Nguyễn Tường Tâm – Mafia cộng sản Việt Nam lừa bịp và đàn áp người dân đến bao giờ?

Nguyễn Tường Tâm (luật gia)

 

 

Mafia nổi tiếng nhất thế giới trong những năm gần đây là Mafia Brazil, Mafia Mexico, và Mafia Ý. Nhưng cả ba nhóm mafia này đều thua xa một băng đảng mafia khác có tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Mafia có thể tương đương với tiếng miền bắc là “đầu gấu”, là bọn tội phạm có tổ chức, chuyên dùng các biện pháp dã man, kinh tởm nhất để đạt lợi nhuận.

Mục tiêu lớn nhất của các tổ chức tội phạm là có được hỗ trợ của tay trong trong chính quyền, vì một nguyên tắc căn bản là “quyền lực tạo nên tất cả”. Để hình dung tầm ưu thế và quan trọng của nguyên tắc “vừa xử dụng luật pháp vừa xử dụng bạo lực bất hợp pháp”, trong truyện Bố Già, sau khi con trai ông ta bắn chết 1 viên cảnh sát, ông ta đã bảo con trai ông ta một câu quan trọng đại ý, không bao giờ đụng tới cảnh sát, vì chúng vừa có súng vừa có luật trong tay. Trùm Năm Cam cách nay hơn một thập niên đã tự tung tự tác làm nhiều chuyện động trời cũng nhờ hối lộ, mua chuộc được một vài viên chức công an cỡ trung. Với một tổ chức mạnh hơn gấp vài ngàn lần, Mafia Brazil, Mafia Ý và Mafia Mexico đã và đang hoạt động mạnh mẽ qua phương cách gây ảnh hưởng nhiều tới các viên chức cảnh sát và thẩm phán, kể cả biện pháp đe dọa bằng bạo lực. Nhưng vẫn còn thua xa đảng đầu gấu Cộng Sản Việt Nam, Mafia Brazil, Mafia Ý và Mafia Mexico mới chỉ đạt được một phần rất nhỏ trong mục tiêu của chúng, nghĩa là mới chỉ mua chuộc, hay gài đàn em vào cấp chính quyền địa phương, chứ chưa thao túng được phần lớn chính quyền, vẫn còn bị chính quyền truy lùng tiêu diệt.

Theo bản tin ngày 3/12/2013, chính quyền Ý đã truy tố 35 nghi can mafia thuộc các nhóm tội phạm có tổ chức về các tội danh “buôn lậu ma túy, vũ khí, cho vay nặng lãi và tống tiền.” Trong số các nghi can bị bắt có một thư ký tòa kháng án tối cao can tội tiết lộ thông tin về các phán quyết cho các tổ chức Mafia. (1)

Trong bản tin khác của hãng AFP cũng ngày 3/12/2013, nhà chức trách Mexico đã tìm thấy 35 ngôi mộ tập thể chôn 64 xác ở tiểu bang Jalisco. Cuộc tìm kiếm này xuất phát do việc tìm kiếm 2 viên chức cảnh sát liên bang bị mất tích ngày 3/11. Nhà chức trách không tìm thấy thi hài của 2 viên chức cảnh sát bị mất tích nhưng đã bắt giữ 1 thường dân và 20 viên chức cảnh sát khác đã thú nhận bắt cóc 2 viên cảnh sát liên bang để nộp cho tổ chức mafia có tên Jalisco New Generation. (2)

Theo bản tin ngày 13/11/2011 của CBC News, nhà chức trách Brazil đã tung ra cuộc hành quân vào khu vực ổ chuột Rocinha ở đỉnh đồi thuộc thủ đô Rio de Janeiro. Đây là khu vực do mafia Brazil chiếm giữ nhiều chục năm qua để tàng trữ và phân phối ma túy lớn nhất châu Mỹ, nếu không muốn nói là lớn nhất thế giới. Cuộc hành quân với lực lượng an ninh đông tới 3000 người thuộc các lực lượng tinh nhuệ, cảnh sát, bộ binh, hải quân với sự hỗ trợ của xe bọc thép, và máy bay trực thăng quân đội. Cuộc hành quân nhằm mang lại an ninh cho thủ đô để chuẩn bị tổ chức Olympics 2016 (3).

Theo bản tóm lược cuộc chiến chống băng đảng ma-túy ở Mexico của hãng tin CNN ngày 2/9/2013, cuộc chiến khởi đầu tháng 12/2006 bởi tổng thống Felipe Calderon với việc bố trí 6,500 binh sĩ vào tiểu bang Michoacan. Tháng 2/2007, tổng thống Calderon bố trí thêm 20.000 binh sĩ và cảnh sát liên bang trên toàn quốc để mở rộng cuộc chiến chống băng đảng ma-túy. Dịch vụ ma-túy hàng năm giữa Mexico và Hoa Kỳ trị giá từ 19 tới 20 tỉ đô la. Ngày 25/6/2007, tổng thống Calderon sa thải 284 chỉ huy cảnh sát liên bang để quét tham nhũng. Theo tổ chức theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) ước lượng trong khoảng thời gian từ 2006 tới 2012 đã có khoảng 60.000 người thiệt mang trong cuộc chiến chống băng đảng ma-túy tại Mexico. Cuộc chiến còn đang tiếp diễn với tân tổng thống Erique Pena Nieto nhậm chức ngày 1/12/2012 (4).

Đảng Cộng sản Việt Nam, tuy sinh sau đẻ muộn, nhưng đã vượt xa các mafia quốc tế đàn anh. Đảng Cộng sản Việt Nam, từ sau 1975, đã vượt qua giai đoạn “gây ảnh hưởng tới chính quyền” và đang ở thời kỳ đỉnh cao là “đoạt trọn vẹn chính quyền”.

Với quyền lực trong tay, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tuyển lựa, huấn luyện và cài đặt các tay chân đầu gấu vào khắp mọi ngõ ngách chính quyền lớn nhỏ, mọi cấp và mọi ngành, từ công an, quân đội, kinh tế, kế hoạch, xây dựng cho tới văn hóa, giáo dục, xã hội, y tế. Dù ở cấp to hay cấp nhỏ, bọn chúng cũng là những đầu gấu hoặc tích cực hoạt động, hoặc thụ động đồng tình để thu lợi cá nhân. Để mô tả đám đầu gấu này, tác giả Bảo Giang trong bài “Kẻ sỹ, tuổi trẻ và cuộc chiến truyền thông” đã dùng từ ngữ khác viết như sau: “Cộng sản sau sáu mươi năm đã xây dựng được một đế chế đảng quyền độc trị, ngồi trên đất nước, trên luật pháp, trên công quyền. Nên tất cả những thành phần nhân sự do CS đào tạo, từ trí thức, chuyên viên các ngành cho đến bần nông, chỉ biết phục dịch một cách nô lệ cho đảng quyền để được hưởng bổng lộc, quyền lợi. Ngoài ra, không hề biết đến công quyền, luân lý, nhân phẩm và phúc lợi của dân nước là gì.

Khi chưa chiếm được chính quyền thì Cộng sản đã tàn sát dã man ngàn lần hơn các mafia quốc tế. Trong vụ Tết Mậu Thân, chỉ trong mấy ngày trước khi rút khỏi Huế, Cộng sản đã tàn sát 5000 người và vùi thây họ trong những ngôi mộ tập thể. Bởi thế cứ mỗi năm tới ngày tết là hàng chục ngàn gia đình dân Huế có ngày cúng giỗ tang tóc tưởng nhớ người thân. Dưới đây là hình một trong những ngôi mộ tập thể nạn nhân của Cộng sản ở Huế trong Tết Mậu Thân 1968 do phóng viên báo Life của Hoa Kỳ chụp được.

3179352244_3c09d448cb_o.jpg
Hình tạp chí LifeNhững ngôi mộ tập thể thường tìm thấy hiện nay do mafia Mexico thực hiện không thấm vào đâu so với số lượng ngôi mộ tập thể và số xác người bị chết đâm, chết chém, để tiết kiệm đạn do Đảng Cộng sản gây ra tại miền Nam trước 1975.

Hiện nay đã chiếm trọn vẹn chính quyền thì Đảng Cộng sản Việt nam không cần áp dụng biện pháp chém giết nữa mà họ áp dụng biện pháp bắt bỏ tù không duyên cớ, không xét xử. Và dã man không kém là chúng áp dụng chính sách “đánh cho thương tật nặng rồi nằm nhà làm một gánh nặng cho gia đình trong hoàn cảnh chết từ từ trong thời gian dài. Hàng ngày trên những trang mạng truyền thông đều thấy tin các người đấu tranh ôn hòa cho nhân quyền, các người dân oan khiếu nại bị đầu gấu CS đánh đập dã man nằm trong chính sách này.

Trong giai đoạn 1945-1954, chưa đoạt được chính quyền, đầu gấu Cộng sản hành xử y hệt mọi tổ chức mafia quốc tế: mua chuộc và đe dọa các viên chức chính quyền địa phương (nhiều nhất, dễ nhất, và thường xuyên nhất là các viên chức xã ấp); đe dọa và thủ tiêu các đối thủ chính trị; truy đuổi và thủ tiêu toàn bộ cha mẹ, vợ con, anh chị em, và bà con của các đối thủ chính trị, gần bằng lệ chu di tam tộc trong luật pháp cổ xưa (chữ của cụ bà Vũ Đình Huỳnh, cựu bí thư thân tín của ông Hồ Chí Minh). Phương pháp này chúng tái áp dụng tại miền Nam trong giai đoạn 1956 tới 1975 và chúng đã áp dụng thành công để đi tới việc chiếm đoạt được chính quyền miền Nam.

Kể từ sau 1954 tại miền Bắc và sau ngày đen tối 30-4-1975, chiếm được chính quyền cả nước, Đảng Cộng sản Việt nam tự tung tự tác áp dụng nguyên tắc mafia “vừa xử dụng luật pháp vừa xử dụng bạo lực bất hợp pháp“. Để che mắt quốc tế và lừa bịp dân chúng, Đảng Cộng sản Việt nam đã cho ra những bản Hiến Pháp và Luật pháp, nghị định cũng đầy những ngôn từ mỹ miều như những bản Hiến Pháp của các quốc gia dân chủ tiên tiến. Nhưng xen kẽ vào đó là những câu, những chữ có nội dung lường gạt nhân dân, ví dụ các cụm từ “dân chủ tập trung”, “định hướng xã hội chủ nghĩa”, “quyền sở hữu toàn dân”, v.v… mà chính chúng cũng chẳng hiểu nội dung. Đó là nhận định của cựu phó thủ tướng Cộng sản Trần Phương và cựu phó thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Dương Thu Hương (5).

