Lượm lặt tin 16-12-13

Ngoại Trưởng Mỹ John Terry Gửi Video chia sẻ với người Việt

————————————————

Hơn 17 triệu người Việt kiếm không đủ sống

 

Hệ thống tuyên truyền của nhà cầm quyền thường đưa ra các con số thống kê khoe khoang thành tích “xóa đói giảm nghèo” nhưng thực tế, một tỉ lệ rất lớn người Việt Nam kiếm không đủ sống

Theo các tính toán thông kê của nhà cầm quyền trung ương, lợi tức trung bình đầu người ở Việt Nam năm 2013 lên tới $1,900 USD dù kinh tế èo uột và hàng chục ngàn công ty xí nghiệp lớn nhỏ dẹp tiệm.

Năm ngoái, báo chí khoe lợi tức trung bình đầu người ở Việt Nam đạt được khoảng 1,540 USD một năm. Năm 2015, người ta dự phóng lợi tức đầu người Việt Nam có thể vượt qua  2,000 USD.

Nhà nước hồ hởi ca ngợi là Việt Nam đã thoát ra khỏi cái danh hiệu nước nghèo từ năm 2010 nhưng trên thực tế không phải như vậy. Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) hiện còn khoảng 17 triệu người lao động ở Việt Nam kiếm được ít hơn 40,000 đồng/ngày hay 1.2 triệu đồng một tháng như cái chuẩn nghèo do nhà nước dùng làm ranh giới nghèo và không còn nghèo.

Số tiền 40 ngàn đồng (hay dưới 2 đô la Mỹ) chỉ tạm đủ cho người ta ăn hai bữa cơm bình dân, chưa kể những nhu cầu khác từ nhà ở đến quần áo, thuốc men, giải trí cùng nhiều thứ khác. Không những người kiếm không đủ sống nhiều như thế, ILO còn thấy có khoảng 23 triệu người lao động Việt Nam chỉ kiếm được tiền ở mức “cận nghèo”. Họ là những người rất dễ rơi xuống cái hố nghèo vì hoàn cảnh sống và việc làm lúc nào cũng rất chênh vênh.

Dân số Việt Nam hiện hơn 90 triệu người mà số người lao động kiếm quá ít tiền và “cận nghèo” lên tới 40 triệu người, chứng tỏ các con số thống kê trung bình to lớn về lời tức trung bình đầu người của Việt Nam che đậy cái gì đó không thật.

Suốt hai thập niên qua, các định chế tài trợ quốc tế, các chính phủ tây phương và kỹ nghệ hóa cao đã đổ các số tiền vô cùng lớn vào Việt Nam giúp đất nước này “xóa đói giảm nghèo”. Nhưng một số không nhỏ tiền viện trợ đã chui vào túi đám quan lại tham nhũng ở các cấp.

Năm 2012, tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Việt Nam phỏng định đạt được 136 tỉ USD. Chế độ Hà Nội đặt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm nay 5.5% trong khi giới chuyên viên quốc tế tin rằng mức tăng trưởng ở đây còn thấp hơn nhiều.

Ngân Hàng Thế Giới phỏng định Việt Nam tăng trưởng năm 2013 khoảng 5.3% trong khi ngân hàng ANZ phỏng định chỉ được 5.1%. Thấp hơn như vậy, tập đoàn quốc tế Ernst & Young còn dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm nay chỉ khoảng 5%.

Tình hình thất thu thuế nghiêm trọng vì hàng loạt công ty xí nghiệp theo nhau dẹp tiệm, nhà cầm quyền trung ương phải nâng mức thâm thủng ngân sách từ 4.8% lên tới 5.3% để đủ tiền chi dụng cho các chương trình dự án căn bản đã liệt kê ra từ năm ngoái.

Ước tính của phía nhà nước CSVN nói lợi tức đầu người Việt Nam năm 2013 khoảng 40.8 triệu đồng/năm hay 3.4 triệu đồng/tháng. Giới chuyên gia trong nước tỏ ý nghi ngờ các tính toán cũng như sự trung thực của các thống kê mà nhà cầm quyền đưa ra.

Đối chiếu cách ước tính của ILO, thấy nó có rất nhiều dấu hỏi cần giải đáp giữa thực tế đói nghèo của người dân và những con số đẹp đẽ của nhà cầm quyền.

————————————————-

Bắc Hàn triệu hồi các doanh nhân ở TQ

 

Kim Jong-un

Kim Jong-un được cho thấy vẫn đang chỉ đạo đất nước sau vụ xử tử người dượng

 

Nguồn tin từ Nam Hàn cho hay cộng đồng doanh nghiệp Bắc Hàn làm ăn ở Trung Quốc đang được triệu hồi về nước sau vụ xử tử ông Chang Song-thaek, dượng của nhà lãnh đạo tối cao Kim Jong-un.

 

Tiếp tục thanh trừng?

 

Ông Kim Jong-un được cho là có khả năng sẽ tiếp tục thanh trừng thuộc hạ của ông Chang, người phụ trách quan hệ kinh tế với Trung Quốc.

 

Theo đó, các doanh nhân Bắc Hàn đang làm việc ở các thành phố Thẩm Dương và Đan Đông thuộc đông bắc Trung Quốc đã bị chính quyền triệu hồi về nước, hãng tin Yonhap của Nam Hàn cho biết.

 

Các doanh nhân này ở Trung Quốc để thúc đẩy thương mại và đầu tư song phương.

 

Một nguồn tin khác nói với Yonhap rằng Bình Nhưỡng có kế hoạch hồi hương toàn bộ các quan chức và nhân viên ở Trung Quốc trong nhiều giai đoạn.

 

Dường như đây là hành động trấn áp những người được cho là trung thành với ông Chang, Yonhap nhận định.

 

Đây cũng có thể là một dấu hiệu khác cho thấy sự sụp đổ của ông Chang phản ánh việc ông Kim Jong-un không hứng thú với sự cổ súy của ông này đối với các cải cách kinh tế theo mô hình Trung Quốc.

 

Ngoài ra cũng có những tin tức khác trong những ngày qua về việc các quan chức Bắc Hàn ở hải ngoại bị triệu hồi về nước.

 

Cơ quan tình báo Nam Hàn cho biết hai trong số những trợ lý thân cận nhất của ông Chang đã bị hành hình hồi tháng trước và các phân tích gia cho rằng việc thanh trừng một nhân vật cập cao như thế nhiều khả năng sẽ dẫn đến ‘những đợt sóng’ – tức là loại bỏ những người có liên hệ với ông ta.

