Cười chút chơi -Những mẩu truyện ngắn của cố họa sỹ, nhà thơ,nhà văn Đinh Vũ hoàng Nguyên

laughing

dinh-vu-hoang-nguyen-2-250.jpg
Cố họa sĩ, nhà thơ, nhà văn Đinh Vũ Hoàng Nguyên trong chuyến đi Hà Giang. Photo courtesy of blog Lão Thầy Bói Già.

Cao Như Đảng

Tên của gã là Cao Như Đảng. Tên cúng cơm của gã là Cao Như Đảng. Trong lý lịch gã đề tên Cao Như Đảng. Tức là đích thị trên đời có thật một gã Cao Như Đảng.

Cao Như Đảng biệt tài làm thịt chó, thịt nhanh, nấu khéo, cả làng cả xóm biết tiếng. Ngay cả chó dại, chó chết ốm, chó bị trẹt xe…, gã mà đã nhúng tay pha thịt, ướp hấp, lúc dọn lên mâm vẫn ngon nhức.

Trong xóm nhà ai thịt chó cũng nhờ gã. Ủy ban xã khi nào tiếp khách hay liên hoan, cần thịt chó, lại gọi gã. Bản lĩnh ấy khiến gã với mấy vị trên Ủy ban thành thân tình. Dần dần người ta lấy luôn cái nghề của gã gắn vào tên, gọi gã là Đảng Chó. Gã nghe vậy cũng chẳng lấy gì làm phiền.

Một ngày, Cao Như Đảng mở quán thịt chó.

Hôm khai trương, gã mời cán bộ trong xã đến đánh chén. Rất vui. Nhưng đang dở bữa, thì bí thư xã phát hiện ra cái biển trước quán đề THỊT CHÓ ĐẢNG. Ông bí thư gọi Cao Như Đảng đến, quắc mắt: “Ông ghi thế này là chửi ai?”. Cao Như Đảng nói: “Thì dân vẫn gọi em là Đảng Chó, các bác trên xã cũng gọi em là Đảng Chó, thì giờ mở quán em làm biển thế cho tiện!”. Bí thư bảo: “Lời nói gió bay, nói mồm với nhau không có gì làm bằng, chứ ghi lên thế này thì mặt mũi đảng còn cái chó gì nữa?”. Gã đành “dạ dạ…”.

Cái biển sau, rút kinh nghiệm, Cao Như Đảng đề: ĐẢNG THỊT CHÓ.

Bí thư xã đến ăn, nhìn biển mới, gật gật gù gù bảo: “Sửa thế này được, để cái giống ấy sau chữ đảng, cho đỡ bị hiểu lầm!”.

Đang bữa, bí thư sực nghĩ, giật mình, mới quát: “Dỡ biển xuống ngay, khẩn trương, phản động, muốn đi tù à?”. Cao Như Đảng méo mặt hỏi: “Cả nhà nhà em toàn người ngoan và ngu, có biết gì mà phản động?”. Ông bí thư hạ giọng, thầm thì: “Nước mình là một đảng lãnh đạo, cấm có cái chuyện hai ba đảng, ông ghi thế này nhỡ ai hiểu là ông lập đảng đối lập, thì toi!”. Cao Như Đảng bảo: “Chả nhẽ thằng bán thịt chó và mấy thằng ăn thịt chó mà cũng bị thành đảng à?!”. Bí thư bảo: “Ai chả biết thế! Nhưng cái nước mình nó thế! Mà thôi, tốt nhất thời này cái gì đã đảng thì đừng chó, mà đã chó thì đừng đảng!”. Gã đành “dạ dạ…”.

Sau bữa đấy, Cao Như Đảng lại thay biển mới, còn đề mỗi THỊT CHÓ.

Nhưng lắm lúc gã tấm tức: đến cái giống chó còn đi không đổi họ, ngồi không đổi tên, lúc biến thành thịt vẫn gọi là chó, chẳng nhẽ chỉ do nước này có độc cái đảng mà thành mình phải kị húy, phải kiêng cả tên cha sinh mẹ đẻ đặt cho, thì hóa chẳng bằng chó!

Nhà Cuối Ngõ là một truyện ngắn khác diễn tả một cộng đồng rất nhỏ tại một xóm nghèo. Trong Nhà Cuối Ngõ tác giả nối các mối quan hệ nửa kín nửa hở của các nhân vật vào với nhau và bằng một giọng văn hài hước rất thông minh, Đinh Vũ Hoàng Nguyên đặt người đọc ngồi trước câu chuyện, thấy từng chi tiết, từng phân cảnh và trên hết thấy được tính nết của từng con người rất khác nhau trong cái cộng đồng người nhỏ bé ấy.

*******************************

Viết ngắn 5

Điện thoại di động rung, thấy Mạnh gọi điện cho mình, Mạnh chưa kịp mở mồm thì mình độp luôn:

– Anh hỏi chú Mạnh một câu, với thành quả mười năm cầm quyền như thế, giờ về vườn chú có thấy ngượng không?

– Ơ, ơ… tao đéo phải Mạnh đấy, tao là Nguyễn Văn Mạnh!

– Ồ, thế nhầm à, xin lỗi, hihi…

Viết ngắn 9

Mình đi ăn thịt chó ở Vĩnh Phúc. Trong mâm có phó chủ tịch xã, tuổi khoảng ngoài bốn mươi. Rượu ngon, thịt chó ngon. Nhân câu chuyện về tình hình an ninh ở địa phương, phó chủ tịch xã nói:

– Báo cáo các bác, số nghiện hút phát hiện được ở địa phương bọn em là 31 đồng chí, còn đảng viên chi bộ bọn em có 16 thằng…

Chuyện thật 100%. Thằng Nguyên mà nói điêu thì làm con chó!

Viết ngắn 54

Kim lãnh tụ chết. Dân mình gọi Kim là “thằng”.

 Còn cái đảng của dân do dân vì dân trong lời chia buồn gọi Kim lãnh tụ là “đồng chí”.

 Để dung hòa, có lẽ nên gọi Kim lãnh tụ là “thằng đồng chí”, để vừa có tính đảng, vừa có tính nhân dân.

 Viết ngắn 13

Mình có quen một cậu là đảng viên, nhà ở một huyện ngoại thành Hà Nội. Có lần mình vô tình nghe nó với thằng bạn là lái xe đường dài nói chuyện, thằng bạn hỏi:

– Thế ông đợt này ở nhà làm gì?

– Thì vẫn công tác đảng thôi.

– Phải kiếm việc gì mà làm, chứ vô công rồi nghề thế thì chết!