Mặc dù tạo ra những bản Hiến pháp và luật pháp có tính cách dân chủ giả tạo, nhưng thật là ngạo mạn, bọn chúng cũng không tuân thủ chính những văn bản pháp lý này. Chúng vẫn xử dụng những biện pháp bạo lực vi phạm ngay chính hệ thống luật pháp của chúng. Chúng bắt giam không cần xét xử những thành phần bị cho là chống Đảng. Và bỏ tù không bản án là hình phạt tàn bạo nhất mà chỉ Cộng sản mới áp dụng. Vụ bắt tù không xét xử cha con ông Vũ Đình Huỳnh & Vũ Thư Hiên, cựu đồng chí thân tín nhất của ông Hồ Chí Minh năm 1967 đã được vợ ông viết như sau, “Tháng 10.1967, do có những bất đồng quan điểm với nghị quyết IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng, nhà tôi bị bắt giam cùng với hàng chục cán bộ trung, cao cấp khác, bị biệt giam 6 năm, quản thúc 3 năm, tới 1975 mới được thả về. Tất cả các cuộc bắt bớ, giam cầm này đều thực hiện một cách bí mật, hoàn toàn trái với pháp luật. Tất cả các nạn nhân đều bị đưa đi biệt giam trong nhiều năm mà không hề có một toà án nào xét xử, không hề được biện minh cho mình như luật định… Hiến pháp và pháp luật, quốc hội và toà án, chính quyền dân chủ nhân dân và nhân quyền đã được ghi thành văn bản giấy trắng mực đen, là thành quả được đổi bằng núi xương sông máu của hàng triệu cán bộ đảng viên đã bị ông Lê Đức Thọ chà đạp không thương tiếc” (6). Không những hành hạ những người bất đồng chính kiến, mà toàn bộ gia đình, vợ con họ cũng bị đe dọa, đuổi việc, đuổi học, cô lập với bạn bè, đồng nghiệp, đồng chí, và bà con lối xóm. Bà Vũ Đình Huỳnh viết về trường hợp của gia đình bà như sau: “Tai hoạ liên tục giáng xuống gia đình tôi: cả chồng, cả con đều bị bắt. Lương hưu của nhà tôi, lương của con tôi bị cắt. Còn lại tôi với chín đứa con và một đàn cháu phải sống trong cảnh thiếu thốn khốn cùng. Nhưng thiếu ăn, thiếu mặc không khủng khiếp bằng nỗi khổ tinh thần: bạn mình, bạn chồng xa lánh vì sợ liên luỵ, con cái bị trù dập. Nhà tôi trước đây lúc nào cũng đông khách mà sau đó chẳng còn ai lai vãng. Không khí khủng bố nặng nề, công an mật theo dõi ngay trước cửa 24/24. Không phải một mình ông Huỳnh nhà tôi chịu cảnh đoạ đày, các con tôi cũng phải chịu vạ lây hết sức vô đạo lý. Có hẳn những chỉ thị bằng văn bản từ Ban tổ chức Trung ương Đảng đưa xuống các cơ quan, hướng dẫn cần phải o ép con em những người trong “nhóm chống Đảng” như thế nào. Thiết nghĩ, chỉ kém cái kiểu “tru di tam tộc” dưới thời phong kiến không nhiều lắm” (7)

Trong thời gian gần đây những phiên tòa hình thức với những bản án định sẵn đã không đè bẹp được ý chí phản kháng của người dân, cho nên bọn mafia Cộng sản ngày càng xử dụng nhiều bạo lực bất hợp pháp.

Lực lượng để thực thi bạo lực bất hợp pháp hiện nay là bọn được chúng thuê mướn và đặt tên là “dân phòng”, hay “nhân dân tự phát” hay một cái tên hiền lành tương tự. Đây là sáng kiến “độc đáo” của riêng bọn mafia Cộng sản Việt nam. Trong lịch sử các chế độ độc đoán của loài người, kể cả thực dân Pháp, phát xít Đức, Ý, Nhật, chưa chế độ nào có sáng kiến xử dụng loại đầu gấu tay chân này để đánh đập những người dân đi khiếu kiện hay bày tỏ nguyện vọng một cách ôn hòa, buôn bán bình thường. Mới đây nhất, ngày 10/12/2013 bọn đầu gấu mặc thường phục được công an huy động tới đánh bất tỉnh anh Nguyễn Đức Quốc người đi nạp đơn khiếu nại tại phường Hòa Minh, Đà Nẵng (8). Ngày 6/12/2013, bọn đầu gấu “trật tự đô thị” P.25, Q. Bình Thạnh, TP.HCM đã bóp cổ, đánh ngất xỉu anh Trịnh Xuân Tình người bán hàng rong (9).

Và còn nhiều vụ nữa, và có thể nói đã xảy ra gần như hàng ngày và đã được truyền thông loan tải.

Lực lượng đầu gấu kế tiếp là các tổ chức địa phương mang danh xưng mỹ miều là các tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc, Phụ Nữ, Văn Hóa phường, khóm v.v… để xâm nhập gia cư người dân một cách bất hợp pháp mặc dù bị gia chủ khước từ không cho vào nhà, nhằm sách nhiễu dưới mỹ từ “vận động” như trường hợp xâm nhập nhà của luật sư Lê thị Công Nhân, của nhà tranh đấu Phạm thanh Nghiên, của Hà Sĩ Phu v.v… “Vận động” không được thì chúng khóa cửa bên ngoài, ném đồ dơ bẩn, nước thải vào nhà. Những vụ như thế này cũng đã được truyền thông loan báo nhiều. Chẳng những vậy, bọn công an còn trắng trợn vi phạm pháp luật bằng cách đe dọa chủ nhà không cho các người bất đồng chính kiến thuê nhà, đe dọa các chủ công ty phải đuổi việc những người bất đồng chính kiến. Trong mấy ngày qua là việc liên tục đe dọa các chủ nhà phải chấm dứt không cho kỹ sư Nguyễn văn Thạnh thuê nhà. Bloger Người Buôn Gió cũng viết trường hợp bị đuổi nhà bất hợp pháp của Kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh và trường hợp công ty của anh bị công an ép buộc đuổi việc anh trong bài “Không chốn nương thân” như sau: “Vậy những gì hôm nay mà vợ chồng kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh phải đối đầu còn khủng khiếp hơn câu chuyện của tôi nhiều lần. Đó mới là những gì ta trông thấy. Đi đến đâu cũng bị xua đuổi, từ chối. Thậm chí xe chở đồ đạc gia đình đi trên đường cũng bị chặn giữ, khám xét và mang về đồn công an. Có lẽ những chất liệu bi đát mà vợ chồng kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh đang chịu ngày hôm nay còn nhiều hơn và bi kịch hơn những chất liệu đã làm nên những tiểu thuyết bất hủ, những thước phim kinh điển về sự trốn chạy như Không Chốn Nương Thân, Giờ thứ 25, Lối Thoát Cuối Cùng… và phim của người đạo diễn tài hoa Yilmaz Guney của Thổ Nhĩ Kỳ về sự trốn chạy.

Với quyền tuyệt đối trong tay, đầu gấu mafia Cộng sản Việt nam đã bỏ xa các tổ chức mafia trên thế giới trong việc kết nạp, phát triển lực lượng. Với 16 tên đầu gấu đầu xỏ trong bộ chính trị, chúng phát triển và cài đặt đầu gấu vào tất cả mọi cơ quan bộ, ngành, ban bệ từ trung ương tới tận cùng phường, khóm. Với hệ thống đầu gấu đông đảo và rộng khắp cả nước, bọn chúng tha hồ công khai bòn rút ngân sách nhà nước, cướp đất của dân và thu tiền hối lộ, hụi chết của mọi tầng lớp nhân dân.

Chúng đã đặt ra luật bòn rút công khai công quĩ cho tất cả các đầu gấu đàn em là tất cả các đàn em lập ra kế hoạch có tên mỹ miều “xây dựng, phát triển” đều được hưởng 10% ngân sách. Không một quốc gia nào trên thế giới áp dụng chính sách công quyền như thế này. Thế là mọi địa phương lớn nhỏ đều thi nhau xây dựng. Xây xong rồi đập đi xây lại. Xây xong không ai xử dụng. Xây “hoành tráng” quá nhu cầu thiết thực. Kế hoạch xây dựng đường cao tốc trị giá 56 tỉ đô la Mỹ là một ví dụ. Ngay cả các đầu gấu đàn anh cũng ra văn bản công khai bắt các đầu gấu đàn em nạp phần trăm tiền bòn rút ngân sách. Một hội của “đại trí thức xhcn” là hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) đã bắt các hội “trí thức” thành viên cống nạp lại 5% tiền quĩ được cấp phát và được tác giả Trực Ngôn tường thuật như sau: “Số tiền còn lại, họ đem “ban lộc” cho một số Hội KHKT thành viên để tổ chức hội nghị hội thảo của các hội này và chia cho các tổ chức khoa học công nghệ trực thuộc LHHVN để làm đề tài. Nhưng khốn nạn ở chỗ, tiền Nhà nước, vậy mà họ xem như tiền của họ, bắt các đơn vị phải nộp lại 5% để cho vào quỹ đen LHHVN tự ý chi tiêu.

Ngay cả những bộ, sở và cơ quan lo việc phúc lợi cho dân chúng như giáo dục, y tế, văn hóa và xã hội cũng bị chúng cài đặt những tên đầu gấu. Hiện tượng này chưa từng thấy trong lịch sử cổ kim của nhân loại.

Bọn đầu gấu trong giáo dục vừa rút tiền ngân sách nhà nước qua những chương trình soạn sách giáo khoa, xây dựng trường lớp, vừa bắt phụ huynh đóng góp, vừa bắt học sinh nạp tiền học thêm (kể cả lớp 1!) (10). Chẳng những vậy, những tên đầu gấu đại học hay trung học còn bắt học sinh, sinh viên “nạp tình” như vụ Nguyễn Trường Tô & Sầm Đức Sương, trong đó có tới 16 tên đầu gấu lãnh đạo tỉnh Hà Giang bị nữ sinh tố cáo nhưng cuối cùng cô nữ sinh lại đi tù trong khi chỉ có tên hiệu trưởng Sầm Đức Xương lãnh án thay cho đồng bọn. 15 tên đầu gấu còn lại vô can(?) (11). Còn có vụ Trần Xuân Ninh, Trưởng phòng Tài vụ – Kế toán kiêm giảng viên Trường Đại học Tây Nguyên hết dụ dỗ rồi dọa nạt ép tình nữ sinh viên năm 2011 và rồi nữ sinh viên tố cáo cũng bị kỷ luật không được nhận bằng tốt nghiệp (12). Mới đây nhất tên đầu gấu hiệu trưởng Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP/HCM lại đuổi học sinh-viên Phương Uyên chỉ vì cô ta biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển đảo (13). Và còn nhiều vụ nữa đã được báo chí phanh phui.

