‘Bỏ Đảng là một cú sốc rất lớn’

 

Blogger Nguyễn Lân Thắng

Ông Nguyễn Lân Thắng cho rằng cần cảm thông với những người đang ‘lưỡng lự’

Bỏ Đảng đồng nghĩa với thừa nhận sai lầm hay tiếp tục ở lại đang là một cuộc đấu tranh tư tưởng và nội tâm rất lớn trong nhiều gia đình của các Đảng viên, trong đó có ‘gia đình tôi’, theo chia sẻ của kỹ sư Nguyễn Lân Thắng, thành viên Mạng lưới những người viết blog Việt Nam.

Theo ông Lân Thắng, người sinh trưởng trong một gia đình trí thức có nhiều người gắn bó và đóng góp với Đảng Cộng sản ở Việt Nam, những người còn chưa thể công khai tuyên bố ly khai đảng cộng sản cần nhận được sự cảm thông của cộng đồng và xã hội.

Trao đổi với BBC Việt ngữ hôm 06/12/2013 từ Hà Nội nhân sự kiện một quan chức cao cấp của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, luật gia Lê Hiếu Đằng và Tiến sỹ Phạm Chí Dũng, nhà nghiên cứu kinh tế thuộc Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM, vừa ly khai Đảng, ông Lân Thắng nói:

“Tôi nghĩ rằng sự đấu tranh tâm lý để có một quyết định ra khỏi Đảng đó là một quyết định rất lớn,” blogger này phân tích.

Thế nhưng bây giờ nếu họ tuyên bố một cách công khai, chính thức việc ra khỏi Đảng là một cú sốc rất lớn và thực sự là họ cũng rất là xấu hổi. Bởi vì họ phải thừa nhận những sai lầm của mình

Ông Lân Thắng dẫn lại quan niệm của một quan chức trong ngạch giảng dạy và tuyên huấn quân sự của Đảng, Đại tá, Phó Giáo sư Trần Đăng Thanh, cho rằng các đảng viên cần trung thành với đảng vì lý do ‘bảo vệ sổ hưu’ như một lực cản.

Nhưng theo nhà hoạt động sinh năm 1975, còn có một lực cản rất lớn khác làm những ai đang cân nhắc bỏ Đảng phải tính tới.

“Theo như cách hiểu của ông Trần Đăng Thanh, cũng một phần tâm lý là bảo vệ sổ hưu, ông nói.

“Nhưng mà tôi nghĩ một phần sâu thẳm hơn ở sâu thẳm những người đảng viên kỳ cựu là họ rất khó vượt qua mình.”

“Bởi vì cả cuộc đời của họ, họ hy sinh cho lý tưởng cộng sản, họ hy sinh thực sự cả sinh mạng của mình cho Đảng cộng sản.”

Mặc cảm ‘xấu hổ’

Theo ông Thắng, một hậu duệ của gia đình Nguyễn Lân, những Đảng viên này đang chịu một mặc cảm tâm lý ‘xấu hổ’ khi nhìn lại quá khứ hợp tác và phục vụ cho Đảng.

Blogger Nguyễn Lân Thắng

Ông Thắng (trái) rút ra các nhận xét từ quan sát chính gia đình ông và nhiều gia đình trí thức, đảng viên khác

Blogger nói thêm: “Thế nhưng bây giờ nếu họ tuyên bố một cách công khai, chính thức việc ra khỏi Đảng là một cú sốc rất lớn và thực sự là họ cũng rất là xấu hổi,

“Bởi vì họ phải thừa nhận những sai lầm của mình, vì vậy tôi nghĩ việc đánh giá người ta có dám tuyên bố ly khai ra khỏi Đảng một cách công khai hay không thì mình cần phải có một cái nhìn khách quan và nhân văn.”

Theo ông Thắng cộng đồng và xã hội cần phải có sự ‘thông cảm chứ không nên chỉ trích những người Đảng viên mà người ta chưa dám ra’.

Ông giải thích thêm về nguyên nhân tâm lý ở những trường hợp này:

“Bởi vì có những người ngoài chuyện cá nhân, họ còn vướng víu rất nhiều vào vấn đề con cái họ còn ở trong hệ thống nhà nước,

“Và cái việc bố mẹ mà làm thì họ rất sợ ảnh hưởng đến công việc của con cái.”

Khi được hỏi căn cứ vào đâu mà blogger đi đến nhận định quan sát này, ông Thắng cho hay đây là trải nghiệm ngay chính từ những trăn trở bản thân và từ trong gia đình của ông.

Ông nói: “Tôi rút ra được điều đó từ quan sát từ chính gia đình tôi, cũng như là từ những gia đình xung quanh mà tôi biết, những gia đình trí thức, cũng như những gia đình có Đảng viên có cống hiến cho Cách mạng.”

Ông Thắng sinh trưởng trong gia đình tộc họ ‘Nguyễn Lân’, với ông nội của ông là một giáo sư, học giả thuộc thế hệ ‘tiền bối’ trong lĩnh vực văn hóa, cổ học.

Ông có cha mẹ và nhiều người chú, bác, anh chị em họ hàng v.v… là các nhà khoa học có tiếng trong cả nước, có người là quan chức quan trọng, có người là Đại biểu Quốc hội.

Mâu thuẫn ‘lý tưởng’

Ông giải thích với BBC về quyết định không lựa chọn con đường phục vụ Đảng và nhà nước như một số thành viên khác trong gia đình.

“Thực ra có thể con đường đi của tôi khác với những người ở trong gia đình, thế nhưng tôi không bao giờ có ý oán trách gì, bởi vì mỗi người có một hoàn cảnh, mỗi người có một sự lựa chọn cá nhân, và mình cũng phải thông cảm với điều đó.”

Gia đình Giáo sư Nguyễn Lân

Ông Nguyễn Lân Thắng sinh ra trong một gia đình có nhiều người đỗ đạt và phục vụ cho Đảng và chính quyền

Nhà hoạt động vì nhân quyền nói khi đi theo con đường đã chọn, ông luôn sẵn sàng cho ‘mọi điều có thể xảy ra’.

“Hiện tại tôi không nghĩ một điều gì quá hai tháng, bởi vì tình hình ở Việt Nam rất là bất ổn và mình vẫn chưa biết chắc được như thế nào,” ông Thắng nói.

“Thế nhưng những công việc mà tôi làm nó cũng xuất phát từ tiếng gọi của lương tâm và tôi cứ làm thôi, còn sự bất trắc có thể đến với tôi bất kỳ lúc nào. Và tôi đã chuẩn bị tinh thần để đón những điều xấu nhất có thể xảy ra.”

Nhà hoạt động trên mạng xã hội cũng chia sẻ rằng sự khác biệt giữa ông và nhiều thành viên khác trong gia đình về chính kiến và sự nghiệp là một ‘mâu thuẫn về mặt lý tưởng.

“Tôi nghĩ đây không phải là một mâu thuẫn trực tiếp, mà đây là một mâu thuẫn về mặt lý tưởng, thực ra ở trong gia đình tôi, tất cả mọi người cũng vẫn rất tôn trọng tôi, những công việc mà tôi làm,

“Có thể có những người cũng không đồng ý đâu, nhưng họ không bao giờ có một chỉ trích trực tiếp những vấn đề của tôi.”

‘Tổn thất to lớn’

Chưa ai biết điều gì xảy ra ở phía trước với bối cảnh của Việt Nam như hiện nay, tình hình sẽ còn thay đổi rất mạnh và rất nhiều. Và mọi việc sẽ không chỉ dừng lại ở đây

Nhận định với BBC hôm thứ Sáu về tác động của việc hai ông Lê Hiếu Đằng và Phạm Chí Dũng rời bỏ Đảng, ông Thắng nói.

“Tôi nghĩ Đảng chưa bao giờ ở tình thế hiểm nghèo như thế này bởi những người trí thức tương đối có tiếng tăm, tương đối có uy tín ở trong xã hội, mà bây giờ họ tuyên bố ly khai khỏi Đảng, một cách chính thức,

“Đây là một tổn thất vô cùng lớn về mặt tính chính danh của Đảng, lúc này uy tín của Đảng không còn gì nữa, thực sự không còn gì nữa.”

Blogger cũng tiên đoán về một phong trào ly khai Đảng ở Việt Nam có thể xảy ra trong thời gian tới đây:

“Hành động của ông Lê Hiếu Đằng và ông Phạm Chí Dũng có thể cũng dẫn đến một phong trào ly khai khỏi Đảng một cách ồ ạt, diễn ra với một số lượng lớn, và lúc đó sự cầm quyền của Đảng sẽ bị lung lay một cách rất dữ dội.”

