Các nhóm xã hội dân sự độc lập và Ngày Việt Nam tại Geneva

Trong lúc mọi người ở Việt Nam đang chuẩn bị đón giao thừa, phái đoàn đã vừa tổ chức thành công sự kiện Ngày Việt Nam tại Phòng họp XXIV trong khuôn viên trụ sở Liên Hiệp Quốc.

Sự kiện này được các nhóm hội dân sự độc lập trong nước phối hợp cùng Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International), Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch, International Service for Human Rights và CIVICUS đứng ra tổ chức.

Đến dự sự kiện có Phái bộ các nước Hoa Kỳ, Na Uy, Thụy Sĩ, Liên Hiệp Châu Âu cùng đại diện các tổ chức quốc tế về nhân quyền có trụ sở tại Geneva như Văn bút Quốc tế (PEN International), HRW, ISHR…

Ngay sau sự kiện Ngày Việt Nam, phái đoàn đã chia thành hai nhóm. Một nhóm tiếp xúc với Phái bộ Hoa Kỳ, Hungary và Costa Rica (là một trong ba nước troika trong phiên UPR của Việt Nam). Nhóm còn lại làm việc với Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và văn phòng các Báo cáo viên Đặc biệt về Nhân quyền của tổ chức này.

12362_1448650892030744_942301041_n.jpg1506912_1448652795363887_1859572255_n.jpg1536711_581320551961719_738580117_n.jpg1546178_1448651812030652_209012501_n_0.jpg202720_1448646655364501_1730005495_o.jpg
1546129_1448651522030681_1920554715_n.jpg1607012_1448651008697399_26849442_n.jpg1653377_1448652875363879_1533669045_n.jpg1546264_1448653498697150_1613092959_n.jpg1546352_1448653388697161_1330211025_n.jpg1622886_1448653165363850_447101428_n.jpgPhái đoàn chụp ảnh lưu niệm với các khách mời tại Palais Des Nations.

Lá thư của cháu Trần Phan Yến Nhi về việc ông nội không được chính quyền trả tự do trước Tết như đã hứa

LÁ THƯ VỪA MỚI VIẾT XONG CỦA CHÁU TRẦN PHAN YẾN NHI

– Kính gửi Quý Ông/ Bà ở Tổ Chức Nhân Quyền Thế Giới;
– Các quý Ông/ Bà cộng đồng người việt ở trong nước và ở nước ngoài.

Hôm 14/01/2014 cháu đang học ở trường lúc đó 11h40, cha cháu đến rước cháu về và bảo là con về có hai người công an gặp con. Sau đó hai Bác công an gặp cháu và hỏi rằng: ai đã viết thư gửi đến tổ chức nhân quyền thế giới cùng với Ông/Bà ở trong nước và ở nước ngoài? Cháu trả lời là cháu viết. Có ai xúi giục không? Cháu trả lời là không. Viết thư với mục đích gì? Cháu trả lời là không mục đích nào khác ngoài việc viết thư kêu gọi các Quý Tổ Chức Nhân Quyền Thế giới cùng các Quý Ông/ Bà ở trong và ngoài nước lên tiếng cứu giúp cho Ông Nội cháu được thả vì Ông ở tù lâu quá rồi hơn nữa Ông mang rất nhiều bệnh tật. Sau đó hai Bác công an bảo là: Cháu cứ an tâm, ông cháu sẽ về trong tuần sau ăn tết với gia đình cháu vì đang chờ cấp trên xem xét ký lệnh tha cho Ông Nội cháu. Ông cháu sẽ về trước tết… Cháu nghe hai Bác công an nói cháu mừng không thể nào tả nổi.

Trần Phan Yến Nhi, cháu nội tù nhân thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu

Cháu chờ đúng 1 tuần vẫn chưa thấy Ông của cháu về tức là ngày 21/01. Rồi cháu lại chờ thêm 1 tuần sau tức ngày 28/01 nhưng cháu chẳng thấy Ông đâu, tiếp theo đến ngày 29 lại qua ngày 30 tết, ngày giao thừa thế là hết… 16 ngày chờ đợi cháu thấy nó dài thê thảm quá vậy mà 38 năm ở tù của Ông không biết nó dài ra sao? Mỗi lần cháu nghe chuông điện thoại của Cha cháu reo là cháu hồi hộp vì chắc có lẽ đó là có người báo cho Cha và cháu để đi đón Ông về, nhưng lần nào cũng tuyệt vọng. Từ lúc cháu gặp và nghe hai Bác công an nói vậy không đêm nào cháu ngủ được yên giấc vì trông Ông về và thương cho Ông cháu quá. Cháu và Mẹ đã chuẩn bị bánh tét, chuối khô và đặc biệt là cốm dẹp Ông cháu rất thích ăn, nhưng bánh tét và chuối khô Ông cháu ăn được còn cốm dẹp thì chắc Ông ăn không được vì Ông chỉ còn 1 chiếc răng làm sao Ông ăn được.

Tội cho Ông quá Ông ơi, mỗi lần cháu nhìn những thứ này cháu không cầm được nước mắt, cháu nhất định sẽ chờ Ông về cùng ăn với cháu. Cháu nhớ như in những lời hai Bác công an nói là Ông sẽ về trước tết nhưng lúc đó có lẽ cháu mừng quá cho nên cháu quên hỏi hai Bác công an là: “Trước tết năm nào Ông cháu mới về…?” Cháu đi học thầy, Cô bảo là không được nói dối, cháu đã không biết nói dối nhưng tại sao cháu lại phải nhận được lời nói dối.

Vậy nay cháu viết thư này gửi đến các Quý Tổ Chức Nhân Quyền Thế Giới; cùng Các quý Ông/ Bà cộng đồng người việt ở trong nước và ở nước ngoài được biết là Ông của cháu chưa được thả “trước tết”. Cháu cầu mong Quý Tổ Chức Nhân Quyền Thế Giới; cùng Các quý Ông/Bà cộng đồng người việt ở trong nước và ở nước ngoài tiếp tục lên tiếng để giúp cho Ông của cháu được về với cháu, chứ trông Ông về trước tết là cháu không biết “Trước tết năm nào nữa rồi” cháu rất tuyệt vọng.

Nhân dịp năm mới cháu kính chúc Quý Ông/Bà ở Tổ Chức Nhân Quyền Thế Giới; cùng Các quý Ông/ Bà cộng đồng người việt ở trong nước và ở nước ngoài một năm mới An Khang Thịnh Vượng! Dồi dào sức khỏe.

“Trước tết”, ngày 30/01/2014
Cháu chào Quý Ông/Bà
Cháu Trần Phan Yến Nhi

Phút giao thừa của tù nhân lương tâm VN

Biểu tình đòi thả tù nhân lương tâm VN ở hải ngoại

Biểu tình đòi thả tù nhân lương tâm Việt Nam ở hải ngoại

Blogger Điếu Cày tức Nguyễn Văn Hải bị đau dạ dày và tiếp tục gửi các kháng nghị mà không được hồi đáp, Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ bị chuyển sang phòng giam mới nơi ông phải nằm sàn xi măng, luật sư Lê Quốc Quân bị tước giấy bút viết và Kinh Thánh, bị giam chung với ‘tù nghiện’, theo người nhà các tù nhân lương tâm này từ Việt Nam.

Hôm 30/01/2014, nhân dịp Việt Nam sắp chào đón Tết cổ truyền và năm mới Giáp Ngọ, BBC đã liên hệ với một số gia đình tù nhân lương tâm và cựu tù nhân để cập nhật tình hình Tết này của họ.

Bà Dương Thị Tân, vợ cũ của blogger Điếu Cày cho BBC hay hôm thứ Năm rằng mặc dù tình hình sức khỏe của ông Hải không tốt, ông vẫn bị giam giữ đặc biệt, không được điều trị bệnh viêm loét dạ dày, cũng như các di chứng từ các lần ông tuyệt thực đề lại.

“Ngày 20/12, cháu vào thăm, ông nói rằng là ông không được đi ra ngoài, ông không ra khỏi bốn bức tường giam ông ấy, vì không được đi ra thể dục, không được đi ra lao động, giống như một cái biệt giam, tuy là có giam chung với hai người khác, hai người đó thì được đi làm, nhưng cháu lại nói với tôi là ông rất gầy và đen,

“Thì tôi nghĩ tình trạng sức khỏe của ông ấy, cộng với thời tiết khắc nghiệt ở cái miền rừng núi đó, nó làm cho ông tím tái và có vẻ không khỏe như là như thế,

“Hơn nữa bao tử của ông ấy, sau hai lần tuyệt thực như thế, nó đã bị loét rất trầm trọng, ông đã nói là ông làm đơn để xin khám bệnh, tức là những yêu cầu về y tế nhiều lần, nhưng người ta không có đáp ứng.”