Trong các tổ chức văn hóa thì các tên đầu gấu lợi dụng các đề án trùng tu di tích cổ, tổ chức các sinh hoạt văn hóa như lễ hội Ngàn Năm Thăng Long để bòn rút tiền ngân sách, vừa phá hoại văn hóa. Một người thân của tôi vừa tới huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre để thăm Lăng cụ Đồ Chiểu đã ghi nhận bọn đầu gấu văn hóa xây dựng lăng mới “hoành tráng” ở ngay cạnh lăng mộ cũ, trong khi hai ngôi mộ của cụ ông và cụ bà bị chúng quên lãng, để nứt nẻ và vôi long lở. Người thân của tôi nhận xét, rõ ràng bọn đầu gấu văn hóa chỉ chú trọng lập kế hoạch thật “hoành tráng” để kiếm chác. Báo chí cũng đã phanh phui nhiều vụ lập kế hoạch bòn rút tương tự.

Trong các tổ chức xã hội giúp đỡ dân nghèo, trẻ em khuyết tật, tìm và xây mộ liệt sĩ, bọn đầu gấu cũng không từ việc bòn rút. Mới đây nhất là vụ ăn cắp 180 triệu tiền trợ giúp trẻ em khuyết tật ở tỉnh Hà Giang mà nội vụ được cấp trên chỉ đạo không những không khởi tố nghi phạm mà còn xử lý người tố cáo (14). Hàng năm cứ tới mùa bão lụt là bọn đầu đấu chính quyền lại có dịp ăn chặn, bắt người dân nạp lại tiền trợ giúp nhận trực tiếp từ các hội từ thiện tư nhân.

Ngay cả tổ chức y tế, các nhà thương, trạm khám bệnh, bọn chúng cũng đưa vào những tên đầu gấu mặc áo bác sĩ, y tá để thu tiền cúng nạp của bệnh nhân. Có những sản phụ chết trên giường đẻ mổ chỉ vì không có tiền cúng nạp trước khi được mổ đẻ (15). Chẳng những bòn rút tiền bệnh nhân, bọn chúng còn không thực hiện đúng thủ tục khám chữa bệnh. Mới đây, tên bác sĩ chữa trị cho thầy giáo Đinh Đăng Định đã nhất định không cung cấp thông tin bệnh trạng và kế hoạch chữa trị cho bệnh nhân mặc dù thầy giáo Định đã nhiều lần yêu cầu, trong khi hai việc này là thủ tục thông thường trên thế giới mọi bác sĩ phải thực hiện trước khi chữa trị, không cần bệnh nhân yêu cầu (16). Thậm chí bọn bác sĩ và y tá còn thông đồng in trước một bản xét nghiệm máu thành hàng chục ngàn bản cho các bệnh nhân khác để kiếm lời bất lương. Điều này có nghĩa là 15 ngàn bệnh nhân trong năm 2013 của Bệnh Viện Đa Khoa huyện Hoài Đức, Hà Nội đã nhận được phiếu xét nghiệm giả. Việc làm này hết sức nguy hiểm cho bệnh nhân (17). Ngày 7/10/2013 các đầu gấu bác sĩ tại bệnh viện Mắt Hà Nội lại còn nhẫn tâm thay đổi thủy tinh thể và dịch nhầy của bệnh nhân nạp tiền thay thủy tinh thể lấy loại ít tiền hơn để bệnh viện hưởng lợi. 3000 bệnh nhân đã là nạn nhân của vụ này (18). Những hành động này và những hành động tội phạm khác của các tên đầu gấu bác sĩ, y tá Xã Hội Chủ Nghĩa mà truyền thông đã nhiều lần loan báo cho thấy đây là bọn không còn tính người và không một bác sĩ, y tá của nước nào trên thế giới có hành động vô nhân đạo như vậy. Đây đích thực là những con thú Cộng sản.

Một nét chung trong cách hành xử của các tổ chức tội phạm mafia là diệt trừ nhân chứng và người tố cáo. Đảng Cộng sản Việt nam là bậc siêu trong cách hành xử như vậy. Theo báo Pháp Luật ngày 04/11/2011: “tại hội thảo quốc tế về bảo vệ người chống tham nhũng do Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (BCĐ PCTN) tổ chức ngày 3-11 tại Hà Nội. ông Lê Văn Lân, Phó Chánh Văn phòng BCĐ PCTN đã cho biết “hiện không ít người tố cáo tham nhũng đã và đang bị đe dọa, trả thù với nhiều hình thức. Các hành động trả thù phổ biến mà người tố cáo và thân nhân của họ phải chịu là bị đánh trọng thương, bị sa thải, đuổi việc, khủng bố tinh thần… Thậm chí có người còn bị giết hại. Những cán bộ của cơ quan PCTN cũng chịu những áp lực này.” Đồng tình, ông Đoàn Kim Thắng (Viện Xã hội học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam) cho biết qua điều tra dư luận về công tác PCTN năm 2010 và 2011, có hơn 53% số người tố giác tham nhũng bị trù dập. Nhiều người được tuyên dương, khen thưởng nhưng sau đó vẫn nơm nớp lo sợ.“. Mới đây nhất là vụ nữ dược sĩ Trần Thị Kiều Oanh ở ngành y tế tỉnh Bình Phước, chống tiêu cực, sau khi được xã hội và công luận vinh danh – đã bị cơ quan chủ quản đuổi việc ngay lập tức bị đánh… bầm giập!

imagehandler.ashx__0.jpg
Dược sĩ Oanh trong một lần bị đánh đập phải đi cấp cứu tại bệnh viện. Ảnh Tiền Phong.Với hệ thống đầu gấu bố trí khắp mọi ngành, mọi cơ quan, mọi cấp từ trung ương cho tới phường khóm, Đảng Cộng sản Việt nam đã hình thành một hệ thống tội phạm liên hệ chặt chẽ nhau vì quyền lợi. Mô tả liên hệ thiết thân quyền lợi này, tên đầu gấu Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú Trần Đăng Thanh thuộc Học viện Chính trị của Bộ Quốc phòng trong buổi giảng dạy về chính trị cho lãnh đạo đảng, lãnh đạo các đoàn thể của khối các trường Đại học – Cao đẳng ở Hà Nội ngày 19/12/2012 đã không ngượng miệng tuyên bố: “Bảo vệ tổ quốc Việt Nam thời XHCN hiện nay có rất nhiều nội dung, trong đó có một nội dung rất cụ thể, rất thiết thực với chúng ta đó là bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu , ví dụ các đồng chí ngồi tại đây. Cho nên ta phải nói rõ luôn, hiện nay chúng ta phải làm mọi cách để bảo vệ bằng được Tổ quốc Việt Nam thời XHCN“. (19)

Có thể nói Đảng đầu gấu Cộng sản Việt Nam là một tổ chức đầu gấu mafia đông đảo nhất thế giới, nhiều quyền lực nhất trong các tổ chức mafia quốc tế, và thu tóm lợi nhuận nhiều nhất, trên một diện rộng nhất, và tàn ác nhất. Các tổ chức mafia nổi tiếng thế giới như Ý, Mexico, Brazil v.v… kém xa. Trước tình hình như hiện nay, tương lai Việt Nam đi về đâu? Nhân dân Việt Nam còn phải chịu cảnh đọa đầy hiện nay tới bao giờ?

Tham khảo:

(1) http://bitterqueen.typepad.com/friends_of_ours/2013/12/italian-police-target-camorra-clans.html-12/03/2013-Italian Police Target Camorra Clans

(2) http://news.yahoo.com/mexico-finds-64-bodies-mass-graves-070128920.html
Mexico finds 64 bodies in mass graves-2013-12-3

(3) http://www.cbc.ca/news/world/rio-slum-raid-a-success-police-say-1.1045575
Rio slum raid a success, police say

(4) http://www.cnn.com/2013/09/02/world/americas/mexico-drug-war-fast-facts/
Mexico Drug War Fast Facts-By CNN Library

(5) – http://huynhngocchenh.blogspot.com/2013/10/giao-su-tran-phuong-cnxh-ua-ra-chi-e.html-GIÁO SƯ TRẦN PHƯƠNG: CNXH ĐƯA RA CHỈ ĐỂ BỊP THIÊN HẠ
-http://bolapquechoa.blogspot.com/2013/11/ba-duong-thu-huong-cuu-pho-thong-oc.html
20-11-2013-Bà Dương Thu Hương, cựu Phó Thống đốc NHNN VN: “Láng giềng chúng ta sang đây xây dựng làng xã, thành phố rồi!”

(6) (7) https://danluan.org/tin-tuc/20121113/don-yeu-cau-dua-ra-xet-xu-cong-khai-vu-an-xet-lai-chong-dang-cua-cong-dan-pham-thi#comment-106419-Đơn yêu cầu đưa ra xét xử công khai vụ án “xét lại chống đảng” của công dân Phạm Thị Tề

(8) http://www.boxitvn.net/bai/21959-Bản tường trình về việc bị công an, côn đồ tại Đà Nẵng đánh đập một cách dã man ngay trong ngày Quốc tế Nhân Quyền

(9) http://www.doisongphapluat.com/xa-hoi/trat-tu-do-thi-bop-co-danh-ngat-xiu-nguoi-ban-hang-rong-a12245.html#.UrPSGsHTnIU-Trật tự đô thị bóp cổ, đánh ngất xỉu người bán hàng rong

(10) http://www.doisongphapluat.com/dia-phuong/mien-trung/tp-hue-buc-xuc-vi-nhung-doi-moi-tai-mot-truong-diem-a6281.html#.UrPaMcHTnIU
TP Huế: Bức xúc vì những “đổi mới” tại một trường điểm

(11) http://www.baomoi.com/Vu-an-Sam-Duc-Xuong-tai-Ha-Giang-Ong-Nguyen-Truong-To-co-vo-can/104/5459104.epi-Vụ án Sầm Đức Xương tại Hà Giang: Ông Nguyễn Trường Tô có vô can?

(12) http://nld.com.vn/giao-duc-khoa-hoc/sinh-vien-bi-ga-tinh-bi-de-nghi-ky-luat–2011071807480775.htm-Sinh viên bị gạ tình bị đề nghị kỷ luật (!)

(13) https://danluan.org/tin-tuc/20131206/nguyen-tuong-thuy-truong-dai-hoc-cong-nghiep-thuc-pham-duoi-hoc-sinh-vien-nguyen#comment-105066
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm đuổi học sinh viên Nguyễn Phương Uyên

(14) http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/ha-giang-im-vu-chan-tien-cua-tre-tan-tat-vi-dai-cuc-2922342.html-Hà Giang ỉm vụ chặn tiền của trẻ tàn tật vì ‘đại cục’

(15) http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Giay-phut-cuoi-cung-cua-me-con-san-phu-xau-so-tu-vong-tai-benh-vien-post130294.gd-Giây phút cuối cùng của mẹ con sản phụ xấu số tử vong tại bệnh viện

(16) https://danluan.org/tin-tuc/20131218/benh-an-cua-thay-giao-dinh-dang-dinh-co-thuoc-loai-bi-mat-quoc-gia#comment-106306-Bệnh án của thầy giáo Đinh Đăng Định có thuộc loại “bí mật quốc gia”?