‘Chưa ai biết điều gì xảy ra ở phía trước với bối cảnh của Việt Nam như hiện nay, tình hình sẽ còn thay đổi rất mạnh và rất nhiều. Và mọi việc sẽ không chỉ dừng lại ở đây,” ông nhấn mạnh.

 

 

Nguyễn Đắc Diên – Thông báo công khai từ bỏ Đảng

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 6 tháng 12 năm 2013

Hưởng ứng lời tuyên bố từ bỏ Đảng của Luật gia Lê Hiếu Đằng và nhà báo, TS Phạm Chí Dũng, tôi, Nguyễn Đắc Diên, Bác sĩ Nha khoa, đảng viên, số hiệu thẻ đảng 3444669, THÔNG BÁO CÔNG KHAI từ bỏ Đảng Cộng sản Việt nam.

Xuất thân trong một gia đình có truyền thống chống các kiểu thực dân và áp bức, sau 1954 tuy sống ở đô thị miền Nam nhưng gia đình tôi là cơ sở CM nội thành, đã được tặng thưởng Huân Chương Kháng Chiến Hạng Nhất theo QĐ số 801/HĐNN, có Giấy Chứng Nhận Người Có Công Với Cách Mạng. Thế nên đã một thời, tôi cũng từng tràn đầy nhiệt huyết với khát vọng đồng hành cùng Đảng xây dựng một đất nước công bằng dân chủ và văn minh.

Song tất cả những gì mà Đảng Cộng sản đã thể hiện từ ngày Bắc Nam thống nhất khiến tôi đi từ thất vọng đến thất vọng khác.

Tôi không tin Đảng sẽ dẫn dắt dân tộc cập được bến bờ vinh quang bằng các cương lĩnh kiểu như cương lĩnh 1991, hiến pháp 2013. Bởi đó là những cương lĩnh u ám, những hiến pháp tiểu xảo.

Với thỏa ước Thành Đô 9/1990, Đảng đã đánh mất cơ hội ngàn vàng trong sự nghiệp bảo toàn chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ khi sống cạnh một nước lớn có tiền sử hàng ngàn năm áp chế dân tộc Việt.

Thay vì theo đường quan mà cộng đồng thế giới văn minh đã khai phóng để đi, Đảng lại liên tục quàng vào bụi rậm. Câu châm biếm “Đảng tiên phong đi trước, nhân dân tiếp bước theo sau, dân hỏi Đảng đi đâu, Đảng lầu bầu: đang định hướng” là hình ảnh vừa bi vừa hài, nhưng mà thực và sống.

Khi vào Đảng tôi đã từng thề, rằng tuyệt đối trung thành với Đảng. Nay, tôi thà phản bội lời thề trung thành với Đảng còn hơn phải theo Đảng mà phản bội lại quyền lợi dân tộc, dân sinh, dân chủ, dân quyền mà lẽ ra dân tộc tôi phải được hưởng từ 38 năm về trước.

Nhưng rồi có thể một ngày nào đó, khi Đảng thực sự hoàn lương, tôi lại phấn đấu xin vào Đảng.

Bs. Nguyễn Đắc Diên

ĐT: 0914002424

Email: dien1789@yahoo.com

Tác giả trực tiếp gửi cho BVN

Về chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của ông Trần Văn Huỳnh nhằm vận động trả tự do cho tù nhân lương tâm Việt Nam

Kính gửi: BBT báo Dân Luận

Chúng tôi xin gửi đến BBT báo Dân Luận bản thông cáo báo chí dưới đây của PT CĐVN về chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của ông Trần Văn Huỳnh nhằm vận động trả tự do cho tù nhân lương tâm Việt Nam.

Xin BBT báo Dân Luận quan tâm và chia sẻ cho cộng đồng.

Xin chân thành cảm ơn và mến chúc BBT báo Dân Luận nhiều thành công!

Hoàng Triết
Phong trào Con đường Việt Nam

PHONG TRÀO CON ĐƯỜNG VIỆT NAMThông Cáo Báo Chí
Về chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của ông Trần Văn Huỳnh nhằm
vận động trả tự do cho tù nhân lương tâm Việt Nam
Ngày 5/12/2013, nhận lời mời của một số tổ chức phi chính phủ quốc tế, ông Trần Văn Huỳnh, phụ thân của tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức, đã tới Hoa Kỳ bắt đầu chuyến đi vận động đòi trả tự do cho các tù nhân lương tâm Việt Nam. Ông Trần Văn Huỳnh là thành viên của phong trào Con Đường Việt Nam, một phong trào đòi quyền con người do chính con trai ông và những người bạn thành lập từ giữa năm 2012 tại Việt Nam.

Ông Trần Văn Huỳnh (bên trái, thân phụ kỹ sư Trần Huỳnh Duy Thức) và bà Nguyễn Thị Kim Liên (thân mẫu tù nhân lương tâm Đinh Nhật Uy) tại phi trường Los Angeles buổi sáng ngày Thứ Năm, 5 tháng 12, khi vừa đặt chân đến Hoa Kỳ. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Trong chuyến đi này, ông Trần Văn Huỳnh sẽ có dịp gặp gỡ giới chức Hoa Kỳ, từ Thượng và Hạ viện cho tới Bộ Ngoại Giao và các tổ chức quốc tế quan tâm đến tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Ngày 6/12/2013 ông sẽ có buổi họp báo với báo Người Việt, và sau đó sẽ tham dự buổi hòa nhạc do SBTN tổ chức.

Chuyến viếng thăm của ông Trần Văn Huỳnh là một phần của nỗ lực tìm kiếm tự do cho các tù nhân lương tâm ở Việt Nam của Con Đường Việt Nam. Danh sách các tù nhân lương tâm mà CĐVN đệ trình tới quốc tế trong chuyến đi này bao gồm:

1. Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày)
2. Tạ Phong Tần
3. Trần Huỳnh Duy Thức
4. Nguyễn Tiến Trung
5. Nhạc sĩ Võ Minh Trí (Việt Khang)
6. Đỗ Thị Minh Hạnh
7. Lê Quốc Quân
8. Cù Huy Hà Vũ
9. Đinh Đăng Định
10. Đinh Nguyên Kha

Bên cạnh các hoạt động mang tính đối ngoại, Con Đường Việt Nam sẽ tiếp tục các hoạt động trong nước để quảng bá quyền con người tới mọi người, thực hiện sứ mạng của mình là “làm cho Quyền Con Người được tôn trọng và được bảo vệ trên hết và bình đẳng tại Việt Nam để người dân có thể tự tin sử dụng đầy đủ mọi quyền pháp định của bản thân để làm chủ đất nước và làm chủ cuộc sống của mình.”

Ngày 5 tháng 12 năm 2013
Trưởng Ban Điều Hành
Phong trào Con Đường Việt Nam
Nguyễn Công Huân

——————– oOo ——————–VIETNAM PATH MOVEMENTPress Releases
Mr. Tran Van Huynh’s visit in the US to campaign
for the release of prisoners of conscience in Vietnam
At the invitation of a number of international non-governmental organizations (NGO), Mr. Tran Van Huynh, father of prisoner of conscience Tran Huynh Duy Thuc, has arrived in the United States on 12/5/13 and mark the beginning of a campaign trip for the release of prisoners of conscience in Vietnam. Mr. Huynh is a member of the Vietnam Path Movement, a human rights movement launched by his son and friends in mid 2012 in Vietnam.

In this trip, Mr. Tran Van Huynh will meet with US officials in different parts of the government from the Senate and House of Representatives to Department of State. Mr. Huynh will also meet with other international organizations concerned about the human right situation in Vietnam. On December 6, he will have a press conference with the Vietnamese press and later will attend an SBTN concert organized to welcome him.

Mr. Tran Van Huynh’s visit is part of an effort to seek freedom for prisoners of conscience in Vietnam by the Vietnam Path Movement. The list of prisoners of conscience the Vietnam Path Movement will submit to international organizations in this trip includes:

1. Nguyen Van Hai (a.k.a. Dieu Cay)
2. Ta Phong Tan
3. Tran Huynh Duy Thuc
4. Nguyen Tien Trung
5. Vo Minh Trinh (a.k.a. musician Viet Khang)
6. Do Thi Minh Hanh
7. Le Quoc Quan
8. Cu Huy Ha Vu
9. Dinh Dang Dinh
10. Dinh Nguyen Kha

Besides public relation activities, the Vietnam Path Movement will continue its activities in Vietnam to promote human rights to everyone and carry out its mission, which is to “make sure Human Rights are respected and protected equally and above all in Vietnam so the people can confidently use their legal rights to take charge of the country and take charge of their life.”

December 5, 2013
Vietnam Path Movement
Chief Executive
Nguyen Cong Huan

Học, học nữa, học mãi vẫn thế?