 

‘Mọi việc vẫn bình thường’

 

Kim Jong un đi thị sát

Trong số những người bên cạnh Kim Jong-un sẽ có những hạt nhân mới của chính quyền?

 

Trong lúc này, truyền thông nhà nước Bắc Hàn đã phát đi những hình ảnh đầu tiên của ông Kim Jong-un kể từ khi Chang Song-thaek bị hành quyết.

 

Các bức ảnh cho thấy ông Kim đang thị sát một viện thiết kế quân sự. Theo sau ông là các sỹ quan đang ghi chép, trong số đó có phó Nguyên soái Choe Ryong-hae.

 

Những bức ảnh này dường như là nhằm để chứng tỏ Kim Jong-un vẫn đang kiểm soát quyền lực và mọi việc điều hành ở quốc gia này ‘vẫn diễn ra như thường’.

 

Những bức ảnh này sẽ được phân tích kỹ lưỡng để tìm các dấu hiệu về những nhân vật bên trong bộ máy của Kim Jong-un.

 

Trong số những người xuất hiện trong ảnh có ông Hwang Pyong-so, phó chánh văn phòng Trung ương Đảng, phó Nguyên soái Choe Ryong-hae và Jang Jong-nam, tân bộ trưởng Quốc phòng.

 

Chính phủ Nam Hàn tin rằng Kim Jong-un muốn củng cố quyền lực bằng cách gieo rắc sự sợ hãi trong nhân dân.

 

Vụ hành quyết người dượng của Kim Jong-un hôm 13/12 đã khiến cộng đồng quốc tế quan ngại về sự ổn định của đất nước sở hữu vũ khí hạt nhân này.

Việt Nam – TPP: Ai mua chính trị không?

Lãnh đạo Mỹ và Việt Nam

TPP là một trong những chủ đề đàm phán quan trọng song phương Việt – Mỹ hiện nay

Hy vọng cuối cùng về một kết quả “kết thúc đàm phán cuối năm 2013” đã tan chảy trong nỗi phiền muộn đông cứng của giới lãnh đạo kinh tế Việt Nam. Lần cuối cùng trong năm nay, Hội nghị bộ trưởng các nước tham gia đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) tại Singapore đã kết thúc ngày 10/12 mà không khởi sự được bất kỳ thỏa thuận quan yếu nào đối với đất nước của sáu năm suy thoái kinh tế.

Ông Trần Quốc Khánh, Trưởng đoàn đàm phán TPP Việt Nam, đã không giấu nổi vẻ thất vọng khi trả lời phỏng vấn của báo giới trong nước: đàm phán trong lĩnh vực hàng hóa, lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng nhất, lại khá trì trệ.

Trước và sau vòng đàm phán thứ 19 tại xứ sở dầu mỏ Brunei vào tháng 8/2013, cũng ông Khánh đã không dưới hai lần thốt lên kỳ vọng về một không khí hạnh vận cho phái đoàn của ông. Rất tương xứng với tâm trạng sốt ruột của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ở New Jork vào tháng 9/2013, bất cứ ai trong giới thuộc cấp điều hành kinh tế cũng đều thấm thía việc “công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh” vẫn là cửa ải đầu tiên mà những người đang cố gắng hoàn chỉnh chủ thuyết “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” phải vượt qua.

Bởi chỉ sau cửa ải khó khăn nhất về mặt quan niệm, giới chức chủ trì TPP như Mỹ và 4 quốc gia khác mới có thể xem xét về những nội dung bị xem là “trì trệ” trong việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các nước nội khối.

Cho dù luôn được báo giới đảng tuyên truyền “Việt Nam sẽ là quốc gia hưởng lợi nhất trong TPP”, nhưng điều tréo ngoe là sự thụ hưởng ấy vẫn rất mơ hồ, nếu chiếu theo một quy định không thể “linh hoạt” trong TPP là hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam phải có xuất xứ từ các nước nội khối hiệp định này.

‘Một điều kỳ lạ’

Suốt ba năm qua Hà Nội vẫn hầu như chẳng làm gì để bổ túc cho hồ sơ ứng cử viên TPP như cải cách kinh tế và giảm tính độc quyền của khối doanh nghiệp nhà nước, tăng tính minh bạch và tính hữu dụng cho cuộc chiến chống tham nhũng, kể cả một số vấn đề liên quan khác như môi trường, quyền lập hội lao động…

Rào cản kỹ thuật này là quá cao và đầy gai nhọn, bởi cho tới nay, khoảng 80-90% nguyên phụ liệu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu của nển kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc vào Trung Quốc, và hơn thế là dường như không thể thoát khỏi vòng kềm tỏa từ ý chỉ của Bắc Kinh.

Cùng với việc Trung Quốc không phải là một thành viên của TPP, điều quá khó cho nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ được giải thích theo cách nhìn “trì trệ” của ông Trần Quốc Khánh, và càng khó hơn nhiều nếu Nhà nước Việt Nam bắt buộc phải chuyển đổi vùng nhập khẩu nguyên liệu nếu muốn hưởng một chút lợi lộc từ sáng kiến “xoay trục” sang phương Tây mới phát tiết trong gần một năm qua.

Đã qua hẳn cái thời đầy ưu ái nhưng không thể tận dụng được hai cơ chế Hiệp định song phương thương mại Việt – Mỹ và thành viên Tổ chức thương mại thế giới. Trong đúng một con giáp được coi là lãng mạn ấy, nền kinh tế Việt Nam đã chỉ duy nhất một lần được xem là “cất cánh” với tốc độ tăng tiến như vũ bão của hai thị trường đầu cơ bất động sản và chứng khoán. Thế nhưng sau đó, chính gia tốc đầu cơ đã giết chết mômen sinh lực cuối cùng của nền kinh tế này. Tất cả đều trở nên què quặt và cuối cùng phải nhờ vào một nguồn ngoại viện mới: TPP.

Khác rất nhiều với các báo cáo tô hồng “kinh tế đang ổn định” của giới chức chính phủ, TPP dĩ nhiên là một lối thoát, thậm chí là một lối mở tươi lành nhất mà chính thể một đảng ở Việt Nam có thể vận dụng để ít nhất cũng tạm làm yên lòng dân chúng, hạn chế được phần nào những phẫn uất của dân nghèo về sự tàn bạo của các nhóm lợi ích, và cách nào đó tạm thời kìm giữ những ý tưởng hoặc hành động cần phải thay đổi thể chế chính trị.