(17) http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/de-nghi-truy-to-giam-doc-vu-nhan-ban-xet-nghiem-2901517.html Đề nghị truy tố giám đốc vụ ‘nhân bản’ xét nghiệm

(18) http://vietq.vn/bac-sy-thuy-benh-vien-mat-ha-noi-rat-dung-cam-dau-tranh-sai-pham-d22718.html-“Bác sỹ Thủy bệnh viện Mắt rất dũng cảm đấu tranh sai phạm”

(19) https://www.facebook.com/notes/nguy%E1%BB%85n-t%C6%B0%E1%BB%9Dng-th%E1%BB%A5y/%C3%B4ng-tr%E1%BA%A7n-%C4%91%C4%83ng-thanh-g%E1%BA%B7p-h%E1%BA%A1n/314655785310341-Ông Trần Đăng Thanh gặp hạn

Nguyễn Bính, một thi sĩ suốt đời mắc bệnh tương tư

imagesVũ Bằng

Hình như đa số các nhà văn đều theo một công lệ đã được vạch sẵn từ bao giờ không biết : là mỗi khi nhắc nhở đến một bạn đồng nghiệp nào khuất bóng thì hết lời ca ngợi và không quên nhắc đi nhắc lại là mình có cảm tình hết sức nồng hậu với nhà văn, nhà thơ đó .

Tôi muốn ăn ngay, nói thẳng hơn một chút. Về NGUYỄN BÍNH, tôi phải thú thực liền : tôi không có cảm tình với anh ta trong những buổi đầu gặp gỡ. Tôi nhớ rõ như mới ngày hôm qua : chúng tôi gặp nhau  lần đầu vào một ngày mưa dầm, tháng bảy. Mưa suốt đêm ngày, tôi ru rú ngồi sửa bài trên một căn gác nhỏ. Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và Ngọc Giao đưa Nguyễn Bính đến thăm tôi , cả ba đều ướt, gặp ngày mưa lòng mình đã chán chường, lại thấy ba ông bạn đến thăm vào chính lúc mình không chờ đợi, tôi không thú mấy. Trần Huyền Trân, Ngọc Giao và Thâm Tâm là bạn quen biết trước, đến bất ngờ như thế không sao, nhưng Nguyễn Bính đối với tôi “nhất kiến vi kiến” tôi cảm thấy hơi khó chịu.

Đã thế, tôi lại thấy Nguyễn Bính không có cái duyên đối với riêng tôi, ngay từ câu xưng hô đầu tiên mà tôi cho là lố lỉnh. Bính nói :” Bính còn có vài bài thơ chưa được đăng đâu, để hôm nào rảnh, gửi anh đăng lên “Tiểu thuyết thứ bảy” hay “Phổ thông bán nguyệt san” tùy ý ! Lúc đó tôi còn trẻ, tôi hơi khó tính , thấy một người đàn ông con trai tự xưng tên mình lên với người quen như thế , tôi cho là không được. Ngay các cô thiếu nữ tự xưng tên mình như thế , tôi cũng đã không “thương” được rồi. Có lẽ chính tôi lố lỉnh vì có thành kiến về cách xưng hô như thế, nhưng đó là sự thực tôi cảm giác về Nguyễn Bính .

Sau đó ít lâu, tôi tìm đọc một vài bài thơ của Nguyễn Bính đăng trên “Hà nội báo” xem ra thế nào thì tôi vẫn duy trì ý kiến của tôi : không có cảm tình với Bính cả về người lẫn thơ. Tôi phải thú thực tôi là một người xem thơ không sành. Qua mấy bài thơ của Nguyễn Bính tôi được đọc, tôi thấy anh làm vè chứ không phải là thơ. Thơ, theo tôi quan niệm : phải kết tinh ý nghĩ trong ít lời, ít chữ, nhưng những chữ, những lời ấy mỗi mỗi phải là hình ảnh, đọc lên phải là nhạc gợi lên nhiều ý nghĩa sâu xa, lắng đọng . Nói một cách khác, tôi chỉ chịu những bài thơ khó khăn một chút , chớ làm dễ dàng , đọc dễ dàng thì tôi không tán thưởng. Đem ý kiến nầy ra bàn với Thanh Châu, Ngô Hoan các anh cũng tán thành ý kiến nầy, do đó tôi lại càng coi thường Nguyễn Bính ……

Cho đến một ngày kia, dự một cuộc hội thảo về thơ mới, thơ tự do ở “ngoài kia” tôi mới thấy hơi nao núng về quan niệm thơ của mình và bắt đầu ngờ Nguyễn Bính là một nhà thơ có tài thật, chớ không phải là một anh soạn vè .

Hôm ấy cuộc hội thảo gồm nhiều tay tiểu tư sản trong hàng ngũ kêu là “trí thức”. Nguyễn Đình Thi đưa vấn đề  Thơ mới ra hỏi anh em … vì Nguyễn Đình Thi  là một nhà thơ bênh vực thơ tự do, thơ mới đến kỳ cùng. Một số lớn anh em nói huỵch toẹt là “không thể thương được loại thơ kỳ cục đó”. Tôi còn nhớ Phan Khôi lửng khả, lửng khửng có nói sỗ như sau :”Tôi không có ý kiến khen chê gì hết, nhưng tôi chủ trương nên đổi tên thơ tự do ra làm : Thơ văn xuôi xuống dòng thì hơn . Một anh khác nói : Thơ mà không có nhạc, nói lăng nhăng, lít nhít thì gọi là thơ làm gì cho nhục chữ thơ đi, tôi thấy rằng muốn làm thơ gì cũng được, nhưng phải ngâm nga mới được, đọc lên một vài lần, tôi phải thấy réo rắc, uyển chuyển và làm cho tôi nhớ, để khi nào buồn tôi ngâm ngợi cho tôi nghe hay người khác nghe, thì mới có thể gọi là thơ. Nguyễn Đình Thi uất quá, xin một ý kiến của ông cụ.

Ông cụ bảo : Thế tôi hỏi chú câu nầy nhé ! Chú đã nghe thấy ăn mày họ kêu đường chưa ?

Mọi người ngạc nhiên, không biết ông cụ nói gì. Mãi sau mới biết : Ăn mày muốn lôi kéo người ta, làm cho người ta rung động, để cho tiền cũng phải làm thơ. Thơ của họ như thế nầy :” Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại … cho tôi xin đồng tiền, bát gạo … con cá nó sống nhờ nước, con sống nhờ ơn của ông bà …..”

Chê Nguyễn Bính, người ta vẫn thuộc thơ Nguyễn Bính.

Cuộc hội thảo hôm ấy làm cho nhiều anh em buồn cười. Riêng tôi, còn nhớ rất lâu mỗi khi chợt nhớ đến thơ của Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đình Thi … Ờ ! thơ như thế, có lẽ không là thơ thực , nhưng là một cái gì kỳ cục lạ thế, sao vè của Nguyễn Bính lại không thể là thơ được ? Mà thơ của Nguyễn Bính người ta đọc, người ta nhớ, người ta ngâm sao lại không bảo là thơ hay được ?

Bàn về nghệ thuật viết tiểu thuyết, ông Hàn Georges Duhamel đã viết :”Ôi chao, viết tiểu thuyết, ông muốn dùng ngôi thứ 1, ngôi thứ 2, thứ 3 tùy ý, ông viết theo kỹ thuật mới hay cũ, tùy ý luôn, độc giả chỉ cần có mỗi một điều là tiểu thuyết của ông cám dỗ tôi, làm cho tôi thích thú, thế là được, ngoài ra họ không cần gì cả, ngay cả sự ích lợi hay triết lý cao siêu mà ông muốn gói ghém trong tiểu thuyết “.

Có lẽ về thơ cũng thế. Từ đó để ý thêm một chút nữa, tôi thấy rằng trong các bạn bè tôi, một số rất đông vẫn chê thơ Nguyễn Bính là vè, là thơ dễ dãi, thơ “rẽ tiền”, tự nhiên , có hôm không biết lòng nao nao buồn, vì cơn cớ gì buộc miệng ngâm vang thơ Nguyễn Bính, mà chính vào những lúc ngâm nga như thế thì họ quên khuấy mất họ là những người chê bai Nguyễn Bính hăng say nhất. Tôi có thể nói rằng sau truyện Kiều, sau thơ Tản Đà có lẽ thơ Nguyễn Bính được nhiều người tìm đọc và ngâm nga nhất .

Có cô con gái ở vườn lên làm công cho người ta, lãnh tiền, lấy việc mua một tập “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính là công việc “cần phải làm đầu tiên”. Buổi trưa oi bức, mẹ đưa võng ru con bằng thơ Nguyễn Bính, đi kháng chiến, đeo ba lô đi trong rừng ngâm thơ Nguyễn Bính luôn. Hai anh chị cán bộ đêm trăng ngồi ngoài sân thơm ngát mùi hoa bưởi trao tình cho nhau bằng thơ Nguyễn Bính, chị lái đò, cô hàng xén, bà bán rau cải, cô nữ sinh được ngày nghĩ về thăm nhà bên kia cầu Bến Lức, mấy ả phong lưu  những đêm thiếu bạn … chẳng vẫn thường ngâm một mình :

Lạ quá làm sao tôi cứ buồn.
Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn.
Làm sao tôi cứ tương tư mãi.
Người đã cùng tôi lạt ước nguyền.

Chị từ lỡ bước sang ngang,
Trời giông bão, giữa tràng giang lật thuyền.
Xuôi dòng nước chảy liên miên.
Đưa thân thế chị đến miền đau thương,
Mười năm gối hận bên giường.
Mười năm nước mắt, bữa thường chan canh.
Mười năm đưa đón một mình.
Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên.
Mười năm lòng lạnh như tiền.
Tim đi hết máu, cái duyên không về .

Tương tư thức mấy đêm rồi.
Biết ai cho biết, ai người biết cho.
Bao giờ bến mới gặp đò.
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?

Có thể nói rằng hầu hết các nhà văn, nhà thơ dù chê, dù không ưa Nguyễn Bính, cũng đều nhờ đại khái mấy câu thơ sau này của Bính, nó làm cho người ta không muốn nhớ mà phải nhớ, cũng như ta nhớ tục ngữ, ca dao vậy

Nhà em có một vườn trầu.
Nhà anh có một hàng cau liên phòng,

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười trông một người.

Trời mưa ở Huế sao buồn thế ?
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày.
Xa xôi ai nhớ mà thương nhớ,
Mà nhớ, mà thương đến thế nầy !

Gió mưa là bệnh của trời.
Tương tư là bệnh của tôi thương nàng .

Bệnh tương tư của NGUYỄN BÍNH .

Có lúc ngồi suy nghĩ về thơ Nguyễn Bính, tôi cố tìm hiểu tại sao Nguyễn Bính lại được ưa chuộng thế. Anh “ăn” vì hai đặc điểm :

1)- Anh đã nói lên tiếng nói chân thật của lòng với lời lẽ bình thường của dân gian, không cầu kỳ, không kênh kiệu.