 

Cửa ‘Khổng sân Trình’ nay được phục hồi ở Trung Quốc

Tôi không hoàn toàn chia sẻ ý kiến của nhà giáo Phạm Toàn cho rằng kết quả xếp hạng cao của Việt Nam trong bảng đánh giá PISA mới đây là ‘không có ý nghĩa’.

Với các học sinh học giỏi ở tuổi 15 được nêu trong bảng đánh giá đang gây chấn động cả dư luận ở Anh, Trung Quốc, Việt Nam thì nỗ lực và thành tích cá nhân của các em là rất đáng khuyến khích.

Về mặt cá nhân, học giỏi sẽ tăng cơ hội du học nước ngoài, phát triển chất xám, có ‘đầu ra’ phù hợp.

Đánh giá cũng mang lại sự lạc quan rằng nếu môi trường học tập được cải thiện, các thế hệ tiếp theo có cơ hội tiếp thu kiến thức đúng đắn, tạo động lực cho cả xã hội đi lên.

Nhưng tôi đồng ý với thầy giáo Bấm Phạm Toàn rằng chỉ thành tích không sẽ ‘không dẫn đến một cái gì có ích cả’.

Vì sao học giỏi?

Điều khiến Việt Nam có nhiều học sinh học giỏi chính là truyền thống Khổng giáo hiếu học giống Trung Quốc, Đài Loan,Hàn Quốc và một phần là Nhật Bản.

Trong một bài báo hồi 1995 về dân chủ và truyền thống Khổng giáo, nhà nghiên cứu Mỹ gốc Nhật, ông Francis Fukuyama đã đặt Việt Nam vào nhóm các nước trên cùng cả Singapore.

Ở những nước này, Khổng giáo được thể chế hóa qua hệ thống khoa cử và quan chế đã “nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong xã hội”, và cũng là yếu tố tạo ra “bình đẳng học thuật”, và cơ hội tiến thân, theo Fukuyama.

Nhưng đó có phải chỉ là chuyện ngày xưa?

Hóa ra điều này nay vẫn hiện rõ ở các chỉ số học tập.

Vì cùng ở Đông Nam Á nhưng học sinh Việt Nam thường có thành tích học tập cao hơn Phililippines (Thiên Chúa giáo), Indonesia (Hồi giáo) và Lào, Campuchia, Thái Lan (Phật giáo).

Số người có bằng tiến sỹ tại Trung Quốc đang tăng tới mức bùng nổ, với chừng 50000 người ở mọi ngành chỉ trong năm 2009, nhưng vấn đề chính là chất lượng thấp

Trang Nature

Tuy thế, Việt Nam và cả Trung Quốc hiện vẫn thua kém các nước châu Á khác trong sáng tạo khoa học.

Bài phân tích ‘Giáo dục: nhà máy sản xuất bằng tiến sỹ’ (Education: The PhD factory) trên trang Nature 04/2011, viết về Trung Quốc:

“Số người có bằng tiến sỹ tại Trung Quốc đang tăng tới mức bùng nổ, với chừng 50000 người hoàn tất nghiên cứu cấp tiến sỹ ở mọi ngành chỉ trong năm 2009, gần như là vượt xa tất cả các nước. Nhưng vấn đề chính là chất lượng thấp của các tấm bằng tiến sỹ đó.”

Điều này dẫn đến vấn đề thứ nhì với các ‘ông nghè’ Trung Quốc mà nghe cũng quen quen như ở Việt Nam: đa số “khó tìm được việc làm trong giới khoa bảng quốc tế” còn những người đã ra nước ngoài thì “hiếm khi quay trở về”, theo trang Nature.

Khổng giáo vừa là tác nhân cho tinh thần hiếu học, là hòn đá cản đường cho sáng tạo.

Hồi đầu thế kỷ 20, giữa lúc giao thời Đông Tây, Phạm Duy Tốn, Ngô Tất Tố, Phan Kế Bính đã phê phán tệ nạn thi cử tại Việt Nam.

Bên Trung Quốc, hồi thế kỷ 18, Ngô Kính Tử trong ‘Chuyện làng Nho’ đã xếp các nạn nhân của chế độ khoa cử thành bốn loại: hèn nhát, hãnh tiến công danh, tham lam và thanh tịnh.

Nhà Nho thanh tịnh là tấm gương đạo đức sáng chói nhưng suy ra cũng là vô dụng vì thường chọn thái độ lánh đời.

Cầu may ở nơi thờ Khổng tử trong Văn Miếu, Hà Nội trước kỳ thi

Vẫn Fukuyama khi ca ngợi các điểm hay của truyền thống Khổng giáo ở châu Á cũng viết về sự cản trở của đầu óc Nho gia cho xã hội.

Ông dẫn Samuel Huntington viết về các nước Khổng giáo như sau:

“Truyền thống Khổng giáo của Trung Quốc và các nhánh của nó ở Triều Tiên, Việt Nam, Singapore, Đài Loan, và ở dạng loãng hơn tại Nhật Bản cùng đặt tập thể lên trên cá nhân, đặt uy quyền cao hơn tự do và đề cao trách nhiệm hơn là các quyền…

“Quyền của các các nhân có tồn tại nhưng do chính Nhà nước tạo ra. Hài hòa và hợp tác được chú trọng hơn là bất đồng và cạnh tranh.”

Truyền thống Khổng giáo Trung Quốc và các nhánh của nó ở Triều Tiên, Việt Nam …đặt tập thể lên trên cá nhân

Samuel Huntington

Trong thế giới ngày nay mà chỉ biết nghe lời, bắt chước và cạnh tranh thì chỉ có cầm chắc thất bại trong giáo dục, kinh tế hay bất cứ ngành nghề gì khác.

Thử hỏi nếu người Hàn Quốc vẫn tư duy như vậy thì làm sao Samsung có thể chiếm lĩnh thị trường toàn cầu?

Học sinh Việt Nam học tốt trong một môi trường khuôn phép như giỏi giải các phép toán đã định trước, và học chủ yếu để thi đỗ nhưng khi vào đời lại dần bị uốn nắn theo các mô thức cũ kỹ, thiếu phản biện, cạnh tranh.

Học đừng khôn lỏi

Trước đây, người châu Á từng nghĩ văn hóa truyền thống, phần hồn của mình tốt lắm rồi, ta chỉ tụt hậu Âu Mỹ về công nghệ nên cũng chỉ cần học kỹ thuật thật giỏi là đuổi kịp.

Nhưng sự thực thì kỷ nguyên Khai Sáng ở châu Âu không chỉ là bùng nổ phát kiến khoa học mà căn bản là một phong trào tư tưởng.

Cải tổ là phải toàn diện và Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, người trước kẻ sau, đã tiến mạnh khi chọn con đường đó.

Riêng mấy nước Á châu còn lại tiếp tục cho rằng cứ theo khuôn mẫu tư duy chính quyền quy định là đủ, và mở cửa vẫn e dè, ghét bỏ các giá trị quốc tế chung.

Giới trẻ Việt Nam rất muốn du học sang Phương Tây

Ngay cả cải cách kiểu Đặng Tiểu Bình vẫn có giọng khinh Phương Tây, coi làn gió từ bên ngoài vào có cả nhiều ruồi muỗi.

Mặc cảm vừa tự ti, vừa tự tôn đó đã khiến người ta không chân thành hiểu được phần quan trọng nhất của giáo dục cho loài người mà Âu Mỹ chỉ có đi trước chứ không hề độc quyền quản lý.

Đó là tự do tư tưởng, dẫn đến tôn trọng các cá nhân khác, phần cơ bản của nhân quyền.

Đó là lý tính, nền tảng của tinh thần khai phá và thái độ dẫn thân, dám thể nghiệm.

Về tinh thần, to như Trung Quốc nhưng vẫn bị coi là ‘thiếu vắng điều gì đó’ như lời cô Kelly Zong, con gái tỷ phú Tông Khánh Hậu (trên 10 tỷ USD) nói trên trang Sunday Times gần đây.

Với thực trạng tệ hại của giáo dục Việt Nam, vừa tham nhũng điểm số, vừa thiếu tự do sáng tạo, vừa nặng học vẹt mà sinh viên sang Singapore du học vẫn được ông Lý Quang Diệu cảm phục khen ngợi thì đó quả là điều phi thường cho các cá nhân người Việt.

Ở tầm quốc gia và xã hội, Việt Nam chắc cũng sẽ thành công như vậy nếu dứt bỏ được các ràng buộc tư duy kiểu Khổng, Mao và Đặng.