Hơn nữa bao tử của ông ấy, sau hai lần tuyệt thực như thế, nó đã bị loét rất trầm trọng, ông đã nói là ông làm đơn để xin khám bệnh, tức là những yêu cầu về y tế nhiều lần, nhưng người ta không có đáp ứng

Bà Dương Thị Tân (vợ cũ ông Điếu Cày)

Bà Tân cũng cho hay tới nay yêu cầu của ông Hải đòi nhà chức trách phải gửi văn bản bản án, cùng một số giấy tờ thuộc hồ sơ vụ án “trốn thuế” của ông cho đại diện gia đình đã không được thực hiện.

Bà Tân cho hay Tết này gia đình rất lo lắng cho ông, nhưng chưa thu xếp bay từ miền Nam ra thăm ông được vì chi phí đắt đỏ, nhưng nhấn mạnh bệnh tình của ông Hải cần được điều trị kịp thời và cho rằng việc chính quyền hành xử như là ‘trả thù’ với ông là đáng lên án và phải chấm dứt.

‘Phải nằm sàn xi măng’

Cũng hôm thứ Năm, Luật sư Dương Hà, vợ của tù nhân lương tâm, Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, cho BBC hay gần Tết bà và gia đình đã vào thăm chồng bà, trước đó, ông Hà Vũ đã bị chuyển sang một phòng giam khác với điều kiện ‘khắc nghiệt’ hơn.

Bà nói: “Hôm 26 Tết, tôi có vào thăm chồng tôi, anh ấy đã bị chuyển sang phòng giam mới với điều kiện tệ hơn rất nhiều, chúng tôi không biết lý do vì sao, nhưng phòng giam mới rất ẩm thấp, lạnh, điều kiện vệ sinh rất tồi,

“Chồng tôi phải nằm sàn xi măng và khi chuyển buồng, thậm chí không được mang theo chiếu để nằm, các sách vở, bản thảo mà chồng tôi viết lách đều bị họ giữ,

Truyền hình VTV

Bà Dương Hà nói sau sự kiện phóng sự VTV tung ra năm trước, gần đây ông Hà Vũ đã bị chuyển phòng giam

“Anh ấy có lần còn bị bỏ đói, người hiện bị phù thũng rất nặng, các bệnh tim bẩm sinh không thuyên giảm và bệnh huyết áp cao thường xuyên hoành hành.”

Bà Dương Hà nói huyết áp của ông Hà Vũ có lúc lên rất cao ở mức 184/100 và tình hình sức khỏe rất đáng lo ngại.

“Chồng tôi và bản thân chúng tôi vẫn luôn luôn khẳng định anh ấy vô tội, nhưng hiện chúng tôi chưa thể biết khi nào thì anh ấy mới có thể được trao trả tự do,” bà nói với BBC.

Cũng hôm 30 Tết Giáp Ngọ, ông Lê Quốc Quyết, em ruột của luật sư bất đồng chính kiến Lê Quốc Quân, người đang bị giam sau khi bị tòa sơ thẩm ở Hà Nội tuyên là phạm tội ‘trốn thuế’ cho hay anh ruột của ông đang phải đối diện với những điều kiện giam giữ căng thẳng hơn.

“Hôm 21/1 này, chúng tôi vào thăm anh ấy, anh Quân nói là anh ấy đã bị người ta lấy đi giấy bút, cũng như Kinh Thánh,

“Anh ấy cũng nói là hiện đang bị giam chung với nhiều thường phạm, trong đó có những người nghiện ngập,”

Ông Quyết nói với BBC bản thân ông trong thời gian vận động tự do cho anh trai của mình cũng đã bị những người mà ông tin là “an ninh” đánh đập, sách nhiễu, bị cản trở ra đi lại và xuất cảnh.

“Tết này nhà tôi cũng rất buồn, cả nhà, trừ mẹ chúng tôi, đều bị hạn chế xuất cảnh, bản thân tôi bị một số người mà tôi chắc là an ninh theo dõi chặt chẽ, tôi cũng bị hành hung”.

Ông Quyết cho biết ngày 18/02/2014, vụ án của ông anh ruột ông sẽ được đem ra phúc thẩm.

‘Ra tù rồi cũng bị sách nhiễu’

Hôm 30/01, ông Phạm Văn Trội nói với BBC ông là một trong số nhiều cựu tù nhân lương tâm bị chính quyền liên tục cô lập, sách nhiễu và khủng bố, dù đã được trả tự do.

Tết này nhà tôi cũng rất buồn, cả nhà, trừ mẹ chúng tôi, đều bị hạn chế xuất cảnh, bản thân tôi bị một số người mà tôi chắc là an ninh theo dõi chặt chẽ, tôi cũng bị hành hung

Em trai LS Lê Quốc Quân

Trước hết, ông Trội nói về việc đón Tết của gia đình ông.

“Gia đình nhà tôi cũng chuẩn bị tết năm nay cũng giống như mọi năm thôi, nói chung là cũng không khí buồn, không vui lắm. Trước đấy mây hôm, an ninh đã rất nhiều lần họ rằn mặt gia đình tôi, về vấn đề đi lại, tết nhất, trong dịp Tết này, chắc là khó khăn trong vấn đề đi lại.”

Ông Trội cho hay tư khi ông ra tù tới nay đã hơn một năm, an ninh thành phố cũng như ở địa phương đã liên tục đe dọa, hành hung, sách nhiễu những người đến thăm nhà riêng của ông, thậm chí đánh đập ‘dã man’ một số người như trường hợp của ông Huỳnh Ngọc Tuấn trong lần nhà vận động nhân quyền này cùng nhóm của luật sư Lê Thị Công Nhân đến thăm.

Ông Phạm Văn Trội

Ông Phạm Văn Trội nói nhà cầm quyền muốn cách ly, cô lập và vô hiệu hóa ông

“Họ tìm mọi cách để ngăn cản tôi tiếp xúc với những người đấu tranh ở Việt Nam, họ nhằm mục đích những kinh nghiệm của tội không thể đến được với những người bắt đầu tham gia đấu tranh”.

Ông Trội cho hay ông hiện bị cô lập, không thể có hoạt động kinh tế nào mà buộc phải phụ thuộc vào thu nhập từ đồng ương của vợ ông, trong lúc hai vợ chồng còn có hai con nhỏ phải nuôi nấng.

‘Thông điệp gửi UPR ở Thụy Sỹ’

Hôm thứ Năm, ông Trội, một người có chuyên môn về lĩnh vực “quản lý xã hội” nói với BBC ông hy vọng cuộc kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền đối với các quốc gia trong đó có Việt Nam (UPR) sẽ có tác động chấm dứt những tệ nạn trấn áp, vi phạm nhân quyền ở Viêt Nam.

Ông nói: “Tôi mong muốn lần điều trần này ở Thụy Sỹ sẽ diễn ra nghiêm túc và các thông tin về nhân quyền ở Việt Nam được gửi tới nhà chính trị ở các nước, để họ thấu hiểu về tình hình nhân quyền Việt Nam, và có những biện pháp, bước đi cụ thể để đáp ứng tinh thần và đòi hỏi về nhân quyền của nhân dân Việt Nam, và chỉ có như thế, tôi nghĩ Việt Nam mới cường thịnh được.”

Vì chính những thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ đã bỏ phiếu để Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc, thì họ phải có trách nhiệm với lá phiếu của họ

Bà Dương Thị Tân

Cũng nhân dịp sự kiện này, từ Sài Gòn bà Dương Thị Tân, vợ cũ của blogger Điếu Cày bày tỏ và gửi gắm thông điệp.

Bà nói: “Chúng tôi mong muốn một sự giám sát của Tổ chức Nhân quyền Quốc tế về những điều mà Việt Nam đã, đang và sẽ làm với đất nước, nhân dân và những người tranh đấu như chúng tôi, vì chính những thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu để Việt Nam, chính phủ Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc,

“Thì họ phải có trách nhiệm với lá phiếu của họ. Họ phải có cách để giám sát Việt Nam, cho nhà cầm quyền Việt Nam biết được rằng là họ làm như thế có xứng đáng không, đấy là lời nói từ sự bức xúc của gia đình tôi, nhưng tôi cũng nghĩ chắc chắn một điều là những người đấu tranh trong nước, cũng như nhân dân chúng tôi đang rất cần những sự giám sát, những chế tài đó,” vợ cũ của blogger Điếu Cày nói với BBC

@bbc

Trận đánh vào các huyền thoại

Nguyễn Hưng Quốc

@ Blog Nguyenhungquoc,VOA

Nếu huyền thoại là chất dinh dưỡng cho các chế độ độc tài thì, để chống lại độc tài và để tranh đấu cho dân chủ, một trong những việc làm cần thiết nhất là đánh vào các huyền thoại.

Làm sụp đổ các huyền thoại cũng là làm sụp đổ một trong những nền móng văn hóa của độc tài.

Ở Việt Nam, những huyền thoại đóng vai trò hỗ trợ cho độc tài như vậy rất nhiều. Có thể phân thành ba loại chính: huyền thoại yêu nước, huyền thoại cách mạng và huyền thoại Hồ Chí Minh.

