Đời sống – Đàn ông Việt hãy thôi bàn chuyện trinh tiết đi!

a1Nhiều đàn ông Việt Nam thỉnh thoảng hoặc thường xuyên đi cave, rồi khi yêu thường đòi hỏi chuyện quan hệ tình dục (QHTD) với bạn gái nhưng đêm tân hôn lại đòi hỏi vợ mình còn… chảy vài giọt máu (?!)

Đúng là thật nực cười, lố bịch. Lố bịch hơn nữa là có mỗi chuyện “trinh tiết” cỏn con mà tốn bao thời gian, giấy mực. Rồi bao anh chồng vật vã, đau khổ, bao gia đình không hạnh phúc vì đêm tân hôn vợ mình không chảy vài giọt máu… Không thể hoãn cái sự đau xót này lại được (nói theo cách nói của Nam Cao)!

Trong Tháp nhu cầu của A.Maslov thì nhu cầu tình dục được xếp ở tầng thứ nhất của tháp, cùng với nhu cầu: ăn, uống, thở, bài tiết. Hay nói cách khác, tình dục như là cơm ăn nước uống hàng ngày. Để thỏa mãn nhu cầu này thì chuyện QHTD là bình thường, có gì mà to tát, quan trọng. Làm gì đến mức phải tốn bao nhiêu thời gian, giấy mực.

Trong tiểu thuyết “Rừng Na-uy” có một chi tiết thế này: trong một đêm, nhân vật nam chính gặp một bạn nữ cùng trạc tuổi mình, rồi hai người QHTD với nhau để giải quyết nhu cầu sinh lí. Sáng hôm sau, mỗi người một ngả, chẳng còn gì liên quan. Kết thúc truyện là nam nhân vật chính koảng ngoài 20 tuổi và người phụ nữ hơn gấp đôi tuổi mình, trong đêm cuối trước khi 2 người chia tay đã QHTD với nhau những…bốn lần! Còn trong Bố Già là chuyện cô vợ 16 tuổi người Ý của Michael Corleone vẫn còn trinh tiết khi kết hôn. Khi đó vừa là do mãnh lực của tuổi trẻ vừa là do sự trong trắng của vợ mà những cuộc giao hoan của hai người diễn ra rất mạnh mẽ, đầy xúc cảm. Sự trinh tiết của cô vợ chỉ giúp những cuộc giao hoan thêm nhục cảm chứ sự trinh tiết đó không giúp gì hơn. Trong tiểu thuyết siêu siêu kinh điển Suối Nguồn thì nhân vật nữ chính là Dominique Francon là một người con gái cực kỳ thông minh và cá tính. Cô là người con gái Mỹ nhưng 23 tuổi vẫn còn trinh. Không phải là cô không có nhục cảm, không phải là cô không có ham muốn mà là bởi cô chưa gặp được người đàn ông nào xứng tầm làm cô ham muốn. Và rồi cô đã gặp chàng kiến trúc sư Roark Howark – một chàng trai thông minh mạnh mẽ, một người đàn ông đích thực – biểu tượng của cái đẹp. Lúc gặp chàng, cô sẵn sàng để Howark bằng tất cả bản năng hoang dại của một người đàn ông…hiếp dâm mình! Sự thông minh, xinh đẹp của D. Francon đã bị bản lĩnh và tài năng của R. Howark chinh phục. Hiển nhiên sự trinh trắng của Dominique Francon không có ý nghĩa gì ở đây.

Ở những nước phát triển chuyện trinh tiết chẳng có gì quan trọng, nam nữ bình đẳng. Vả lại thượng đế sinh ra hai phái nam và nữ như hai chân của một cơ thể nếu coi trọng chân nào thì bên chân kia sẽ yếu, bước đi sẽ không vững. Những nước phát triển như: Thụy sỹ, Na-Uy tỷ lệ phụ nữ trong quốc hội là 50%, còn những nước lạc hậu coi trinh tiết là quan trọng như Afganistan thì vẫn mãi là lạc hậu. Với những nước như phát triển như Nhật chẳng hạn, công nghiệp tình dục rất phát triển, từ Phim X, truyện tranh…Tóm lại, QHTD với họ là bình thường, không có gì là to tát cả. Nhật Bản và chúng ta có nhiều nét tương đồng, sao chúng ta không học họ điều này nhỉ? Chúng ta mãi hoài bàn luận về “trinh tiết” đến bao giờ đây?

Đặt nặng “trinh tiết” còn có lỗi của phái nữ! Sao không kịch liệt đấu tranh để cho hết bất công mà lại sẵn sàng thỏa hiệp như vậy? Dùng từ “dâng hiến cái ngàn vàng” cho bạn trai nghe yếu đuối quá. Nam nữ bình đẳng, phái nam có phải là vua chúa đâu mà phái nữ phải dâng với hiến! Mà thực ra khi QHTD thì chẳng ai “dâng hiến” cho ai cả. Thậm chí nhu cầu tình dục của nữ còn mạnh hơn phái nam (có tài liệu nói nam là 1 phần còn nữ là…9 phần). Có một nữ sinh viên nước ngoài nói: sao là “dâng hiến”, vì khi QHTD thì cả hai đều khoái cảm đâu chỉ có mình nam giới. Khi QHTD thì chúng ta hãy “tập trung chuyên môn”, bỏ qua tất cả, cháy hết mình, hãy nhiệt, hãy xõa đi, hãy là “con đực, con cái tốt” vì “muốn là người chồng tốt, người vợ tốt thì phải là con đực tốt, con cái tốt” (cách nói của Chu Lai) để “tất cả các dây thần kinh được đánh thức” rồi tận hưởng khoái cảm. Dùng từ “dâng hiến” thì phái nữ vừa dùng sai lại vừa thể hiện sự thua kém về địa vị của mình rồi. Clear “dâng hiến”!

“Cái ngàn vàng” của người phụ nữ không phải là cái màng trinh bé tẹo teo mà đó là một tấm lòng rộng mở, trái tim nhân hậu, trí tuệ thông minh, bản lĩnh vững vàng. Người con gái còn trinh hay không còn trinh không quan trọng, quan trọng là họ có những phẩm chất này hay không? “Phải lấy người như anh” là tiêu đề một cuốn truyện, còn Slogan của người đàn ông đích thực thời nay phải là “phải lấy người như thế”.

Trong một giai thoại về vợ chồng Bill-Hillary Clinton có nói thế này: khi 2 vợ chồng Tổng thống Mỹ vào mua xăng ở một trạm xăng thì vô tình gặp người bán xăng là… người yêu cũ của bà Hillary. Ông Bill nói với vợ: nếu em mà lấy ông ta thì bây giờ em là phu nhân của …người bán xăng. Bà Hillary…bật lại: nếu ông ấy lấy tôi thì ông ấy đã là…Tổng thống Mỹ từ lâu rồi!