 

Những câu nói bất hủ của Nelson Mandela

Phạm Vũ Lửa Hạ dịch

lttimg_nid23895

“Difficulties break some men but make others.” (From a letter to wife, Winnie Mandela, from Robben Island, February 1975) “Có người quỵ ngã trước gian nan, có người thành nhân nhờ gian nan.” (Trích thư gởi vợ Winnie Mandela, từ [nhà lao ở] Đảo Robben, tháng 2/1975)

“Man’s goodness is a flame that can be hidden but never extinguished.” (From Long Walk to Freedom, 1995) “Lòng tốt của con người là ngọn lửa có thể giấu được nhưng không bao giờ dập tắt được.” (Trích từ Chặng đường Dài đến Tự do, 1995)

“Without democracy there cannot be peace.” (South Africa, May 9, 1992) “Không có dân chủ thì không thể có hòa bình.” (Nam Phi, ngày 9/5/1992)

“Social equality is the only basis of human happiness.” (A letter written on August 1, 1970) “Bình đẳng xã hội là cơ sở duy nhất của hạnh phúc loài người.” (Thư viết ngày 1/8/1970)

“Real leaders must be ready to sacrifice all for the freedom of their people.” (Kwazulu-Natal, South Africa, April 25, 1998) “Lãnh tụ thực thụ phải sẵn sàng hy sinh tất cả vì tự do cho nhân dân của họ.” (Kwazulu-Natal, Nam Phi 25/4/1998)

“If I had my time over I would do the same again, so would any man who dares call himself a man.” (After being convicted to five years hard labor, November 1962) “Nếu tôi lấy lại được thời gian của mình, tôi cũng hành động như vậy, và bất cứ ai dám tự nhận là con người cũng làm vậy.” (Sau khi kết án 5 năm tù khổ sai, tháng 11/1962)

“I was made, by the law, a criminal, not because of what I had done, but because of what I stood for, because of what I thought, because of my conscience.” (Statement during trial, 1962) “Tôi bị pháp luật biến thành tội phạm, không phải vì việc tôi đã làm, mà vì điều tôi tranh đấu, vì suy nghĩ của tôi, vì lương tâm của tôi.” (Phát biểu trong phiên tòa xử ông, năm 1962)

“I can only say that I felt morally obliged to do what I did.” (At the opening of his trial, April 20, 1964) “Tôi chỉ biết nói rằng tôi thấy có bổn phận đạo đức phải làm những gì tôi đã làm.” (Lúc mở đầu phiên tòa xử ông, ngày 20/4/1964)

“I came to accept that I have no right whatsoever to judge others in terms of my own customs, however much I may be proud of such customs.” (From his unpublished autobiographical manuscript, 1975) “Tôi đã biết chấp nhận là tôi chẳng có quyền gì phán xét người khác dựa trên các tập quán của chính mình, bất luận tôi có thể kiêu hãnh về những tập quán đó đến đâu đi nữa.” (Từ bản thảo tiểu sử tự thuật không xuất bản, năm 1975)

“Great anger and violence can never build a nation. We are striving to proceed in a manner and towards a result, which will ensure that all our people, both black and white, emerge as victors.” (Speech to European Parliament, 1990) “Sự uất hận và bạo lực có bao giờ xây nên nước dựng nên nhà đâu. Chúng tôi đang phấn đấu xây dựng đất nước theo cách và hướng đến cái đích bảo đảm toàn thể nhân dân chúng tôi, bất kể là người da đen hay da trắng, đều trở thành người chiến thắng.” (Phát biểu trước Nghị viện Châu Âu, 1990)

“We are fighting for a society where people will cease thinking in terms of colour.” (March 8, 1993) “Chúng ta đang đấu tranh vì một xã hội trong đó người ta không còn suy nghĩ dựa trên màu da.” (Ngày 8/3/1993)

“When a man has done what he considers to be his duty to his people and his country, he can rest in peace.” (Interview for Mandela, 1994) “Khi một người đã làm được điều mình xem là bổn phận với nhân dân và đất nước của mình, người đó có thể yên nghỉ.” (Phỏng vấn cho Mandela, 1994)

“Reconciliation means working together to correct the legacy of past injustice.” (December 16, 1995) “Hòa giải nghĩa là cùng nhau khắc phục di sản của tình trạng bất công trong quá khứ (Ngày 16/12/1995)

“I can rest only for a moment, for with freedom come responsibilities, and I dare not linger, for my long walk is not yet ended.” (From Long Walk to Freedom, 1995) “Tôi chỉ nghỉ ngơi một lát, vì tự do đi kèm với trách nhiệm, mà tôi đâu dám nấn ná, vì chặng đường dài của tôi chưa kết thúc.” (Trích từ Chặng đường Dài đến Tự do, 1995)

“For to be free is not merely to cast off one’s chains, but to live in a way that respects and enhances the freedom of others.” (From Long Walk to Freedom, 1995) “Vì được tự do không chỉ là phá bỏ xiềng xích của ta, mà còn sống sao cho tôn trọng và nâng cao tự do của người khác.” (Trích từ Chặng đường Dài đến Tự do, 1995)

“If you want to make peace with your enemy, you have to work with your enemy. Then he becomes your partner.” (From Long Walk to Freedom, 1995) “Nếu ta muốn hòa bình với kẻ thù, ta phải hợp tác với kẻ thù. Rồi kẻ thù sẽ thành đối tác của ta.” (Trích từ Chặng đường Dài đến Tự do, 1995)

“It is never my custom to use words lightly. If twenty-seven years in prison have done anything to us, it was to use the silence of solitude to make us understand how precious words are and how real speech is in its impact on the way people live and die.” (South Africa, July 14, 2000) “Tôi chưa bao giờ có thói quen dùng ngôn từ hời hợt. Nếu hai mươi bảy năm ngồi tù có tác động gì đến ta, đó chính là cách sử dụng sự tĩnh lặng của cảnh cô đơn để giúp ta hiểu ngôn từ quý giá đến dường nào và hiểu lời nói có ảnh hưởng thật sự ra sao đến cách con người sống và chết.” (Nam Phi, 14/7/2000)

“When people are determined they can overcome anything.” (Johannesburg, South Africa, Nov. 14, 2006) “Khi đã quyết tâm, ta có thể vượt qua mọi thứ.” (Johannesburg, Nam Phi, 14/11/2006)

Phạm Vũ Lửa Hạ dịch

Nguồn: Nelson Mandela’s Most Inspiring Quotes, The Daily Beast, 5/12/2013.

* * *

Trọng Giáp – Những câu nói bất hủ của Nelson Mandela

“Khi tôi bước đến với tự do, tôi biết rằng nếu không bỏ lại nỗi đau và sự căm thù lại phía sau, tôi sẽ vẫn ở trong tù” là một trong những câu nói nổi tiếng của cựu tổng thống Nam Phi Nelson Mandela.


Mandela và vợ Winnie hôm 19/2/1990 tay trong tay, giơ nắm đấm lên cao khi ông được thả khỏi nhà tù Victor ở Cape Town, Nam Phi. Ảnh: AP

“Tôi đã chiến đấu chống lại sự thống trị của người da trắng, và tôi đã chiến đấu chống lại sự thống trị của người da đen. Tôi yêu mến lý tưởng về một xã hội dân chủ và tự do, trong đó mọi người dân sống với nhau hòa thuận, có những cơ hội bình đẳng. Đó là lý tưởng mà tôi hy vọng sẽ sống vì nó và đạt được nó. Nhưng nếu cần, tôi cũng sẵn sàng chết vì lý tưởng đó”, Mandela nói tại tòa án Rivonia năm 1964, khi ông đối mặt với một án tử hình vì âm mưu lật đổ chính quyền.

“Khi tôi bước đến với tự do, tôi biết rằng nếu không bỏ lại nỗi đau và sự căm thù lại phía sau, tôi vẫn sẽ ở trong tù”, Mandela nói sau khi được ra tù năm 1990.

“Những nhà lãnh đạo thực sự phải sẵn sàng hy sinh tất cả vì sự tự do của dân tộc họ”.

“Không phải vua và tướng tạo ra lịch sử mà chính là đám đông quần chúng, những công nhân, nông dân, bác sĩ, luật sư”.

“Nếu có bất cứ điều gì tôi nhận thức được, thì đó là không sợ thiểu số, đặc biệt là thiểu số da trắng. Chúng ta sẽ không sống như những con mèo béo”, ông nói trước cuộc bầu cử tổng thống năm 1994.

“Chúng ta đạt được hiệp ước rằng chúng ta sẽ xây dựng một xã hội trong đó tất cả người Nam Phi, da màu lẫn da trắng, sẽ có thể bước ngẩng cao đầu, với trái tim không run sợ, được đảm bảo về quyền bất khả xâm phạm đối với nhân phẩm – một quốc gia cầu vồng hòa bình trong nội tại và trên thế giới”, Mandela phát biểu trong lễ nhậm chức tổng thống.

“Tôi bước xuống với một nhận thức, một cảm giác rõ ràng rằng bằng một cách nhỏ nhoi, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ với dân tộc tôi và đất nước tôi”, ông nói khi thôi làm tổng thống.