———————————————

Vài nét về Đinh Vũ Hoàng Nguyên

Gã tên thật là Đinh Vũ Hoàng Nguyên. Trên cõi Net xưng danh là laothayboigia. Mình biết gã chưa lâu, độ một năm giở lại. Ngoài đời, gã đen đúa, rắn rỏi, mặt đầy sẹo, tàn tích của những cú ngã xe sau những trận say bất tử.
Rảnh rỗi, mình hay gọi gã đi bú diệu. Mình dạng thần bia, còn gã thánh diệu. Hợp nhau ở cái khoản bú đớp, phét lác, luyên thuyên. Trận nào cũng say tan tác. Nhiều bận gọi, gã chối không đi, bởi nhiều nhẽ, tỉ như cầm cọ, trông con, đánh toa lét. Nhưng thực ra gã ngại. Như có lần say, gã tỉ tê, ông mời nhiều quá, tôi ngại. Rồi gã cũng cố công mời mình một bữa ra trò, bia cỏ thôi, ăn uống mà cứ nhìn nhau áy náy. Hôm đó còn nhớ, gã đi cùng Quốc Trọng Xuân tóc đỏ, Đình Toán nhiếp ảnh gia, Tử Huyến dịch sĩ, thi sĩ ở Trần, Ninh mãi chẳng ra Hồ và một vài cao nhân khác chẳng kịp nhớ tên. Hóa ra gã chơi tuyền hàng khủng.
Một dạo nghe đâu gã chuyên tâm luyện Yoga. Mình biết gã luyện vì gì. Gã mắc chứng tật rất ác về thị lực. Thường thì không sao, mỗi lần cầm cọ vẽ thì mắt cứ mờ tịt đi sau khoảng 30 hoặc 45 phút. Thế nên, họa phẩm của gã rất nhọc nhằn. Nhưng được bức nào thì ra bức ấy. Trong mắt kẻ mù màu như mình, tuyền trác tuyệt. Gã khoe, được giá lắm, tuyền bốn, năm ngàn, không có bán.
Thêm một lí do nữa là gã mắc chứng dạ dày rất nặng. Đó là hậu quả của những trận rượu vã từ thửo hàn vi cũng như sự nhiệt tình, hết mình, nể bạn của gã lúc hiện tại. Một ngày, theo gã thống kê, điện thoại có tới gần hai chục cuộc gọi nhậu. Một ngày một trận nhậu thôi cũng đã chết. Đằng này có bữa, gã chạy sô đến ba. Vẫn tại cái sự nhiệt tình, hết mình và nể bạn. Nhẽ vì thế mà người ta yêu quý gã.
Đinh vũ hoàng Nguyên và nhạc sỹ Nguyễn minh Tuấn ( phía bên phải) 

Mắt kém nên gã vẽ chậm. Năng lượng sáng tạo trong gã chửi đôi con mắt thậm tệ. Gã giải phóng cho nó bằng cách cầm bút. Gã vẽ đời bằng bút bi và ít chì màu. 
Trước tết, gọi gã làm bữa rượu tất niên. Gã bảo ốm, đang nằm viện. Hỏi thăm bệnh tình thì gã chỉ bảo cảm xoàng. Mình không tin lắm. Cảm xoàng ai đi nằm viện? Hối hả của công việc lẫn tết tư làm mình cũng quên bẵng.
Qua tết, anh em ngồi tụ bạ khai xuân, nhớ đến gã nên bốc máy gọi mời. Gã bảo vẫn đang nằm viện. Bỏ mẹ rồi, dứt khoát không phải bệnh xoàng. Hỏi nằm đâu để đến thăm, gã đáp viện E, khu Cầu Giấy. Rượu tàn, gọi gã để xem phòng ốc lối lang. Gã không nghe mà nhắn một tin cụt ngủn ” ông đừng đến, tôi phải đi tia xạ”. Thông tin đó và linh cảm mách cho mình một sự thật chẳng mấy an lành.
Ít lâu sau đó, Mai Thanh Hải gọi, Nguyên nó sắp chết, đến thăm đi. Hải còn nhắn cả địa chỉ ” phòng cấp cứu, BV Vạn Xuân, tầng 6, toà nhà 7 tầng trong BV Y học cổ truyền Bộ Công an, 278 Lương Thế Vinh, Hà nội”. Hóa ra gã đã chuyển viện. Ngay chiều đó chuẩn bị đến thăm thì nhận được tin nhà, cậu út ham vui mà ra đi mãi mãi.
Chưa kịp hoàn hồn thì hôm nay lại nhận được tin gã cũng đi nốt. Thế là anh em, bạn bè lần lượt bỏ ta đi. Không biết bao giờ thì tới lượt mình???
Sin trào Nguyên nhé. Hẹn gặp lại bên mâm rượu ở cõi Niết Bàn.

 

Tâm thư từ bỏ Đảng CSVN của nhà báo Phạm Chí Dũng

Hoan hô nhà báo Phạm chí Dũng!

Theo blog Thụy My

1459881_569620873092933_1765937592_n.jpg

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 12 năm 2013

Tôi là nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, đảng viên từ năm 1993, viết tâm thư này nhằm khẳng định một quyết định khó khăn trong đời mình:

Tôi chính thức từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xuất thân trong một gia đình có truyền thống cách mạng, được đào tạo từ môi trường quân đội và nhiều năm công tác trong hệ thống chính quyền, đảng cùng nhiệm vụ bảo vệ an ninh, tôi đã từng tràn đầy nhiệt huyết đóng góp cho một đất nước xã hội chủ nghĩa công bằng và bác ái. Với trách nhiệm của một đảng viên, tôi đã chưa từng tham nhũng hoặc bị sa đọa lối sống.

Song tất cả những gì mà Đảng Cộng sản thể hiện vai trò “lãnh đạo toàn diện” trong ít nhất một phần tư thế kỷ qua đã khiến cho tôi, cũng như nhiều đảng viên khác, đi từ thất vọng đến tuyệt vọng về lý trí lẫn tình cảm.

Kết quả của cơ chế “lãnh đạo toàn diện” của Đảng Cộng sản, mà thực chất là tư tưởng một đảng cố hữu, chính là nguồn cơn sâu xa và nguồn dẫn trực tiếp khiến cho xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng không thể khác hơn là thảm cảnh như ngày hôm nay.

Chưa bao giờ tham nhũng lại trở thành một quốc nạn ngập ngụa từ cấp trung ương đến tận cơ sở, từ trắng trợn đến vô liêm sỉ và dã man đến thế. Chưa bao giờ các nhóm lợi ích kinh tế và nhóm thân hữu chính trị, cũng như sự cấu kết giữa hai nhóm này lại biện chứng và sâu đậm đến mức bất chấp dân tình đến như vậy. Cũng chưa bao giờ hố phân hóa giàu nghèo trong xã hội ta lại thê thiết và tàn nhẫn như hiện thời.

Những độc đoán về chính trị đã tất yếu dẫn đến hậu quả nạn độc quyền, đặc quyền và đặc lợi, trục lợi. Hậu quả ấy đã đẩy nền kinh tế vào thế vong tồn và cạn kiệt hầu hết các nguồn tài nguyên của đất nước. Cuộc trục lợi không thương tiếc đó đã, đang và sẽ dồn ép hậu quả khủng khiếp của nó lên đầu 90 triệu người dân Việt và toàn bộ lực lượng vũ trang.

Chính vào lúc này, nền kinh tế Việt Nam đang đặt một chân vào vực thẳm khủng hoảng, và chỉ cần thêm ít năm nữa thôi, cơn ung hoại sẽ lan ra toàn thân để không thể một liều thuốc đặc trị nào còn tác dụng.