Trước hết là huyền thoại yêu nước. Trong suốt gần một thế kỷ vừa qua, từ khi mới được thành lập vào năm 1930 đến nay, bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng sản luôn luôn nhắm đến một mục đích: chứng mình là họ, chỉ có họ, mới thực sự yêu nước. Tất cả những người còn lại, ngoài đảng của họ, thuộc một trong hai loại: hoặc bán nước hoặc hờ hững với đất nước.

Theo kiểu tuyên truyền ấy, trước năm 1945, tất cả các lực lượng chính trị không phải Cộng sản đều bị kết tội hoặc thân Pháp hoặc thân Nhật: thân bên nào cũng đều là bán nước; thời kháng chiến chống Pháp, tất cả các đảng phái khác, ngoài đảng Cộng sản, đều là bán nước; thời chiến tranh Nam Bắc, chính quyền và các đảng phái chính trị ở miền Nam đều là bán nước. Còn những người không công khai theo “giặc” nhưng cũng không theo Cộng sản đều bị cho hờ hững với đất nước, và hỡ hững cũng có nghĩa là gián tiếp đầu hàng “giặc”.

Luận điệu này dễ thấy nhất là qua cách đánh giá nhóm Tự Lực văn đoàn và phong trào Thơ Mới thời 1932-45.

Đối với người đọc bình thường, hầu như ai cũng thấy là hầu hết các tác giả trong hai phong trào này đều rất mực tha thiết không những đối với tiếng Việt hay cảnh sắc thiên nhiên của đất nước mà còn đối với số phận của đất nước nói chung. Bằng thơ văn, họ ca ngợi vẻ đẹp của quê hương và tình nghĩa giữa con người đối với con người. Họ khao khát muốn xây dựng một tài sản văn hóa giàu đẹp cho đất nước.

Vậy mà, dưới mắt của đảng Cộng sản, ít nhất cho đến thời kỳ đổi mới kể từ nửa sau thập niên 1980, họ, tất cả những con người tài hoa và giàu nhiệt huyết ấy, đều bị xem là đồng lõa với “giặc” trong việc đánh lạc hướng dư luận nhằm mục đích kéo dài ách đô hộ của thực dân Pháp. Ngay một nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới sau này trở thành một ngòi bút tuyên truyền đắc lực của Cộng sản, cũng tự nhận thời ấy, “Tổ quốc trong lòng ta mà có cũng như không / Nhân dân ở quanh ta mà ta chẳng thấy / Thơ xuôi tay như nước chảy xuôi dòng.” Nhà phê bình Hoài Thanh, tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam nổi tiếng, cũng cho là trong phong trào Thơ Mới, cái phong trào trước đây ông ca ngợi nhiệt liệt, thực chất là một tiếng thở dài bất lực trước ngoại xâm. Và bất lực cũng có nghĩa là đầu hàng. Vì vậy, hơn ai hết, trong suốt mấy chục năm, chính ông chứ không phải là ai khác, đã lên tiếng phê phán phong trào Thơ Mới một cách dữ dội. Dữ dội đến tàn nhẫn, hay nói theo Xuân Sách, “bất cận nhân tình”.

Để biện chính cho huyền thoại yêu nước ấy, về mặt lý luận, từ sau năm 1954, đảng Cộng sản định nghĩa lại khái niệm yêu nước: Với họ, yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội. Sau này, khi chủ nghĩa xã hội đã bị sụp đổ ở ngay mảnh đất tổ của nó: Liên Xô, người ta không còn nhắc đến câu định nghĩa này nữa, nhưng trên mặt trận tuyên truyền, họ vẫn khăng khăng lặp đi lặp lại một điều: chỉ có họ mới yêu nước.

Ở đây, chính những sự kiện liên quan đến Hoàng Sa đã đặt đảng Cộng sản vào một thử thách đáng kể: Trong khi họ, qua bức công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Trung Quốc, nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa, chính những người lính Việt Nam Cộng Hòa, vào năm 1974, đã sẵn sàng hy sinh cả mạng sống của mình để bảo vệ những hòn đảo xa xôi và nhỏ xíu ấy chỉ một lý do đơn giản: đó là lãnh thổ của Việt Nam.

Hai sự kiện ấy đều khiến đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay lâm vào thế khó xử: Một mặt, họ vẫn chưa tìm ra cách để giải thích bức công hàm  bán nước của Phạm Văn Đồng; mặt khác, họ vẫn loay hoay chưa tìm ra cách ứng xử khôn ngoan đối với 74 người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong trận đương đầu với Trung Quốc năm 1974.

Thứ hai là huyền thoại cách mạng. Cũng giống như trong lãnh vực yêu nước, ở đây, Cộng sản cũng vẫn có ý định giành độc quyền: Chỉ có họ mới thực sự làm cách mạng, không những cách mạng về chính trị mà còn cả cách mạng về kinh tế, xã hội và văn hóa nữa. Tất cả những thất bại của họ đều được đẩy sang phạm trù lịch sử: Tại hoàn cảnh lịch sử chứ không phải tại họ. Trước đây, dân chúng đã nhận ra sự ngụy biện ấy khi châm biếm, qua câu ca dao: “Mất mùa là tại thiên tai / Được mùa là bởi thiên tài đảng ta.” Nhưng đó là những huyền thoại về kinh tế. Với các huyền thoại về chính trị, nhất là huyền thoại giải phóng đất nước, vẫn có nhiều điều rất cần bị phê phán.

Cuối cùng là huyền thoại Hồ Chí Minh.

Mọi đảng Cộng sản trên thế giới đều xây dựng tính chính đáng (legitimacy) của chế độ dựa trên sự quyến rũ và huyền thoại của lãnh tụ, đặc biệt, người sáng lập. Lãnh tụ sáng lập đảng biến thành một vị thần chễm chệ trên các bàn thờ gia đình và được ướp xác để giữ trong lăng để mọi người cúng vái.

Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng vậy. Trước, người ta tô vẽ Hồ Chí Minh thành một vị cha già vừa yêu nước vừa thương dân; sau, người ta còn có tham vọng biến ông thành một nhà tư tưởng để bổ sung cho Karl Marx và Lenin. Trước, người ta dồn hết công lao của đảng vào một mình ông; sau, khi những sai lầm của đảng càng ngày càng bị vạch trần, không thế giấu giếm hoặc biện bạch được nữa, người ta tìm cách bào chữa cho ông và đổ tội, trước, cho các cố vấn Trung Quốc, và sau, cho Lê Duẩn và Lê Đức Thọ: Thời cải cách ruộng đất, chính các cố vấn Trung Quốc, chứ không phải Hồ Chí Minh, ra lệnh giết hại những người vô tội; và thời chiến tranh Nam Bắc, từ đầu thập niên 1960 về sau, chính Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chứ không phải Hồ Chí Minh, đã ra tay đàn áp trí thức miền Bắc và ra lệnh tấn công miền Nam, kể cả trong vụ Tết Mậu Thân. Nhưng khi biện bạch như vậy, đảng Cộng sản lại đối diện với một nguy hiểm khác: thừa nhận Hồ Chí Minh bất lực. Ít nhất ở một số khía cạnh và lãnh vực nào đó.

Có thể nói, ở cả ba huyền thoại làm nền tảng cho chế độ, từ huyền thoại yêu nước đến huyền thoại cách mạng và huyền thoại Hồ Chí Minh, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Việt Nam đều gặp rất nhiều khó khăn.

Nếu trong việc chống lại độc tài, người ta chỉ cần ra sức đánh sập các huyền thoại ấy, trong cuộc vận động cho dân chủ, người ta cần làm thêm một bước nữa: tẩy rửa các huyền thoại ấy ra khỏi tâm thức người dân.

Để không ai còn luyến tiếc và muốn bảo vệ cho những cái không có thực.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Lượm lặt tin 30-1-2014

VietJetAir mua 62 máy bay Airbus

VietJetAir đã có đường bay quốc tế

Hãng hàng không tư nhân VietJetAir chuẩn bị mua 62 chiếc máy bay Airbus, tổng trị giá 6,1 tỷ đôla.

Ý định thư mua số máy bay này đã được VietJetAir ký từ tháng Chín năm ngoái.

Nay hãng tin AFP dẫn lời giám đốc điều hành VietJetAir Lưu Đức Khánh nói hợp đồng khổng lồ này sẽ được ký kết với Airbus tại hội chợ hàng không Singapore vào tháng Hai.

62 máy bay này là loại A320 bay tầm trung. VietJetAir cũng từng lộ ý định mua thêm 30 chiếc khác. Tiền mua máy bay được nói là các khoản vay ngân hàng nước ngoài.

Hiện hãng này chỉ mới có một chục máy bay đi thuê.

VietJetAir khai trương năm 2011 và phát triển nhanh chóng trong thị trường bay giá rẻ của Việt Nam.

Tới nay VietJetAir bay tới 11 thành phố ở Việt Nam và Bangkok ở Thái Lan.

Hãng AFP cho hay trong số các máy bay sẽ mua có 14 chiếc A320 loại hiện sử dụng và 42 chiếc loại A320Neo mới, được tung ra thị trường năm 2015 với tính năng tiết kiệm nhiên liệu.