“Sự việc đều tưởng như bất khả thi cho tới khi nó được hoàn thành”.

“Nghèo không phải là một tai ương. Giống nạn nô lệ và phân biệt chủng tộc, nó do con người tạo ra và có thể được xóa bỏ bằng hành động của nhân loại”.

“Đừng đánh giá tôi dựa trên những thành công của tôi, hãy đánh giá tôi dựa trên số lần tôi gục ngã và đứng dậy trở lại”.

“Điều nuối tiếc lớn nhất trong cuộc đời tôi là tôi chưa bao giờ trở thành vô địch giải đấm bốc hạng nặng thế giới”.

Khi Đức thắng Nam Phi trong giải bóng đá World Cup 2006, Mandela nói: “Ít nhất chúng ta có quyền uống say… lần tới chúng ta sẽ thắng”.

“Cái chết là điều không thể tránh khỏi. Khi một người đã hoàn thành điều người đó coi là trách nhiệm với dân tộc của ông ta, với đất nước của ông ta, ông ta có thể yên nghỉ. Tôi tin rằng tôi đã hoàn thành nỗ lực đó, và vì vậy, đó là lý do tôi sẽ ngủ yên trong vĩnh hằng”, Mandela trả lời phỏng vấn trong bộ phim tài liệu “Mandela”.

Trọng Giáp
Theo VnExpress

Orville Schell – Tập Cận Bình khôi phục lại một mệnh lệnh cũ

Orville Schell | ChinaFile
Mai Xương Ngọc dịch

Những lời kêu gọi cải cách tại Hội nghị Trung ương 3 của Đại hội Đảng lần thứ 18, giống như rất nhiều Đại hội Đảng khác ở Trung Quốc trong vài thập kỷ qua, là một phần của những nỗ lực không ngừng của Trung Quốc cho sự đoàn kết dân tộc, sự thịnh vượng và quyền lực. Nhưng đối với những ai thấm nhuần triết học chính trị phương Tây, những mệnh lệnh chính sách đó của Trung Quốc đôi khi có vẻ như là lời kêu gọi cho một loạt các cải cách khó hiểu, đầy mâu thuẫn.


Đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thứ 18 cải cách mạnh mẽ. (Ảnh: Internet)Một mặt, những thuyết minh mới nhất cho các cải cách được công bố kêu gọi cho quyền hoạt động lớn hơn trong lĩnh vực đời sống cá nhân bằng cách nới lỏng chính sách mỗi gia đình chỉ một con; sửa đổi các quy định đăng ký hộ khẩu để cho phép người nông dân chuyển vào thành phố một cách linh hoạt hơn; và kêu gọi chấm dứt hình thức trừng phạt ngoài vòng pháp luật bị khinh miệt, “trại cải tạo lao động”, nơi mà trong nhiều thập kỷ qua, hình thức đó đã đưa các tội phạm cũng như những người bất đồng chính kiến đến để cải tạo lao động mà không cần có phán quyết của tòa án, thủ tục xét xử, hoặc khiếu nại. Tất cả những cải cách đó bắt nguồn từ sự công nhận trong giới chóp bu của Đảng về nhu cầu cấp thiết phải từ bỏ một số cơ cấu cứng nhắc và xưa cũ được thiết lập trong thời kỳ Stalin dưới quyền của Mao Trạch Đông, để càng có thêm chất xúc tác tốt hơn cho sự “sáng tạo” và “đổi mới” hơn nữa, hai khái niệm đang gây ám ảnh cho các nhà lãnh đạo mới.

Mặt khác, Chủ tịch Tập Cận Bình cũng kêu gọi một cuộc hợp thức hóa đầy kịch tính đối với các chức vụ an ninh và giám sát bằng một “Hội đồng An ninh Quốc gia” mới dưới sự chỉ huy của ông ta, cũng như để tập trung những nỗ lực cải cách tài chính trên toàn quốc vào tay một “nhóm lãnh đạo nhỏ” cũng dưới quyền kiểm soát của ông Tập. Đồng thời, ông ta cũng ra tay trấn áp những tiếng nói độc lập trên phương tiện truyền thông, bịt miệng các học giả đã phê bình thẳng thắn, và ưỡn lưng chống lại các nhà phê bình nước ngoài. Tất cả những điều này có vẻ như cho thấy một điều gì đó đầy mâu thuẫn. Tuy nhiên, hiểu theo ý nghĩa Âm-Dương, Chủ Tịch Tập có vẻ như đã vay mượn rất nhiều từ một trang trong cuốn cẩm nang hậu-1989 của Đặng Tiểu Bình, cụ thể là phải tìm cách thúc đẩy cải cách kinh tế triệt để trong thời gian điểm gắt gao này, trong khi đồng thời phải thắt chặt mọi các lực lượng ly tâm trong xã hội và chính trị, và trên tất cả, thắt chặt những đặc quyền của các nhà lãnh đạo hàng đầu.

Thoạt đầu, mâu thuẫn giữa hai nỗ lực trên dường như được xem như là đối lập với nhau một cách tột cùng, đặc biệt là trong cách nhìn phương Tây. Nhưng Mao Trạch Đông, kẻ ưa thích “sự thống nhất của những đối lập,” lại có suy nghĩ khác. Thật vậy, hầu hết các nhà cải cách, những người đã từng tìm cách, dù rất giống nhau, để thiết lập một quốc gia giàu có và mạnh mẽ hơn sau hơn một thế kỷ rưỡi, cũng đã có thể đồng ý với công thức mới nhất của ông Tập. Điều mà các nhà lãnh đạo từ Lương Khải Siêu và Tôn Trung Sơn ở đầu thế kỷ trước, hoặc Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông vào giữa thế kỷ, cho đến Đặng Tiểu Bình và Tập Cận Bình trong thời gian gần đây đều đã chia sẻ như một mục tiêu chung không phải là một quốc gia dân chủ khai sáng hơn, mà là một quốc gia được thống nhất bởi chủ nghĩa dân tộc và được cai trị bởi một đảng phái duy nhất, có kỷ luật, có thể tôi luyện Trung Quốc để đương đầu với thách thức lịch sử để trở thành một nước giàu có và vững mạnh, qua đó được tôn trọng, trong thế giới hiện đại.

Trong khi các nhà lý thuyết phát triển của phương Tây luôn luôn hình dung rằng các xã hội mở luôn được gắn liền cùng với nền kinh tế mở, các nhà lập quốc Trung Hoa đã đảo ngược mô hình này. Trung Quốc dường như tuyên bố rằng một xã hội khép kín bên cạnh các thị trường tương đối tự do là một cách hiệu quả hơn để tạo ra sự giàu có, quyền lực, và sự tôn trọng, hơn là so với một xã hội mở cùng với một thị trường mở. Bởi vậy, điều dường như được xem là mâu thuẫn đối với các nhà dân chủ phương Tây – như ông Bill Clinton – người coi Trung Quốc như đang đứng “chệch hướng đi của lịch sử”, lại có một logic rất khác khi nhìn từ vị trí thuận lợi của giới lãnh đạo Trung Quốc tại Bắc Kinh. Tại sao? Bởi vì mục tiêu của họ không phải là để bảo vệ người dân chống lại sự chuyên chế quá thái của chính phủ, mà là để sử dụng một chính phủ hiệu quả và độc tài nhằm xây dựng một nhà nước vững mạnh có khả năng khiến cho một dân tộc bị mệt mỏi trước sự thua thiệt và bóc lột được cảm thấy tự hào về sự phục hồi của dân tộc mình. Một phần quan trọng của niềm tự hào này xuất phát từ việc cho thấy Trung Quốc một lần nữa có thể ngẩng cao đầu, thậm chí ngang ngược, giữa những “cường quốc” khác. Nếu nền dân chủ và sự cởi mở minh bạch không đóng góp một cách thiết thực cho nhiệm vụ lớn của toàn dân, chúng sẽ không đóng một vai trò có ý nghĩa như những mục tiêu của các loại chính sách mà bây giờ chúng ta đang thấy ngày càng nhiều trong Hội nghị Trung ương 3. Tóm lại, đó là vì sức mạnh quốc gia, không phải vì sự bất khả xâm phạm của cá nhân, là động lực dẫn dắt các quyết định của giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Tôn Dật Tiên đã cảnh báo một thế kỷ trước, “Cá nhân không nên có quá nhiều tự do, nhưng quốc gia cần phải có tự do hoàn toàn.” Hầu hết các nhà lãnh đạo Trung Quốc sau thời Tôn Dật Tiên cho đến ông Tập đều dành rất ít sự lo lắng cho quyền bất khả xâm phạm của cá nhân, nhưng lo nghĩ rất nhiều cho sự bất khả xâm phạm của một nhà nước vững mạnh. Ông Tôn khuyên rằng: “Nếu chúng ta muốn khôi phục lại tự do của Trung Quốc, chúng ta phải đoàn kết thành một khối vững chắc và sử dụng các phương pháp cách mạng để hàn gắn quốc gia thành một thể thống nhất.” Tập Cận Bình chắc chắn sẽ nhất mực đồng tình với ông Tôn, cũng giống như Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình trước đó.