2)- Anh đã nhắm chung vào cái bệnh của loài người là cái bệnh tương tư : trai gái tương tư nhau, người dân mất nước tương tư quê hương, người con gái lấy chông tương tư dòng sông cũ, người đàn ông không được yêu tương tư người yêu lý tưởng, người bị tình phụ tương tư người đã phụ mình … Có thể nói tất cả văn, thơ thời tiền chiến của Bính đều nhắm vào BỆNH đó. Sở dĩ được như thế, chính vì anh là người mắc bệnh đó thật, vì ai đã biết  Nguyễn Bính đều không chối cãi  được điều nầy : bắt gặp ai anh cũng mê, mê người thương mình, mê người có thể yêu thương được mà luôn cả những người mà mình không có quyền yêu thương. Yêu quá lố. mê quá xá, rốt cuộc không làm gì được thì tương tư. Người đàn bà trong “Lỡ bước sang ngang” mà Bính gọi là chị Trúc Đường là một người anh con chú, con bác với Bính. Trên con đường tản cư về khu Tư với tôi, xác nhận rằng chính “chị TRÚC” mà Bính nói đó là vợ, tức chị Trúc Đường, nhưng vì danh giáo không thể yêu như thế, nên Bính tủi hờn sầu khổ mà tạo nên bài thơ “Lỡ bước sang ngang”.

Có lúc tôi đã hỏi Trúc Đường :
-Thế Bính có biết rằng anh biết rõ là Bính yêu chị ấy không ?

Trúc Đường trả lời tôi :
–    Biết chứ, chính nó nói thực với tôi là khác. Nhưng tôi mặc kệ, bởi vì cái tính nó si mê như vậy, ngăn cấm nó có khi nó đi tự tử, mà tôi mặc kệ cũng không phải là không có cớ, vì tôi biết chắc rằng Bính cũng chỉ tiến tới cái mức mê vớ, mê vẫn thế thôi.

Câu chuyện mê chị Trúc chỉ là một điển hình.

Yêu những người mà đa số người cho là không đáng gởi tình yêu , Bính cũng si mê như thế. Bây giờ còn có những người bạn giao du với Bính lúc anh dời Bắc vào Nam và từng chung sống với anh thuật chuyện rằng có hôm Bính dành trọn ngày để làm một cái khung kính lồng một cái hình của một người kỹ nữ một đêm mà anh quen biết  và chính anh cũng biết sẽ không có còn có cơ hội gặp lại nữa. Rồi làm thơ thương nhớ, tương tư, y thể như bạn gái cố tri, ăn đời ở kiếp, có khi lại tủi thân khóc một mình hỏi người yêu sao không đến với mình, để ban cho mình một lời thương, một nụ cười :

Xé bao nhiêu lụa rồi,
Em không cười nửa tiếng.
Đốt bao nhiêu lửa trời.
Em không cười nửa tiếng.

Bảo là gàn thì Nguyễn Bính quả là một thi sĩ gàn : đầu thì bù, ăn mặc xốc xa, xốc xếch, đi thì nhìn lên trời mà nhìn ngang, ăn nói bướng không chịu được, nhưng khó chịu nhất là bập vào cô nào cũng mê và tưởng tượng người ta cũng yêu anh lắm. Cái mối tình “Tú Uyên” cũng là một thứ tình vẫn vơ như thế . Nguyên hồi ấy Nguyễn Bính ở chung gác trọ với Thâm Tâm và Trần Huyền Trân. Cả ba cùng là tay mơ, có tiền đi hát. Vớ vẩn Bính quen với một cô đầu đội đèn, tên là Ngọ. Thi vị hóa cô ả, Bính đặt tên là Tú Uyên, bịa là nàng theo đạo Thiên Chúa và làm thơ xin Chúa cho được lấy nhau :

Lậy Chúa con xin Chúa một giờ.
Mười hai giờ Ngọ của tình xưa.
Hai đứa con đây : Uyên và Bính.
Thường hẹn hò những buổi ban trưa.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Chuông ngọ từng hồi chuông ngọ đổ.
Từng hồi chuông ngọ đổ chơi vơi.
Con nghe chuông đổ rồi con khóc.
Cứu rỗi linh hồn con ! Chúa ơi !

Theo chỗ biết của riêng tôi thì chính Thâm Tâm và Trần Huyền Trân đã xếp đặt và thần thánh hóa cô Ngọ để Bính say mê làm một trò cười, nhưng chính Bính , có lẽ đến lúc chết cũng vẫn không biết thế và vẫn cứ yêu người đẹp Tú Uyên.

Về cái bệnh tương tư vơ vẫn của Bính, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã có lần nói lên những ý nghĩ tương tự tôi vừa nói trên kia. Nhưng dù sao, ta cũng phải nhận rằng chính cái bệnh ấy đã góp cho phần lớn sự phát triển thi tài của Bính, để giúp cho Bính nói ra được một khía cạnh của lòng u uẩn muôn đời của con người.

Nhưng mề đay nào mà chẳng có hai mặt ? Vì cứ yêu vớ vẩn, bạ ai cũng tương tư như thế nên Nguyễn Bính nhiều phen đã thành ra chính nạn nhân bịnh tương tư của mình. Đó là trường hợp lúc Bính dời Bắc vào Nam, sống nhờ vào nhà một ông công chức ở Rạch Giá, có lẽ Bính thực thà tin rằng “mình có trái tim thì không ai có quyền cấm mình yêu, ngăn mình nhớ … “, nên ông công chức nọ ghen với Bính… Thêm nữa bà vợ ông công chức  cả ngày ru con, rửa chén, rửa đủa lại cứ ngâm xa xả thơ của Bính, nên ông công chức nọ chịu không được, phải mời Bính ra khỏi nhà.

Đây là cái đoạn đời cực khổ nhất của Bính : anh phải ra ở đình Nguyễn Trung Trực, ngủ ở sân gạch, không có một cái sơ mi lành lặn để mặc, mặc quần cụt, đi guốc lê la ở Rạch Giá, điếu thuốc không có mà hút, chén cơm nhiều khi không có mà ăn. Tất cả gia tài của Bính thu vào mấy cuốn sách và một hai cái áo gói vào tấm giấy nhật trình. Cả tháng không tắm, Bính mỗi buổi sáng thức dậy lại ra một cái cầu tre ở trước đình Nguyễn Trung Trực vục tay xuống sông rửa mặt và lấy năm đầu ngón tay làm lược chài đầu.

Đoạn đời nầy, thi sĩ Kiên Giang hiểu rõ Bính hơn ai hết vì chính anh đã sống với Bính và “cưu mang” Bính. Chính Kiên Giang đã viết về Bính trong thời kỳ ấy như sau :

“ Sau khi biết tình cảnh của Bính, tôi bàn cùng Bính nên tìm một nơi nào khác mà ở để còn viết lách. Cả hai đồng ý thuê một ngôi nhà của ông giữ sân banh Rạch Giá. Ngôi nhà nầy chỉ hơn được cái nóp một chút thôi, nghĩa là siêu vẹo, tiều tụy như một ngôi nhà hoang . Người ta phải dùng một cây đòn lớn để chống đỡ hàng cột giữa, hàng ba, hàng nhì. Chỉ có ba hàng cột mà hàng nào cũng siêu cả thì không hiểu có nên gọi cái nhà nầy là cái nhà không ? Thôi cứ tạm gọi là Lều Thơ cũng được. “

Đặc biệt nhất là Nguyễn Bính khổ cách mấy cũng không phàn nàn. Hình như anh thành thực quan niệm rằng cái kiếp nhà thơ là phải nghèo, phải khổ, đó là một định luật không nên oán thán. Anh chỉ oán lòng người bạc ác, cam đành hưởng thụ vinh hoa phú quý ở bên cạnh những đồng bào cực khổ, nghèo nàn hoặc những người bạn ngày nào bây giờ sung sướng đã quên mất người bạn thuở hàn vi, đói rách với nhau :

Từ độ về đây sống rất nghèo.
Bạn bè chỉ có gió trăng theo.
Những thằng bất nghĩa xin đừng đến.
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu !
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Trọc phú tí toe bàn thế sự,
Đĩ già tập tểnh nói văn chương .
Đã coi đồng bạc to hơn núi.
Còn học đòi theo thói Mạnh Thường .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Chao ôi, giả dối, ôi mai mỉa.
Sống chật phồn hoa, một lũ Mường.
Chị ơi ! tất cả là vô nghĩa.
Chả nhiễu điều nào phủ giá gương.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tay trắng bạn bè đều tránh mặt,
Sa cơ, thân thích cũng khinh thường,
Sông lạnh, thấy đâu người gọi gió.
Trăng tà … tìm mãi kẻ mài gươm .

MÀI GƯƠM vẫn không hết tương tư .

Phân tích Nguyễn Bính, nhiều người bạn còn sống bây giờ quan niệm Nguyễn Bính chỉ là một người có tinh thần cách mạng chứ không phải là một người hành động. Tinh thần cách mạng ấy bắt nguồn từ chổ mới ra đời anh đã thấy cảnh giàu nghèo bất công và người ta có thể nói rằng cái tinh thần ấy đã bàng bạc trong vở kịch đầu tiên của anh viết với Yến Lan, một thi sĩ miền Trung, nhan đề là : BÓNG GIAI NHÂN.

Chính Nguyễn Bính đã trình diễn vở kịch nầy lần đầu tiên ở Hải Phòng cùng với Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và Vũ Hoàng Chương. Trần Huyền Trân thủ vai đạo sĩ, Vũ Hoàng Chương vai tráng sĩ, còn Nguyễn Bính thủ vai mài gươm trong kịch.

Đến cái người mài gươm, tượng trưng cho tinh thần cách mạng, Nguyễn Bính vẫn không được cái bệnh tương tư cổ truyền, thỉnh thoảng trong kịch lại có một “bóng giai nhân” hiện lên không nói năng gì, nhưng ai cũng biết cái anh mài gươm kia nung nấu chí báo thù chỉ là vì hình bóng giai nhân đó .

Tôi không hiểu trong đời sống thực, Nguyễn Bính sau thời kỳ ở Rạch Giá ra bưng theo kháng chiến là vì lòng yêu nước hay là vì bóng giai nhân nào, nhưng anh em đều nhận thức rằng : đến giai đoạn nầy thì thơ Nguyễn Bính chuyển hướng.

Không phải chuyển hướng về từ, nhưng về ý .

Thơ Nguyễn Bính vẫn dài dòng như cũ, từ vẫn đẹp như cũ, nhưng ý thì khác trước, thay vì những vần nhớ nhung, than khóc, bắt đầu từ thời kỳ ra bưng kháng chiến chống Pháp năm 1947 – 1948, Nguyễn Bính bắt đầu làm những bài thơ hùng mạnh như : “Xuân vẫn tha hương”, “Hành phương Nam”, “Đồng Tháp Mười”, nhưng thực ra trong đời sống thực, Nguyễn Bính không có mấy lúc được vui vẽ, thảnh thơi vì anh không chịu sống trong khuôn nếp, sống theo qui luật, há chẳng phải Bính vẫn thường nói với các bạn bè thân ở ngoài bưng rằng : lề lối chỉ đạo văn nghệ ở “ngoài nầy” đã bóp méo hứng cảm của thi sĩ ?