Sáu chiếc còn lại là loại A321 thân dài, có thể chứa 220 ghế.

Hai máy bay đầu tiên trong đơn hàng sẽ được giao vào cuối năm 2014. Sau đó mỗi năm, hãng sẽ nhận từ 5 đến 10 máy bay cho đến 2022.

Có đánh giá VietJetAir đã chiếm một phần năm thị trường trong nước.

—————————

Hoa Tết Miền Tây

Phái đoàn dân sự độc lập VN tiếp xúc với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền và chính giới Âu châu

Với bà Therese Murdock, đại diện Liên minh Dân chủ Tự do châu Âu và ông Philipp Woschitz, Advocacy Officer -  Front Line Defenders - EU Office

Với bà Therese Murdock, đại diện Liên minh Dân chủ Tự do châu Âu
và ông Philipp Woschitz, Advocacy Officer –
Front Line Defenders – EU Office

Ngay trước khi rời New York đi Brussels vào chiều ngày 27 tháng 1 năm 2014, các bạn đại diện cho phái đoàn dân sự độc lập VOICE, Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Dân Làm Báo, Con Đường Việt Nam, Phật Giáo Hòa Hảo Truyền thống, No-U Việt Nam, Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam đã có tiếp xúc với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) tại trụ sở chính của tổ chức này tại New York.

Tiếp đón phái đoàn là là ông Phelim Kine, Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Human Rights Watch.

Các bạn Trịnh Hội, Nguyễn Anh Tuấn và Phạm Đoan Trang đã giới thiệu các báo cáo mới nhất về các sinh hoạt xã hội dân sự, các nỗ lực tranh đấu cho nhân quyền của các blogger và những người hoạt động nhân quyền tại Việt Nam, đặc biệt là cuộc vận động 0258. Ông Phelim Kine cũng cho biết chiến dịch này cũng đã được đề cập trong bản Báo Cáo Nhân Quyền Thế Giới 2014 của HRW và ông xem đó là một trong những bước tiến triển mới của phong trào quyền dân sự ở Việt Nam.

Trong dịp này, ông Kine đã gợi ý sắp xếp cuộc gặp giữa phái đoàn dân sự độc lập Việt Nam và đại diện của Theo dõi Nhân quyền tại Geneva trong những ngày phái đoàn làm việc tại đó. Để gia tăng phối hợp các bạn blogger đã đề nghị một số phương hướng hợp tác sâu sắc hơn trong tương lai, cụ thể là Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Dân Làm Báo, VOICE cùng với HRW thiết lập một cơ chế thông tin về nhân quyền hiệu quả hơn. Những đề nghị này đã được người đại diện của HRW tán dương và đồng ý.

Các bạn Việt Nam đã cảm ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ của HRW cho phái đoàn nói riêng và phong trào dân sự ở Việt Nam nói chung, đặc biệt là nỗ lực thông tin, lên tiếng và tranh đấu cho Nhân quyền tại Việt Nam trong suốt nhiều năm qua.

*

Vào lúc 3 giờ chiều, ngày 28 tháng 1 năm 2014, chỉ vài giờ sau đến Brussels, nơi được xem là thủ đô của Cộng đồng chung Âu châu (EU), các đại diện của phái đoàn dân sự độc lập Việt Nam đã tiếp xúc và làm việc với bà Annemie Neyts-Uyttebroeck, Nghị viên châu Âu và bà Therese Murdock thuộc Liên minh Dân chủ và Tự do châu Âu (Alliance of Liberals and Democrats for Europe).

Cuộc gặp gỡ được diễn ra tại Nghị viện châu Âu, Brussels, Bỉ.

Bà Annemie Neyts cho biết EU và Việt Nam đã ký kết Hiệp định Đối tác và Hợp tác (Partnership and Cooperation Agreement) vào năm 2012 và nay đang trong tiến trình đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do (FTA). Bà Annemie Neyts, trong vị trí là Chủ tịch Hội đồng Quản trị Cơ quan Ngoại thương, đóng vai trò quan trọng trong quá trình đàm phán này.

Với bà Annemie Neyts, Nghị viên châu Âu,  thành viên Liên minh Dân chủ Tự do Châu Âu,  Chủ tịch Hội đồng Quản trị Cơ quan Ngoại thương

Với bà Annemie Neyts, Nghị viên châu Âu,
thành viên Liên minh Dân chủ Tự do Châu Âu,
Chủ tịch Hội đồng Quản trị Cơ quan Ngoại thương

Bà Annemie Neyts hỏi thăm về mục đích và các hoạt động của phái đoàn, hứa sẽ sắp xếp một cuộc gặp giữa phái đoàn và đại diện Nghị viện tại Geneva nhân dịp UPR.

Đoàn đại diện của Việt Nam đã trình bày các hoạt động trước, trong và sau UPR và tham vấn bà Annemie Neyts về những cách thức hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức xã hội về các cơ chế nhân quyền quốc tế, trong đó có cả các cơ chế của Liên minh châu Âu.

Sau khi kết thúc buổi làm việc với bà Annemie Neyts, phái đoàn đã làm việc với bà Therese Murdock, đại diện Liên minh Dân chủ Tự do châu Âu.
Bên cạnh việc trao đổi về các hoạt động của phái đoàn trong suốt thời gian vừa qua, đôi bên đã thảo luận về các khả năng hợp tác, trong đó nhấn mạnh tới việc tổ chức những khóa đào tạo về quyền con người và xã hội dân sự – vốn là những lĩnh vực còn mới mẻ ở Việt Nam – cho các bạn trẻ, đặc biệt là các thành viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam và những người hoạt động về Nhân quyền.

Bà Murdock cùng với các đại diện Việt Nam đã đồng ý về tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức xã hội về nhân quyền và vai trò của xã hội dân sự trong sự phát triển của Việt Nam.

Cuộc tiếp xúc, vận động kế tiếp tại Brussels là với tổ chức nhân quyền quốc tế Front Line Defenders, The Human Rights Working Group (COHOM), Human Rights and Democracy Network và European Instrument for Democracy and Human Rights (EIDHR) thuộc European Commission.

Mạng Lưới Blogger Việt Nam sẽ tiếp tục cập nhật những hoạt động của phái đoàn dân sự độc lập Việt Nam trong chuyến công tác UPR Việt Nam này.

Theo Mạng Lưới Blogger

Câu chuyện đêm giao thừa

phao
Đêm giao thừa (Qúi Tỵ 2013) năm ngoái, tôi có viết về Mẹ. Tuy mẹ là mẹ của riêng mình, nhưng tôi nhận được khá nhiều sự đồng cảm từ bạn bè, cũng như người thân. Và năm nay, vào cái giờ phút linh thiêng, vần vũ của đất trời, tôi đã đặt bút định viết về cha. Nhưng hình ảnh cha thoắt ẩn, thoắt hiện trong trí nhớ non nớt của tôi. Bởi khi cha mất còn rất trẻ và tôi lại còn quá nhỏ. Có lẽ, hằn sâu trong ký ức tôi nhất, hình ảnh ngày tết, ngày xuân, đội cờ đỏ ập vào nhà thu đồ nghề và bắt cha đi, vì can tội khám, chữa bệnh lậu cho những người dân cù bất cù bơ, không có tiêu chuẩn vào trạm xá, hoặc bệnh viện…

Đang mông lung như vậy, chợt tiếng chuông điện thoại, cắt ngang dòng suy nghĩ ấy. Thì ra, ông bạn quen đã gần ba mươi năm, từ thời cùng sống trong cư xá Grünau, thành phố Leipzig. Hắn bảo, ngày tết trốn ồn ào, lễ lạt, nhậu nhoẹt chúc tụng, dắt vợ sang Singapore nghỉ ngơi, vừa giảm cân đỡ bệnh tật, lại tránh được phiền toái… Hàn huyên một hồi, trước khi tắt máy, hắn còn đùa, gần chục năm không về, uổng phí quá. Việt Nam bây giờ đang nhiều chân dài, còn sức nên về chiến đấu, chứ để mấy năm nữa Batterie leer (hết pin) thì hỏng hết bánh kẹo đấy.
Coi nhau là bạn, nhưng thật ra hắn thuộc thế hệ trên tôi. Trước khi sang Đức, hắn đã là người lính vượt Trường Sơn vào Nam oánh cho “Mỹ phải cút, Ngụy phải nhào“. Lại là đảng viên, mỳ chính cánh, nên sau chiến tranh, hắn được cộng mấy điểm, khi thi vào đại học. Ra trường, hắn được ẵm về một cơ quan trung ương, làm trong phòng hành chánh. Nghe có vẻ oai phong, sang trọng, nhưng ngày đó những năm đầu 1980, mấy thằng tư bản đang dãy chết, chưa được phép mang ngoại tệ vào Việt Nam, làm hỏng đường lối kinh tế của cụ Mác. Và phong trào nuốt, ngậm, bán chác, thu hồi đất cát, cũng như tình trạng xin, vay tiền nước ngoài, không như bây giờ, nên hắn chẳng có gì để chấm mút, móc máy. Do vậy, lúc nào hắn cũng trong tình trạng khát, vật vờ. Cái đói thường trực, dài cả cổ họng ấy, buộc hắn phải tìm kiếm.