Ung hoại kinh tế lại đang phá nát cơ thể đạo đức xã hội. Xã hội suy đồi toàn diện. Chưa bao giờ đạo lý và văn hóa người Việt, dân tộc Việt lại trở nên thảm thương và bĩ cực như giờ đây. Tình người và mối dây ràng buộc lỏng lẻo còn lại giữa con người với nhau luôn và sẽ phải đối mặt với nguy cơ cắn xé lẫn nhau.

Ai và cơ chế nào đã gây ra thảm cảnh không thể cứu vãn như thế? Trong tâm trạng tuyệt vọng của một đảng viên, những người như tôi đã phải nhận chân rằng điều được xem là sự “lãnh đạo toàn diện” của Đảng Cộng sản đã thất bại, thất bại một cách cố ý và quá cay đắng. Không những không hướng đến tinh thần công bằng và bác ái, làm tròn nghĩa vụ một nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, Đảng Cộng sản hiện thời chỉ còn mang bóng hình và hơi thở của các nhóm lợi ích.

Lời thề trung thành với Đảng Cộng sản của tôi đã bị thực tế đau đớn thẳng thừng phủ nhận.

Đảng và những người như tôi, tất cả đều sinh ra từ nhân dân và vì nhân dân. Nhưng một khi Đảng đã không còn đại diện cho quyền lợi của đại đa số người dân, vì sao chúng tôi phải tiếp tục trung thành với Đảng?

Có sinh có diệt, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản ắt phải thấy quy luật trời đất đó đang ứng nghiệm vào chính họ. Bởi thái độ vô cảm, vô trách nhiệm và tư tưởng tư hữu bất chấp dân sinh, rất nhiều đảng viên cao cấp đã đẩy xã hội vào tâm thế phản lại ý nghĩa thiêng liêng của Tổ quốc.

Đã đến lúc những người như tôi cần nhận chân rằng vai trò của Đảng Cộng sản không phải là vĩnh viễn. Cũng không thể gìn giữ lòng trung thành tuyệt đối với một lý tưởng chỉ còn là câu chữ cửa miệng.

Không nhằm mục đích chống Đảng, tôi thành tâm cho rằng thái độ từ bỏ Đảng Cộng sản là một trong những con đường ngắn nhất để gần gũi hơn với nhân dân và quyền lợi người nghèo.

Trong tận cùng tâm thức, một công dân tốt có ý nghĩa hơn nhiều so với một đảng viên tồi.

Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng
Địa chỉ: 298/4 Nguyễn Trọng Tuyển, Phường 1, Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh
ĐT: 01235459338
Email: vietleminhquan@gmail.com

____________________________________

ĐƠN XIN RA ĐẢNG

Kính gửi: Đảng ủy Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM

Tôi là Phạm Chí Dũng, đảng viên từ năm 1993, hiện công tác và sinh hoạt đảng tại Viện Nghiên cứu phát triển, trực thuộc Ủy ban nhân dân TP.HCM.

Tôi làm đơn này đề nghị Đảng ủy Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM hướng dẫn thủ tục và giải quyết cho tôi được ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lý do: Tôi tự nhận thấy Đảng Cộng sản không còn đại diện và phục vụ cho quyền lợi của đại đa số nhân dân, và điều đó đi ngược với tôn chỉ mục tiêu ban đầu của Đảng cùng lời thề của tôi khi vào Đảng. Do vậy tôi không còn phù hợp với vai trò và nghĩa vụ một đảng viên trong Đảng Cộng sản.

Trân trọng.

Ngày 5 tháng 12 năm 2013
Người làm đơn

Phạm Chí Dũng

Phản ứng việc ông Lê Hiếu Đằng bỏ đảng

Ông Lê Hiếu Đằng

Ông Lê Hiếu Đăng tuyên bố ly khai Đảng Cộng sản vì đảng này đã ‘biến chất’, ‘tư lợi’

Diễn biến một quan chức lãnh đạo thuộc Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam có hơn 40 năm tuổi Đảng vừa tuyên bố chính thức ly khai với Đảng Cộng sản thu hút sự quan tâm trong dư luận.

Hôm 05/12/2013, ông Huỳnh Ngọc Chênh, cựu phóng viên của tờ Thanh Niên chào đón tin ông Lê Hiếu Đằng, Phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ra khỏi Đảng và nói:

“Chuyện ra khỏi Đảng của ông rất cần thiết, nó tạo ra một tiếng vang, nhất là trong thời điểm này, khi mà Đảng vừa ra Hiến pháp bắt toàn dân phải đi theo và đặt toàn dân dưới quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng,” ông Chênh lên tiếng từ Sài Gòn.

Theo blogger này, việc ông Đằng ra khỏi Đảng khác với nhiều trường hợp ly khai khác trước đây vì theo ông Chênh ông Đằng từ bỏ đảng trên tư cách là một quan chức và người có nhiều năm đóng góp cho chế độ, nhưng đã quyết định từ bỏ các công danh, lợi lộc.

Cho đến nay vẫn chưa có luật về thành lập và đăng ký các đảng, còn Đảng viên Đảng CSVN muốn rời khỏi đảng thì đó là quyền mà trong điều lệ Đảng CSVN cũng đã cho phép, cho nên cái điều ấy là điều bình thường. Còn việc họ có lập được đảng hay không thì đấy lại là một vấn đề khác

TS Lê Đăng Doanh

Ông Huỳnh Ngọc Chênh nói thêm: “Ông là người của Đảng, đang hưởng bao nhiêu quyền lợi thì ông lại tuyên bố bước ra khỏi Đảng, thì nó sẽ có những tác dụng lớn để Đảng xem lại đường lối của mình.”

Hôm thứ Tư, ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc TPHCM, công bố trên mạng Internet một văn bản tuyên bố ông rời bỏ Đảng Cộng sản và cho biết nguyên nhân.

“Tôi tên Lê Hiếu Đằng là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hơn 40 tuổi đảng,” tuyên bố viết.

“Nay tôi tuyên bố công khai ra khỏi đảng CSVN vì: ĐCSVN bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân.”

Tiếp nhận tin này, ông Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, cho rằng đây là một quyết định mà ông Đằng đã dự kiến trước.

Vị tướng nói với BBC hôm thứ Năm từ Hà Nội: “Đấy chỉ là quyết định cá nhân của cụ ấy, chứ không có gì đặc biệt. Bởi vì cụ ấy đã tuyên bố lần trước là thành lập một đảng mới,

“Thì đây là ý của cụ ấy muốn ra đảng để thành lập một đảng mới, lúc trước cụ ấy đã có ý kiến như thế rồi, bây giờ người ta phản ứng cụ ấy, thì cụ ấy xin ra Đảng thôi.”

Cũng hôm thứ Năm, trả lời câu hỏi liệu đảng viên đảng cộng sản rời bỏ đảng này để ra ngoài thành lập đảng mới có bị coi là phạm pháp ở Việt Nam hay không, Tiên sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ nói:

“Cho đến nay vẫn chưa có luật về thành lập và đăng ký các đảng, còn Đảng viên Đảng CSVN muốn rời khỏi đảng thì đó là quyền mà trong điều lệ Đảng CSVN cũng đã cho phép, cho nên cái điều ấy là điều bình thường. Còn việc họ có lập được đảng hay không thì đấy lại là một vấn đề khác…

‘Chưa hề đăng ký’

Ông Lê Hiếu Đằng

Ông Lê Hiếu Đằng đề nghị chính quyền VN chấp nhận đa đảng, đa nguyên và kêu gọi lập chính đảng mới

Tuy nhiên, theo Tiến sỹ Doanh, chính Đảng Cộng sản đã được thành lập mà chưa hề đăng ký ở đâu cả.