Còn trong chiến dịch tranh cử với Obama, phe Obama gọi bà là “quái vật”. Quái vật ở đây không phải là sự đểu giả, gian ác…mà ở đây là tài năng, bản lĩnh…- một đối thủ xứng tầm. Có người vợ như thế mới là có “cái ngàn vàng” dù xinh hay xấu, còn trinh hay đã mất. Và thằng đàn ông nào may mắn làm chồng người như thế thì sớm muộn cũng là…Tổng thống hoặc nhà khoa học tầm cỡ…Chắc phải tu…nghìn năm mới có được người vợ như thế!

Xin nói thêm ở chỗ này là nhiều người đàn ông chúng ta, thậm chí nhiều người có học đàng hoàng lại có thêm một suy nghĩ ấu trĩ nữa là sợ vợ thông minh hơn, giỏi giang hơn mình. Nếu người yêu, vợ mà thông minh hơn mình thì tốt quá còn gì, sợ gì cơ chứ, đó là điều hạnh phúc mới phải, chỉ sợ vợ… ngu hơn mình thôi. Những người đàn ông thông minh thực sự đều lấy vợ thông minh thực sự, Steve Jobs lấy vợ học Stanford, Mark Zuckerburg có người yêu cũng học ở đó… Đàn ông bây giờ mà vẫn còn sợ vợ hơn mình – thật chẳng còn gì để nói nữa cả!

Cuộc sống đang vận động, phát triển từng giờ; lớp trẻ thế giới đang góp phần thay đổi thế giới với những sáng tạo như tạo ra: Google, Facebook…làm thế giới này tốt đẹp hơn, làm gì có thời gian để làm những việc nhỏ nhoi như để ý cái màng trinh cỏn con. Trong khi lớp trẻ của ta, thậm chí 80% sinh viên nam không đồng ý khi vợ không còn trinh tiết.

Khi thấy Việt Nam thua trong trận chung kết bóng đá SEA Games thì có bao nhiêu bạn trẻ khóc nhưng thử hỏi khi đất nước còn nghèo khó, không có dân chủ thì hỏi có mấy bạn trẻ chảy nước mắt? Rồi chuyện mới đây là đề thi viết luận của đại học FPT. Chữ trinh trong truyện Kiều nó thanh cao như thế, nó chính là lòng hiếu thuận hy sinh bản thân mình để làm tròn chữ hiếu nhưng ở đây lại được hiểu với ý nghĩa thô tục nhất là cái màng trinh bé xíu. Tư duy nhỏ kéo theo hành động nhỏ, số phận nhỏ tầm thường. “Tư duy nào thì số phận ấy”, “giấc mơ con (nhỏ) giết chết cuộc đời con”, “những bộ óc xuất sắc nhất đang được dùng vào những việc nhỏ nhoi”…

Điều này một phần do văn hóa, truyền thống nhưng cơ bản vẫn là do chính bản thân chúng ta. Đơn giản như mỗi việc trinh tiết cỏn con mà hết luận lại bàn mất bao thời gian. “Sao quê hương mình lại già nua đến vậy?”- (TS. Alan Phan). Sao nòi giống Tiên Rồng lại sinh ra những kẻ nhỏ nhoi, tầm thường như vậy? Vẫn mãi hoài nói về cái màng trinh cỏn con thì đất nước vẫn kém phát triển dài dài. Ôi, đau xót quá!

Tuy không nên bàn về “trinh tiết” nữa nhưng chung thủy là vấn đề quan trọng không thể bỏ qua. Có thể yêu đương thoáng, thoải mái, thậm chí là “tình một đêm” nhưng khi xây dựng gia đình thì phải chung thủy, một vợ một chồng. Bởi vì nền tảng của hạnh phúc gia đình là sự chung thủy. Đây là kết quả của các nghiên cứu điều tra xã hội học. Và đây cũng là điều chúng ta đặc biệt nên ghi nhớ vì “một con người kể cả vua đi nữa chỉ hạnh phúc khi có gia đình hạnh phúc”.

“Nếu còn hướng tới ngay mai” hãy bỏ ngay những bàn luận, suy nghĩ về trinh tiết vì nó chẳng có ý nghĩa gì. Nếu bạn còn bàn về nó thì bạn chẳng đáng giá một xu! Hãy dành thời gian và sức lực để cống hiến cho đời. Đất nước này, Thế giới này còn muôn vàn khó khăn đang rất cần tài năng và trí lực của mỗi chúng ta. “Thế giới quả là rộng lớn có rất nhiều việc phải làm” (Kim Woo Choong – Cựu chủ tịch Deawoo)…

Stop bàn luận về trinh tiết!

Độc giả Pham AQ

@Vietnamnet

Lượm lặt tin 10-12-134

Nông dân Việt Nam có ‘năm cái nhất’

Bàn về “chân dung nông dân”, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam nói phải khắc họa được “năm cái nhất”: đông nhất, hy sinh và đóng góp nhiều nhất, nghèo nhất, hưởng lợi ít nhất, nhiều bức xúc nhất.

Nói đến nông dân là phải thừa nhận “năm cái nhất”: đông nhất, hy sinh và đóng góp nhiều nhất, nghèo nhất, hưởng lợi ít nhất, nhiều bức xúc nhất. (Hình: Một Thế Giới)

Cuối tuần qua, Viện Chính sách – Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn đã phối hợp với tổ chức Oxfam (một liên minh quốc tế chuyên tìm kiếm giải pháp giảm nghèo đói, bất công), thực hiện hội thảo “Chân dung nông dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập”.

Tuy hiện tại và tương lai của nông dân Việt Nam trong hai tham luận chính là: “Chân dung nông dân Việt Nam”, “Bức tranh nghèo và các thiết chế xã hội trong phát triển nông thôn” đã được mô tả, nhận định là bi đát, song nhiều người tham dự hội thảo vẫn chưa đồng tình.

Ông Nguyễn Quốc Cường, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam cho rằng, đã là chân dung thì phải rõ nét, song các tham luận chỉ mới phác họa toàn cảnh. Muốn khắc họa chân dung nông dân Việt Nam hiện nay thì không thể bỏ qua “năm cái nhất”.

Ông Cường nói thêm, phác họa hình tượng nông dân trong tương lai, phải bao gồm những tiêu chí như: Trình độ khoa học công nghệ phải ở mức nhất định. Thạo nghề nông. Có kiến thức về kinh tế, thị trường. Biết sử dụng các phương tiện hiện đại. Song ai sẽ thực hiện và làm thế nào để chuyển chân dung nông dân từ chỗ như hiện nay, sang hình tượng như ông Cường mô tả thì đến giờ vẫn chưa được xác định.

Tại hội thảo, việc hoạch định và thực hiện các chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, phát triển nông thôn tiếp tục bị chỉ trích kịch liệt. Ông Nguyễn Lân Hùng, một người tham dự hội thảo nhận định: Chúng ta đã xây cả ngàn trung tâm dạy nghề nhưng chỉ có những căn nhà cao 3 tầng, 4 tầng chứ không ai biết dạy gì. Chỗ nào cũng dạy đan mây tre, rồi cả gia đình làm cật lực cũng chỉ kiếm được 30,000 đồng/ngày.