Bán sức lao động ở nước ngoài, là con đường duy nhất, kéo vợ con ra khỏi cơn khủng hoảng, suy dinh dưỡng toàn phần, hắn có thể thực hiện được. Nào là có quen cả với những Tuấn, Vui, Xuân ở cục hợp tác lao động, nhưng không có đạn bắn, dù đã qua ải thi tiếng Đức, hắn vẫn trượt chân làm đội trưởng như thường. Không thể sống trong sự may rủi, chờ đợi, hắn xung thẳng vào đội quân đánh thuê ở nhà máy dệt may Leipzig.

Được mấy năm, bức tường Berlin sụp đổ, đã có lưng vốn kha khá, cộng với tiền đền bù, hắn chuồn về với vợ con. Trong lúc tranh tối, tranh sáng, đạn dược dư thừa, hắn bắn rụng giá treo, ngồi vào nghế trưởng chi nhánh Hà Nội cho một tổng công ty của nhà nước có trụ sở chính ở Sài Gòn.

Nhưng cái sự đời, của chung không ai khóc, công ty của hắn húp hít nhiều hơn làm ra của cải vật chất, nên hàng năm phải xin ngân sách nhà nước, (thật ra hút tiền thuế của dân) để bù lỗ. Văn phòng chi nhánh của hắn to vật vưỡng, chỉ là nơi xe pháo ra vào nghỉ chân, đàn đúm nhậu nhoẹt của các đấng ngồi trên. Hắn có công đóng góp không nhỏ vào sự tàn phá và bòn rút này. Công ty, nhà máy càng xập xệ, thâm thủng bao nhiêu, thì hắn càng hồng hào béo tốt bấy nhiêu.

Rồi đánh đùng một phát, hắn được hưởng lộc của giời. Công ty của hắn cổ phần hóa. Thế là, đám cánh hẩu, định giá đất cát, tài sản công ty của hắn từ trong Nam ra đến ngoài Bắc, rẻ như bèo. Và cũng chẳng có ông bà công nông dân thấp cổ bé họng nào, vào đây mà tranh giành đóng góp, mua bán với bọn hắn được. Cổ phần của hắn nhiều chỉ đứng sau tay chủ tịch hội đồng quản trị, đương nhiên hắn được nhảy tót lên nắm giữ chức tổng giám đốc. Từ đây, tài lộc của hắn, cứ tịnh tiến. Lấy chỗ nọ đập chỗ kia, tay không bắt giặc, hắn nắm giữ cổ phần tài sản của nhiều công ty, nằm rải rác trong nước. Đất đai, nhà cửa của những địa chủ “cường hào đại gian đại ác“ bị xử bắn trong cải cách khi xưa, chỉ đáng xếp vào hạng đàn em hắt hơi, xì mũi của hắn mà thôi.

Thật là, có khác gì cướp ngày. Cho nên có lần tức khí, tôi hỏi hắn, ông làm thế không sợ có lúc bị mắc nghẹn, chết tươi như thằng Dũng Cảng( Dương Chí Dũng, nguyên cục trưởng hàng hải- là cựu công nhân lao động ở Đức) hay sao? Hắn cười sằng sặc, văng tục: Mua bán đàng hoàng, dây rợ từ trên xuống dưới, chết thế đéo nào được. Dũng Cảng còn nhiều điều uẩn khúc, nhưng nó chết là phải. Còn những thằng cựu công nhân từ Đức về, như tao, Tuấn Thổ(Nông Đức Tuấn)… tằng tằng, còn lâu mới chết nhé.

Đích nhắm tiếp theo của hắn, là rỉa rói một số tài sản, nằm trong 500 doanh nghiệp, nhà máy, nhà nước chuẩn bị cổ phần hóa đến năm 2015 đấy. Qủa thật, nghe nhà nước sẽ cổ phần hóa 500 doanh nghiệp, không riêng tôi mà rất nhiều người có tâm trạng buồn vui lẫn lộn. Vui vì từ nay người dân đỡ bị rút máu nuôi cái đám vật vờ, ký sinh. Buồn vì đất đai tài sản của đất nước lại rơi vào tay bọn đại cường hào mới. Với cái cụm từ cổ phần hóa này, chẳng qua nó là một mĩ từ, che đậy sự biến của công thành của riêng một cách hợp pháp mà thôi. Việc cổ phần, tư nhân hóa là trở lại cái cũ, ông cha ta đã sống với nó, từ mấy ngàn năm qua rồi.

Nhân nhắc đến những cựu công nhân lao động ở Đức, dựa vào vây cánh, gia đình, đường quan (lộ) thẳng tiến, giầu sang ngất ngưởng, làm tôi nghĩ đến ba ông em sang Đức cùng thời, nhưng lại phải về thế giới bên kia quá sớm. Ba ông em này, đều là công nhân hợp tác lao động ở cùng thành phố Leipzig với tôi. Một tên có bố là ủy viên bộ chính trị ĐCSVN và một có bố ủy viên trung ương đảng. Còn cái thằng thân với tôi nhất, nguyên là sinh viên trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Can tội đánh nhau trên sân bóng, hai thằng đều bị thương. Nhưng thằng đánh nhau với hắn có bố làm ở trung ương to hơn chức phó chủ tịch tỉnh của bố hắn, nên hắn bị đuổi học. Buồn chán hắn sang Đức lao động. Sau đó, hắn có bố vợ nguyên là sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã viết một truyện ngắn về hắn với tựa đề, Bức Hình Cũ.

Sau khi bức tường Berlin sụp đổ, dù bố còn đương chức, kêu gọi về với công việc và tương lai rộng mở. Nhưng cả ba ông em, dứt khoát từ chối, ở lại nước Đức và chọn công việc gian khổ nhất bán hàng ngoài chợ, rồi đều trở thành những thợ lắc chảo.

Phải nói ba ông em này, rất khí khái, ngoan và lễ phép, có một chút ngang tàng đáng yêu. Nhưng cả ba đều đoản thọ, mất vào cái tuổi trên ba mươi. Chỉ ông em có bố là ủy viên bộ chính trị, bị ung thư gan, biết trước, nên đã kịp đưa về, mất trên đất mẹ. Hai ông em còn lại, đang khỏe như trâu, xóc chảo như điên, đột nhiên bị Schlaganfall (nhồi máu cơ tim), mất ngay trong đêm. Làm cho bạn bè như chúng tôi kinh hãi, đau đớn. Không phải là người mê tín hay tướng số, nhưng trước ba cái chết, có sự trùng hợp kỳ lạ này, đến nay tôi vẫn chưa tìm ra lời giải đáp?
Gần đây, báo chí trong nước, không hiểu hay cố tình không hiểu ý nghĩa câu thành ngữ “danh gia vọng tộc“ để viết về gia đình cũng như bản thân Dương Chí Dũng, cựu Kollege(bạn đồng nghiệp) có thời cùng cảnh làm thuê, cuốc mướn ở Đức với chúng tôi.

“Danh gia vọng tộc“ chỉ những gia đình danh tiếng, chức cao quyền lớn, được mọi người yêu mến và thật sự kính trọng. Tôi không rõ xuất thân của ông Dương Khắc Thụ, cha của Dương Chí Dũng. Nhưng việc ông đưa con cái, dòng họ, trong đó có Dương Tự Trọng, tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa vào ngành cảnh sát, dưới quyền quản lý trực tiếp của mình, tạo nên vây cánh. Thì quả thật, với ông chỉ còn là sự kính sợ, chứ không phải là kính trọng, trong con mắt người đời.

Có câu đồng dao lưu hành trong giới học đường “ Dốt chuyên tu, ngu tại chức“. Tất nhiên, không phải ông bà chuyên tu, tại chức nào cũng ngu và dốt. Nhiều người tự học vẫn giỏi như thường. Nhưng với đồng chí cựu công nhân xuất khẩu Dương Chí Dũng, chỉ cần tráng mỡ ba năm tại chức, đồng chí phọt thẳng lên Tiến sỹ ở trường Đại học thương mại. Khi tôi điện và hỏi thằng bạn phó giáo sư, Tiến sỹ thật (không phải TS đểu vì nó học và làm tiến sỹ ở Canada) đang giảng dạy ở trong nước, về luận văn TS của Dương Chí Dũng. Nó không trả lời, chỉ nghe trong máy có tiếng cười đểu đểu đập thẳng vào tai. Như vậy, cái bằng Tiến Sỹ của Dương Chí Dũng sinh ra để hình thức hóa sự tiến chức, thăng quyền mà thôi. Chứ con người đạo đức, giỏi giang thật sự ai đi làm cái chuyện tàn phá đất nước một cách dã man đến thế.

Như vậy, cái danh, cái vọng gì cho gia đình Dương Chí Dũng ở đây? Vâng! Có lẽ cái danh đó, chỉ là danh giả và sự trọng vọng ấy cũng chỉ còn là sự coi thường, khinh bỉ? Khi báo chí đang cố vớt vát, che đậy lại cho cái bộ mặt thật đó.