Thế nhưng điều kỳ lạ là dù vẫn ngầm xem TPP là một cái phao cứu sinh, trong suốt ba năm qua Hà Nội vẫn hầu như chẳng làm gì để bổ túc cho hồ sơ ứng cử viên TPP như cải cách kinh tế và giảm tính độc quyền của khối doanh nghiệp nhà nước, tăng tính minh bạch và tính hữu dụng cho cuộc chiến chống tham nhũng, kể cả một số vấn đề liên quan khác như môi trường, quyền lập hội lao động…

Ai mua chính trị?

Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Quốc Khánh

Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Quốc Khánh thừa nhận VN cân nhắc quyết định về TPP ‘từ góc độ chính trị’

Nguyên do sâu xa nào đã ngăn cản tiến trình Việt Nam gia nhập TPP và làm cho sự vụ này bị “lỗi hẹn” – như cách mô tả đầy văn hoa của báo chí Việt Nam – trong thời gian qua?

Sau một chuỗi thất vọng, cuối cùng trưởng đoàn đàm phán TPP Việt Nam Trần Quốc Khánh đã lần đầu tiên buột ra một ẩn ức bấy lâu nay: “Việt Nam đã khẳng định với các nước tham gia đàm phán TPP là do xuất khẩu hàng hóa là quyền lợi quan trọng của Việt Nam, nên xuất khẩu đàm phán hàng hóa cần đạt được những tiến triển đủ lớn để Việt Nam có thể cân nhắc xem xét và đưa ra các quyết định trong các lĩnh vực đàm phán khác, kể cả quyết định mang tính chính trị”.

Lần đầu tiên, phạm trù “chính trị” được giới quan chức Việt Nam tiết lộ trong một ngữ cảnh gắn liền với TPP, cho dù trước đó giới hoạt động nhân quyền Hoa Kỳ và quốc tế đã nói thẳng về một điều kiện song hành về chính trị – kinh tế đối với Hà Nội. Vào giữa năm 2013, một nghị sĩ của Cộng đồng châu Âu còn không úp mở là họ không những có thể ủng hộ mà còn có thể vận động cho Việt Nam tham gia vào TPP và cả Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc, nhưng với điều kiện quốc gia này phải hành xử một cách thực chất đối với những cải thiện về quyền con người.

Nhưng sau hơn 4 tháng kể từ cuộc gặp Trương Tấn Sang – Barak Obama tại Washington, hồ sơ vi phạm nhân quyền Việt Nam trên bàn các tổ chức nhân quyền quốc tế vẫn tiếp tục dày lên. Những báo cáo gần đây của Tổ chức Ân xá quốc tế và Tổ chức Nhân quyền quốc tế mô tả Nhà nước Việt Nam đã không có bất cứ tiến bộ gì trong thời gian qua. Thậm chí vào ngày nhân quyền quốc tế 10/12 năm nay, việc kỷ niệm của một số blogger còn bị khống chế, sách nhiễu công khai, và cụm từ “nền nhân quyền mắm tôm” cũng phát sinh từ thực tế chẳng mấy hoan hỉ ấy.

Trong lúc tạm gác lại chủ trương bắt bớ vì lý do mở cửa đối ngoại, hiện hữu đáng buồn là một bộ phận không nhỏ giới chức lãnh đạo và an ninh lại đang “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” đến một nền văn hóa đấm đá nhân quyền. Tất cả các nhân vật dân chủ và bất đồng, không phân biệt thành phần và tôn giáo giáo, nếu không được sự quan tâm đầy đủ của chính giới quốc tế đều có thể bị o ép và bị đối xử với đẳng cấp văn hóa vùng đáy, đặc biệt ngay tại thủ phủ của bản Tuyên ngôn độc lập và thành phố mang tên Bác Hồ.

‘Con bài ngã giá’

Muốn có tất cả nhưng lại chẳng muốn trả giá, hoặc nếu phải trả giá thì chỉ là một cái giá rất rẻ, không thể nói những nhà lãnh đạo Việt Nam thực sự khôn ngoan trong các toan tính cá nhân được quyết định bởi chủ nghĩa tập thể của họ

Tình trạng luật sư công giáo Lê Quốc Quân – một trong những tiêu điểm mà giới hoạt động nhân quyền quốc tế đặc biệt chú tâm, cũng chẳng khá gì hơn. Sau vòng đàm phán từ 19 ở Brunei không mang lại một kết quả thuận lợi nào cho phía Việt Nam, điều được trưởng đoàn đàm phán Trần Quốc Khánh ẩn dụ là “quyết định mang tính chính trị” đã lộ diện bằng phán quyết ba chục tháng tù giam cho vị luật sư tranh đấu cho dân chủ. Rất tương đồng, người em trai của ông Quân cũng bị ghép vào tội trốn thuế và lãnh mức án sơ thẩm 28 tháng tù giam sau đó không lâu.

Thân phận và số phận của các nhân vật bất đồng chính trị khác trong trại giam cũng chẳng hề khả quan hơn Lê Quốc Quân. Giới dân chủ nhân quyền nói thẳng rằng đó là những con bài chính trị mà nhà nước muốn dùng để trao đổi, ngã giá một khi cần thiết.

Rõ là mọi chuyện chưa hề kết thúc, và cứ đà này thì còn lâu mới hết chuyện để nói.

Khác hẳn với các đợt thả tù chính trị liên tiếp ở Miến Điện và lòng chân thành đáng khen ngợi của Tổng thống Thein Sein, Hà Nội vẫn đang tự dìm mình trong một tâm thế cố chấp và tự kỷ. “Tài nguyên nhân quyền” – thứ tài sản còn sót lại trong một đất nước đã bị cạn kiệt gần như tất cả các nguồn tài nguyên, có vẻ trở nên sáng giá hơn bao giờ hết.

Muốn có tất cả nhưng lại chẳng muốn trả giá, hoặc nếu phải trả giá thì chỉ là một cái giá rất rẻ, không thể nói những nhà lãnh đạo Việt Nam thực sự khôn ngoan trong các toan tính cá nhân được quyết định bởi chủ nghĩa tập thể của họ. Sự chùng kéo như thế càng khiến thời gian trôi qua một cách uổng phí, nền kinh tế càng có vô số cơ hội lao dốc, dân tình càng thán oán và ngày càng dày dạn các phản ứng xã hội liều lĩnh…, trong khi không có bất kỳ một cải thiện nào để cứu vãn quốc gia.

‘Không thể có tên’

John Kerry

Việt Nam có thể tranh thủ ra sao chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry lần này để thúc đẩy TPP?