Sau hiệp định Geneve, Nguyễn Bính để lại một người vợ miền Nam ở lại Sài gòn trở ra Bắc cùng với một số cán bộ văn nghệ tập kết, nhưng vốn là người “sống ở trên mây”, “có nhiều chất thơ hơn người”. Nguyễn Bính vẫn cứ bất mãn như thường. Điển hình cho lòng bất mãn nầy có người thường đọc lại mấy câu thơ sau đây của Nguyễn Bính trích trong bài “Tiếng sáo diều” :

Kịp ngày cải cách quê tôi,
Nỗi oan cha muốn kêu trời, trời cao .
Đêm dài mờ mịt trăng sao .
Cánh đồng quê, tiếng sáo diều bật tăm.
Bụi đầy, miệng sáo nín câm.
Dây treo, chuột cắn, khung nằm, mối xông .

Trong thời kỳ nầy, ở đây thỉnh thoảng do nguồn tin nầy, do nguồn tin khác, tôi nghe thấy nói Nguyễn Bính đau, rồi xuất bản tạp chí “Trăm Hoa”, rồi “tỉnh giấc chiêm bao” cuộc đời Bính như bèo trôi trên nước phù sa, nhưng tôi không lấy làm ngạc nhiên quá mức.

Một người như Bính là một thứ Tản Đà thu nhỏ lại, chỉ để ngồi uống rượu, làm thơ, hút thuốc lào vặt và nói ngông ngênh, kênh kiệu, tô điểm cho đời thêm đẹp và thỉnh thoảng lại gẩy lên trong lòng người ta một khúc nhạc đầm ấm, lâm ly thì quả không chê vào đâu được, nhưng Tản Đà mà làm báo, Nguyễn Bính lại tổ chức “Văn Hóa Cứu Quốc Rạch Giá” và làm chính trị thì chỉ có thất bại và bất mãn, thêm nữa lại mất một tên tuổi đã từng tạo được những câu thơ đẹp như là những ca dao ngày xưa để lại ;

Nhà em có một giàn trầu.
Nhà anh có một giàn cau liên phòng.
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.
Cau thôn Đoài nhớ giàn không thôn nào ?

Bảo rằng cách trở đò giang.
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
Nhưng đây cách trở đầu đình,
Có xa xôi mấy, mà tình xa xôi !

Thế là tàn một giấc mơ,
Thế là cả một bài thơ não nùng,
Tuổi son, má đỏ, môi hồng.
Bước chân về đến nhà chồng là thôi,
Đêm qua mưa gió đầy trời,
Trong hồn chị có một người đi qua .

Thay vì những câu thơ đẹp nõn nà như thế mà lại đi sáng tạo những câu thơ tuyên truyền như :

Chim kia có cánh thì bay,
Con ơi ! có nước thì mày phải thương .

Thà rằng chết ở chiến trường,
Còn hơn chết ở trên giường thê nhi.

Hỡi ai dòng giống Lạc Hồng,
Hãy hy sinh hết cho nòi giống ta,
Hãy nên vì nước , quên nhà.
Coi thường thân sống, mới là trượng phu.

Lang thang tìm một hướng đi, Nguyễn Bính thất vọng lại trở về thất vọng, rút lại đến những ngày cuối cùng anh lại trở lại làm người thi sĩ của thời tiền kháng chiến và lại tương tư, rồi cứ tương tư như thế cho đến chết :

Trông vời viễn núi xa xanh,
Tưởng trông rõ mái nhà mình phương Nam.
Tưởng chừng người vợ tào khang,
Đương nhìn lên thấy sao nàng nhớ anh.

Trong mơ con bú chưa rồi.
Lưỡi con đưa đẩy, đôi môi còn thèm.
Giật mình con bỗng thét lên,
Hai tay chới với quơ tìm mẹ đâu !

Biết bao tâm sự, mấy chờ mong.
Bến cũ, đò xưa chuyện thủy chung .(1)

Một cuộc đời rút lại còn mấy tập thơ .

Lúc Nguyễn Bính mất đi, có người thương xót anh, bàn rằng anh là một người “ra tê”, một người không may trên đường văn nghiệp, vì “cái mới đến rồi nhưng chưa ở lại hẳn, còn cái cũ vẫn còn ở lại, chưa chịu dứt ra mà đi, hơn thế Bính chưa thấy hết cái bản chất cách mạng của cái mới cho nên ông không đủ lửa thật cháy để truyền vào thơ ông “

Suy luận về đời thơ Nguyễn Bính như thế cũng có phần nào đúng, nhưng đứng hẳn về phương diện văn nghệ thuần túy thật quả là tội cho Nguyễn Bính. Cả một đời không được hưởng thụ một chút gì, chỉ lang thang, vất vưởng đi tìm một lối đi như một người mù rồi đến chung cục thì lầm, quay lại với cái tôi của chính mình thì đã muộn. Phải chi Nguyễn Bính biết được cái mạnh và cái yếu của mình, giữ lấy cái mạnh và không chạy theo cái yếu thì đời thơ của Bính chắc còn phong phú hơn nhiều , chớ đâu cả một đời vất vả lao đao chỉ thu vào có chừng ngót một trăm bài thơ in thành vài tập mỏng , một vở kịch và một truyện dài không quá 80 trang in ?

Nói như thế không phải là trách cứ, nhưng đó là cả một sự xót xa. Nguyễn Bính một thi sĩ bình dân nhất, có nhiều thơ được truyền tụng nhất, nhưng chung thân không may mắn một lúc nào. Bây giờ các cô nội trợ, các bà, các sinh viên, nữ sinh, các anh em chiến sĩ ngâm thơ thép súng, nhưng khi buồn vẫn hát bài thơ phổ nhạc “Cô lái đò” của Bính, có lúc nào sực nhớ  rằng người đã giúp cho bạn ngâm những câu thích thú cho lòng, người đã vì nợ áo cơm phải trả đến hình hài đó, chỉ là một thứ Francois Villon sa đâu là nhà , ngã đâu là giường, chỉ ao ước có một tình yêu thành thực mà không bao giờ có, không bao giờ được ? không ai thèm ban cho ?

Ở chòi hẹp, nhưng hồn trùm vũ trụ.
Trái tim đau nhưng thương cả loài người.
. . . . . Mắt quần lại, đêm đêm ròng rã thức.
Da xanh xao vì muỗi thật nhiều.

Nầy của riêng, soát lại có bao nhiêu.
Chiếc khăn tắm, bộ áo quần trong nóp.
Ba năm rồi chưa xỏ chân vào guốc,
Ăn cơm thiu vì ẩm ướt mưa đêm.

Có phải vì thế, muốn làm thơ kháng chiến đến chừng nào, Nguyễn Bính vẫn không thể bật lên mà cho đến bây giờ, người ta còn thương Nguyễn Bính, yêu thơ Nguyễn Bính chỉ là những câu thơ chứa chất một tấm lòng tương tư não nùng, lê thê có từ ngày xưa và sẽ còn tồn tại mãi đến ngàn sau .

Trăm năm đã lỡ hẹn hò,
Cây đa bến cũ, con đò còn không ?
Tình cờ gặp giữa phố Đông.
Em đi ríu rít, tay chồng, tay con.
Nét cười âu yếm, môi son.
Áo bay nhắc buổi trăng tròn sánh vai.
Chín năm bão tối mưa ngày.
Nước non để có hôm nay sáng trời.
Em đi hạnh phúc hồng tươi,
Anh nhìn tận mắt cuộc đời đẹp thay !
. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Anh về viết lại thơ anh.
Để cho bến mắt cây xanh đôi bờ,
Cho sông, cho nước tự giờ,
Chẳng còn lỡ chuyện con đò sang ngang (2)

Sài gòn tháng Bẩy 1969  VŨ BẰNG

(1)    Mấy câu thơ nầy trích tập “Đêm sao sáng” của Nguyễn Bính do “Văn Học” xuất bản ở Hà Nội năm 1963. Ba năm sau khi xuất bản tập thơ nầy Nguyễn Bính mất ở Hà Nội (20-01-1966).

(2)    “Tỉnh giấc chiêm bao” đăng trong báo Trăm Hoa xuất bản tại Hà Nội ngày 09-12-1956.

Trích tạp chí “ VĂN ‘ số 189 xuất bản tại Sài gòn.

Mỹ đã có ảnh hưởng nào ở Việt Nam?

 

 

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tại Nhà thờ Đức Bà ở TPHCM, ngày 14/12/2013.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tại Nhà thờ Đức Bà ở TPHCM, ngày 14/12/2013.

Vũ đức Khanh
Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry trước khi lên đường sang Việt Nam để thảo luận tăng cường quan hệ ngày càng gia tăng giữa hai quốc gia đã đưa ra một thông điệp rõ ràng của chính phủ Mỹ hôm 12/12 trong một đoạn phim ngắn video được đưa lên trên trang Youtube rằng “Việt Nam đã là một quốc gia hiện đại đầy sinh lực… Việt Nam đã và đang là một nước … trên đà chuyển động,” và quan hệ Mỹ-Việt “ngày nay hướng tới tương lai.”

Trước đó hôm 9/12, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã loan báo sau điểm dừng chân tại Jerusalem và Ramallah vào cuối tuần này, Ngoại trưởng Kerry sẽ đến Việt Nam để “làm nổi bật sự chuyển đổi mạnh mẽ trong mối quan hệ song phương” và quan hệ đối tác phát triển của hai nước.

Thông cáo này cho hay đây là chuyến công du Á châu lần thứ tư của ông Kerry từ khi ông nhậm chức Ngoại trưởng 1/2/2013 và đây cũng là lần đầu tiên ông đến Việt Nam trong chức vụ này.

Thông cáo viết: “…Trong chính sách tái cân bằng về châu Á – Thái Bình Dương, Đông Nam Á có tầm quan trọng đặc biệt và chuyến đi của ông Ngoại trưởng tới Việt Nam và Philippines chứng tỏ cam kết lâu dài của Hoa Kỳ cũng như liên hệ cá nhân của ông với khu vực…”; “… Chuyến thăm Việt Nam của ông Ngoại trưởng sẽ nhấn mạnh sự chuyển biến mạnh mẽ trong quan hệ song phương những năm qua và quan hệ đối tác đang lớn mạnh của chúng ta trong nhiều lĩnh vực…” Tại Hà Nội, Ngoại trưởng Kerry sẽ thảo luận với các lãnh đạo Việt Nam “về một loạt các vấn đề song phương và trong khu vực.”