Ông nhấn mạnh: “Việt nam chưa có luật về đảng và bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không hề có đăng ký, và cũng chưa hề có một cái luật về Đảng Cộng sản Việt Nam.”

“Bình thường ở các nước, một đảng được lập ra thì sau đó phải đăng ký để hoạt động, và như ở nước Đức thì nếu Đảng đó có được trên 5% phiếu được bầu vào Quốc hội, thì sẽ được có những chế độ giúp đỡ về tài chính, rồi ủng hộ các hoạt động của họ trong khuôn khổ Nghị viện và ở ngoài xã hội.”

Cũng hôm 05/12, blogger Nguyễn Lân Thắng nói với BBC về việc ông Đằng ‘bỏ đảng’. Ông đưa ra bình luận từ Hà Nội:

“Trước hết tôi xin chúc mừng ông Lê Hiếu Đằng đã trở về với nhân dân. Những việc của ông Lê Hiếu Đằng làm từ trước tới nay gây ra rất nhiều tranh cãi, và chính bản thân tôi tôi cũng chưa thể tin được ông khi mà ông vẫn còn đứng ở trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản.”

Trước hết tôi xin chúc mừng ông Lê Hiếu Đằng đã trở về với nhân dân. Những việc của ông Lê Hiếu Đằng làm từ trước tới nay gây ra rất nhiều tranh cãi, và chính bản thân tôi tôi cũng chưa thể tin được ông khi mà ông vẫn còn đứng ở trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản

Blogger Nguyễn Lân Thắng

Theo blogger này diễn biến bỏ đảng của cựu quan chức Mặt trận Tổ quốc là ‘một chuyện rất lớn’ và cũng ‘sẽ có ‘một tác động rất lớn về mặt xã hội’.

“Và (việc này) tác động chính đến những người Đảng viên vẫn đang còn nấn ná, vẫn đang còn chưa chịu dứt mình ra khỏi những danh vọng, những quyền lợi ở Đảng Cộng sản và tôi nghĩ đây sẽ là một bước ngoặt rất lớn để thay đổi xã hội Việt Nam.”

Hôm thứ Năm, blogger Huỳnh Ngọc Chênh cho rằng đang có những dấu hiệu làm thay đổi bản chất của Đảng Cộng sản, ông nói:

“Số lượng có thể tăng lên, nhưng cái chất thay đổi và sự tồn tại của đảng này không phải là sự tồn tại của đảng cộng sản, mà nó là một đảng gì đó mà giới mới vào sẽ dần dần hướng vào hướng đó và sẽ đặt lại tên gì đó, nếu như họ còn tiếp tục tồn tại.”

Vào tháng Tám năm nay, ông Lê Hiếu Đằng đã bày tỏ quan điểm trong một bài viết được công bố rộng rãi trên mạng đề nghị Việt Nam chấp nhận chế độ đa nguyên đa đảng và kêu gọi thiết lập một chính đảng mới.

Quan điểm của ông nhận được sự quan tâm và ủng hộ của nhiều giới, trong đó là các nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền và vận động cho nhà nước pháp quyền cùng xã hội dân sự, tuy nhiên ông cũng đã gặp phải sự công kích mạnh mẽ từ truyền thông do Nhà nước quản lý, với một số ý kiến gọi quan điểm của ông là ‘chệch hướng’, ‘lệch lạc’ hay ‘tha hóa tư tưởng’.

@bbc

Lâm Thế Nguyên – Phải có một thái độ mạnh mẽ, dứt khoát với đảng CSVN

Lâm Thế Nguyên (ĐVDVN)

Ngày 28/11/2013, Quốc hội nhà nước Cộng sản Việt Nam (CSVN) biểu quyết thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992. Nội dung Hiến pháp “mới” chỉ khẳng định thêm tham vọng độc tài quyền lực cố hữu của đảng cầm quyền. Nguyện vọng của đa số nhân dân đã không được đáp ứng, ý kiến của nhiều người trí thức có tâm huyết đã không được lắng nghe, và lời kêu gọi của những người Cộng sản cấp tiến cũng đã không được quan tâm. Việt Nam đã không có được cơ hội để dân chủ hóa một cách hòa bình, và đảng CSVN đã cố tình bỏ qua thêm một cơ hội rất tốt để “hạ cánh an toàn”. Trước thực trạng này, chúng ta cần phải có một thái độ mạnh mẽ, dứt khoát hơn với đảng CSVN.

Nếu đảng CSVN nhân cơ hội kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII để chấp nhận ý kiến của giới trí thức và sửa đổi Hiến pháp, để dân chủ hóa đất nước từ Lập pháp sang Hành Pháp và Tư Pháp thì đảng Cộng sản sẽ được nhân dân, thế giới hoan nghênh. Với thiện chí đó, đảng CSVN mặc nhiên được tồn tại trong xã hội dân chủ sắp tới và vai trò tiếp nối sau này chỉ là khả năng thích ứng với xã hội dân chủ mà họ sẽ phải tự điều chỉnh. Nhưng thực tế diễn ra hoàn toàn trái ngược.

Đảng CSVN đã hiến pháp hóa quyền lực lãnh đạo độc tôn của đảng cầm quyền ở mức độ cao nhất. Đảng CSVN đồng thời công khai thách thức cả thế giới khi vừa được chấp nhận vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc thì đã nhanh chóng khẳng định tính độc tài của chế độ một cách chính thức nhất.

Thời gian sẽ chứng minh là các cam kết đã có với thế giới sẽ gây áp lực được với nhà cầm quyền, buộc họ phải nhượng bộ các đòi hỏi nhân quyền hay không. Nhưng kinh nghiệm quá khứ và thái độ sơ cứng của đảng CSVN hiện nay cho thấy là sẽ KHÔNG có bất cứ hy vọng gì trong thời gian tới, ngoại trừ một vài hành động để đánh lừa dư luận khi cần thiết như đã có. Vài “động thái” đầy mâu thuẫn với hiện trạng nhân quyền không thể được xem là bằng chứng cho sự tiến bộ nhân quyền của chế độ độc tài.

Nhưng dù độc tài đến đâu, với nội dung bản Hiến Pháp vừa được thông qua một cách trâng tráo, và với tình trạng bảo thủ độc tài hiện nay, đảng CSVN sẽ phải tiếp tục đối đầu với vô số áp lực xã hội, kinh tế và chính trị. Đảng CSVN có thể kiểm soát nhà tù song không thể kiểm soát suy nghĩ và khát vọng của con người. Nhân dân Việt Nam ngày nay đã có đủ kinh nghiệm và kiến thức để nhận thức và hành động. Khi nhu cầu tự nhiên của xã hội bộc phát với nhiều hình thức đấu tranh chống tham ô, bất công khác nhau, với bản năng sinh tồn, nhân dân sẽ không ngần ngại hành động, kể cả bằng vũ lực như đã có ở nhiều nơi. Một khi mất ổn định chính trị, tình trạng “tức nước vỡ bờ” sẽ xảy ra và khả năng kiểm soát của đảng cầm quyền sẽ có thể mất đi nhanh chóng. Sự sụp đổ của chế độ sẽ khởi đầu từ đó.