Nhưng có một điều khó hiểu, trong vụ án Vinalines, không thấy cơ quan nào, nhắc đến trách nhiệm các bác cấp trên của Dương Chí Dũng. Chả lẽ, các bác vẫn giữ thói quen, được khoe, thua không biết hoặc im lặng…Thành ra vẫn phải nói: Không có cái nghề gì dễ bằng làm quan thời nay.

Năm mới cầu mong, ông bạn (cùng thời lao động ở Đức) hãy tránh xa (quả bom) 500 công ty sắp được cổ phần hóa. Đêm giao thừa năm tới, vẫn còn gọi điện được cho tôi. Bằng không, phải ngồi viết văn tế sống như cho cựu Kollege Dũng Cảng thì buồn lắm.

Leipzig- ngày đầu xuân Giáp Ngọ 2014

Đỗ Trường

Chính sách ngoại giao “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”

china-vnCuối năm 2013, Hà Nội nhận thêm chiếc tàu ngầm Kilo thứ hai. Đây là tàu ngầm nằm trong đợt đặt hàng 2.4 tỷ dollars mua vũ khí quân sự gồm 6 tàu ngầm Kilo và 12 chiến đấu cơ Su-30MKK. Su-30MKK là chiến đấu cơ tối tân, có thể bay hơn 4 giờ với tốc độ 1350km/hr, mỗi chiếc giá từ $40 đến $50 triệu dollars. Bên cạnh đơn đặt hàng mua vũ khí của Nga, Ấn Độ và một số nước khác. Do Thái cũng đã đồng ý tân trang vũ khí và thiết bị quân sự của Việt Nam từ thời chiến tranh Mỹ-Việt, giúp Việt Nam sửa chữa và nâng cấp hơn 300 chiếc xe tăng T54, T55 cho 10 tiểu đoàn lính tăng của Hà Nội.

Trong các cuộc thảo luận kín đáo, Việt Nam luôn muốn Mỹ tái trang bị các vũ khí quân sự cho Việt Nam, giúp Việt Nam sửa chữa nhiều quân dụng từ thời chiến Mỹ-Việt hiện đang nằm ụ vì không có chuyên viên và đồ phụ tùng thay thế. Mặc dù không có vũ khí tôi tân của Mỹ, Hà nội cũng có thể bỏ tiền mua vũ khí từ các nước khác, không có mợ thì chợ vẫn đông. Nhưng thực tế, một đội quân đang nỗ lực hiện đại hoá quân đội để “kẻ thù nào cũng đánh thắng” mà trang thiết bị quân sự, vũ khí tham chiến năm cha ba mẹ, thì khó lòng đối đấu với khả năng quân sự dồi dào và thuần chủng của Trung Cộng.

Thực chất Việt Nam cần vũ khí cũa Mỹ không chỉ đơn thuần ở bề mặt hiện đại hoá quân đội. Việc một Việt Nam sử dụng vũ khí Mỹ còn có tính răn đe và chiều sâu trong quan hệ chiến lược quốc phòng Mỹ-Việt.

Vừa Tân Trang Vừa Lo Sợ

Việt Nam chi 2% ngân sách cho quốc phòng, tương đương hơn 2 tỷ dollars. Với những chi tiêu cho tàu ngầm, máy bay chiến đấu của Nga, vũ khí phòng thủ của Ấn Độ, nuôi ăn và trang bị cho hơn nửa triệu quân v.v.., chi phí quốc phòng Việt Nam phải cao hơn con số 2 tỷ rất nhiều. Mặc dù dấu kín nhưng theo các chuyên gia quốc tế, ngân sách quốc phòng Việt Nam có thể ước lượng từ 8 đến 10 tỷ dollars. So với ngân sách quốc phòng Trung Quốc, chừng 200 tỷ dollars, và tiềm năng kinh tế quốc gia vô cùng dồi dào; có thể nói Việt Nam có khả năng mua súng nhưng sẽ thiếu tiền mua đạn. Khi chiến tranh Biển Đông bùng nổ, không có tiếp viện quân sự, không có liên minh với các quốc gia đồng minh, không có hỗ trợ của khối Asean, kinh tế yếu kém, uy tín quốc gia thì tồi, nhà cầm quyền Việt Nam sẽ không đủ khả năng cầm cự trong giai đoạn ngắn hạn vì bị cô lập và kiệt quệ tài chánh. Vì vậy, nỗ lực lôi kéo Hoa Kỳ đứng về phiá Việt Nam vẫn là những ve vãn chiến lược để cầm chân Trung Cộng mà giới quân sự Việt Nam đang nhắm tới. Tuy nhiên, vì nhiều lý do thầm kín nội bộ, những tính toán của Việt Nam đã không thể hiện một cách nhất quán, vì bị ảnh hưởng quá sâu từ Trung Cộng.

Trong bài nhận định về quan hệ quân sự Mỹ và Việt Nam, đại tá Hải quân William Jordan kết luận “Mặc dù Hoa Kỳ và Việt Nam cùng có chung quan điểm chiến lược về tình hình Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó không chấp nhận tham vọng đòi chủ quyền 12 hải lý của Trung Cộng và cần có một sự quân bình với quyền lực vừa trỗi dậy trong vùng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa thể hiện cụ thể họ muốn gì trong quan hệ đối tác đồng minh với Hoa Kỳ để đạt được các mục tiêu trên”. (1)

Để có thể tạo ảnh hưởng Hoa kỳ đối với giới quân sự Việt Nam, đại tá William đề nghị Hoa Kỳ nên giúp đỡ Việt Nam mua các thiết bị quân sự để tái trang bị, sửa chữa máy bay UH-1 cũng như xe tăng bị hỏng từ thời Việt Nam Cộng Hoà. Qua đó, gia tăng mối giao dịch vũ khí để từng bước vận động giải toả các ràng buộc của qui chế bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Tuy nhiên, mặc dù cần Hoa Kỳ để làm thế đối trọng với Trung Cộng, bài bản của Hà Nội trong quan hệ quân sự với Mỹ cho thấy họ bị kẹt trong vòng quay của Trung Cộng. Nói cách khác, Việt Nam không dám dính chặt với Hoa kỳ về một số phương diện quân sự vì lãnh đaọ Đảng CSVN đã bị chi phối và đe doạ từ Trung Cộng. Theo William, Hà Nội khai dụng sự hiện diện của Hoa kỳ như một sự mặc cả với Tàu. Ngược lại, với chính sách “cầm chân Tàu” của Hoa Kỳ đã làm cho Việt Nam bị lúng túng trong quan hệ với Hoa Kỳ. Những chính sách đu dây của Việt Nam đã làm cho Hoa Thịnh Đốn khó hiểu và bực dọc, khi một mặt thì coi Trung Cộng là đối tượng có tham vọng ở Biển Đông cần phải ngăn chận. Ngược lại, trong nhiều trường hợp, Hà Nội đặt quan hệ hữu nghị với Trung Cộng ở mức độ cao, hết sức tin cậy, có cùng quan điểm chung vì quyền lợi . Và vì vậy, cần phải tái thẩm định quan hệ chiến lược quân sự với Hoa Kỳ.

Cái Thòng Lọng “Ba Không”

Với chính sách ngoại giao, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, Việt Nam hoàn toàn bị động trong quan hệ Mỹ-Việt-Trung vì không dám đứng hẳn về một bên. Ý đồ cân bằng quyền lực giữa Mỹ-Trung để Việt Nam mua thời gian “hiện đại hoá quân đội” và kéo dài tình trạng cai trị độc đảng, đã và đang bị áp lực từ nhiều phiá, nhất là trước tham vọng chiếm lãnh hải và đảo, công khai, và ngang ngược của Trung Cộng.

Liên hệ quân sự Mỹ – Trung – Việt chỉ mang tính giai đoạn, chiến thuật. Khi nào Tàu ve vãn Việt Nam, thì quan hệ Mỹ-Việt trên bình diện quốc phòng lại bị cầm chân. Khi nào Trung Cộng gia tăng các hoạt động quân sự, trở mặt lấn chiếm và uy hiếp biển Đông, Việt Nam lại quay ra trông chờ Hoa Kỳ lên tiếng, áp lực. Hồi tháng 8 năm 2012, khi Tàu vuốt ve giới quân sự Việt Nam để ngăn chận ảnh hưởng Hoa Kỳ, Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ quốc phòng miễn cưỡng ký kết các thoả ước với Hoa Kỳ mà trước đó đôi bên đã từng đồng ý. (1)

Trả lời báo chí hồi tháng 8/2010 tại Bắc Kinh, Nguyễn Chí Vịnh tuyên bố: “Không nên đặt Việt Nam – Mỹ – Trung trong mối quan hệ tay ba, mà cần tách bạch quan hệ Việt – Trung và quan hệ Việt – Mỹ. Không nên vội vàng khi đánh giá về chiến lược của các nước, nhất là các nước lớn. Về phần Việt Nam, chúng tôi sẽ không bao giờ trở thành đồng minh quân sự của Mỹ. Và không chỉ với Mỹ, Việt Nam sẽ không trở thành đồng minh quân sự của bất kỳ quốc gia nào. Chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước chúng tôi thể hiện nhất quán phương châm “ba không”: Không tham gia các liên minh quân sự, hoặc là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào; Không cho bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam; Không dựa vào nước này để chống nước kia”.