Thời điểm cuối năm 2013 đã đến rất gần. Một cái tết Nguyên đán cũng đang tiến sát cận ranh chịu đựng của người dân và cả các ngân hàng Việt Nam – những kẻ đang phải đối mặt với nguy cơ tan rã. Nhưng ráng hồng đầu tiên của cầu vồng TPP vẫn chưa hề hiện ra.

Cho dù vẫn có lời hứa hẹn vòng đàm phán kế tiếp vào tháng Giêng năm 2014 có thể mang lại một kết quả khả quan nào đó, nhưng thực tế hiển nhiên là giờ đây Việt Nam không còn là ưu tiên số một trong con mắt người Mỹ, và trong danh sách đối tác kinh tế chủ lực của Nhà Trắng chắc chắn không thể có cái tên Hà Nội.

Cho dù Ngoại trưởng John Kerry luôn hứa hẹn “Nơi nào có quyền lợi chung thì nơi đó Mỹ và Việt Nam có thể hợp tác”, điều được xem là “thành tâm chính trị” của Hà Nội mới là lời hứa có giá trị nhất trong bối cảnh nhập nhoạng hiện thời.

Không mang tính thực chất trong chuyến viếng thăm Việt Nam vào giữa tháng 12/2013, lần đáp từ thứ 14 của ngoại trưởng John Kerry chỉ có ý nghĩa như một sự tái tạo hình ảnh của Hoa Kỳ cùng ảnh hưởng văn hóa của nó trong lòng dân chúng xứ sở cựu thù.

Tất cả chỉ có thế.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và văn phong của tác giả, một nhà báo tự do đang sinh sống ở Sài Gòn.

Ông Dương Chí Dũng biết trước kết cục?

Ông Dương Chí Dũng trước tòa

Ông Dương Chí Dũng tỏ ra ‘bình thản’ trước tòa dù bị đề nghị mức án ‘tử hình’.

Bị cáo chính trong vụ án ‘tham ô tài sản’ và ‘cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng’ ở Tông Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) đang chờ Tòa sơ thẩm tuyên phạt chiều thứ Hai, có thể đã “biết trước hình phạt” đối với bản thân, theo ý kiến quan sát từ Việt Nam.

Vì lý do này mà ông Dương Chí Dũng, nguyên Tổng giám đốc Vinalines, nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải, Bộ Giao thông Vận tải, đã có thái độ ‘bình thản’ trước phiên Tòa, thậm chí đã “đọc cả thơ trước tòa” khi được ‘phát biểu lời cuối’, một diễn biến được cho là ‘không bình thường’, vẫn theo bình luận từ trong nước.

Hôm 15/12/2013, Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói với BBC vụ xử ông Dương Chí Dũng và các ‘đồng phạm’ trong cùng vụ án chỉ có tính chất ‘trình diễn’.

Ông nói: “Tôi không biết là ông ấy có biết hay không, bởi vì ở đằng sau những vụ xử có tính chất trình diễn như thế này, khó ai biết được ở đằng sau nó là như thế nào,

“Cũng như là khi mà ông ấy bị khởi tố, người ta cũng đã cung cấp trước thông tin cho ông ấy, để cho ông ấy bỏ chạy.”

Khi mà cái việc ấy, người ta tin vào công lý của tòa án và sự nhìn nhận của cơ quan xét xử sẽ đánh giá đúng thực tế người ta có phạm tội không, cho nên thái độ bình tĩnh, tôi cho đó là bình thường thôi

Luật sư Ngô Ngọc Thủy

Tiến sỹ Quang A cho rằng có thể suy đoán một phần nào về khả năng mà hình phạt mà ông Dương Chí Dũng có thể bị tuyên.

Ông nói: “Có thể bản án sẽ rất cao, nhưng giữa chừng, khi thụ án được một thời gian, thì có thể được giảm”.

Hôm Chủ Nhật, một trong ba luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi của ông Dương Chí Dũng tại Tòa cho rằng thái độ ‘bình thản’ của thân chủ của ông là ‘bình thường’.

Luật sư Ngô Ngọc Thủy nói:

“Ông Dũng là người trưởng thành, có học và ông hiểu được vấn đề của vụ án, cho nên tôi cho rằng chả lẽ cứ phải khóc lóc, cứ phải vật vã,

Luật sư Ngô Ngọc Thủy

Ông Ngô Ngọc Thủy nói nhóm luật sư bào chữa tin rằng ông Dương Chí Dũng ‘không tham ô’.

“Khi mà cái việc ấy, người ta tin vào công lý của tòa án và sự nhìn nhận của cơ quan xét xử sẽ đánh giá đúng thực tế người ta có phạm tội không, cho nên thái độ bình tĩnh, tôi cho đó là bình thường thôi.”

‘Tin vào pháp luật’

Hôm 15/12, luật sư Thủy nói với BBC từ Hà Nội rằng vụ án có nhiều đối tượng là ‘người ngoại quốc’ và ‘các tình tiết ở nước ngoài’, nên cần ‘thu thập thêm chứng cứ’ phục vụ cả quá trình ‘buộc tội lẫn gỡ tội.’

Từ chối đưa ra phán đoán về mức án mà tòa sẽ tuyên với thân chủ của mình, nhưng ông Thủy cho rằng thân chủ của ông đã ‘xác định được bản thân’ và ‘tin tưởng vào sự công minh’ của pháp luật, trong khi toàn nhóm luật sư bào chữa đã ‘thống nhất quan điểm’ rằng ông Dũng “không phạm tội tham ô.”

Ông Thủy nói ông và nhóm luật sư mà bên cạnh ông là các ông Trần Đình Triển, Trần Đại Thắng, đã ‘không gặp áp lực’ hoặc ‘bị lưu ý gì’ từ bất cứ ai, khi bảo vệ quyền lợi cho thân chủ.

Tuy nhiên, ông cũng tiết lộ ông và hai luật sư đồng nghiệp này đã không được tham gia bảo vệ quyền lợi cho thân chủ ngay từ đầu vụ án.

Về tình tiết ông Dương Chí Dũng từ chối cung cấp danh tính người đã ‘báo tin’ rằng ông bị ‘khởi tố’, dẫn tới quyết định ông Dũng ‘bỏ trốn’ và bị truy nã, luật sư Thủy cho biết:

“Sự thực chi tiết này, chúng tôi không hỏi ông Dũng làm gì, vì đó là vấn đề cá nhân của ông ấy. Việc ông ấy bỏ trốn, rồi vì sao ông bỏ trốn, chúng tôi không quan tâm tới việc ấy, đó là việc cá nhân…”

Hôm thứ Bảy, báo chí Việt Nam đưa tin ông Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương đã hiện diện để theo dõi phiên toà tại phiên xử sơ thẩm ở Hà Nội.