Nghiên cứu khoa học, công nghệ để chuyển giao cho nông dân ứng dụng trong nông nghiệp cũng bị chỉ trích. Ông Hùng cho rằng, Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ chỉ mới là máy nghiền tiền. Ông Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội, góp thêm: Nghiên cứu khoa học công nghệ hỗ trợ nông dân là hướng dẫn chọn phân, chọn giống, lai ghép, sao cho có năng suất cao chứ không phải kiểu làm thế nào để đi vào… vũ trụ!

Tuy chế độ Hà Nội vẽ ra nhiều chính sách và nhận được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế nhằm giúp nông dân Việt Nam thoát khỏi đói nghèo. Nhưng kết quả cuộc nghiên cứu về gia đình ở nông thôn năm 2012 do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thực hiện và mới công bố hồi hạ tuần tháng 11, cho thấy có tới 42% nông dân không cảm thấy hạnh phúc vì thu nhập quá thấp, không tương xứng với sức lực mà họ bỏ ra.

Thu nhập thấp cũng là lý do tạo ra nhiều rủi ro. CIEM ước tính, thiệt hại trung bình đối với đủ loại rủi ro  (thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi…) đố lên đầu mỗi gia đình nông dân ở mức khoảng 8 triệu đồng một năm.

Những gia đình nghèo, thuần nông (chỉ trồng trọt, chăn nuôi, không buôn bán) gặp rủi ro nhiều hơn và gánh chịu thiệt hại nặng nề hơn những gia đình khác tại nông thôn. CIEM cho biết, chỉ có chừng 50% số gia đình hồi phục hoàn toàn sau những cú sốc (sốc do thiên tai, sốc vì thị trường – chi phí tăng, giá bán giảm, sốc cá nhân do gia đình có người đau bệnh, qua đời).

Kết quả nghiên cứu còn cho thấy nông dân vẫn là bộ phận gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất Việt Nam. Ngoài chuyện không nhận được những hỗ trợ cần thiết từ phía chính quyền, nông dân còn thiếu thông tin, thiếu khả năng sơ chế, thiếu kho bãi bảo quản sản phẩm, trả chi phí vận chuyển cao… nên càng ngày càng mạt.

Trong mười năm qua, CIEM đã thực hiện năm cuộc khảo sát về nông dân và nông thôn (2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012) để hỗ trợ hoạch định chính sách phát triển kinh tế cho nông thôn. Tuy nhiên các cuộc khảo sát luôn cho thấy, thực trạng năm sau tồi tệ hơn hai năm trước.

Tình trạng ly nông (bỏ làm ruộng), ly hương (bỏ quê đi nơi khác kiếm sống) càng ngày càng phổ biến. Hơn 20% gia đình nông dân được phỏng vấn xác nhận, có ít nhất một thành viên trong gia đình của họ đã ly hương, di cư đến nơi khác.

Những cuộc di cư này thường xảy ra sau khi có những biến cố bất ngờ (thiên tai, dịch bệnh,…) và mục tiêu của ly hương là tìm cơ hội kiếm tiền, giúp gia đình hồi phục. Đến nay, nguồn tiền của những người ly hương gửi về vẫn là nguồn thu nhập quan trọng giúp các gia đình nông dân cầm cự và xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng.

Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, một thành viên tham gia nhóm nghiên cứu về gia đình ở nông thôn năm 2012, nhận xét, tần suất các cú sốc đang càng ngày càng nhiều, nhất là những cú sốc tác động đến toàn bộ nông dân như thiên tai, dịch bệnh và thị trường biến động song nông dân không thể tiếp cận các dịch vụ bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nông nghiệp. (NguoiViet )

——————————————-

Biểu tình ở Kiev lật nhào tượng Lenin

Hàng trăm ngàn người đã xuống đường ở thủ đô Kiev của Ukraine hôm 8/12 đòi chính phủ từ chức vì đã từ chối một thỏa thuận lập quan hệ gần gũi hơn với Liên hiệp Châu Âu (EU).

Họ đã lật đổ một bức tượng Lenin và dùng búa đập tan nó.

Nhân chứng nói một nhóm người biểu tinh đã dùng dây và thanh sắt kéo đổ bức tượng Lenin tại Đại lộ Shevchenko.

Sau đó, cho đến lúc tối muộn hôm Chủ Nhật, họ vẫn tiếp tục dùng búa đập tượng.

Những người khác đứng xem và hô to, ‘Vinh quang cho Ukraine’.

Dù cả hai nước Nga và Ukraine không còn chủ nghĩa cộng sản, tượng Lenin là biểu tượng của mối quan hệ lịch sử với Moscow, theo các phóng viên bình luận.

Dân biểu Quốc hội Ukraine, ông Andriy Shevchenko, thuộc phe đối lập hô to ‘Vĩnh biệt di sản cộng sản’.

Theo một biên tập viên BBC người Ukraine cho biết, đây không phải là bức tượng Lenin đầu tiên bị đập tại Ukraine nhưng là bức cuối cùng, ‘to đẹp nhất’ ở thủ đô Kiev.

Các lãnh đạo biểu tình đã cho Tổng thống Viktor Yanukovych 48 giờ để giải tán chính phủ.

Họ đang thiết lập các rào chắn bên ngoài văn phòng Thủ tướng.

Ông Yanukovych cho biết ông hoãn thỏa thuận với EU sau khi Nga phản đối.

Tổng thống Vladimir Putin đã thúc giục Kiev tham gia vào một liên minh thuế quan do Nga lãnh đạo.

Trong một diễn biến khác vào ngày Chủ nhật, cơ quan An ninh Ukraine nói họ đang điều tra một số các chính trị gia về nghi ngờ được gọi là “hành động nhằm mục đích chiếm đoạt quyền lực nhà nước”.

Ủy ban này không nêu rõ tên các chính trị gia.

Tranh chấp năng lượng

Những người biểu tình đòi giải tán chính phủ

Cả Nga và Ukraine phủ nhận vấn đề Kiev gia nhập liên minh thuế quan cùng với Belarus và Kazakhstan đã được đưa ra trong cuộc họp giữa Putin – Yanukovych tại Sochi, miền nam nước Nga, hôm thứ Bảy.

Các phóng viên trước đó đã suy đoán rằng hai bên có thể đạt thỏa thuận về việc Ukraine gia nhập liên minh thuế quan, để đổi lấy việc giảm giá năng lượng.

Hai quốc gia láng giềng cũng đang cố gắng giải quyết một tranh chấp kéo dài lâu nay về các nguồn cung cấp năng lượng.

Ukraine phụ thuộc vào nhập khẩu khí đốt của Nga, nhưng nhà cung cấp, Gazprom, gần đây đã phàn nàn rằng Kiev chậm thanh toán.

Các tranh chấp về cung cấp năng lượng cho Ukraine trước năm 2009 dẫn tới việc Gazprom từng tạm cắt nguồn cung cấp .