Muốn chấm dứt chế độ độc tài toàn trị và xây dựng một chính thể dân chủ đa đảng, chúng ta cần khẳng định một số nguyên tắc không thể thiếu trong tiến trình đấu tranh giải trừ tình trạng độc tài toàn trị hiện nay. Đó là: Muốn có Dân Chủ thì phải chấm dứt tình trạng độc đảng một cách dứt khoát — yêu cầu không thể thiếu, và không thể tương nhượng. Đấu tranh ngoại vận hay phát triển xã hội dân sự là nhu cầu không thể thiếu của Việt Nam nhưng đó không phải là giải pháp duy nhất. Nói cách khác, đó là những yếu tố CẦN nhưng chưa ĐỦ.

Thế giới chỉ có thể giúp lên tiếng can thiệp cho một vài trường hợp vi phạm nhân quyền nổi tiếng nhưng không phải sự lên tiếng nào cũng có kết quả. Danh sách nhiều người đấu tranh dân chủ tiêu biểu đang bị cầm tù nhiều năm qua chứng tỏ thực tế đầy bi quan này. Giá trị dân chủ đang được công nhận một cách phổ quát trên thế giới nhưng sẽ không có nước nào hy sinh quyền lợi nước họ cho công cuộc dân chủ hóa Việt Nam. “Quốc tế” chỉ thay đổi thái độ và tỏ thái độ hậu thuẫn tích cực khi họ nhìn thấy sự thay đổi gần kề của chế độ chính trị Việt Nam. Hơn nữa, quốc nạn Việt Nam bao gồm nhiều vấn đề vượt ra khỏi phạm vi nhân quyền thuần túy.

Để ngăn ngừa cảnh tang thương, đổ vỡ cho đồng bào và đất nước, chúng ta không nên khích động bạo lực, chiến tranh hay khủng bố song dân chủ không thể có chỉ bằng hình thức kiến nghị, kêu gọi hay chỉ trích suông. Đối với những chế độ độc tài đã chiếm và giữ chính quyền bằng bạo lực, Dân chủ chỉ có thể giành lại khi đa số nhân dân nước đó sẵn sàng đối đầu với sự đàn áp bằng bạo lực. Ngày nào chúng ta còn khoan nhượng với chế độ độc tài, ngày đó đảng cầm quyền sẽ tiếp tục không nhân nhượng. Ngày nào còn tiếp tục kỳ vọng chế độ độc tài sẽ tôn trọng nhân quyền, vì bất cứ lý do gì, là ngày đó chúng ta còn vô tình cho tập đoàn thống trị thêm cơ hội để tiếp tục tồn tại.

Những nghiên cứu, phân tích về chủ nghĩa và bản chất chế độ Cộng sản đã đủ. Cơ hội hòa bình dành cho đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã đủ. Điểm còn thiếu là một quyết tâm sắt đá: đảng CSVN phải dứt khoát trả lại quyền lãnh đạo đất nước cho toàn dân, hoặc bị giải thể.

Trong tinh thần xiển dương nhân bản và dân chủ, chúng ta luôn tránh tất cả hình thức trả thù báo oán nhắm vào toàn bộ cán bộ, đảng viên Cộng sản. Bởi lẽ, phần lớn cũng là nạn nhân của một hoàn cảnh chính trị.

Mục tiêu của chúng ta là chấm dứt chế độ độc tài toàn trị để thành hình một chính thể dân chủ đa đảng, thì vấn đề chỉ là thay đổi cơ chế và thành phần lãnh đạo quốc gia. Chúng ta sẽ không lật đổ chế độ đương quyền như họ đã làm với chế độ VNCH vào năm 1975. Chính phủ mới cần phải lưu dụng quân đội, công an và bộ máy hành chánh đang có để có thể có đủ điều kiện ổn định tình hình quốc gia một cách nhanh chóng, đồng thời tránh gây những mâu thuẫn, đổ vỡ có thể làm phương hại đến an ninh quốc gia và sự phát triển của đất nước sau đó. Vấn đề đáng quan tâm của giai đoạn chuyển thể là làm sao loại trừ được các thành phần xấu trong quân đội, công an và chính quyền để những người tốt trong các bộ phận này có thể hành xử chức năng chuyên môn hầu phục vụ quốc gia, thay vì đảng Cộng sản.

Khi đảng cầm quyền đã hoàn toàn không trân trọng thiện chí hòa bình của những người đấu tranh dân chủ ôn hòa thì con đường duy nhất là giải thể bộ máy độc tài đó, chứ không kêu gọi sửa sai hay đổi mới gì nữa!

Lâm Thế Nguyên (ĐVDVN)

Mọi ý kiến đóng góp xin vui lòng gửi về: lienlac@vidan.org

Thiếu tướng Lâm Văn Cương – “Cận cảnh” nguyên nhân Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sụp đổ

Thiếu tướng Lâm Văn Cương [*]

 

 

Dân Luận: “Thiếu tướng” Lâm Văn Cương là em khác cả cha lẫn mẹ với thiếu tướng Lê Văn Cương, người viết bài “Cận cảnh nguyên nhân Liên Xô tan rã” đã được đăng trên Tuần Việt Nam. Ông Lâm Văn Cương được giao nhiệm vụ chuẩn bị những phân tích lý giải sự sụp đổ của Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để đăng ViệtNamNet ngày 19/8/2041. Vì quá yêu thích Dân Luận nên ông đã gửi cho chúng tôi bản thảo để đăng trước. Xin giới thiệu tới độc giả gần xa…

Nhân kỷ niệm 96 năm Cách Mạng Tháng Tám (19/8/1945 – 19/8/2041), bài viết này nhằm cung cấp một cái nhìn cận cảnh về sự sụp đổ của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Sự sụp đổ của chính quyền XHCN Việt Nam cuối những năm 10 đầu những năm 20 của thế kỷ XXI là một sự kiện đặc biệt quan trọng của khu vực Đông Nam Á, là một tổn thất hết sức to lớn của những người cộng sản trong quá trình hiện thực hóa học thuyết Mác-Lênin. Sự sụp đổ của chính quyền XHCN Việt Nam vào cuối 2021 đã làm thay đổi căn bản cục diện chính trị khu vực Đông Nam Á cũng như khu vực Châu Á- Thái Bình Dương.