Vì vậy, lời tuyên bố qua Hội nghị Trung ương 3 dường như có một logic rõ ràng đối với ông Tập: Nếu không có một khối lãnh đạo thống nhất, một nhà nước độc đảng mạnh mẽ, và một nền kinh tế năng động có thể tạo ra sự thịnh vượng, sẽ không có quyền lực. Khi không có quyền lực, Trung Quốc, như đã xảy ra trong hơn một thế kỷ qua, sẽ vẫn bị yếu kém, là nạn nhân của cả người nước ngoài. Như vậy, đột phá thực sự đối với các quy định chính sách gần đây không phải là để bảo vệ quyền tự do cá nhân – ngoại trừ trong chừng mực nới lỏng một chút ràng buộc để có thể cho phép nhiều đổi mới hơn – nhưng chỉ để cho các động cơ kinh tế của Trung Quốc quay ở tần số cao, và để cho Đảng thậm chí nắm quyền như một kẻ giám hộ vững mạnh hơn, hiệu quả hơn trong quá trình phục hồi quốc gia. Đây là mục tiêu của Đặng Tiểu Bình trong thời kỳ hoàng kim của ông ta với câu nói “làm giàu là vinh quang” đã trở thành khẩu hiệu. Nó vẫn còn đúng cho đến hôm nay, mặc dù được nhấn mạnh nhiều hơn đến sự thịnh vượng của quốc gia, thay vì sự giàu có của cá nhân.

[*] Orville Schell là Giám đốc Trung Tâm Quan hệ Mỹ – Trung danh hiệu Arthur Ross tại Tổ chức Châu Á ở New York. Ông là một cựu giáo sư và Trưởng khoa tại Đại học California, trường Báo chí Berkeley. Ông là tác giả của mười lăm cuốn sách, mười trong số đó là về Trung Quốc, đồng thời là người đóng góp nhiều cho việc hiệu đính các tuyển tập. Các cuốn sách gần đây nhất của ông là Giàu có và Quyền lực: Vạn Lý Trường Chinh của Trung Quốc đến thế kỷ 21 (Random House, 2013) (đồng tác giả với John Delury), Tây Tạng ảo: Tìm kiếm Shangri-La từ dãy Himalaya đến Hollywood (Metropolitan Books, 2000), Độc giả Trung Quốc: Những năm tháng cải cách (Vintage, 1998), và Thiên Mệnh: Di sản của Quảng trường Thiên An Môn và thế hệ tiếp theo của giới lãnh đạo Trung Quốc (Simon & Schuster, 1994). Ông cũng là một người cộng tác cho nhiều tạp chí như The New Yorker, The Atlantic, The New York Times Magazine, The Nation, The Los Angeles Times Magazine, Granta, Wired, Newsweek, Mother Jones, The China Quarterly, và The New York Review of Books.

Nguồn: Orville Schell, “Xi Jinping Refills an Old Prescription“, ChinaFile, ngày 18 Tháng 11 năm 2013.

Bản Tiếng Việt © 2013 The Pacific Chronicle

Trần Ngọc Thành – Đảng cộng sản sợ ai?

Trần Ngọc Thành

 

 

Lực lượng nào làm đảng cộng sản sợ?

‘’Cuốc Hội’’ của đảng cộng sản Việt Nam đã kết thúc vở diễn tốn kém hơn 40 ngày, với màn cuối thông qua Hiến pháp 486 phiểu thuận và 2 không bỏ phiếu. Các ‘’đại biểu” do ‘’ dân cử” đã nhập vai ăn ý dưới chiếc gậy chỉ huy của bộ chính trị: Báo cáo, giải trình, chất vấn, trả lời, phỏng vấn, quay phim, truyền hình trực tiếp giống y trang Quốc Hội của các nước dân chủ Âu, Mỹ.

Màn hạ. Tổng Trọng thở phào, ‘’thật sự vui mừng và xúc động” vì vở diễn đã thành công(!). Nợ công lên tới 95% GDP; Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nợ 1,35 triệu tỷ đồng,… đã có 87 triệu con dân và các thế hệ con cháu gánh chịu đâu phải chuyện của đảng và Cuốc Hội. Điều 4 vẫn giữ nguyên, 87 triệu con dân, dưới con mắt đảng vẫn là 87 triệu con cừu, là thức ăn dự trữ để đảng ‘’trường tồn”.

Tại sao các đại biểu cuốc hội đã bình thản bấm nút dù đất nước đang lao xuống vực thẳm?

Có hai lý do:

1- Sự tồn tại của đảng cộng sản gắn liền với quyền lực và túi tiền của họ. Trong con mắt họ, Đất Nước là bản thân họ, gia đình, con cháu họ.

2- Lực lượng đối lập chưa làm họ bận tâm, chưa đe doạ trực tiếp đến cái ghế của họ, ít nhất họ có thể ngồi rung đùi hoặc ngủ gật vài ba khoá nữa. Khi đã hạ cánh an toàn với của chìm của nổi kếch sù, đất nước là của Tàu hay của ai đối với họ không quan trọng.

Đây là điều thực tế để mỗi một chúng ta, những người tranh đấu vì tương lai đất nước, sau khi chờ đợi và thất vọng vì kết quả bỏ phiếu của cái Cuốc Hội này phải bình tĩnh, suy xét và trao đổi kỹ càng để rút ngắn thời gian tranh đấu, tránh được thảm hoạ cận kề cho Dân tộc Việt Nam.

Một thực tế đã xẩy ra, gần hai năm qua nhiều hình thức tranh đấu của các bạn trẻ, của một số Trí thức đã phát triển mạnh so với nhiều năm trước: Nhóm NoU, Nhóm Blogger phản đối 258, nhóm phản đối sửa đổi Hiến pháp 72; Tuyên bố của Hội Đồng Giám Mục, Tuyên bố của Hội Đồng Liên Tôn, Sự lên tiếng mang tính cá nhân của một vài cán bộ đảng lão thành. Nhưng Bộ Chính Trị đảng, BCH Trung ương và Cuốc Hội vẫn kiên định và thản nhiên bấm nút cho cái Hiến pháp mà họ đẻ ra để áp đặt cho Dân Tộc Việt Nam.

Vậy, vài câu hỏi tiếp đặt ra:

Đảng Cộng sản sợ ai? Lực lượng nào lật đổ được chế độ cộng sản?

486 đại biểu bấm nút vì họ sợ mất ghế, mất quyền lợi, chứ khộng sợ những người tranh đấu.

Tại sao họ không sợ những người tranh đấu?

Vì những người tranh đấu chưa đủ mạnh để họ sợ.

Sức mạnh nào uy hiếp quyền lực của họ? Làm thế nào để tạo ra sức mạnh?

Tại Việt Nam sức mạnh đó đã có chưa?

Đây là những câu hỏi nghiêm túc để mỗi người suy nghĩ và thảo luận.

Đã có những ‘’Sách giáo khoa” về tranh đấu bất bạo động qua những cuộc cách mạng dân chủ Đông Âu, Bắc Phi, của phong trào Otpor tại Serbia, kể cả bài học cách mạng tháng 10 Nga và cách mạng tháng 8.1945.

Tôi đồng tình với bài viết của tác giả Vũ Đông Hà: ‘’Sức mạnh của sợ hãi”, sức mạnh của đám đông” đã đăng trên Danlambao.

Tại Việt Nam đã có sức mạnh đó.

Tại Việt Nam đã có lực lượng uy hiếp quyền lực của đảng cộng sản.

Nhưng, những người tranh đấu chưa vận dụng được sức mạnh đó.

Biết vận dụng nó, chúng ta có thể đánh đổ chế độ độc tài trong tương lai rất gần.

Ba nguồn sức mạnh tại Việt Nam hiện nay: Công Nhân, Dân Oan, Cộng đồng Công Giáo.

1- Công nhân

15 triệu công nhân Việt Nam thực tế là những con người hiền lành, họ chăm chỉ, nhẫn nại làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình, họ không hiểu biết đến chính trị, không quan tâm đến ‘’chính trị”. Nhưng, khi sức lao động của họ bỏ ra bị bóc lột thái quá, bị làm nhục, bị quỵt lương, bị lừa dối, họ có thể chấp nhận một lần nhưng không thể chịu nhục nhiều lần và họ đã vùng lên chống lại giới chủ bằng những cuộc đình công. Đó là thái độ chính trị, hành động chính trị.