Đường ống đi qua Ukraine cũng bơm khí đốt của Nga tới nhiều quốc gia thành viên EU.

Trước đó, chính phủ Ukraine đã vượt qua một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm ở Quốc hội hôm thứ Ba ngày 3/12.

Các cuộc biểu tình hiện nay ở Ukraine là lớn nhất kể từ cuộc Cách mạng Cam hồi năm 2004.(BBC )

Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn –Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài

Phạm Hồng Sơn thực hiện

clip_image001pro&contra: Hai anh em, ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946, là những người, vào cuối năm 1988, đã cùng nhau tự ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đồng thời từ bỏ luôn những chức vụ đang đảm nhiệm kèm theo những tiềm năng rất lớn về quyền lực, quyền lợi: Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Lạt kiêm Thành ủy viên (đối với ông Huỳnh Nhật Hải) và Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết (đối với ông Huỳnh Nhật Tấn). Điều gì đã khiến hai đảng viên cộng sản đầy tiềm năng của một gia đình có truyền thống cách mạng từ trước năm 1945 lại có quyết định chia tay cách mạng khi sự nghiệp “cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước”đã thành công hoàn toàn?

___________________

Phạm Hồng Sơn: Hai ông có thể cho biết con đường nào đã đưa các ông đến với ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Hải: Có thể nói hai anh em chúng tôi đã được “nhuộm đỏ” từ bé. Chúng tôi đã có thiện cảm, tinh thần ủng hộ, và làm những việc có lợi cho những tổ chức của cách mạng như Việt Minh hay Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam (Mặt trận) ngay từ khi còn rất nhỏ tuổi. Vì ba má tôi là một gia đình tư sản ủng hộ Việt Minh tại Đà Lạt từ trước năm 1945. Ba tôi là hội viên Công hội Đỏ và tham gia cướp chính quyền tại Đà Lạt vào năm 1945 và sau đó trở thành đảng viên bí mật của Đảng Cộng sản Đông Dương (tên gọi lúc đó của ĐCSVN). Hai anh trai tôi là những người đi tập kết ra Bắc sau năm 1954.

Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói là ngay từ nhỏ, mở mắt ra là chúng tôi đã được nghe, được thấy, được sống trong tinh thần của cách mạng, tôi cứ tạm gọi là “cách mạng” đi. Đó là những năm thơ ấu của chúng tôi ở trong “vùng tự do” liên khu 5, khi gia đình chúng tôi phải tránh sự truy lùng của Pháp từ khoảng cuối 1945 đến năm 1954, và cả thời gian sau đó khi ba má tôi trở lại Đà Lạt (sau Hiệp định Genève) để tiếp tục nhiệm vụ ủng hộ bí mật cho ĐCSVN và Mặt trận dưới hình thức là một gia đình tư sản.

Phạm Hồng Sơn: Hai ông có nhớ đã có ảnh hưởng nào đến từ ngoài gia đình không?

Huỳnh Nhật Tấn: Có, những trí thức như giáo sư, nhà văn, nhạc sĩ có tên tuổi lúc đó mà đi với Việt Minh hay Mặt trận cũng gây cho chúng tôi sự lôi cuốn, cảm hứng âm thầm nhưng rất lớn. Đặc biệt là qua quan sát, tiếp xúc với những cán bộ hoạt động bí mật đã sống ở nhà tôi thì hai anh em tôi thấy đó là những con người rất đáng khâm phục, họ vừa có tinh thần kỷ luật, chịu đựng, hy sinh rất lớn vừa có những lý tưởng rất cao đẹp là quyết giành lại độc lập cho đất nước và tự do cho dân tộc.

Huỳnh Nhật Hải: Một yếu tố nữa cũng làm cho chúng tôi ủng hộ Mặt trận là sự xuất hiện của quân đội Mỹ tại miền Nam. Sự xuất hiện đó làm cho những người như chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm về chủ quyền dân tộc. Chúng tôi cảm thấy là miền Nam đang bị người Mỹ xâm lăng và cần phải chống lại họ và chính quyền thân Mỹ tại miền Nam.

Phạm Hồng Sơn: Thời gian từ khi Mặt trận được thành lập (năm 1960) cho tới năm 1975 các ông làm những việc gì để ủng hộ “cách mạng”?

Huỳnh Nhật Hải: Công việc của cả hai anh em chúng tôi đều cùng có hai giai đoạn khác nhau, trước và sau khi chúng tôi “nhẩy núi”, tức là phải bỏ gia đình để vào tận căn cứ trong rừng sâu để hoạt động. Tôi “nhảy núi” vào đúng mồng 3 Tết Mậu Thân 1968 còn em tôi, Huỳnh Nhật Tấn, “nhảy núi” trước đó vài tháng khi đã bị lộ.

Huỳnh Nhật Tấn: Trước khi “nhảy núi”, anh em chúng tôi làm công tác liên lạc, vận động trong giới thanh niên, học sinh, sinh viên tại Đà Lạt để thành lập các nhóm, tổ chức, đoàn thể hoặc in, tán phát truyền đơn hay khẩu hiệu đấu tranh cho Mặt trận.

Huỳnh Nhật Hải: Sau khi “nhảy núi”, hai anh em chúng tôi, mỗi người một nơi, nhưng đều ở bộ phận công tác phong trào thanh niên học sinh, sinh viên. Anh em chúng tôi thường phải đi vào những “vùng lõm“ (vùng dân cư mà ban ngày do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát còn ban đêm thuộc về lực lượng của Mặt trận) để bắt liên lạc, tiếp nhận hay vận động ủng hộ về vật chất, tinh thần cho Mặt trận.

Phạm Hồng Sơn: Những công việc đó chắc phải rất mạo hiểm và hết sức khó khăn?

Huỳnh Nhật Tấn: Đúng thế, chúng tôi phải rất kiên trì, khôn khéo trong công tác vận động và không phải lần vận động nào cũng thành công. Cả hai anh em chúng tôi cũng đã bị phục kích hoặc chạm trán với lực lượng quân đội của Việt Nam Cộng hòa, nhưng rất may cả hai chỉ bị thương nhẹ trong một, hai lần.

Phạm Hồng Sơn: Sau 30/04/1975 các ông được giữ ngay chức Phó Chủ tịch UBND Thành phố hoặc Phó Giám đốc Trường Đảng?

Huỳnh Nhật Hải: Không phải như thế. Sau 30/04/1975 tôi tiếp tục công tác ở Thành đoàn, sau đó mới chuyển qua công tác chính quyền. Năm 1977 tôi được kết nạp Đảng. Năm 1979 làm Chủ tịch khu phố I Thành phố Đà Lạt, rồi sau khi đi học Trường Đảng ở Tây Nguyên trong một năm đến năm 1981 là tôi trở thành Phó Chủ tịch UBND Thành phố Đà Lạt, là Thành ủy viên.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi thì được kết nạp Đảng từ năm 1972 sau khi “nhảy núi”. Ngay tháng 10/1975 tôi đã được chọn vào số cán bộ đầu tiên gửi ra Bắc học ở Trường Tuyên huấn Trung ương ở khu Cầu Giấy, Hà Nội trong 3 năm rồi trở về giảng dạy môn kinh tế chính trị tại Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng. Và sau lần ra học tiếp ở Hà Nội tại Trường Tuyên Huấn Trung Ương trong 03 năm nữa, đến năm 1986 tôi được bổ nhiệm vào chức Phó Giám đốc trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, đồng thời được cơ cấu vào cấp Tỉnh ủy, là Tỉnh ủy viên dự khuyết.