Trong giai đoạn 1945 – 1954, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nằm trong vòng vây của thực dân Pháp. Trong giai đoạn đặc biệt khó khăn này, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa non trẻ lâm vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã vượt qua thách thức hiểm nghèo để tiếp tục phát triển, với kết quả là kết thúc chiến tranh năm 1954 bằng trận Điện Biên Phủ và sau đó là Hiệp định Geneve.
Sau hơn bảy mươi lăm năm tồn tại, phát triển chậm chạp, vào cuối những năm 20 của thế kỷ XXI, Cộng hòa XHCN Việt Nam đã vượt qua 4 cuộc chiến (45 -54, 54 – 75, Biên giới Tây Nam, Biên giới phía bắc), từ một nước thiếu đói thành một trong những nước xuất khẩu hang đầu về gạo và cà phê. Từ một nước với năng lực hải quân hạn chế đã có hạm đội tàu ngầm, tàu chiến, trở thành một thế lực trong khu vực Đông Nam Á. Với sức mạnh to lớn về quân sự và kinh tế, Cộng hòa XHCN Việt Nam đủ sức đương đầu với hệ thống tư bản thế giới và có khả năng ngăn chặn mọi âm mưu, hoạt động hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc của người anh em Trung Quốc để bảo vệ hòa bình khu vực và thế giới.

Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ khi đã đạt đến đỉnh cao.

Tại sao?

Đã có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn bài viết, công trình chuyên khảo và sách lý giải vấn đề này, trong đó các cuốn sách của những người trong cuộc đưa ra lời giải có sức thuyết phục nhất. Nhân kỷ niệm 96 năm Cách mạng tháng tám (19/8/1945 – 19/8/2041), bài viết này nhằm cung cấp một cái nhìn cận cảnh về sự sụp đổ của Cộng hòa XHCN Việt Nam.

1. Chính quyền XHCN Việt Nam đã có đóng góp hết sức to lớn vào sự phát triển của khu vực và thế giới.

Trong nửa sau của thế kỷ XX, trên thế giới có hơn một chục Đảng Cộng Sản cầm quyền, hình thành một hệ thống XHCN hùng mạnh đủ sức kiềm chế mọi hành động đơn phương, hiếu chiến chống phá cách mạng của chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ.

Chính nhờ sự tồn tại của hệ thống XHCN hùng mạnh, hàng trăm dân tộc bị nô dịch, áp bức đã vùng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, làm suy sụp chủ nghĩa thực dân cũ, làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới. Xét đến cùng, sự hình thành và phát triển của phong trào không liên kết là thành quả của cuộc đấu tranh vô sản – tư sản trên phạm vi toàn cầu, là thành tựu to lớn của các Đảng Cộng sản cầm quyền trong thế kỷ XX. Nói cách khác, chính những người cộng sản, trước hết là các Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước thuộc hệ thống XHCN, đã ghi tạc một mốc son chói lọi vào tiến trình phát triển văn minh nhân loại.

Các Đảng Cộng sản cầm quyền đã xây dựng được một hệ thống xã hội hùng mạnh (hệ thống XHCN), trên nhiều lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội tốt đẹp hơn, ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB). Cho đến nay, sau 20 năm Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ, vẫn có 9% người Việt được hỏi ý kiến cho rằng ở chủ nghĩa xã hội nhiều điều tích cực hơn là tiêu cực.

Thật trớ trêu, chính các Đảng Cộng Sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản Việt Nam, lại để mất quyền lãnh đạo, Cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Việt Nam mất quyền lãnh đạo, Nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam sụp đổ mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

Thực chất, Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp và chủ yếu là Bộ Chính trị, BCH Trung Ương đã tha hóa, đã tự đánh mất mình và làm cho Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ. Chính những người lãnh đạo cao nhất, các ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSVN đã thừa nhận điều đó. Tất nhiên, hoạt động chống phá của các thế lực chống cộng quốc tế thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” cũng là một nguyên nhân làm cho Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ, nhưng chắc chắn không phải là nguyên nhân chính, không phải là nguyên nhân chủ yếu.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam đã tha hóa, biến chất như thế nào?

Sơ bộ có thể nêu ra một số biểu hiện lớn sau đây:

– Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Đi liền với nó là các bệnh tật: độc đoán, chuyên quyền, không chấp nhận những ý kiến khác với mình; coi thường tập thể, coi thường cấp dưới, tự cho mọi ý kiến của mình là chân lý buộc mọi người phải tuân theo, coi những ai có ý kiến ngược lại là chống đối, thậm chí là thù địch, khi cần thiết bảo vệ “cái uy” của mình, họ sẵn sàng đối xử với đồng chí, đồng đội như đối với kẻ thù. Kết quả là trong sinh hoạt, đảng mất hết sinh khí, mất hết tính chiến đấu. Sinh hoạt đảng trở nên tẻ nhạt, khô cứng, độc thoại một chiều. Trong điều kiện đó nhiều đảng viên trung kiên, trong sáng không được trọng dụng, cố nín nhịn để tồn tại, những kẻ cơ hội, nịnh bợ có điều kiện được thăng tiến.

– Hai là, Bộ Chính trị, BCH Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã quan liêu xa rời thực tiễn, để mất quan hệ máu thịt giữa Đảng CSVN với nhân dân Việt Nam. Tệ quan liêu làm cho những người lãnh đạo các cấp của Đảng CSVN xa rời thực tế, không có hiểu biết đúng đắn hiện trạng xã hội mà mình đang lãnh đạo, quản lý. Họ thờ ơ trước những nguyện vọng chính đáng của quần chúng, thậm chí không có rung động, phản ứng trước những nỗi thống khổ, oan ức của một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có cả một bộ phận đảng viên, cán bộ cấp dưới.

– Ba là, những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao giữ vai trò chủ chốt với những biểu hiện nổi bật: Sống ích kỷ, đặt lợi ích của bản thân, gia đình và người thân lên trên lợi ích của Đảng, của nhân dân; cục bộ địa phương, kéo bè kéo cánh đưa những người thân tín với mình, kể cả những người yếu về năng lực, kém về đạo đức, lối sống vào những vị trí lãnh đạo để làm vây cánh, che chắn bảo vệ mình; tham ô, sống xa hoa, nói một đằng làm một nẻo, cá biệt còn tha hoá, suy đồi về đạo đức, lối sống.

giang-seo-phu.jpg
Một khuôn mặt đại diện của lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước thời đóTrên đây là những biểu hiện nổi bật chủ yếu sự thoái hoá của một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là các cán bộ chủ chốt ở cấp cao.

Chỉ khi nào sự thoái hóa, biến chất diễn ra tại trung tâm quyền lực (chóp bu) của Đảng thì mới trở thành nguy cơ đối với Đảng, đó là đêm trước của sự tan rã, sụp đổ. Đảng Cộng sản Việt Nam và các “phiên bản” Đông Âu của nó thuộc trường hợp này.

Thông thường các biểu hiện trên không tồn tại biệt lập, mà luôn song hành, có quan hệ với nhau, tác động với nhau, có lúc cái này làm tiền đề, điều kiện cho cái kia tồn tại và phát triển. Những biểu hiện thoái hoá nói trên, không bỗng nhiên xuất hiện, mà có một quá trình từ chớm nở như một ung nhọt nhỏ rồi phát triển qua nhiều giai đoạn. Những bệnh tật này lặng lẽ tích dồn liên tục trong nhiều tháng, nhiều năm làm Đảng mất sức chiến đấu, thiếu nhạy bén, không đưa ra được đường lối, quyết sách đúng đắn, khả thi. Trong Đảng CSVN đã thực sự có phân hoá: Một bộ phận cán bộ, đảng viên giàu lên nhanh chóng do đặc quyền, đặc lợi, đại bộ phận sống khó khăn; nhiều đảng viên nói một đằng làm một nẻo, trong cuộc họp nói khác ngoài cuộc họp, suy nghĩ một đằng phát biểu một nẻo. Tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng dần dần nguội lạnh, nhiều đảng viên trở nên thờ ơ trước những vấn đề chính trị có quan hệ đến vận mệnh của Đảng CSVN.