Bình luận về thông tin này, Tiến sỹ Quang A cho rằng ông Nguyễn Bá Thanh đã muốn qua đây ‘kiểm chứng’ và ‘lấy bằng chứng’ thêm trong môt bối cảnh công ‘khai hơn’ với sự có mặt của truyền thông về ‘một thông tin nào đó’ từ ‘các nghi can’ mà ‘có lẽ ông đã biết từ trước.’

Việc nhà lãnh đạo của Ban Nội chính xuất hiện ở phiên xử, dù ở ‘một phòng theo dõi riêng’ và chỉ trong ‘khoảng một giờ’ như truyền thông trong nước phản ánh đã ít nhiều thu hút sự quan tâm của giới quan sát.

Ảnh hưởng ‘Bá Thanh’?

Ông Nguyễn Bá Thanh

Ông Nguyễn Bá Thanh đã tới dự phiên tòa trong một khu vực riêng trong một thời gian ngắn, theo báo Việt Nam

Cũng hôm Chủ Nhật, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban tư vấn của Thủ tướng Chính phủ bình luận diễn biến này.

Ông nói: “Tôi không được biết bối cảnh và động cơ gì nhưng theo tôi ông Bá Thanh đến để biểu hiện sự quan tâm của Ban Nội chính Trung ương và cũng có thể của ban lãnh đạo Đảng đến phiên tòa này,

“Và nó chứng tỏ rằng phiên tòa này được sự chú ý cao độ của công luận và lãnh đạo Đảng, mà trong đó có Ban Nội chính Trung ương.”

Trả lời câu hỏi liệu sự hiện diện của ông Bá Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, có gây ảnh hưởng gì tới tính khách quan và độc lập của tư pháp cũng như vụ xử ông Dương Chí Dũng cùng các bị cáo khác trong vụ án hay không, Tiến sỹ Doanh nói:

“Ở Việt Nam, Ban Nội chính Trung ương có thể hiện diện ở các phiên tòa như vậy là việc bình thường, ở Việt Nam, Đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối, cho nên Ban Nội chính trung ương có thể đến, xuất hiện ở các phiên tòa đó để xem xét, có ý kiến…

“Như báo chí đưa tin, ông ấy đến xem xét rồi ông ấy lại lẳng lặng ra đi, chứ không phát biểu ý kiến gì cả, cái đó có thể đối với quốc tế là một điều không bình thường, nhưng đối với Việt Nam, việc ấy, cũng tương tự như nhiều sự việc khác, các lãnh đạo Đảng có thể đến được.”

Và trong khi cho rằng vụ án là một trong các nội dung được ban lãnh đạo Đảng Cộng sản đặt ‘trọng tâm’ chỉ đạo, xử lý, với định hướng để ngành tư pháp sẽ ‘không xử án treo’ với các vụ án liên quan ‘tham nhũng, chức vụ’, Tiến sỹ Doanh nhấn mạnh thêm về viêc Đảng còn chưa rõ ràng trong khi ‘chỉ đạo’ chính quyền:

“Đến nay không có quy định gì về việc sự lãnh đạo của Đảng sẽ được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật như thế nào.”

‘Còn ai phải xử?’

Đối với những đối tượng khác liên quan, nhất là ở phía quản lý của Nhà nước mà để xảy ra tình trạng này, tôi cũng thực sự mong qua xét xử lần này, Tòa đưa ra và có thể sau này tiếp tục xử lý đến những người đó nữa

Bà Phạm Chi Lan

Tiến sỹ Quang A hôm 15/12 cho rằng các phiên tòa như vụ xử Vinalines, dù muốn tỏ ra là nhà nước ‘nghiêm minh’ với tệ nạn tham nhũng tới bao nhiêu, vẫn sẽ ‘không giải quyết được tận gốc’ vấn đề của nạn tham nhũng nhà nước cùng các ‘căn bệnh’ khác của hệ thống.

Điều này, theo ông, chỉ đạt được nếu Việt Nam có thể cải cách triệt để về chính trị và thể chế với người dân thực sự có thể ‘giám sát quyền lực’ và ‘bầu lên’ những người mà họ cho là có ‘năng lực thực sự’ điều hành đất nước vào các vị trí của bộ máy công quyền.

Về phần mình trong một cuộc trao đổi trước đó trong tuần này với BBC, bà Phạm Chi Lan, một cựu thành viên khác của Ban tư vấn của Thủ tướng Chính phủ bình luận về vụ xử với ông Dương Chí Dũng và những ai có liên quan.

Bà nói: “Tôi nghĩ rằng phải xử thật nghiêm minh với ông Dương Chí Dũng, cũng như với mấy người đã bị bắt cùng với ông ta ở Tổng công ty Vinalines, điều đó là chắc chắn rồi,

“Và lần này tôi tin là Nhà nước cũng sẽ xử nghiêm minh, bởi vì công luận cũng trông chờ lâu rồi và cũng đã nói đủ về trường hợp này,

“Nhưng mặt thứ hai, đối với những đối tượng khác liên quan, nhất là ở phía quản lý của Nhà nước mà để xảy ra tình trạng này,

“Thì tôi cũng thực sự mong qua xét xử lần này, Tòa đưa ra và có thể sau này tiếp tục xử lý đến những người đó nữa,” bà nêu quan điểm với BBC.

@bbc

Phan Châu Thành – Ba vấn đề lớn trong các “đại án kinh tế”, qua vụ án Vinalines


Phan Châu Thành

Ngày mai, 16/12, dường như phiên tòa “đại án Vinalines” xử Dương Chí Dũng, Mai Văn Phúc, Trần Hải Sơn… sẽ có phán quyết cuối cùng nặng nề với 2 án tử hình và một án tù giam 34 năm (vẫn chưa phải án chung thân!). Tội danh chính gồm 2 phần: vi phạm qui định nhà nước và tham nhũng (đưa và nhận hối lộ), cả hai đều gây thất thuất tài sản lớn của nhà nước…