Phạm Hồng Sơn: Một cách ngắn gọn, lý do gì đã khiến hai ông gần như đồng thời quyết định từ bỏ Đảng kiêm các chức vụ đó?

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi còn nhớ trong lá đơn xin ra khỏi Đảng lúc đó tôi có viết một câu: “Tôi không tin ĐCSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như Đảng thường nói.”

Huỳnh Nhật Hải: Còn trong lá đơn của tôi viết sau ông em tôi một vài tháng, tôi nhớ đã viết là: “Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của Đảng nữa.” Nhưng thực sự trong thâm tâm thì cũng giống như ông em tôi đã nói ở trên. Tôi không tin ĐCSVN nữa.

Phạm Hồng Sơn: Quá trình đi đến sự bất tín đó diễn ra như thế nào?

Huỳnh Nhật Hải: Đó là một quãng thời gian kéo dài khoảng 5-7 năm, thông qua những quan sát, tìm hiểu, trao đổi, bàn bạc và trằn trọc từ mỗi bản thân và gần như chỉ giữa hai anh em chúng tôi.

Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói chúng tôi đi đến sự bất tín vào ĐCSVN là dựa vào những gì chúng tôi thấy, chúng tôi gặp trên thực tế hơn là từ vấn đề lý luận.

Phạm Hồng Sơn: Những “thực tế” nào quan trọng nhất khiến hai ông nhận thức lại ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Tấn: Đó chính là những chính sách về quản lý xã hội, điều hành kinh tế và việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của người dân của ĐCSVN. Về quản lý xã hội, ĐCSVN đã không quản lý bằng pháp luật mà bằng sự tùy tiện, áp đặt, gần như hoàn toàn chỉ dựa theo các chỉ thị, ý muốn từ lãnh đạo Đảng. Ví dụ việc tịch thu nhà cửa, tài sản hay đưa đi “học tập cải tạo”, thực chất là bỏ tù con người, đều không dựa trên pháp luật hay xét xử của tòa án. Điều hành kinh tế thì lúc đó chúng tôi thấy những chính sách rất kỳ cục và phản khoa học, ví dụ như có những chỉ thị là Đà Lạt phải sản xuất bao nhiêu rau hay các huyện khác phải sản xuất bao nhiều mì[i] mà không cần  biết khả năng và lợi thế về thổ nhưỡng, thói quen canh tác của người dân hoặc việc giao quyền lãnh đạo kinh tế không dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm mà lại dựa vào thành phần giai cấp và sự gắn bó với Đảng. Về các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt trận nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ĐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ĐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân.

Phạm Hồng Sơn: Các ông đã quen biết những nhân vật như ông Hà Sĩ Phu hay ông Mai Thái Lĩnh,…những cư dân tại Đà Lạt lúc đó chưa?

Huỳnh Nhật Hải: Chúng tôi chưa biết ông Hà Sĩ Phu, còn ông Mai Thái Lĩnh thì chúng tôi đã biết nhau từ hồi cùng “nhảy núi” nhưng sau 30/04/1975 chúng tôi gần như chưa trao đổi hay bàn luận gì với nhau cả. Anh em chúng tôi trước khi quyết định bỏ về đã nói với nhau là “chúng ta đi làm cách mạng không phải để xây dựng nên một nhà nước chuyên chính độc tài như thế này.”

Phạm Hồng Sơn: Gia đình, những người thân và bạn bè đồng chí của các ông có phản ứng gì trước quyết định đó?

Huỳnh Nhật Hải: Lúc đó ba má tôi đều đã qua đời nhưng chúng tôi tin rằng nếu còn sống ba má tôi cũng ủng hộ việc từ giã ĐCSVN của chúng tôi. Hai bà xã của chúng tôi ủng hộ hoàn toàn quyết định về nhà tự làm ăn của chúng tôi.

Phạm Hồng Sơn: Thế còn hai anh trai, những người đã đi tập kết sau 1954, và những đồng chí thân quen của hai ông?

Huỳnh Nhật Tấn: Anh trai cả của chúng tôi thì gần như không có ý kiến gì, còn người anh trai thứ hai thì không đồng ý. Còn những đảng viên đồng sự khác và các cấp lãnh đạo lúc đó hoàn toàn ngạc nhiên, gần như tất cả mọi người đều khuyên chúng tôi xem xét lại. Có người lúc đó đã nói với tôi là nếu về thì cuộc sống sẽ rất khó khăn, nhưng tôi xác định trong lòng là trước đây khó khăn nguy hiểm như thế mà còn chịu được thì lẽ nào bây giờ lại không.

Phạm Hồng Sơn: Khi “trằn trọc” để đi đến quyết định cuối cùng, hình ảnh hay tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh có vấn vương trong “trằn trọc” đó?

Huỳnh Nhật Tấn: Có. Chúng tôi lúc đó cũng thấy cần phải xem lại cả ông Hồ Chí Minh – lãnh tụ, người sáng lập ra ĐCSVN.

Phạm Hồng Sơn: Các ông thấy thế nào?

Huỳnh Nhật Hải: Sau khi cùng tìm hiểu, trao đổi, bàn luận chúng tôi nhận thấy tình trạng mất tự do, phi dân chủ hay có thể nói là cuộc sống kìm kẹp, đau thương của nhân dân, của giới trí thức sau chiến thắng 30/04/1975 ở miền Nam hoàn toàn là sự lặp lại y nguyên tình trạng ở miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – thời kỳ mà ông Hồ Chí Minh vẫn hoàn toàn ở trên đỉnh cao quyền lực.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi đã từng tự hỏi là mục tiêu sâu xa của ông Hồ Chí Minh là gì? Với những gì lịch sử đã diễn ra khi ông Hồ Chí Minh còn sống thì tôi thấy mục tiêu của ông Hồ Chí Minh vì quyền lực là chính, còn mục tiêu độc lập cho đất nước hay tự do, dân chủ cho dân tộc, cho xã hội Việt Nam đã bị ông Hồ Chí Minh coi nhẹ. Hai mục tiêu tốt đẹp đó chỉ là những ngọn cờ để ĐCSVN lôi kéo, tập hợp quần chúng và giới trí thức cho mục đích giành quyền lực cho ĐCSVN. Thực tế chính quyền dưới thời ông Hồ Chí Minh đã biểu hiện đi ngược lại hoàn toàn hai mục tiêu tốt đẹp đó, độc lập cho dân tộc và tự do, dân chủ cho nhân dân.