Chống lại giới chủ tức là chống nhà cầm quyền trong phạm vi xí nghiệp, nhà máy. Vì giới chủ là sản phẩm của nhà cầm quyền bằng những hợp đồng béo bở với sức lao động công nhân rẻ mạt.

Cho đến nay, tại Việt Nam đã có gần 5000 cuộc đình công của công nhân. Có nhiều cuộc đình công trên 10 ngàn, 15 ngàn, 20 ngàn người tham gia. Hãy nhìn hình ảnh của những cuộc đình công với sức mạnh hào hùng, nhưng tại sao họ chỉ giới hạn trong phạm vi xí nghiệp? tại sao họ không xuống đường sánh vai với những người biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng?

Chỉ cần một, hai nhà máy với vài chục ngàn công nhân cùng xuống đường với Trí thức, với tuổi trẻ thì đảng cộng sản có huy động côn đồ từ cả nước để đối phó cũng sẽ bị vô hiệu hoá.

Cần phải thẳng thắn trao đổi rằng, phần lớn những người tranh đấu trong và ngoài nước coi thường công nhân, không chú ý đến họ, coi thường học vấn, coi thường trình độ của họ. Nhưng, thử hỏi rằng ai trong chúng ta đã tổ chức được những cuộc chống đối có 10, 15, 20 ngàn người tham gia.

Hàng chục năm qua họ tranh đấu rất cô đơn. Có hàng ngàn cuộc đình công thắng lợi, nhưng cũng có hàng ngàn cuộc đình công bị đàn áp, thậm chí công nhân bị thương, bị đánh chết.

Đã có hàng trăm trường hợp bị ngộ độc tập thể với hàng trăm, hàng ngàn nạn nhân là công nhân. Nhưng chẳng có tổ chức hay cá nhân tranh đấu nào trong nước lên tiếng ủng hộ họ, bênh vực họ.

Cần phải đến với họ, giúp đỡ họ, vì, trước hết họ cũng là con dân Việt Nam, họ là tầng lớp đáy của xã hội, với mọi chính sách khốn nạn của chế độ độc tài (tăng giá xăng, giá điện, giá sinh hoạt,…) họ là nạn nhân bị ảnh hưởng nhiều nhất.

Nhìn vào từng cá nhân đơn lẻ, họ là những con người yếu ớt, thiếu trình độ học vấn. Nhưng cả khối quần chúng ấy hợp lại, nó có sức mạnh vô biên. Khối quần chúng ấy có chung số phận, chung hoàn cảnh, chung việc làm, hàng ngày sát cánh bên nhau. Khối quần chúng ấy rất dễ tiếp cận.

Đến với họ khi họ đình công, khi họ bị ngộ độc thức ăn, khi họ bị giới chủ hành hạ, bị quỵt lương.

Đến với họ với những lời động viên và cho họ biết nguyên nhân của mọi nguyên nhân tại sao họ bị bóc lột, tại sao họ khổ. Họ hiểu, và chắc chắn họ sẽ không để cho những Trí thức yêu nước xuống đường đơn độc. Họ sẽ làm tròn trách nhiệm công dân khi Tổ Quốc lâm nguy.

Cuộc tranh đấu của giới Trí thức Ba Lan là một bài học quý giá: Năm 1968, giới Trí thức và sinh viên Balan đã tổ chức một cuộc bãi khoá toàn quốc chống chế độ cộng sản, dù có hàng chục ngàn người tham gia nhưng không được giai cấp công nhân ủng hộ, cuộc đấu tranh bị đàn áp và thất bại nặng nề.

Từ thất bại đó, giới trí thức Balan hiểu rõ lực lượng nào, giai cấp nào sẽ đập tan chế độ cộng sản. Năm 1976, khi làn sóng đình công của công nhân nổ ra khắp cả nước, Trí thức Balan đã thành lập ‘’Uỷ Ban Bảo Vệ Công Nhân”. Những Trí thức hàng đầu như giáo sư Geremek, J. Koron, Mazowiecki, A. Michnik, v,v… đã quan tâm đến công nhân, đã xuống các nhà máy giúp đỡ công nhân, giúp họ thảo yêu sách tranh đấu đòi quyền lợi, giúp họ tổ chức đình công, quyên góp gây quỹ ủng hộ đình công,…

Năm 1980, ‘’Công Đoàn Đoàn Kết” ra đời, Chủ Tịch là L. Welesa, một thợ điện, nhưng đằng sau là những Trí thức làm cố vấn. Trí thức Ba Lan không lập đảng chính trị mà tất cả các tổ chức tranh đấu từ trường Đại hoc, bệnh viện, công sở, nhà máy đều mang một tên chung là ‘’Công Đoàn Đoàn Kết”. Khẩu hiệu bất diệt của họ có giá trị muôn đời: MUỐN TỰ DO, PHẢI ĐOÀN KẾT, và Đoàn Kết đã đập tan chế độ cộng sản tại Đông Âu và Liên xô. (Hãy xem lại: ‘’Từ Đoàn Kết Đến Tự Do-You Tube phần I,II,III,IV)


Công Nhân công ty Mỹ Phong đình công.
Công nhân đình công đòi tăng phụ cấp.
Gần 20 ngàn công nhân Cty Linh Trung 1 đình công.


1200 công nhân công ty Wondo Vina bị ngộ độc thức ăn. 2 – Dân Oan,

Nếu không có chính sách cướp đất trắng trợn của đảng cộng sản, Việt Nam sẽ không có Giai Cấp Dân Oan”. Dân oan đã lớn mạnh thành giai cấp. Họ cũng là những nông dân, những tiểu thương hiền lành, chất phác, cũng sợ sệt, yếu đuối. Họ bị đảng cướp đất, cướp nhà, vứt họ ra đường. Ước vọng sinh tồn đã giúp họ trở thành con người mạnh mẽ. Họ có mặt khắp nơi, trên mọi miền đất nước, nhưng thường tụ hội tại Hà Nội và Sài Gòn. Họ không còn gì để mất. Con đường sống của họ là tranh đấu.

Họ đã bày tỏ thái độ chính trị và hành động chính trị.

Chúng ta đã quan tâm đúng mức đến lực lượng này chưa? Sao chúng ta không kết nối với họ được?

Hàng ngàn dân oan Văn Giang, Hàng ngàn dân oan Dương Nội, Hàng ngàn dân oan Hà Tây sao không kết nối được với nhau, sao không phối hợp hành động, không ứng cứu nhau kịp thời khi bị đàn áp? Sao không kết nối được dân oan cả nước? Sao lại để 6 dân oan Văn Giang tranh đấu đơn độc với lũ côn đồ đội lốt công an?

Nếu coi cuộc tranh đấu vì Đất Nước là đúng đắn, không tuỳ hứng, không phải là hình thức trang trí cho lý lịch bản thân thì mỗi người cần phân tích và trả lời nghiêm túc cho những câu hỏi đó, nếu không, đừng trách những ông quan bấm nút trong hội trường Cuốc Hội.


3- Cộng Đồng Giáo Dân.

Đây là cộng đồng mà tôi luôn ngưỡng mộ và hy vọng. Chính sách hận thù tôn giáo, đàn áp tôn giáo của cộng sản đã làm cho cộng đồng Công Giáo đoàn kết chặt chẽ hơn. Nhà Chung, Thái Hà, Tam Toà, Cồn Dầu, Mỹ Yên,… đã làm cho đồng bào công giáo nhìn rõ hơn mặt thật của đảng cộng sản. Tôi không phải là Giáo Dân nhưng tôi rất hãnh diện khi nhắc tên những Người như Linh Mục Ngô Quang Kiệt, Linh Mục Cao Đinh Thuyên, Linh Mục Nguyễn Thái Hơp, Blogger Nguyễn Hữu Vinh,…

Nếu đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo đê nhị (John Paul II) người Balan còn sống thì cộng sản Việt Nam chắc không dám lộng hành với cộng đồng Công Giáo như hiện nay.

Câu nói của Đức Giáo Hoàng John Paul II khi về thăm Tổ Quốc đã khích lệ cộng đồng Công Giáo Balan: ‘’Các Con đừng sợ”;

”Hãy hiện lên linh hồn của Chúa và tái sinh Mặt Đất. Mảnh đất này.”

Chừng nào còn chế độ cộng sản độc tài thì đức tin tôn giáo còn bị hành hạ, chắc chắn Cộng đồng công giáo sẽ đồng hành cùng Dân Tộc tranh đấu cho đức tin, cho một xã hội công bằng.



Ba lực lượng trên là những lực lượng khiến đảng cộng sản phải khiếp sợ.

Làm thế nào để phát huy được sức mạnh đó, kết nối được sức mạnh đó là câu hỏi cho những người tranh đấu nghiêm túc.