Phiên tòa là bức tranh chung đại diện cho nền kinh tế cũng như cho cả thể chế nước ta hiện nay. Từ đó, tôi thấy có ba vấn đề lớn trong vụ án này cũng như trong các “vụ đại án kinh” khác của Việt Nam, đó là: Cơ sở pháp lý (cả lập pháp, tư pháp lẫn hành pháp), của vụ án này không ổn, và như thế chẳng qua là họ đang lừa dân biểu diễn màn hài kịch “chống tham những”, đang lợi dụng pháp lý để các phe nhóm lợi ích trong đảng đấu đá nhau mà thôi; hai là: Cơ chế kinh tế – dùng các đơn vị kinh doanh quốc doanh làm chỉ đạo – tạo ra các vấn đề trầm trọng thể hiện rất rõ trong các vụ án, luôn luôn và tất yếu gây nên đỏ vỡ kinh tế lớn cho đất nước; và thứ ba là cách dùng người và cách quản lý kinh tế của chế độ này hay cơ chế đó rất không ổn: không theo hiệu quả làm việc mà theo “phân công của đảng” tức bổ nhiệm theo thế lực thực tế của các phê nhóm lợi ích trong đảng với nhau trong từng lĩnh vực cụ thể, mà chỉ ra sức khai thác thực tế “thắng lợi cách mạng” đã để lại hiện nay…

Vậy nên tôi xin có vài ý kiến chia sẻ về điều đó, và xin bỏ qua phần tội danh tham nhũng vốn là bản chất hệ thống và là đặc thù (vừa là phương tiện vừa là mục đích cách mạng) của các quan cộng sản, ở đâu cũng có, và trong cơ quan nào cũng có thể thấy rõ mọi lúc mọi nơi, dù bao giờ khi khởi tố các vụ án cũng chỉ là “vi phạm các qui định quản lý nhà nước”…

Phần 1: Những vấn đề trong cơ sở pháp lý của vụ án Vinalines

Cơ sở pháp lý để luận tội “vi phạm các qui định quản lý nhà nước” ở đây, trong ví dụ vụ “đại án kinh tế” Vinalines là Nghị định 49/2006/NĐ-CP của Thủ Tướng mới lên lúc đó NTD ký ngày 18/5/2006 (NĐ 49/CP).

Về lập pháp, trước 2006 cả nền kinh tế phát triển khá rầm rộ và việc các đơn vị, địa phương ồ ạt nhập tầu biển cũ về kinh doanh là rất phổ biến, vì nói chung cách đó khá hiệu quả đối với nền kinh tế vừa mới mở ra của ta thời kỳ đó. Việc quản lý nhập khẩu tàu biển về VN trên phạm vị quốc gia với cái nhìn vì lợi ích cả nền kinh tế khi đó và bao giờ cũng là cần thiết. Nhưng không hiểu sao người chấp bút cho nghị định CP này lại là…Vinashin. Vinashin chính là “nạn nhân” của “phong trào” nhập tầu biển cũ ồ ạt làm các xưởng tàu trong nước chết thảm nhiều năm (20 năm dài, từ 1986) trước đó, nhất là các xưởng tàu lớn của Vinashin… Vì thế, Nghị định 49 đã ghi rõ cấm nhập các tàu biển trên 15 tuổi… Mục tiêu “lập pháp” lớn nhất của Vinashin lúc đó là bắt các anh “bạn vàng” lớn nhất trong nước như Vinalines, PetroVietnam, Petrolimex và các loại tổng công ty “im-ếch” và các công ty vận tải biển khác “của nhà nước” phải đặt hàng họ – Vinashin đóng tàu mới trong nước thay vì đi mua tàu cũ… Chính phủ thì coi đây là nghị định bảo hộ kinh tế của mình giúp Vinashin – quả đấm thép đặc biệt “sáng” lên…

Đầu 2006, tôi đã được ông Bình và ông Ánh (TGĐ và PTGĐ Vinashin) khoe về thành tích “lập pháp” đó của họ như sau: “Bọn tớ đang sắp lùa được chúng nó vào rọ hết rồi. Từ 1.6.2006 chúng nó có muốn cũng không thể chạy thoát việc đặt hàng đóng mới ở Vinashin…”, và họ nói về nội dung Nghị định 49/CP mà N.T.Dũng sẽ ký… (”Chúng nó” ở đây là “các ông bạn vàng” đã kể trên), rồi họ say sưa nói đến tương lai ngành đóng tàu Việt Nam sẽ trở thành trụ cột nền kinh tế Biển, sẽ đứng thứ tư (trong kế hoạch gửi CP họ rút xuống thứ 7) thế giới, vào năm 2010…

Tôi đã đưa ra bốn lý do chính mà theo tôi một NĐ như thế dù CP có thông qua cũng sẽ khó thực hiện là: Người mua tầu cũ, dù trên 15 năm tuổi, thường sẽ khai thác hiệu quả hơn đóng mới rất nhiều (vì nước ta còn nghèo, dân ta chưa quan tâm đến cấc vấn đề an toàn và môi tường…); thứ hai: tầu trên 15 tuổi mà do Nhật hay Châu Âu đóng thì khả năng chất lượng còn rất tốt và thiết bị kỹ thuật hiện đại… hơn tàu Vinasshin đóng mới là rất cao, (tàu Vinashin đóng mới chỉ hơn tàu cũ của… TQ đóng thôi!), và thứ ba: Thế giới đóng tàu là để dùng 50-60 năm (có khi cả trăm năm) thì mới hiệu quả, chứ có phải chỉ dùng 15 năm đâu? Tầu dưới 15 tuổi rất ít chủ tàu bán đi vì đang “ngon” và khai thác chưa thu hồi hết vốn và bán đi thì khó vì giá phải cao; và lý do thứ tư, quan trọng nhất: Khi đi mua tầu ở nước ngoài, người ta vừa được du hí bằng tiền nhà nước, vừa được chủ tầu “lại quả” rất ngon vì người ta mua bằng tiền nhà nước mà…
Như vậy, vấn đề trong lập pháp ở đây là, Nghị định 49/CP là một chính sách cực kỳ sai lầm của chính phủ vì nó không khả thi, vì nó đi ngược các nguyên tắc kinh tế cơ bản trên.