Phạm Hồng Sơn: Vâng, về vấn đề tự do, dân chủ cho nhân dân thì đã rõ, nhưng còn về độc lập dân tộc, xin ông nói rõ thêm?

Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói ông Hồ Chí Minh đã đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc, đô hộ của người Pháp nhưng lại để đất nước trở lại sự phụ thuộc, khống chế và thôn tính của Trung Quốc cộng sản. Nếu không có sự đồng ý, chủ kiến ngoại giao của ông Hồ Chí Minh thì không thể có tình hữu nghị Việt-Trung như “môi với răng” và cũng không thể có Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Một cách ngắn gọn, có thể nói ông Hồ Chí Minh đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm lăng, thôn tính của Trung Quốc cộng sản đối với Việt Nam như chúng ta đang chứng kiến.

Phạm Hồng Sơn: Liệu có công bằng không khi tình trạng mất độc lập, mất chủ quyền hiện nay qui hết cho Hồ Chí Minh?

Huỳnh Nhật Tấn: Đúng là tình trạng lâm nguy của đất nước hiện nay không thể qui hết cho ông Hồ Chí Minh. Nhưng bất kỳ một lãnh tụ, một nhà sáng lập của một đảng, một tổ chức chính trị nào cũng đều có ảnh hưởng rất căn bản tới tầm nhìn, hành động của các thế hệ kế tiếp, dù xấu hay tốt. Tôi nhớ ngay trong văn kiện, khẩu hiệu của ĐCSVN vẫn luôn khẳng định ông Hồ Chí Minh là người sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện “Đảng ta”, tức là ông Hồ Chí Minh đã là kiến trúc sư cho mọi chính sách, đường lối của ĐCSVN cũng như thể chế, cung cách quản lý xã hội của ĐCSVN.

Huỳnh Nhật Hải: Đúng như thế, theo tôi, mặc dù ông Hồ Chí Minh đã mất rồi nhưng tư tưởng, đường lối chính trị của ông ấy vẫn được tiếp tục kế thừa trong ĐCSVN. Không phải ngẫu nhiên mà ĐCSVN hiện nay vẫn hô hào học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

Phạm Hồng Sơn: Nhưng nhiều người cho rằng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là rất tốt đẹp, đáng học theo?

Huỳnh Nhật Hải: Đúng, rất tốt đẹp và đáng học nếu chỉ căn cứ vào lời nói và khẩu hiệu như ông Hồ Chí Minh đã đề ra. Và đúng là ĐSCVN hiện nay cũng đang thực hiện đúng như thế, các khẩu hiệu, lời nói, mục tiêu của họ hiện nay cũng rất hoặc khá tốt đẹp, nhưng hành động và thực tế thì lại hoàn toàn ngược lại – cũng như ông Hồ Chí Minh.

Huỳnh Nhật Tấn: Nếu chỉ căn cứ vào truyền thống nhân ái của người Việt Nam thông thường thôi thì cũng thấy đáng lý ra, với cương vị là người có quyền hành cao nhất, ông Hồ Chí Minh phải ra lịnh không được giết hoặc hãm hại ân nhân của mình như vụ xử bắn bà Nguyễn Thị Năm và nhiều người khác trong Cải cách Ruộng đất. Hoặc những vụ bắt bớ, thanh trừng các đồng sự, các ân nhân của ĐCSVN sau này mà không qua xét xử thì ông Hồ Chí Minh không thể không biết là trái đạo lý. Nếu ông Hồ Chí Minh thực sự là người vì nước vì dân thì sau khi lên nắm quyền, điều đầu tiên ông Hồ Chí Minh phải làm là phải để nhân dân và giới trí thức có nhiều tự do hơn thời thực dân Pháp chớ.

Phạm Hồng Sơn: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi sẽ phải bình tĩnh hơn, tìm hiểu xem họ có ủng hộ và có tư tưởng dân chủ thực sự không, chứ không thể chỉ căn cứ vào lời nói và tuyên truyền của họ. Theo tôi, vấn đề dân chủ phải được đặt cao hơn vấn đề dân tộc vì chỉ có dân chủ mới giúp cho dân tộc được tự do đúng nghĩa và khi đó đất nước mới có nền độc lập bền vững.

Phạm Hồng Sơn: Ngày 30/04/1975 các ông đang ở đâu và cảm xúc như thế nào?

Huỳnh Nhật Tấn: Lúc đó tôi đang ở Đà Lạt. Tôi đã trở về Đà Lạt từ ngày 03/04/1975 với tư thế của người chiến thắng.

Huỳnh Nhật Hải: Tôi về Đà Lạt sau ông em tôi một ngày, ngày 04/04/1975. Cảm xúc của tôi là sung sướng vô cùng, nhất là khi gặp lại má tôi – má đã tưởng tôi hy sinh từ năm 1971 và đã đưa ảnh tôi lên bàn thờ.

Phạm Hồng Sơn: Dịp 30/04 hàng năm vẫn là một trong những ngày lễ lớn của cả đất nước, cảm xúc của các ông ra sao trong những ngày này?

Huỳnh Nhật Hải: Buồn. Nếu không có cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền trước 1975 thì dân tộc này không có cái bất hạnh, đau khổ như ngày hôm nay.

Huỳnh Nhật Tấn: Buồn. Một ngày quá buồn. Cái chiến thắng 30/04 chỉ đem lại một sự áp bức trên mọi phương diện cho nhân dân, đất nước và lại nặng nề hơn cả thời Pháp thuộc.

Phạm Hồng Sơn: Nếu bây giờ vô tình hai ông gặp lại một người là cựu viên chức cũ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người đó chính là “kẻ thù” của ông trước 1975, điều trước tiên hai ông muốn nói là gì?

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.

Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.

Phạm Hồng Sơn: Xin trân trọng cảm ơn ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn.

______________________

Chú thích ảnh: Ông Huỳnh Nhật Hải (trái) và ông Huỳnh Nhật Tấn (phải)

© 2012 pro&contra

[i] “Mì” tức là “sắn” theo tiếng miền Bắc

Nguồn: procontra.asia

Người sông Tiền 08:30 Ngày 08 tháng 12 năm 2013

Cảm ơn BS Phạm Hồng Sơn đã cho tôi đọc bài phỏng vấn hai ông Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhất Tấn cùng lời nói rất chân thành của hai ông. Tôi nghĩ, hiện nay đảng CSVN đã suy đồi tới mức rất nghiêm trọng, vô phương cứu chữa, chỉ chờ ngày sụp đổ mà thôi. Tôi phục hai người về lòng quả cảm hiếm thấy khi đảng ở đỉnh cao quyền lực, nhưng hai ông đã dứt khoát đoạn tuyệt.