Thực chất chính sách quốc phòng “ba không” của Việt Nam chính là “ba yêu sách” của Trung Cộng, nằm trong chiến lược vô hiệu hoá tiềm năng quốc phòng Việt Nam, để ý đồ thôn tính biển Đông của Trung Cộng dễ dàng thực hiện theo kế sách “đối thoại đơn phương, đối đầu đơn tuyến”, nhằm tách Việt Nam ra khỏi quĩ đạo liên minh quân sự với Mỹ và các quốc gia Á Châu.

Muốn Vũ Khí Mỹ Nhưng Không Dám Chơi Với Mỹ

Khuynh hướng chung của giới quân sự Mỹ, đánh giá Việt Nam có thể giữ vai trò “trung gian quyền lực”. Mỹ cần giúp đỡ Việt Nam các mặt kinh tế, quân sự, ngoại giao, đầu tư, viện trợ để Việt Nam có thể hỗ trợ Mỹ về an ninh vùng, ngăn chận tham vọng của Trung Cộng ở Đông Nam Á. Ngược lại, Việt Nam muốn Mỹ trở lại Đông Nam Á để cân bằng quyền lực, Việt Nam muốn Mỹ tỏ thái độ mạnh mẽ hơn trong các biến cố ở Biển Đông, nhưng bản thân lại lúng túng trong quan hệ tay ba với Trung Cộng và Mỹ, vì không dám làm mất lòng Trung Cộng.

Trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 4 tháng 6 năm 2012 giữa Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, Leon Panetta và Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam, đại tướng Phùng Quang Thanh, trả lời nhà báo Dan De Luce của AFP, khi đặt vấn đề mua bán vũ khí giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, sự hiện diện của Mỹ ở Vịnh Cam Ranh, cũng như quan tâm của Mỹ về lãnh vực nhân quyền và quyền tự do chính kiến ở Việt Nam. Ông Phùng Quang Thanh cho biết, Hoa Kỳ đã chấp thuận Hà Nội mua các thiết bị quân sự không sát thương, tuy nhiên vũ khí sát thương thì vẫn còn bị trở ngại. Việt Nam cũng muốn mua các thiết bị để có thể sửa chữa những vũ khí còn tồn đọng từ thời Việt Nam Cộng Hoà. Bước kế tiếp là tuỳ theo nhu cầu và khả năng tài chánh, Việt Nam sẽ mua thêm các vũ khí hiện đại để tân trang quân đội.

Bộ trưởng Hoa Kỳ, ông Panetta nói chuyến thăm viếng Việt Nam để củng cố quan hệ quốc phòng hai nước, sau khi Mỹ đã hình thành chính sách an ninh Á Châu – Thái Bình Dương, đặt nặng vai trò và khả năng các quốc gia vùng về quan hệ đối tác quân sự với Mỹ, trong đó có Việt Nam. Và trong chiều hướng thuận lợi lâu dài, Hoa Kỳ sẽ giúp đỡ Việt Nam. Tuy nhiên, việc này vẫn còn tuỳ thuộc vào yếu tố tiến bộ trên lãnh vực nhân quyền và các mặt cải tổ khác.

Dù được chính quyền Obama hưá hẹn, nhưng Việt Nam vẫn thất vọng vì đơn đặt hàng mua vũ khí sát thương đã bị từ chối. Phát biểu tại Bangkok sau chuyến thăm Việt Nam, Thượng nghĩ sĩ John McCain tuyên bố “Hà nội đang có một danh sách dài về các vũ khí cần mua của Mỹ”. Tuy nhiên “quan hệ an ninh hai bên sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của lãnh vực nhân quyền. Thực chất đã không có tiến bộ, tệ hại hơn nữa lại còn vi phạm nhân quyền nhiều hơn trong thời gian qua”. Riêng Thượng Nghị sĩ Joe Lieberman cho biết “cần có sự chấp thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ thì Việt Nam mới mua được vũ khí sát thương – Có nhiều vũ khí Việt Nam muốn mua và Mỹ cũng muốn chuyển giao cho họ, nhưng điều này chưa thể xảy ra được, trừ khi chính quyền Việt Nam chứng tỏ họ tôn trọng nhân quyền”.

Về lâu dài, Hà nội cũng sẽ đạt được tham vọng mua vũ khí sát thương của Mỹ. Chỉ cần giả vờ tôn trọng nhân quyền, thả một số tù nhân chính trị và các nhà bất đồng chính kiến, nới lỏng các hoạt động dân chủ thì Việt Nam có thể đạt được ý đồ. Bài học thả lỏng dân chủ để được tham gia Mậu Dịch Quốc Tế (WTO) và đăng đàn tổ chức hội nghị APEC ở Hà Nội năm 2006 cho thấy CSVN sẵn sàng lật lọng để đạt mục tiêu. Tuy nhiên, lần này không như các lần trước, vào Mâu Dịch Quốc Tế rồi thì không lật ngược được, nhưng mua vũ khí tôi tân của Mỹ sẽ diễn ra rất nhiều lần. Một lần bất tín thì khó thuyết phục dư luận Hoa Kỳ bán vũ khí sát thương cho Hà Nội lần thứ hai. Lúc đó nếu có chiến tranh ở Biển Đông thì “tự cứu lấy thân”, vì thành tích lật lọng, bất hảo vì đàn áp nhân quyền sẽ khó lòng bào chữa trước công luận.

Việt Nam cần mua vũ khí tối tân của Mỹ để hiện đại hoá quân đội. Việt Nam cần Mỹ hiện diện ở Biển Đông để quân bình lực lượng và ngăn chận tham vọng của Trung Cộng. Nhưng Viêt Nam lại tuyên bố “không bao giờ trở thành đồng minh quân sự của Mỹ”. Rõ ràng nhà cầm quyền Hà Nội đang tự nguyện đút đầu vào thòng lọng của Trung Cộng. Cho dù chính quyền Obama muốn bán vũ khí sát thương cho Hà Nội, muốn viện trợ cho Hà Nội như một đối tác quân sự, nhưng liệu Quốc Hội Mỹ có thoải mái trước một Việt Nam thủ đắc vũ khí tối tân của Mỹ, nhưng lại muốn làm chư hầu của Trung Cộng?

Chiến Lược Quân Sự Hoa Kỳ “Vì Hoà Bình Nên Chuẩn Bị Chiến Tranh”?

Hoa kỳ có nhu cầu cầm chân Trung Cộng để quân bình an ninh ở Á Châu-Thái Bình Dương. Đề xuất của các chuyên gia quốc phòng, thuộc nhóm học giả “Trung tâm chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế” – “Centre for Strategic and International Studies” về chính sách an ninh Á Châu cho chính quyền Obama, trong trường hợp chiến tranh với Trung Cộng, đã vạch rõ “vì hoà bình nên chuẩn bị chiến tranh” và nhấn mạnh “lực lượng quân sự Mỹ phải ở tư thế sẵn sàng và khả năng chiến đấu, để thắng, trong bất cứ tình huống nào kể cả đối đầu trong môi trường “chống tiếp cận/chống xâm nhập” (anti-access/area denial –A2AD) và các trường hợp đe doạ khác đối với các hoạt động quân sự Mỹ ở Tây Thái Bình Dương”. (2)

Chiến thuật quân sự A2AD, tức là “chống tiếp cận, chống xâm nhập” của Trung Quốc gồm thành lập hàng rào cản phòng thủ và phản công với các vũ khí tối tân như hệ thống rada, tàu ngầm, hoả tiễn, các tàu chiến và chiến đấu cơ có tiềm năng phá hủy và tấn công mục tiêu từ xa, nhằm tiêu diệt tiềm lực hải quân Mỹ ở Tây Thái Bình Dương đang là mối đe doạ cho khả năng vận chuyển hàng hải và an ninh trên biển đối với Hoa Kỳ. Đề xuất chiến lược “diều hâu” mới của Hoa Kỳ cũng mạnh mẽ bác bỏ ý kiến cho rằng cần phải tương nhượng quyền lực với Trung Cộng để tránh chiến tranh. Các nhà nghiên cứu quốc phòng cũng đề nghị Hoa Kỳ cần tái thẩm định lực lượng quân sự ở Nhật, Nam Hàn và gia tăng tiềm lực quân đội ở đảo Guam và các đảo ở phiá Bắc Rariana, nơi có các căn cứ quốc phòng thuộc vùng Tây Bắc Thái Bình Dương. Cần chuẩn bị các tàu chiến ở Singapore, nhanh gọn và tinh nhuệ để thu thập tình báo, đổ bộ lục quân và thiết giáp, đồng thời khai dụng lực lượng cơ hữu của Hải quân Úc, căn cứ không quân và 2,500 Thuỷ quân Lục chiến đang đóng quân ở phiá bắc Darwin.