Tôi không biết trên thế giới có nước nào “chơi sang” mà dám có chính sách bảo hộ “tự hại” như NĐ 49/CP cấm nhập tầu biển trên 15 tuổi như VN? Thường thì, các chính phủ không khuyến khích việc nhập tàu biển cao tuổi bằng các chính sách thuế cao (thế nhập khẩu và thuế khai thác), và bằng các qui định cao về an toàn, đăng kiểm, bảo hiểm… với tàu biển mà thôi. Ví dụ, vì các lý do cụ thể là bảo vệ môi trường biển, nước Úc cấm tàu trên 30 tuổi vào cảng của họ, vì bảo vệ an toàn con người đi biển các nước Tây Âu đánh thuế rất cao chủ tàu của họ khi khai thác tàu cũ trên 25 năm nhưng vẫn cho khai thác vô thời hạn, miễn là đăng kiểm và bảo hiểm chấp nhận…, hay vì tham gia các công ước quốc tế về biển như IMO, SOLAS… mà các nước đều phải gia tăng các yêu cầu đăng kiểm an toàn kỹ thuật tàu biển… Chỉ có VN mới có tư duy điều hành kinh tế bằng mệnh lệnh với vô số các nghị định như kiểu NĐ 49/CP đó…

Có thể những người thông qua nghị định 49/CP (là VPCP) và người ký nó (TTg Nguyễn Tấn Dũng) chả hiểu tí gì về tầu biển và sự nguy hiểm của bảo hộ kinh tế trực tiếp, nhưng họ cũng đã không biết học theo “đại ca” của mình là Đặng Tiểu Bình khi ông này đã từng nói và làm trong thời điểm mở cửa nước Trung Hoa rằng: “đóng tàu không bằng mua tàu, mua tàu không bằng thuê tàu…” để thực hiện chính sách “mèo trắng hay mèo đen, miễn mèo nào bắt được chuột!” của ông.

Trong kinh tế của các “quả đấm thép” VN thì câu đó là: mua tàu hay đóng tầu hay thuê tàu, miễn là đạt hiệu quả kinh tế cao nhất? Thế là, để mở cửa nền kinh tế, TQ thì bắt đầu bằng thuê tầu và họ cứ thế đi lên, còn VN bắt đầu bằng mua tàu (cũ) và đóng tàu (nát) – VN cứ thế mà chìm nghỉm. Ngày hôm nay, công nghiệp đóng tàu TQ đứng đầu thế giới (về sản lượng và thị trường, chất lượng thì còn lâu – vì đó là vấn đề “đạo đức cộng sản”), đóng tàu VN cũng đứng đầu thế giới, nhưng về tai tiếng và ân oán nợ nần…

Chính sách đó (Nghị định 49/CP) đã phá sản hoàn toàn mà, về hành pháp, đến hôm nay nó vẫn được dùng như Kinh thánh để làm cơ sở pháp lý quản lý kinh tế trong nước và cho các vụ án, nhất là trong các vụ “đại án linh tế” như vụ Vinalines… Tức là nó đang là cơ sở pháp lý để kết án tử hình hai ông Dũng và Phúc…

Cần phải nhắc lại là, chính trong vụ đại án Vinashin mới gần đây thôi, người ta cũng đã dùng Nghị định 49/CP này để kết án các quan chức vô lại Vinashin khi chính họ đã vi phạm cái nghị định mà họ soạn thảo ra rồi “lobby” để Thủ tướng ký năm 2006 đó! Đó là khi họ được giao một đống tiền của nhà nước và họ biết nếu họ tự đóng tàu thì chỉ có lỗ nên họ đã…đi mua hàng loạt tàu cũ về và lập nên các công ty hàng hải Vinashinlines, Biển Đông, tàu khách Bắc Nam Vinashin, từ số O tròn trĩnh thành những “người khổng lồ” trong ngành trong mấy tháng!

Khoảng thời gian đó (2007-2008?), tôi lại quay lại hỏi các ông Bình, Ánh… “Sao các anh vi phạm NĐ 49/CP? Sao các anh không “vì tương lai nghành đóng tàu Việt nam” mà tự đóng tàu rồi khai thác?’ Có phải vì mấy nguyên nhân làm NĐ 49/CP sẽ bất khả thi mà tôi đã đưa ra?…” Thì tôi được trả lời: Vinashin được Thủ tướng giao nhiệm vụ cấp tốc phát triển tuyến vận tải hành khách và container Bắc-Nam để khẳng định vai trò kinh tế biển của Việt Nam, nên không thể đợi đóng tàu được! Và vì thế… tất cả các con tàu họ mua “cấp tốc” về đều có tuổi vượt xa tuổi 15-“sắp trăng tròn” mà họ đã yêu cầu CP cấm nhập…

Như vậy, việc hành pháp với NĐ 49/CP cũng chỉ là trò hề, họ thích thì theo, không thích thì thôi, có người phải theo, có người không phải theo, và bao giờ họ cũng có lý do gì đó cao hơn pháp luật, ví dụ ở đây là “chỉ thị của thủ tướng”… Vậy pháp luật là gì, nghị định CP là gì mà bắt cả nước phải tuân theo nếu vẫn có những thứ luôn cao hơn pháp luật?

Khuôn mặt thứ ba của hệ thống Pháp lý là tư pháp, với Nghị định 49/CP năm 2006 thì nó là cái gì, trông như thế nào? Trong ngành vận tải sông biển và đóng tàu (cả trong dầu khí, thủy sản và một số ngành công nghiệp khác…) có một dạng tổ chức độc lập đóng vai trò tư vấn pháp lý và kỹ thuật trong ngành, vai trò tư pháp, đó là tổ chức Đăng kiểm Hàng hải Việt nam. Ở nước ta Đăng kiểm Hàng hải là cơ quan nhà nước vừa có vài trò lập pháp (lập ra các qui phạm, qui định kỹ thuật), vừa có vài trò hành pháp (giám sát thực hiện) và vừa có vai trò tư pháp (giải thích, điều chỉnh, tư vấn kỹ thuật…).

Trong NĐ 49/CP. Đăng Kiểm VN đã bị cho đứng ngoài từ đầu trong việc tham gia tư vấn “lập pháp”, tức là góp ý cho NĐ 49/CP, ít nhất là về chuyên môn kỹ thuật hàng hải. Vì thế cho nên khái niệm cơ bản như ụ nổi 83M có phải là tàu biển không và có chịu sự áp đặt của Nghị định 49/CP đó không, mà đến nay người ta cũng vẫn còn cãi nhau suốt, đã gần chục năm áp dụng NĐ rồi, thì quả là… bó tay chấm cơm!

Việc này nếu đưa ra tòa án hay trọng tài quốc tế, thì chỉ cần một câu giải thích định nghĩa từ ship – tầu biển trong NĐ 49/CP của một cơ quan đăng kiểm quốc tế là xong. Nghị định 49/CP điều tiết việc nhập khẩu tầu biển nhưng không có định nghĩa “tầu biển” chính xác và được các bên liên quan hiểu “tầu biển” nhất quán là gì, thể hiện cách làm luật của ta nó “chuyên nghiệp” ra sao, cách thực hiện luật pháp nó rối loạn thế nào và cách giải thích và áp dụng nó bế tắc làm sao!