20 năm sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, Tổng thống Bill Clinton năm 1995 đã chính thức bình thường quan hệ ngoại giao với quốc gia cựu thù này, mở ra một chương sử mới trong quan hệ Mỹ-Việt. Đây là một mối “quan hệ đầy kịch tính” do hệ lụy lịch sử và dường như mối quan hệ này cho đến nay đa phần dựa trên kinh tế đã phải trải qua một giai đoạn “biến đổi mạnh mẽ” — khởi đầu qua việc ký kết Hiệp định Thương mại song phương năm 2001, đến năm 2006 khi các doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ ủng hộ những nỗ lực của Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và gần đây với dự kiến Việt Nam sẽ tham gia vào Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) một công cụ của chính sách “xoay trục” Á châu của Hoa Kỳ, và Thông cáo chung của Tổng thống Obama cùng Chủ tịch Trương Tấn Sang về “Quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ” vừa mới thiết lập hôm 25/7 — là trọng tâm của chuyến công du của Ngoại trưởng Kerry đến Hà Nội.

Tuy nhiên, theo một số nhà quan sát thì mối quan hệ này chỉ là mối quan hệ một chiều vì gần 20 năm nay từ khi Hoa Kỳ nối lại bang giao với Việt Nam, rất ít tiến bộ đã đạt được trong các lĩnh vực căn bản về các quyền tự do chính trị, dân chủ và nhân quyền.

Trả giá nhân quyền?    

Human Rights Watch mô tả thành tích nhân quyền của Việt Nam là “yếu kém”, và sự hạn chế về tự do ngôn luận là “nghiêm trọng”, theo Tổ chức Ân xá Quốc tế. Còn Freedom House thì đơn giản liệt kê Việt Nam vào vị trí của một quốc gia “không có tự do”.

Trong khi đó, từ hành pháp đến lập pháp Hoa Kỳ luôn sẵn sàng lên tiếng và đã lên tiếng nhiều lần từ nhiều năm qua để bày tỏ “quan ngại sâu sắc”, thậm chí “vô cùng quan ngại” về thành tích nhân quyền “tồi tệ” của chính phủ Việt Nam.

Trong lá thư đề ngày 10/12, 47 Hạ Nghị sỹ của lưỡng đảng Hoa Kỳ đã hợp nhất cùng bày tỏ “quan ngại sâu sắc về việc tăng cường quan hệ với chính phủ (Việt Nam)” và đặc biệt lo ngại về hợp tác thương mại ngày càng tăng giữa hai nước, trong đó có các cuộc đàm phán TPP. “Việc tăng thêm bất cứ mối quan hệ kinh tế nào, đặc biệt là thỏa thuận thương mại, cần phải tùy thuộc vào điều kiện nhân quyền tại Việt Nam,” lá thư viết.

Trước đó, hôm 5/6, ông Joseph Yun, Quyền Trợ lý Ngoại trưởng, Vụ Đông Á – Thái Bình Dương Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện, Tiểu ban Châu Á – Thái Bình Dương đã trả lời trước Quốc hội Hoa Kỳ như sau: “Chúng tôi đã nhấn mạnh với các nhà lãnh đạo Việt Nam rằng nhân dân Mỹ sẽ không ủng hộ việc tăng cường mạnh mẽ quan hệ song phương nếu không có tiến bộ rõ rệt về nhân quyền.”

Và hôm 10/12, nhân Ngày Quốc tế Nhân quyền, chính ngài Đại sứ David Shear cũng ra thông cáo nói “Hoa Kỳ và Việt Nam đã tái khẳng định cam kết của hai nước về ủng hộ Tuyên ngôn Nhân quyền trong Quan hệ Đối tác Toàn diện Hoa Kỳ-Việt Nam được Tổng thống Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang công bố hồi tháng Bảy”. Một lần nữa, chính phủ Mỹ kêu gọi chính phủ Việt Nam “trả tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm, cho phép mọi người Việt Nam được bày tỏ ý kiến của bản thân, và bảo vệ tự do tôn giáo trên toàn quốc”. “Hoa Kỳ ủng hộ một nước Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng và độc lập, đồng thời tôn trọng nhân quyền và pháp quyền,” Đại sứ David Shear cho biết.

Vậy thì cái gì vẫn đẩy Washington “tiếp tục ve vãn” Hà Nội? Có phải Hoa Kỳ đang xem mối quan hệ với Hà Nội là cần thiết, quan trọng đến độ phải trả giá về nhân quyền? Liệu có phải sự trỗi dậy mạnh mẽ và đầy hiếu chiến của Trung Quốc ở châu Á – Thái Bình Dương đã gia tăng áp lực buộc Washington phải nhượng bộ Hà Nội? Tuy nhiên, việc theo đuổi một mối quan hệ nguy hiểm như vậy, đơn giản chỉ làm suy yếu mọi nỗ lực của Hoa Kỳ trong khu vực!

Ảnh hưởng của Mỹ?

Cuối tháng 10/2013, Trung Quốc cho thành lập một “Khu Xác định phòng không” (ADIZ) ở Biển Hoa Đông bao gồm các quần đảo “Điếu Ngư” đang tranh chấp với Nhật Bản, cũng như một phần khu vực có liên quan đến Hàn Quốc. Sau phản ứng dữ dội của Nhật, Không quân Nam Hàn và đặc biệt Không lực Mỹ đã điều động hai oanh tạc cơ B-52 bay qua khu vực trên mà không thông báo cho Trung Quốc biết theo yêu cầu, Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Marty Natalegawa lập tức lên tiếng hôm 9/12 kêu gọi các bên liên quan “bình tĩnh xuống thang”, vì sợ rằng tranh chấp sẽ tràn vào Biển Đông.

Không còn nghi ngờ gì nữa, sớm muộn gì Trung Quốc cũng sẽ thiết lập một ADIZ tương tự trên Biển Đông. Đông thái của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông chỉ là “Dương Đông, Kích Tây” nhưng đồng thời cũng để thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ trước khi ra tay hành động.

Biển Đông rồi sẽ dậy sóng, vấn đề chỉ là thời gian. Và chẳng có gì ngạc nhiên, khi hai quốc gia phản đối Trung Quốc mạnh nhất ở Biển Đông lại là Philippines, một đồng minh lâu đời của Mỹ, và Việt Nam – hai nước mà Ngoại trưởng Kerry sẽ đến thăm trong những ngày tới “để thảo luận về một loạt các vấn đề song phương và trong khu vực.”

Mặc dù phản đối mạnh mẽ nhưng cả Philippines lẫn Việt Nam đều không phải là đối thủ của Trung Quốc như Nhật Bản và Hàn Quốc. Khả năng “đáp trả quân sự” của Philippines và Việt Nam khá khiêm tốn. Tuy nhiên, trong khi Philippines đang có một Hiệp ước quốc phòng với Mỹ, Việt Nam chỉ đơn thuần là không!

Có lẽ Mỹ đã nhìn thấy ở Việt Nam một cơ hội của một quốc gia có nhu cầu liên minh?

Bí ẩn không phải là tại sao Việt Nam cần Mỹ mà là tại sao Mỹ vẫn chưa thực hiện đòn bẩy trong việc hướng Việt Nam tới cải cách dân chủ và tự do hóa kinh tế. Qua bản Hiến pháp 2013 mà mọi hy vọng cải cách chính trị và kinh tế của Việt Nam đã tan theo mây khói, người ta có thể thấy rằng Hà Nội đã làm hoàn toàn điều ngược lại, so với mong muốn và lợi ích của Washington.

Tuy nhiên, có thể đối với một số lãnh đạo Mỹ, đó là công việc nội bộ của Việt Nam. Nhưng với cách nhìn đó, rõ ràng là Washington đã thiếu một tầm nhìn chiến lược lâu dài về Việt Nam trong chính sách đối ngoại của mình. Trong khi Việt Nam có thể là điểm son lý tưởng trong khu vực Đông Nam Á có khả năng hỗ trợ hữu hiệu Hoa Kỳ trong chiến lược “xoay trục” đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ đã tỏ ra là mình không có đồng minh hay chí hữu ở Việt Nam, bằng chứng là Washington không có khả năng gây ảnh hưởng thực tế tại Hà Nội.

Trong một cuộc khảo sát của Pew Research năm 2002 cho thấy 71% dân chúng Việt Nam có cảm tình với Hoa Kỳ, và 76% có thiện cảm với người Mỹ. Hơn một thập niên đã qua, con số này có thể còn gia tăng và điều này có thể thấy được qua những quan hệ giao lưu giữa nhân dân hai nước. Thực tế là Hoa Kỳ đã có đồng minh ở Việt Nam từ lâu và đó là chính nhân dân Việt Nam chứ không phải lãnh đạo Cộng sản Hà Nội.

Nếu Hoa Kỳ hy vọng mở rộng ảnh hưởng lâu dài tại Việt Nam, trước tiên Washington cần hiểu rằng các nhà lãnh đạo tại Hà Nội không phải là đại diện của ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Bất luận “chuyển đổi mạnh mẽ” nào đã đạt được giữa hai chính phủ cho đến nay, nếu Hoa Kỳ không có ảnh hưởng thực sự tại Hà Nội, đơn giản Mỹ sẽ không thể trông cậy vào Việt Nam để hỗ trợ cho chiến lược “xoay trục” của mình.

Nếu Hoa Kỳ dùng Hà Nội như một quân bài, Hoa Kỳ tất sẽ thất bại. Vì khi sợ mất một đối tác chiến lược ở châu Á – Thái Bình Dương, Washington đã vô tình cho phép Hà Nội quyền tự tung, tự tác, ngay cả đi ngược lại với những giá trị cốt lõi và quyền lợi trọng yếu của Hoa Kỳ.

Cho nên tốt nhất là Hoa Kỳ nên đồng hành với nhân dân Việt Nam trên bước đường mưu tìm tự do, dân chủ và phồn vinh. Nhân dân Việt Nam thường được cho là nhân hậu, cần cù, nhẫn nại, thông minh và sáng tạo. Hãy tặng họ tự do, họ sẽ làm nên những điều thật vô cùng kỳ diệu.

Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 


Vũ Đức Khanh

Vũ Đức Khanh là luật sư và giáo sư luật bán thời gian tại Đại học Ottawa, chuyên nghiên cứu về chính trị Việt Nam, quan hệ quốc tế và luật pháp quốc tế.
@VOA

Họ sợ những gì?

hungdungsangtrong

Nhóm lãnh đạo cộng sản hiện nay sợ những gì? Chúng ta cần trao đổi làm cho rõ, để hướng đấu tranh được chính xác, có hiệu quả, khi nỗi sợ chuyển dần từ phía ta sang phía người ta.

Thật là lý thú khi ta thấy nỗi sợ gần đây đã “đổi ngôi”. Trước kia có thể nói người công dân nào cũng sợ cường quyền. Thời phong kiến, thời thuộc Pháp, thời đảng CS cai trị, người dân ai cũng sợ nền cai trị của họ, với phu lít, cảnh sát, quân đội, tòa án, nhà tù…hạch sách, áp bức, đầy ải dân lành không sao kể xiết.