Nguyễn Tường Thuỵ – Đã phát hiện ra thế lực thù địch, thưa Chính phủ

Nguyễn Tường Thuỵ

 

 

 

Thưa Chính phủ,Chúng tôi thường nghe Chính phủ nói đến bọn phản động câu kết với các thế lực thù địch âm mưu diễn biến hòa bình nhưng hình thù chúng tròn méo ra sao, thì không thấy. Nhưng hôm qua, 8/12, chúng tôi đã phát hiện ra tay chân của chúng rồi. Còn bọn đầu sỏ thù địch với nhân dân ta, đất nước ta hẳn là nó đứng đằng sau chỉ đạo chứ không dám lộ mặt. Bọn này đông lắm nên chúng tôi không bắt chúng giao cho Chính phủ được, vì vậy báo cáo để Chính phủ có kế hoạch bắt chúng.Chúng tôi hiểu, Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền LHQ là để góp tiếng nói và hành động bảo vệ nhân quyền không những cho dân chúng Việt nam mà còn cho cho nhân dân ở các quốc gia độc tài vi phạm nhân quyền khác trên thế giới. Thế nhưng bọn này tỏ ra rất cay cú trước việc VN vừa vào Hội đồng nhân quyền HQ nên chúng tìm mọi cách phá hoại hình ảnh của VN trước con mắt bạn bè quốc tế.

Số là ngày hôm qua, 8/12/2013, chúng tôi gặp gỡ nhau ở Công viên 23/9 (Sài Gòn) và Công viên Thống Nhất (Hà Nội) tham gia các hoạt động kỷ niệm ngày Nhân quyền quốc tế như thả bóng bay, thảo luận về nhân quyền, tình nguyện tuyên truyền giúp Chính phủ về Nhân quyền cho những người dân còn chưa hiểu, để ủng hộ cổ võ cho giá trị Nhân quyền, cổ võ sự kiện VN vừa mới vào Hội đồng Nhân quyền cho chiếc ghế của VN được … chắc.

Những hoạt động đó, chắc sẽ làm cho Chính phủ hài lòng lắm. Thế nhưng bọn thù địch mà chúng tôi nói trên đã tìm mọi cách để phá hoại.

Bọn này hoạt động rất trắng trợn Chính phủ ạ. Chúng cả gan giả danh cảnh sát (mặc sắc phục hẳn hoi), giả danh an ninh, cựu chiến binh, phối hợp với cả côn đồ, huy động cả xe ô tô đi bắt…bóng bay nhân quyền dong về chỗ giả danh đồn công an nhân dân để nhốt. Táo tơn hơn, chúng còn kẻ chữ CẢNH SÁT cho giống với xe của công an, hòng vu cho VN phá hoại nhân quyền.

Chúng dí thuốc là hoặc chọc thủng những quả bóng nhân quyền, kể cả khi bóng đang trên tay các em nhỏ.

Chúng cướp những tài liệu về Nhân quyền như Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền hoặc Công ước chống tra tấn mà Chính phủ ta đã ký.

Chúng ném những bịch mắm tôm vào những người đang tuyên truyền cho Nhân quyền.

Chúng giật ba lô, đánh một số bạn trẻ khi các bạn này đang tham gia các hoạt động kỷ niệm ngày Nhân quyền quốc tế.

Trước đó, ngày 7/12/2013, chúng cướp tại Ga Hà Nội những chiếc áo thun do các bạn Sài Gòn gửi ra Hà Nội sử dụng vào hoạt động ủng hộ Nhân quyền.

Thưa Chính phủ,

Chắc hẳn, những hoạt động phá hoại nhân quyền không phải là do Chính phủ hoặc các cơ quan của Chính phủ chỉ đạo hoặc cho phép. Vì nếu Chính phủ chỉ đạo làm những việc đó, chẳng hóa ra việc ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền của VN là nhằm chui vào tổ chức quốc tế đó để phá hoại nhân quyền hay sao. Vì vậy, chúng tôi đoán bọn này rất căm thù nhân quyền, căm thù việc VN vào Hội đồng Nhân quyền nên chúng mới tìm cách phá hoại để cho LHQ đuổi VN ra khỏi Hội đồng Nhân quyền, bất chấp có thể bị Chính phủ bắt vào tù.

Chúng đích thực là bọn phản động, là thế lực thù địch mà Chính phủ lâu nay nói tới.

Vì vậy chúng tôi báo cáo với Chính phủ về sự xuất hiện của băng nhóm chống Nhân quyền nói trên để Chính phủ bắt và trừng trị bọn chúng.

Nguyễn Tường Thuỵ

Đinh Tiến Việt – Ai sẽ bỏ Đảng?

Đinh Tiến Việt

 

 

Công An mạng hay những chiến sĩ “Giải Phóng Quân”?

Phong trào bỏ Đảng đang được dấy lên một cách công khai ở Việt Nam và sẽ lan tỏa trong những ngày tháng tới. Chắc hẳn không có ít người cũng đang tự hỏi rồi sẽ đến lượt ai?

Câu trả lời thật ra cũng không quá khó. Chắc chắn những người bỏ Đảng là những người đã từng có lòng yêu nước nồng nàn và hiện vẫn còn đặt quyền lợi của dân tộc lên trên hết. Họ tham gia Đảng Cộng Sản vì cái lý tưởng “giải phóng dân tộc”, theo những hiểu biết và tin tức họ có được vào thời điểm đó. Họ bỏ Đảng bây giờ cũng vì đã thấy được những vấn nạn do Đảng Cộng Sản gây ra cho dân tộc và đất nước sau 38 năm cầm quyền. Có lẽ, hơn ai hết, những người Cộng Sản yêu nước nầy đã cảm nhận một sự đau đớn và thất vọng tràn trề khi sự thật đã đánh đổ niềm tin của họ. Những hy sinh, đóng góp của họ đã làm cho Đảng Cộng Sản lớn mạnh và thành công, để rồi cái Đảng nầy đã trở nên một con quái vật. Nó đan tâm cắn xé, cướp bóc và chà đạp đồng bào mình. Cái Đảng nầy đã dành quyền độc tài cai trị và sản sinh ra một thể chế với những nhóm lợi ích chỉ biết mưu cầu danh lợi cho bản thân và gia đình mình, mặc cho dân tình khốn khổ, xã hội bất an, kinh tế nước nhà khủng hoảng, giáo dục xuống cấp, y tế suy đồi, đạo đức băng hoại, và nền độc lập dân tộc quả như mành treo sợi chỉ. Là những người yêu nước, những đảng viên Cộng Sản nầy chắc chắn sẽ bỏ Đảng và đứng về phía nhân dân để cứu nước, để tranh đấu cho một nước Việt Nam tốt đẹp hơn và công bằng hơn.

Tuy nhiên không phải chỉ có những người Cộng Sản yêu nước mới mạnh dạn từ bỏ Đảng, mà trong số những người bỏ Đảng sẽ có những thành phần mà ít ai ngờ được. Tôi muốn nói tới những Công An mạng hay những “Dư Luận Viên”.

Không. Tôi không nói đùa hay muốn cho bạn đọc bực tức đâu. Chắc hẳn có nhiều bạn cho rằng những Công An mạng là những kẻ thù của internet, của bloggers và của sự tự do bày tỏ ý kiến, họ không có trái tim của người đồng cảm với những khổ đau của nhân loại, của đồng bào mình, và họ không có khối óc đủ lớn để phân biệt đâu là chính nghĩa, đâu là gian tà, thì làm sao họ có thể bỏ Đảng để quay về với dân tộc, với đồng bào mình.