Luật ra ám muội như thế, những người “cảnh sát kinh tế” cho việc áp dụng luật, ở đây là NG 49/CP và việc nhập khấu ụ nổi 83m của Vinalines là Hải Quan lại thường là những người biết ít nhất về kỹ thuật, nhất là kỹ thuật hàng hải, thì làm sao hiểu cho tường tận NĐ 49/CP để thực hiện! Thế mà họ đã hiểu đúng và thực nhiện đúng, họ đã cho thông quan Ụ nổi vì đó đúng là không phải tầu biển – đối tượng áp dụng của NĐ 49/CP!

Thế mà, hôm qua và hôm nay, đọc các bài báo lề phải về “đại án Vinalines”, về chi tiết các vị công tố viên dùng biên bản của Đăng kiểm VN để “đập lại” các đăng kiềm viên và cán bộ hải quan hiện đã là những bị can tại tòa, rằng “Ụ nổi 83M không phải là tàu biển thì là mớ rau à?”, tôi thấy đau lòng và uất nghẹn cho người dân trước hệ thống tư pháp ngu và ác đến tột cùng của chế độ này quá! Chẳng khác gì như công an bắc Giang tra tấn ép cung ông Chấn để lập thành tích phá án nhanh, các công tố viên Viện Kiểm “nhân dân” đang công khai “ép cung, tức đổi trắng thành đen giữa phiên tòa, đưa các “đồng chí” vô tội của mình vào vòng lao lý, để lập thành tích chống tham nhũng với đảng, và đảng thì với dân!

Đó cũng là một lý do trực tiếp làm tôi phải xóa các cuộc hẹn chiều nay để ngồi viết bài này.

Ý của tôi là: Những người đang đứng trước vành móng ngựa hôm nay ít nhiều một số cũng có tội và đáng bị xử, nhưng có lẽ không phải tất cả – có nhiều người không có tội “vi phạm các qui định pháp luật” như cán bộ đăng kiểm (Lê Văn Dương) và ba cán bộ hải quan (Huỳnh Hữu Đức, Lê Văn Lừng và Lê Ngọc Triện). Với tôi, những kẻ đang xử họ còn có tội lớn hơn nhiều, là đang vận hành một chế độ pháp lý đại ngu đại ác đại bất công như thế!

Tôi xin mạn phép đưa ra 2 định nghĩa tàu biển và Ụ nổi của các đăng kiểm quốc tế (như ABS, DNV-GL, LR, BV…) dùng phổ biến trong các tài liệu pháp lý, tài liệu kỹ thuật, qui phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật… trong các nghành đóng tàu, hàng hải, dầu khí quốc tế như sau: Tàu biển (seagoing ships) là phương tiện nổi tự hành (có động cơ và chân vịt) để (với mục đích chính) vận chuyển hay di chuyển trên biển mà trên 99% thời gian khai thác của nó là dành cho mục đích chính đó.

Còn Ụ nổi (floating drydock) là một dạng phao nổi có tiết diện chữ U có đội nổi thay đổi và có thể làm chìm xuống-nổi lên để năng tàu biển lên khỏi mặt nước.

Theo hai định nghĩa trên và theo mọi tổ chức đăng kiểm, mọi chuyên gia trong ngành thì ụ nổi và tầu biển là khác nhau và luôn cần hai định nghĩa khác nhau hoàn toàn như trên. Tứ là, Ụ nổi 83M không phải và không thể là tàu biển, và nó không là đối tượng chịu áp đặt của NĐ 49/CP hiện hành. Nói Ụ nổi là tầu biển thì cũng như nói nhà hộ sinh là bà đẻ vậy, hay nói giường bệnh chính là bệnh nhân, gara là cái ô tô, nhà của bạn là bạn?…

Điều đó có nghĩa là trong vụ “đại án Kinh tế” Vinalines mà ngày mai người ta sẽ kết án ”vi phạm các qui định quản lý kinh tế” của đối với các ông Dũng, Phúc… trong việc nhập ụ nổi 83M, là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Rất tiếc, trong quá trình tố tụng vụ án, các vị “tư pháp” của vụ án này là các Đăng kiểm VN và Hải quan lại cũng bị bắt giam cùng các bị can thay vì được hỏi cách hiểu và cách áp dụng NĐ 49/CP!

Tóm lại, trong vụ án này, tư pháp bị hành pháp bắt giam, đè bẹp và xét xử. Họ trở thành bị can và tội phạm và họ thậm chí không thể tự bảo vệ chính mình, vì họ bị đảng cướp mất cơ sở pháp lý của họ – chính là cách hiểu đúng ND 49/CP! Ôi những vị quan tòa công minh về kỹ thuật – các chuyên gia đăng kiểm, và cả các vị “cảnh sát kinh tế” của chế độ- trong chế độ không chịu tam quyền phân lập này với ý chí của đảng luôn cao hơn tam quyền ấy, các vị chỉ có thể trở thành hề, vật hy sinh và mồi ngon cho kẻ khác! Tư pháp ở đâu ư? Thế Pháp lý ở đâu?

Vinalines – Lại một vụ án điển hình tượng trưng cho xã hội CSVN này: lập pháp ngu ngơ bất mình, hành pháp tùy theo ý thích và “sức mạnh $”, còn tư pháp thì bị bắt đem xử luôn cho đúng ý hành pháp!
Ôi, con đường công lý cho dân Việt còn xa lắm! Bức tranh những “đại án kinh tế chống tham nhũng” cũng chỉ là những màn diễn bi hài để các thế lực trong các nhóm lợi ich $ đỏ tranh giành thế lực với nhau mà thôi…

Tôi chỉ phân tích một NĐ 49/CP để chúng ta thấy cái lố bịch, cái ngu dốt, cái nguy hiểm, cái trơ tráo và cái sự độc ác của cả hệ thống pháp lý qua một nội dung là ND 49/CP để thấy nó đã gây nên bao vô lý đau thương bi hài cho nền kinh tế, cho từng người liên quan và cho cả xã hội VN hiện đại này.

Bây giờ, các bạn hãy tự hình dung cái xã hội này đã và đang được xây dựng trên hàng ngàn hàng vạn những “nghị định” ngu xuẩn như thế, được điều tiết mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học, pháp luật… của xã hội cộng sản này theo những cách như thế và bằng những con người như thế, để thấy mức độ ghê tởm và không thể cứu vãn của nó.

Dân tôi ơi, đừng hy vọng gì vào cái gọi là chống tham nhũng của CSVN nữa!

PCT

(PS: Hôm nay tôi chỉ nói được quan điểm của mình về một trong ba vấn đề nêu ra thôi. Hai vấn đề kia, hy vọng sẽ có dịp chia sẻ cùng các bạn dịp khác – Cảm ơn – PCT).