Theo Nguyễn Phú Trọng, có thể chia 3,6 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam làm 4 loại: 1, Những đảng viên chân chính thường chiếm tỷ lệ nhỏ, 2. Những người thực hiện, chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng như cái máy (chiếm khoảng hơn 96 %); 3. Những kẻ cơ hội, xu thời, nịnh bợ (phần lớn trong bộ máy công quyền); 4. Những người im lặng (phần lớn họ là những người có hiểu biết nhưng sợ bị trù dập nên họ giữ im lặng, không dám phát biểu).

Trần Xuân Bách, nguyên ủy viên Bộ Chính trị ĐCS ViệtNam, Bí thư trung ương Đảng (1986 – 1990) cho rằng: Tồn tại hai Đảng trong Đảng Cộng sản Việt Nam: Một đảng của hàng chục triệu đảng viên bình thường và một đảng của những quan chức chóp bu trong hệ thống đảng, nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Những đảng viên nắm quyền lực ở cấp cao ngày càng xa rời, cách biệt với hàng chục triệu đảng viên bình thường. Số đảng viên này, về thực chất, không đại diện và bảo vệ lợi ích của giai cấp, của dân tộc, mà chỉ tìm mọi cách bám giữ quyền lực vì lợi ích cá nhân của họ.

Do những bệnh tật kể trên, đại bộ phận quần chúng nhân dân giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng CSVN, thờ ơ đối với những vấn đề chính trị trọng đại của đất nước, thậm chí có một số trông chờ, mong muốn có sự thay đổi. Chính đó là trạng thái trong Đảng Cộng sản Việt Nam và trong xã hội Việt Nam vào cuối những năm 10, đầu những năm 20 của thế kỷ XXI, đêm trước của sự sụp đổ, tan rã (2019 – 2021).

3. Thử bàn về các nguyên nhân

Về hoạt động chống phá của Mỹ và các thế lực chống cộng quốc tế thì rõ ràng, có đầy đủ thông tin, tư liệu để khẳng định. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác.

Mặt trái của cơ chế thị trường cũng là một nguyên nhân. Nhưng nếu quá nhấn mạnh, cường điệu mặt trái của cơ chế thị trường thì khó lòng giải thích được những thoái hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời kỳ Mao Trạch Đông, Trường Trinh, Lê Duẩn lãnh đạo, vì thời Mao, thời Trường Trinh, thời Lê Duẩn chưa có kinh tế thị trường.

Nghiên cứu kỹ quá trình thoái hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam, kể cả những đảng cầm quyền rồi mất quyền và những đảng hiện nay còn cầm quyền, chúng tôi xin nêu ra hai vấn đề để trao đổi, thảo luận.

– Một là, về mặt tổ chức, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa xây dựng được cơ chế hữu hiệu để đảm bảo dân chủ thực sự trong sinh hoạt Đảng. Đảng CSVN đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong suốt quá trình hoạt động. Theo chúng tôi, đây là điểm khởi thuỷ, nguồn gốc của mọi biểu hiện khác về sự thoái hoá của Đảng CSVN (quan liêu, tha hoá về tư tưởng chính trị, thoái hoá về đạo đức, lối sống, chia rẽ mất đoàn kết…). Ở đâu và khi nào trong sinh hoạt đảng thể hiện sục sôi dân chủ, thì đảng có sức sống mãnh liệt. Đảng Cộng sản Việt Nam dưới thời lãnh đạo của Hồ Chí Minh là một ví dụ điển hình.

Xét đến cùng, do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng nên cơ quan lãnh đạo của Đảng CSVN thiếu thông tin nhiều mặt về một vấn đề, đặc biệt là những vấn đề hệ trọng quan hệ đến sinh tồn của Đảng. Thiếu dân chủ cho nên trong sinh hoạt đảng thường là độc thoại một chiều từ những người lãnh đạo cao nhất, thiếu hẳn thông tin phản hồi từ dưới lên. Thiếu dân chủ, nên những đảng viên ưu tú, nhạy bén, sắc sảo, thông minh không có chỗ để thể hiện ý tưởng của mình. Trong một tổ chức như vậy, bộ tham mưu cao nhất không có đủ thông tin nhiều chiều, toàn diện, do đó những quyết định về đường lối, sách lược thường không phù hợp với thực tiễn, thậm chí trái ngược với quy luật, ngược với hiện thực khách quan. Phải chăng, đó là một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến tình trạng nghị quyết, chỉ thị rất nhiều nhưng việc đưa vào cuộc sống không được bao nhiêu. Theo ngôn ngữ y học, thuốc rất nhiều nhưng không có loại đặc trị, nên bệnh tình sẽ ngày càng trầm trọng.

Dưới góc độ lý thuyết hệ thống, có thể xem một tổ chức đảng như một hệ thống. Để đảm bảo cho hệ thống đó tồn tại bền vững, nhất thiết phải có trao đổi thông tin. Nếu thiếu trao đổi thông tin (theo 2 chiều thuận – nghịch, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong) thì sớm muộn hệ thống đó sẽ bị đổ vỡ để chuyển sang một trạng thái khác. Thiếu dân chủ trong sinh hoạt đảng, tức là thiếu trao đổi thông tin (trên xuống, dưới lên, trong đảng ra ngoài xã hội và ngược lại). Nếu trạng thái này kéo dài thì sẽ sinh ra thoái hóa của hệ thống đảng dưới nhiều biểu hiện như đã trình bày ở trên. Nếu không khắc phục được, để kéo dài, thì sớm muộn sự thoái hóa của một số đảng viên ở vị trí chủ chốt sẽ dẫn đến sự thoái hóa của đảng cầm quyền.

Hãy trở lại với Đảng Cộng sản Việt Nam để chúng ta hiểu rõ vấn đề dân chủ trong đảng. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng được ghi rõ trong Điều lệ, Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, qua nhiều lần thay đổi, vẫn là một văn bản quy định rất chặt chẽ, rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của đảng viên. Tại sao không ngăn chặn được những biến thái lệch lạc của Nguyễn Phú Trọng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Sinh Hùng, không ngăn chặn được hành vi lạm quyền, lộng quyền và phản bội của Nguyễn Tấn Dũng, Vũ Đức Đam? Cớ sao hàng triệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam không có phản ứng gì khi Vũ Đức Đam tuyên bố giải tán Đảng? Không thể nói cách khác, thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng và không có cơ chế giám sát quyền lực hữu hiệu, đặc biệt là thiếu hẳn cơ chế giám sát hoạt động của Tổng bí thư, của Bộ Chính trị là nguồn gốc sinh ra tệ lạm quyền, lộng quyền của những người lãnh đạo Đảng CSVN, làm cho đảng có một xác thịt to lớn (hàng chục triệu đảng viên), nhưng không có hồn, không có sức sống.