Thật ra, từ khi thấy được sức mạnh của công nhân qua những cuộc đình công từ những năm đầu của thế kỷ 21, một số anh chị em trong nước như luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Thị Công Nhân, anh Nguyễn Khắc Toàn, Chị Trần Khải Thanh Thuỷ, anh Lê Trí Tuệ,… đã chú ý đến lực lượng này và thành lập tổ chức để giúp đỡ và bênh vực quyền lợi của công nhân. Ngày 20.10.2006 Công Đoàn Độc Lập Việt Nam đã ra mắt. Ngày 27.10.2006 tại sảnh đường Quốc Hội nước Cộng Hoà Ba Lan đã diễn ra cuộc Hội thảo Quốc tế về ‘’Quyền của Người Lao Động tại Việt nam”. Hội Nghi quy tụ gần 70 đại biểu và khách mời khắp thế giới: Mỹ, Canada, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đức, Tiệp, Úc, và Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động VN được thành lập. Luật sư Lê Thị Công Nhân, khách mời của cuộc Hội thảo bị giữ tại sân Bay nội bài và bị cấm xuất cảnh. Ngày 7.01.2007 Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông do anh Đoàn Huy Chương làm chủ tịch cũng được thành lập.

Tuy nhiên, sau khi được gia nhập WTO và tổ chức hội nghị APEC tại Hà Nội, đảng cộng sản đàn áp khốc liệt những người sáng lập Nghiệp Đoàn. Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Đoàn Huy Chương lần lượt vào tù, một số người phải lánh nạn, Bạch Ngoc Dương, Trần Văn Hoà,… phải sang Mỹ tỵ nạn, Lê Trí Tuệ bị mất tích tại Căm Pu Chia, anh chị em tranh đấu cho quyền lợi của Người Lao động phải bí mật hoạt động và gây dựng phong trào. Gần 4 năm trước, Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng lại bị bắt vào tù vì giúp đỡ cho 10 ngàn công nhân nhà máy Mỹ Phong, Trà Vinh tổ chức đình công bảo vệ quyền lợi.

Nguy hiểm và khó khăn, nhưng giai cấp công nhân cần có tổ chức độc lập của mình để tranh đấu bảo vệ quyền lợi. ‘’Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do” đã ra đời (Hợp nhất các tổ chức tranh đấu vì quyền lợi của công nhân), đã nạp đơn và đang chờ xét làm thành viên của Nghiệp Đoàn Lao Động Thế Giới (ITUC).

Dân Oan cũng cần có người đại diện của mình để kết nối, hỗ trợ và tranh đấu với nhà cầm quyền.

Thời gian qua nhiều anh chị em tranh đấu trong nước đã đến với dân oan, cuộc tranh đấu của dân oan đã được khích lệ, nhưng vì nhiều lý do, sức mạnh tranh đấu của khối này vẫn chưa được phát huy.

Nếu giai cấp công nhân và dân oan được chú ý đúng mức, nếu kết hợp được sức mạnh của ba khối Công Nhân, Dân Oan và Cộng Đồng Giáo Dân chế độ độc tài cộng sản đã tiêu tan, anh chị em Trí thức, các bạn trẻ sẽ không cô đơn khi xuống đường thể hiện trách nhiệm của mình trước Tổ Quốc, trước Dân Tộc.

Lực lượng tranh đấu hải ngoại:

Những năm qua, Cộng đồng Người Việt hải ngoại, các tổ chức, các đảng phái tranh đấu hải ngoại đã hỗ trợ lực lượng trong nước bằng nhiều hình thức. Hiệu quả đến mức nào tuỳ theo cách nhìn và cách đánh giá của từng người.

Theo cá nhân tôi, với tiềm năng như vậy, các Tổ chức tranh đấu hải ngoại đáng lẽ yểm trợ trong nước tốt hơn, hiệu quả hơn. Nguyên nhân? Mọi người đều biết, nhưng khó có thể khắc phục, kể cả bây giờ. Thiếu đoàn kết, đố kỵ, không thống nhất khi hành động đã làm phân tán lực lượng và giảm lòng tin đối với cộng đồng.

Các tổ chức, đảng phái đã lẫn lộn mục tiêu tranh đấu trước mắt và mục tiêu tranh đấu lâu dài. Trước mắt: Cần tập trung, đoàn kết mọi lực lượng và thống nhất hành động để đập tan chế độ độc tài. Khi chế độ độc tài không còn, lúc đó hãy cạnh tranh trong việc lãnh đạo đất nước, xây dựng xã hội dân chủ. Thế nhưng, dù chế độ cộng sản vẫn đang hiện diện, cả dân tộc đang bị kìm kẹp, các tổ chức, đảng phái đã cạnh tranh lẫn nhau, tranh dành ảnh hưởng kể cả trong và ngoài nước. An ninh cộng sản đã lợi dụng điều đó để chia rẽ, đánh phá.

Những anh chị em dấn thân trong nước chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, bị đàn áp, bị tù đày, bị cô lập, bị phong toả mọi đường làm ăn sinh sống. Gia đình và bản thân anh chị em vô cùng cực khổ. Đáng lẽ họ phải được chi viện vật chất tối thiểu để sống, và hoạt động. Nguồn chị viện đó từ hải ngoại rất hạn chế so với yêu cầu của anh chị em trong nước.

Phải chăng cộng đồng người Việt hải ngoại quá nghèo, không có khả năng? Không đúng. Vì hàng năm bình quân có trên 10 tỷ usd kiều hối gửi về nước. Những năm qua, nhiều tổ chức từ thiện, nhà chùa chỉ trong một đợt ngắn đã quyên góp được hàng chục, hàng trăm ngàn đô la. Mới đây nhất, trong một, hai ngày, VOICE do Ls Trịnh Hội tổ chức đã quyên góp được trên 200 ngàn đô la giúp nạn nhân bão Hải Yến tại Philipin.

Cộng đồng người Việt hải ngoại không tin các tổ chức, các đảng phải.

Đề nghị thành lập một ‘’Quỹ yểm trợ dân chủ” độc lâp. Thành phần đứng tên và ban điều hành gồm những nhà hoạt động có uy tín trong các lĩnh vực: văn hoá, khoa học, xã hội, tôn giáo cả trong và ngoài nước. Ví dụ trong nước: Hoà Thượng Thích quảng Độ, Linh mục Phan Văn Lợi, cụ Lê Quang Liêm, Luật sư Nguyễn Văn Đài, Ls Lê Thị Công Nhân, Blogger Nguyễn Hữu Vinh; Ở Hải ngoại có nhà khoa học Dương Nguyệt Ánh, nhạc sỹ Nam Lộc, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, nhạc sỹ Việt Dũng, Ls Trịnh Hội, nhạc sỹ Trúc Hồ, Tiến sỹ Nguyễn Đình Thắng,.. Khi những vị này đứng tên gây quỹ, người cho tiền tin tưởng đồng tiền của họ sẽ được chi đúng mục đích và không bị đảng phái, tổ chức nào lợi dụng. Mỗi khi gây quỹ, các tổ chức, đảng phái cùng vận động và hỗ trợ. Với niềm tin đồng tiền bỏ ra sẽ góp phần vào việc sớm dân chủ hoá Đất Nước, đồng bào sẽ không ngần ngại khi trút hầu bao.

Phối hợp hành động.

Hiện nay, một công việc mà anh chị em tranh đấu trong nước, các tổ chức đảng phái hải ngoại có thể phối hợp hành động:

Để cứu nền kinh tế ‘’định hướng XHCN” đang sụp đổ, đảng cộng sản đang ra sức vận động để gia nhập ‘’Hiệp Ước Thương Mãi xuyên Thái Bình Dương”(TPP).

Nếu nền kinh tế sụp đổ, đảng cộng sản sẽ chết.

Một trong những điều kiện mà các đối tác đặt ra cho Việt Nam là Việt Nam phải có công đoàn độc lập.

Nếu nhà nước cộng sản buộc phải công nhận công đoàn độc lập thì đây là một cơ hội lớn cho giai cấp công nhân Việt Nam. Thời gian rất gấp rút.

Mong các lực lượng tranh đấu trong và ngoài nước vì mục đích chung cùng phối hợp hành động.

Thưa các anh chị, các bạn trẻ,

Là người tranh đấu, là người hành động, trước hiện tình Đất Nước, sau cái ‘’ngày tang khốc cho Dân Tộc Việt Nam” như lời của nhà văn Võ Thị Hảo, tôi nêu quan điểm của mình như một ý kiến để cùng thảo luận, cùng suy ngẫm, nhằm tìm hướng đi và hành động đúng, rút ngắn thời gian cho cuộc đấu tranh.

Warszawa,02.12.2013.

Trần Ngọc Thành