều.

Nhưng năm nay, cả một chương trình 90 phút trên truyền hình Trung Quốc về ngày kỷ niệm có mục tiêu gây sức ép lên Tokyo để buộc Nhật xin lỗi về các tội ác chiến tranh, gồm cả chuyện buộc phụ nữ Trung Quốc làm nô lệ tình dục, và vụ thảm sát Nam Kinh năm 1937.

Cả hai nước Trung Nhật cũng vẫn đang dính vào các vụ tranh chấp trong khu vực.

Cả hai đều đang tuyên bố chủ quyền ở các dãy đảo ngoài biển Hoa Đông, mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và Nhật Bản gọi là Senkaku.

Tuần trước, Nhật Bản đã khiến nhiều người Trung Quốc nhột mình sau khi diễn giải lại hiến pháp cho phép lực lượng vũ trang của Nhật nhiều khả năng tham chiến ở nước ngoài hơn.

Buổi lễ hôm thứ Hai 7/7 là chủ đề chính cho hàng triệu người dùng mạng xã hội Weibo ở Trung Quốc.

Người TQ làm to lễ tưởng niệm vụ Lư Cầu Kiều 7/7/1937

Một lời bình điển hình: “Đây là sự sỉ nhục dân tộc mà chúng ta không thể nào quên.”

Hay là câu hỏi: ”Tình hữu nghị Trung – Nhật là cái gì thế?”.

“Sói luôn ăn thịt người, và làm bạn với kẻ thù là một tội ác.”

Trong hàng nghìn lời bình trên mạng, chỉ có một thiểu số rất nhỏ đặt câu hỏi về buổi lễ được truyền hình trực tiếp với 1000 khách gồm các lãnh đạo cao cấp nhất.

“Hãy xem, chính quyền làm gì thế để khuấy động dân chúng? Tạo ra căm giận vì mục tiêu chính trị là điều xấu và sẽ chỉ làm tình hình tồi hơn,” ý kiến trái chiều viết.

@BBC