Chiến lược mới cũng nhấn mạnh mối quan tâm đến vai trò của các quốc gia vùng như Thái, Phi Luật Tân và Việt Nam, trong chiều hướng vận động cho phép sử dụng các căn cứ quân sự và hợp tác huấn luyện quân sự với các nước này. Đồng thời, Hoa kỳ cần tăng cường các tầu ngầm nguyên tử có khả năng tấn công đang đóng ở đảo Guam, tăng viện tàu chiến ở Nam Hàn và nâng gấp đôi quân số đóng ở Hawaii nhằm chuẩn bị ứng chiến v.v… Chính sách quốc phòng mới này đã và đang được thực hiện cho thấy quan điểm “chuẩn bị chiến tranh” được sự đồng tình của Hành Pháp và Lập Pháp Hoa Kỳ.

Việt Nam Ở Trong Rọ

Việt Nam không thể tiếp tục đu dây trong bối cảnh tự đút đầu vào rọ qua chiến lựơc “ba không”. Lãnh đạo đảng CSVN hiểu rõ nếu trở thành tay sai cho Trung Cộng, thì cũng là một hình thức tự sát về mặt chính trị. Những áp lực và thái độ ngang ngược qua chính sách tầm ăn dâu, lấn biển, chiếm đảo, lúc đánh lúc đàm, hay “đánh đánh, đàm đàm” của Trung Cộng không thể che đậy được công luận. Sự phẫn nộ của nhân dân Việt Nam trước thái độ nhịn nhục hay làm tay sai của lãnh đạo đảng CSVN trước tình thế hiện nay sẽ báo hiệu một biến động chính trị bất thường. Lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam, kết hợp với trào lưu cách mạng dân chủ, có thể quật ngã chế độ độc tài, tham nhũng bất cứ lúc nào.

Tham vọng chiếm Trường Sa – Hoàng Sa của Trung Cộng là mối đe doạ thường trực cho Việt Nam. Khi Biển Đông dậy sóng, hơn 3000 km đường biển sẽ bị Hải quân Trung Cộng phong toả, đường vận chuyển biển, tiếp liệu quốc tế sẽ bị giới hạn. Các quốc gia láng giềng như Miên, Lào ngã theo Trung Cộng vì áp lực và quyền lợi. Nằm trong gọng kìm kinh tế và chiến tranh chừng vài tháng thì “một không” cũng chết chẳng cần đến “ba không”. Bị kẹp trong vòng phong toả của Trung Cộng về kinh tế lẫn quân sự, bị cô lập vì theo đuổi chính sách “đơn phưong đối thoại”, “đơn tuyến đối đầu”, lãnh đạo đảng CSVN phải nhục nhã ký hiệp ước qui hàng. Lúc đó lại mất thêm đảo biển, lại phải bồi thường chiến tranh là điều khó tránh khỏi.

Với tiềm năng quốc gia yếu kém, kinh tế đang có nguy cơ sụp đổ vì tham nhũng, vì lợi nhuận “ảo”, vì kinh tế quốc doanh “xã hội chủ nghĩa”. Việt Nam không đủ khả năng chi tiêu quốc phòng về lâu dài. Chi từ 8 tỷ đến 10 tỷ dollars, gần 10% tổng sản lượng quốc gia là một con số mất quân bình về phương diện ngân sách. Tiếp tục chạy theo khuynh hướng “hiện đại hoá” quân đội để mua tàu ngầm, sắm vũ khí tối tân như các năm vừa qua không phải là phương cách tối ưu của một nước nghèo. Nói cách khác, cho dù có tân trang vũ khí hiện đại từ Mỹ, tiếp tục theo đuổi đường lối quân sự “ba không”, vẫn không giúp Việt Nam chống đỡ nổi nguy cơ bị mất chủ quyền.

Bị Trung Cộng kèm kẹp và uy hiếp ở thượng tầng lãnh đạo, CSVN đang lúng túng về chiến lược. Đi với Mỹ, bị Tàu doạ đánh, bị đè nặng áp lực về kinh tế. Đi hẳn với Trung Cộng thì bị nhân dân Việt Nam khinh ghét, nội bộ chia rẽ mà chủ quyền lãnh thổ cũng không bảo vệ được. Trước nanh vuốt của Trung Cộng, Việt Nam cần Mỹ chứ Mỹ chẳng cần Việt Nam. Đừng tự quan trọng hoá bởi quan niệm cổ điển Việt Nam là cửa ngõ chiến lược Biển Đông, hay Cảng Cam Ranh là Cảng Hải quan trọng nhất ở Đông Nam Á. Nếu thực sự tối quan trọng, Mỹ đã không làm ngơ cho Trung Cộng chiếm Hoàng Sa từ 1974. Nếu Cam Ranh là yết hầu ở Biển Đông, Mỹ đã không phủi tay bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà từ 1975. Với Hoa Kỳ, chính sách an ninh quốc gia thay đổi theo từng chính quyền, chỉ có quyền lợi Mỹ mới lâu dài.

Thực ra, Việt Nam không cần phải đi với Mỹ lẫn Trung Cộng, chỉ cần lãnh đạo đảng CSVN quay về với dân tộc, đi với nhân dân thì họ có thể giải quyết được những bế tắc hiện nay, đưa đất nước ra khỏi vòng kềm toả của các thế lực ngoại bang. Điều này, đòi hòi đảng CSVN ở thái độ khôn khéo, can đảm học bài học từ lãnh đạo Miến Điện, để vừa tránh được cảnh nồi da xáo thịt, vừa bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ, vừa đưa đất nước ra khỏi thảm cảnh suy thoái về kinh tế và chậm tiến trên lãnh vực chính trị.

© Đỗ Thành Công

Nguồn: cong.do fb
———————————————-
(1) U.S.–Vietnam Defense Relations: Investing in Strategic Alignment By Colonel William Jordan , Lewis Stern and Walter Lohman – July 18, 2012
(2) The Centre for Strategic and International Studies (CSIS), entitled “US Force Posture Strategy in the Asia Pacific Region: An Independent Assessment,” – David Berteau and Michael Green—testified before the US House Armed Services Committee on August 1, 2012.

(Hình – F-22 Raptor Chiến đấu cơ tàng hình – Đối đầu chiến thuật A2AD

Ngày Tết đọc thơ Nguyễn Bính “TẾT CỦA ME TÔI “

(Nguyễn Bính)

Tết đến me tôi vất vả nhiều,

Me tôi lo liệu đủ trăm chiều.

Sân gạch tường hoa, người quét lại

Vẽ cung trừ quỷ, trồng cây nêu.

Nuôi hai con lợn tự ngày xưa

Me tôi đã tính “Tết thì vừa”.

Trữ gạo nếp thơm, mo gói bó

Dọn nhà, dọn cửa, rửa bàn thờ.

Này là hăm tám tết rồi đây

(Tháng thiếu cho nên hụt một ngày),

Sắm sửa đồ lễ về việc tết,

Me tôi đi buổi chợ hôm nay.

Không như mọi bận, người mua quà

Chỉ mua pháo chuột và tranh gà,

Cho các em tôi, đứa mỗi chiếc

Dán lên khắp cột, đốt inh nhà.

Giết lợn, đồ xôi, lại giết gà

Cỗ bàn xong cả từ hôm qua

Suốt đêm giao thừa, mẹ tôi thức

Lẩm nhẩm câu kinh Đức Chúa Ba.

Me tôi gọi cả các em tôi

Đến bên mà dặn: “Sáng ngày mai

Các con phải dậy sao cho sớm

Đầu năm, năm mới phải lanh trai.

Mặc quần, mặc áo, lên trên nhà

Thắp hương, thắp nến lễ ông bà

Chớ có cãi nhau, chớ có quấy

Đánh đổ, đánh vỡ như người ta…”

Sáng mồng một, sớm tinh sương

Me tôi cấm chúng tôi ra đường

Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi

Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương.

Thầy tôi lấy một tờ hoa tiên

Bút lông dầm mực, viết lên trên,

Trên những gì gì, tôi chẳng biết

Giữa đề năm tháng, dưới đề tên.

Me tôi thắt lại chiếc khăn sồi,

Rón rén lên bàn thờ ông tôi

Đôi mắt người trông thành kính quá

Ngước xem hương cháy đến đâu rồi.

Me tôi uống hết một cốc rượu

Mặt người đỏ tía vì hơi men,

Người rủ cô tôi đánh tam cúc

Cười ầm tốt đỏ đè tốt đen.

Tôi mặc một chiếc quần mới may

Áo lương, khăn lượt, chân đi giày,

Chô tôi sang lễ bên quê ngoại

Người dặn con đừng uống rượu say.

Xong ba ngày tết me tôi lại

Đầu tắt, mặt tối, nuôi chồng con,

Rồi một đôi khi người giã gạo,

Chuyện trò kể lại tuổi chân son.