Ngày nay tình hình đã đổi khác. Thời thế đã đổi khác. So sánh lực lượng đang đổi khác. Dân trí thời mở cửa và hội nhập đã cao hơn hẳn trước. Thông tin hiện đại nhanh hơn chớp, rút ngắn thời gian, không gian, làm cho  mọi người có thể nắm bắt sự thật tức thời, kẻ cai trị khó long tùy tiện xuyên tạc bóp méo.

Nhân dân ta từng bị 3 hệ thống cai trị phi nhân bản, ngồi trên đầu trên cổ nhân dân, của vua quan phong kiến, của quan chức thực dân rồi của quan liêu cộng sản, nay dân ta đang bàn giao dần nỗi sợ cho cả hệ thống cầm quyền . Nhân dân ta càng bớt sợ họ bao nhiêu thì nỗi sợ của họ bị mất quyền, bị hỏi tội và rồi có ngày có thể phải đền tội, càng lớn dần lên. Một sự “bàn giao“ tự nhiên, không có văn bản, nhưng rõ ràng, nhãn tiền, diễn ra thường xuyên, liên tục cho đến khi nền dân chủ chân chính lên ngôi.

Mà họ sợ là phải. Họ giật mình khi bức tường Berlin đổ sập trong một đêm, rồi khi các đảng CS Đông Âu tan biến, một loạt các nước đồng chí xã hội chủ nghĩa vào nằm trong nghĩa địa lịch sử. Họ càng sợ khi đảng CS Liên Xô bậc thầy của họ tan nát, Liên bang Xô viết “vĩ đại” tan hoang. Họ thêm sợ khi các nhà độc tài từ Iraq đến Tunisia, Ai Cập rồi Libya lăn kềnh khi quần chúng xuống đường nổi dậy hỏi tội độc đoán và tham nhũng.

Thấy người lại nghĩ đến ta. Bao nhiêu tấm gương tày liếp sờ sờ ra đó. Họ không thể ăn ngon, ngủ yên được.

Họ sợ trí thức thừa kế túi khôn đặc sắc của dân tộc, họ sợ công nhân đòi công bằng xã hội, họ sợ dân oan bị cướp ruộng đất là nguồn sống duy nhất ở nông thôn, họ sợ người theo các tôn giáo đòi tự do tín ngưỡng, họ sợ cả bốn lớp người này cùng phối hợp thành cuộc xuống đường chung như nước lũ. Cơ đồ riêng chung của họ có nguy cơ bị bão lũ quần chúng cuốn băng trong chốc lát.

Nhưng họ sợ gì hơn cả? Thật khó trả lời. Vì càng ngày họ càng sợ nhiều thứ, kể ra không sao hết. Họ sợ quần chúng đông đảo xuống đường đòi tự do, ruộng đất, nhân phẩm. Họ sợ sự thật. Nhà toán học Hoàng Xuân Phú, hiện là Chủ tịch hội Toán học Việt Nam, chỉ ra hai tử huyệt của họ hiện nay là “Điều 4” trong Hiến pháp về độc quyền lãnh đạo của đảng CS và “chế độ sở hữu toàn dân về đất đai”, một thủ đoạn xảo quyệt để cướp đất của nông dân. Họ rất sợ ý kiến người dân nhằm vào “hai gót chân Asin” này của họ.

Họ rất sợ sự thật. Vì họ sống nhờ bộ máy tuyên truyền chuyên nghề dối trá, đổi trắng thay đen, che dấu sự thật. Do đó họ sợ nền thông tin trung thực, thâm thù báo chí, mạng lưới thông tin, các blogger tự do lề trái, bỏ tù các nhà báo tự do toàn là những “sứ giả của sự thật”, bỏ tù các nhà luật học, luật sư bênh vực luật pháp và sự thật, bênh vực dân oan.

Trong vô vàn sự thật họ đặc biệt sợ tệ nạn sùng bái ông Hồ Chí Minh ngày càng bị lật tẩy, vì đây là nơi trú ẩn cuối cùng của họ về mặt chính trị và tình cảm để mê hoặc nhân dân. Họ không còn dám khoe rằng ông Hồ từng được UNESCO của LHQ suy tôn là Danh nhân Chính trị và Văn hóa của Thế giới, vì sự thật được chứng minh là không có chuyện ấy. Họ sợ vì nhiều nhà nghiên cứu cũng chứng minh rằng trong cuộc cách mạng dân tộc – dân chủ, ông Hồ đã nặng về vế cách mạng dân tộc – chống đế quốc mà hoàn toàn coi nhẹ vế cách mạng dân chủ – xây dựng xã hội dân sự, tôn trọng quyền tự do của người công dân dưới một chế độ dân chủ pháp trị đúng nghĩa. Trong 24 năm là chủ tịch nước, ông đã kiên trì đóng chặt cửa trường Luật, coi đảng của ông là pháp luật; ông dửng dưng trước số phận hơn 27 ngàn địa chủ phần lớn là trung nông yêu nước , có văn hóa, giỏi nghề nông bị bắn và chôn sống; ông cũng quay mặt đi khi các ông Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Vũ Đình Huỳnh… lâm nạn. Vô cảm, bất nhân như thế thì sao có thể là gương sáng đạo đức cho đảng, cho dân? Cho nên việc giải ảo tiếp có lý lẽ, có sức thuyết phục cao về thần tượng Hồ Chí Minh là việc rất cần làm tuy không vui vẻ gì nhưng có lợi cho đất nước, dân tộc. Việc giải ảo này đã đi được chừng một phần ba chặng đường đánh giá trung thực về ông Hồ. Cần đi tiếp.

Hiện nay có một việc làm rất cần thiết nhưng anh chị em dấn thân cho tự do dân chủ làm chưa tốt, một việc nhóm lãnh đạo đảng CS rất sợ, đó là thành lập một hay vài cơ quan thăm dò dư luận tự do, đáng tin cậy, như ở một số nước dân chủ phát triển.
Đây là một công cụ xây dựng dân chủ rất lợi hại, sắc bén.

Hiện nay ở Viện Xã hội học thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam có “Trung tâm điều tra dư luận xã hội” ra đời được 30 năm, chưa có một tiếng vang nào về hoạt động của trung tâm đó, tuy chức năng và nhiệm vụ được xác định rõ ràng là: nắm bắt, phân tích, tổng hợp dư luận xã hội về những vấn đề, sự kiện quan trọng.

Lẽ ra đây phải là cơ quan “mở”, “rất mở”, được xã hội biết đến, nhưng nó nằm im, bất động ăn tiền mấy chục năm ròng. Vì xã hội đảo điên, niềm tin ở đảng CS lung lay, lãnh đạo bị xã hội khinh ghét, dân hết tin, điều tra dư luận một cách công khai chỉ tăng nguy cơ cho đảng nên đảng buộc nó nằm im như không hề tồn tại.

Chính vì lẽ ấy nên blogger Trương Duy Nhất bị truy tố và bị giam. Anh đã viết gần một nghìn bài báo nói lên sự thật. Rồi anh tự làm những cuộc thăm dò dư luận, qua đó đo mức tín nhiệm của từng người lãnh đạo ở chóp bu, kể cả tứ trụ triều đình CS, không một ai vượt quá 50 %. Kết quả này được anh công bố ngay trước cuộc bỏ phiếu trong Quốc hội đang họp. Họ bị chạm nọc. Anh bị bắt khẩn cấp. Họ sợ và bịt mồm anh. Blog “Một góc nhìn khác” của anh phù hợp với quyền của công dân có cách nhìn riêng độc lập theo Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế.

Anh Trương Duy Nhất sắp ra tòa. Để xem anh sẽ bị kết tội những gì và ra sao. Chỉ biết chắc chắn là họ rất sợ thước đo của dư luận. Họ căm và lo khi anh tự làm việc điều tra dư luận và tự công bố kết quả. Họ quá sợ dư luận xã hội nên vẫn một mực trì hoãn việc bàn về Luật trưng cầu dân ý được ghi trong hiến pháp.

Cho nên một việc rất nên làm lúc này là xây dựng một hay vài cơ quan điều tra dư luận tự do của xã hội dân sự với phương pháp khoa học và tinh thần trách nhiệm cao, coi như điền thế cho cái Trung tâm điều tra dư luận xã hội “tồn tại mà coi như không tồn tại “, “có cũng như không”, một đặc sản của Việt Nam thời độc đảng.

Mạng lưới Blogger Việt Nam thừa sức đảm nhận công việc này. Một nhóm bạn trẻ hiểu biết về tâm lý xã hội, về quan hệ công chúng, về thống kê có thể dựng lên một trung tâm như thế. Computer, điện thoại cầm tay khắp nơi, chỉ cần chọn một trăm hay khi cần năm trăm địa chỉ phân bố theo địa lý, nghề nghiệp, độ tuổi của công dân, rồi lựa chọn chủ đề theo từng thời gian, công bố công khai kết quả. Có rất nhiều chủ đề người công dân trong xã hội ta cần biết, đồng bào ta đang nghĩ gì, đa số muốn điều gì, không muốn điều gì.

Lúc ấy lãnh đạo đảng không thể tùy tiện và trơ tráo nói thay cho dân. Bao nhiêu đảng viên muốn từ bỏ cái tên “đảng Cộng sản” đã ô nhiễm để thay bằng một tên khác trong sạch? Bao nhiêu công dân muốn thay cái danh hiệu “xã hội chủ nghĩa” viển vông gán cho nước ta? Bao nhiêu công dân muốn từ bỏ nền “sở hữu toàn dân” về đất đai kỳ quái với những việc thu hồi, đền bù, cưỡng chế tàn bạo, để trở về với chế độ đa sở hữu vốn có từ xa xưa ? Đó là những “hàn thử biểu xã hội” bén nhậy chính xác rất cần cho xã hội văn minh.

Ở Hoa Kỳ có Viện Gallup thành lập từ năm 1935, có 40 văn phòng rải khắp các lục địa với 2 ngàn nhân viên chính thức, mỗi ngày trung bình làm 1.000 cuộc phỏng vấn để từ đó tổng hợp đưa ra kết quả. Ở Pháp nổi tiếng nhất là Viện IFOP (Institut Francais d’ Opinion Publique – Viện điều tra dư luận Pháp), thành lập năm 1938, có 4 trung tâm ở Paris, Toronto (Canada), Buenos Aires (Argentina), và Thượng Hải (Trung Quốc). Tất cả những tổ chức này đều là công ty tư nhân, không chịu áp lực nào của chính quyền hay các đảng phái, không chỉ điều tra dư luận về chính trị, còn về kinh doanh, dịch vụ, thị trường mua bán, y tế, thể thao, nghệ thuật.

Họ sợ sự thật, sợ sự minh bạch, sợ thức tỉnh của nhân dân, sợ dư luận, vậy thì Trung tâm dân sự điều tra dư luận có thể sẽ là một vũ khí hòa bình, phi bạo lực rất sắc bén, có hiệu quả cao vậy.

Blog Bùi Tín (VOA)