Thực tế xác nhận: Đảng CSVN trước đây không có lực lượng nào và không có cơ chế nào thực hiện giám sát và phản biện hoạt động của Tổng Bí thư, của Bộ Chính trị. Một nhóm nhỏ này, có khi chỉ dăm ba người nắm quyền lực tối cao, tự tung tự tác, ai có ý kiến khác sẽ bị họ chụp cho cái mũ là “chống đối”, “là phản động”, “là chống Đảng”, thậm chí là “phản bội Tổ quốc”…

Cũng do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà các thành viên trong tổ chức có quan hệ với nhau rất lỏng lẻo, đảng mất hết sức sống, tính chiến đấu chỉ còn lại trong nghị quyết.

Do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng, mà một thời gian dài trước khi sụp đổ, tan rã, trong Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như trong các Đảng Cộng sản ở các nước XHCN ở Đông Âu đã lặng lẽ diễn ra một quá trình phân hóa trong đảng, cả trong sinh hoạt Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị. Các đảng viên nghĩ một đằng phát biểu một đằng, không dám thể hiện chính kiến của mình ngay cả đối với vấn đề quan hệ đến sinh tồn của Đảng. Trong cuộc họp người ta nói một đằng, mà phần lớn không thật lòng, ngoài cuộc họp người ta nói riêng với nhau lại khác, cấp trên áp đặt, cấp dưới điều chỉnh hành vi cho phù hợp với cấp trên, mọi thông tin chính thức từ trên xuống và đặc biệt là từ dưới lên đều thiếu chân thật. Chưa đến một tháng trước khi tan rã, mất quyền lãnh đạo, những người lãnh đạo của một Đảng Cộng sản cầm quyền vẫn khẳng định sức chiến đấu của đảng mình, vẫn tuyên bố tuyệt đại bộ phận nhân dân còn ơn đảng, theo đảng, tin đảng và tuyệt đại đa số đảng viên là tin cậy, trung thành…!

Cũng do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà Đảng CSVN đã mắc sai lầm trong việc đánh giá cán bộ, đào tạo cán bộ, tuyển chọn và bố trí, sử dụng cán bộ vào vị trí chủ chốt trong Đảng, trong Nhà nước. Thiếu dân chủ là bà đỡ của thói nịnh bợ, luồn lọt, là điều kiện tốt cho chủ nghĩa thực dụng, cơ hội vị kỷ phát sinh tồn tại trong đảng, nhất là ở các cơ quan lãnh đạo cấp cao. Ai cũng biết cán bộ quyết định tất cả, và thực tiễn cũng xác nhận điều đó. Nhưng Đảng CSVN phạm sai lầm trong công tác sử dụng, bố trí cán bộ.

– Hai là, sự thoái hóa của Đảng CSVN là do các đảng viên, trước hết và chủ yếu là các đảng viên trước hết giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp cao, chưa đủ độ chín muồi về mặt chính trị, chưa thực sự giác ngộ về giai cấp, về lý tưởng cộng sản. Khi kết nạp mọi đảng viên đều tuyên thệ về sự giác ngộ lý tưởng cộng sản của mình, hứa hẹn một lòng một dạ phấn đấu vì lợi ích của giai cấp, của những người lao động, nguyện trung thành với lý tưởng cộng sản… Nhưng khi đã vào đảng rồi thì họ thiếu rèn luyện và trong hoạt động thực tiễn, họ dần dần xa rời những lời tuyên thệ, hứa hẹn của mình. Đó là quá trình tha hóa của đảng viên, và kéo theo sự tha hóa của đảng. Tất nhiên, không phải mọi đảng viên đều diễn ra quá trình tha hóa đó.

Tất nhiên, còn nhiều vấn đề thuộc về nguyên nhân và điều kiện làm cho Đảng CSVN thoái hóa, nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ. Ở đây chúng tôi không có điều kiện để trình bày tất cả, chỉ nêu ra những nhân tố quan trọng nhất, cơ bản nhất. Có thể xem nó là nguồn gốc của mọi thoái hóa của Đảng cầm quyền nói chung, của Đảng CSVN nói riêng.

* * *Năm 2041, nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân loại tiến bộ nói chung, kỷ niệm 96 năm Cách mạng tháng tám (19/8/1945 – 19/8/2041). Chủ nghĩa xã hội đã tồn tại 76 năm tại nước Việt Nam (1945 – 2021) và Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ đã 20 năm (2021 – 2041). Người Việt Nam nói riêng, nhân loại tiến bộ nói chung, còn phải tiếp tục nghiên cứu lý giải một cách cặn kẽ và có sức thuyết phục về những vấn đề liên quan đến sự sụp đổ của Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Sau chừng ấy thời gian, cho phép chúng ta khái quát ba vấn đề lớn sau:

– Một là, từ Cách mạng tháng tám đến khi sụp đổ của Cộng hòa XHCN Việt Nam (1945 – 2021) có thể phân kỳ như sau: 1. Thế hệ cách mạng đầu tiên do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đưa nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ vượt qua thử thách “ngàn cân treo sợi tóc” 1945 – 1954 để tồn tại và phát triển; 2. Thế hệ lãnh đạo thứ hai do Lê Duẩn lãnh đạo đã đánh đuổi đế quốc Mỹ và thống nhất đất nước; 3; Thế hệ lãnh đạo thứ ba ở Việt Nam từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu là những người đã tham gia chiến tranh chống Mỹ và họ đã đưa Việt Nam từ một nước thiếu đói trở thành nước xuất khẩu gạo và cà phê hàng đầu; 4. Thế hệ lãnh đạo thứ tư với hạt nhân là Nguyễn Tấn Dũng, Vũ Đức Đam, là những người sinh ra trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ và ít nếm trải thử thách của chiến tranh.

Chính thế hệ lãnh đạo thứ tư đã làm cho Đảng CSVN mất quyền lãnh đạo, làm cho Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ.

– Hai là, thế hệ lãnh đạo thứ tư ở Việt Nam với Nguyễn Tấn Dũng, Vũ Đức Đam là hạt nhân đã nắm trong tay mọi quyền lực và mọi nguồn lực của đất nước, nhưng họ không thuận theo lòng dân, không được dân ủng hộ nên đánh mất toàn bộ cơ đồ sự nghiệp và bị lịch sử vứt vào sọt rác.

Hóa ra, việc thâu tóm được mọi quyền lực và mọi nguồn lực quốc gia không khó bằng nắm được lòng dân. Những ai không nắm được lòng dân thì họ đã thất bại ngay khi đang nắm quyền lực.

– Ba là, các đảng cộng sản đang cầm quyền và chưa cầm quyền cần rút ra bài học từ thất bại của Đảng CSVN, từ sự tan rã của Nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam để vượt qua chính mình vì hạnh phúc của nhân dân và sự hưng thịnh của đất nước.

Sai lầm và khuyết điểm rất khó tránh, nhưng không thực sự nguy hiểm. Điều nguy hiểm nhất là không dám thừa nhận sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là không có quyết tâm chính trị để tránh sai lầm, khắc phục khuyết điểm.

Thiếu tướng Lâm Văn Cương (Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược Bộ Quốc Phòng)