Tôi thì nghĩ hơi khác một chút. Những Công An mạng là những người có nhiều cơ hội được tiếp xúc với thế giới bên ngoài hơn là chỉ khép kín trong sự tuyên truyền của Đảng. Mặc dầu họ là những người được lựa chọn để làm những công việc mà chắc chắn sẽ được hậu đải với nhiều đặc ân, vì họ là thành trì để bảo vệ sự độc tôn của chế độ, nhưng hàng ngày họ được tiếp xúc với những tư tưởng phóng khoáng, những chân lý và sự thật không thể nào chối cải được, đầu óc và trái tim họ sẽ dần bị thay đổi và không sớm thì muộn họ sẽ nhận biết nên đứng về phía nhân dân thay vì cứ tiếp tục theo Đảng. Cho dù có được hậu đãi, các phần thưởng cho họ cũng chỉ là hạt cát so với những lợi lộc khổng lồ của những kẻ mà họ ra sức bảo vệ. Họ cũng như những Công An bên ngoài xã hội, đều là những người phải thi hành mệnh lệnh để đàn áp dân lành, để rồi phải chịu biết bao oán than, căm giận, còn những kẻ ra lệnh đàng sau thì ung dung tự tại chia chác những mối lợi lớn với nhau Nhưng khác với những Công An bên ngoài xã hội, Công An mạng có kiến thức và khả năng hơn, và có luôn nhiều cơ hội để thấy được nhiều sự thật mà Đảng luôn che dấu. Với những kiến thức và khả năng mà họ có được, có lẽ cuộc sống của họ cũng sẽ khá hơn trong một thể chế dân chủ khi mà đất nước có điều kiện phát triển mạnh mẻ và cân bằng. Hơn trên hết lương tâm họ sẽ không bị dằn vặt vì không còn có những hành vi giả dối và nhiều khi vô đạo đức của một Công An mạng. Nên tôi sẽ không ngạc nhiên khi một ngày nào đó trên mạng xuất hiện một lời trần tình từ bỏ Đảng của một Công An Mạng.

Ngoài Công An mạng thì thành phần nào trong Đảng sẽ cất bước ra đi mà lắm khi không cần lời từ giả? Đó là các chiến sĩ “Giải Phóng Quân”. Họ không những từ bỏ đảng mà họ còn có thể quay súng chỉa vào Đảng vì Đảng đã trực tiếp hay gián tiếp cướp bóc và đày đọa gia đình họ, bà con họ, hàng xóm láng giềng và bạn bè thân thương của họ. Họ sẽ chống lại Đảng vì Đảng đã tham quyền cố vị, bán nước, hại dân, đi ngược lại cái nguyện vọng cao quí muôn đời của người lính là phải bảo vệ quê hương, đất nước. Phải. Đó là người lính “giải phóng quân”. Những người lính “giải phóng quân” nầy đã bao lần bị Đảng lợi dụng để bảo vệ cho quyền lợi và ngôi vị độc tôn của Đảng thay vì bảo vệ đất nước nhân dân. Họ đã hy sinh “chống Mỹ cứu nước” để cho các vị lãnh đạo Cộng Sản gởi con đi du học ở Mỹ. Họ đã hy sinh bảo vệ các tĩnh biên giới phía bắc và Trường Sa để cho Đảng của họ tung hô 16 chữ vàng và bốn tốt, rước Tàu Cộng vào dày xéo quê hương, mang bao chất độc hại làm khổ dân lành, bóp nát nền kinh tế èo uột của Việt Nam, và chê cười ngạo mạn trên nền văn hóa ngàn đời của dân tộc. Người lính “giải phóng quân” có được tự do làm nhiệm vụ của mình là bảo vệ và giải phóng những ngư dân của mình bị giặc ngang nhiên giết hại. Họ có tức giận và uất ức không? Lẽ dĩ nhiên là có vì họ là những người đi lính để bảo vệ dân tộc mình và đồng bào mình chứ không phải là những người lính đánh thuê chỉ biết làm theo mệnh lệnh. Cho nên tôi sẽ không ngạc nhiên khi thấy những người lính “giải phóng quân” sẽ lần lượt tuyên bố bỏ Đảng.

Phong trào bỏ Đảng đang được dấy lên. Đây không phải là lần đầu và chưa biết có phải là lần cuối. Thế nhưng thời cuộc đã chín muồi cho một chuyển mình to lớn. Những ý kiến sửa đổi hiến pháp của những nhân sĩ trí thức, của các bậc lão thành cách mạng, của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, của các Công Dân Tự Do, của khối 8406, của phong trào con đường Việt Nam, của các tôn giáo lớn như Phật Giáo, Cao Đài, Tin Lành, và Phật Giáo Hòa Hảo ở Việt Nam đều có chung nhiều điểm nhưng quan trọng nhất là bỏ điều 4 Hiến Pháp. Bỏ điều 4 Hiến Pháp là bỏ sự độc quyền cai trị của Đảng Cộng Sản. Rõ ràng đa số những nhà trí thức, là đầu tàu của sự tiến bộ dân tộc, đã nhìn ra cái nguyên nhân của mọi tệ nạn và sự khủng hoảng của đất nước và nhiều người đã mạnh dạn kêu gọi thay đổi. Những người bỏ Đảng bây giờ sẽ được sự hậu thuẩn của toàn dân, vì chính cái Đảng của họ là nguyên nhân của mọi thảm trạng trên đất nước nầy. Bỏ Đảng là về với nhân dân, về với nguồn cội và tổ tiên của mình đã bao phen đánh giặc phương Bắc giữ gìn bờ cõi, quê hương, đất nước. Những gì mà họ mất mát chỉ là nhỏ bé tạm thời vì chắc chắn cái Đảng nầy sẽ chẳng tồn tại được bao lâu để bảo đảm cái sổ hưu cho họ. Cái mà họ được là lớn lao to tát hơn nhiều. Họ được sự thông cảm và mến yêu của nhân dân vì chính họ sẽ đem đến cho nhân dân thêm niềm tin và sức mạnh. Họ được sự thanh thản tâm hồn và một cảm nhận hạnh phúc khi được đứng về phía chính nghĩa. Hơn thế nữa, một bầu nhiệt huyết mới sẽ được sản sinh trong con người họ để họ thực sự được góp phần vào công cuộc đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền, tự do và toàn vẹn lãnh thổ mà nhân dân Việt Nam đã và đang tiến hành với những thành tựu đáng kể.

Một ngày mới sẽ lại bắt đầu, ánh dương sẽ tỏa sáng trên một dân tộc đã chịu nhiều đau khổ. Hởi những người bỏ Đảng, hãy mạnh dạn tiến lên. Nhân dân đang chờ đón bạn.

Đinh Tiến Việt