16 bí mật thú vị về “ông vua phần mềm” Bill Gates

Nhiều năm liền duy trì vị trí số 1 thế giới, nhưng đằng sau vị tỷ phú tài ba này còn có những “bí mật” thú vị mà không phải ai cũng biết.

Theo bảng xếp hạng 100 tỷ phú giàu nhất thế giới 2013 được Bloomberg công bố, tỷ phú Mỹ Bill Gates đã soán ngôi Carlos Slim để giành vị trí số 1 với tổng giá trị tài sản lên đến 72,9 tỷ USD. Nhiều năm liền duy trì vị trí số 1 thế giới, nhưng đằng sau vị tỷ phú tài ba này còn có những “bí mật” thú vị mà không phải ai cũng biết.1. Bill Gates bán chương trình máy tính đầu tiên với giá 4200 USD từ năm 17 tuổi

Từ nhỏ, Bill Gates đã thể hiện niềm đam mê với máy tính và công nghệ thông tin. Gates học trung học tại trường tư Lakeside, một trường dự bị cho các học sinh giỏi ở Seattle.

Khi đang học lớp 8 (13 tuổi), nhân dịp hội phụ huynh của trường dùng một khoản tiền từ việc bán các đồ dùng đã qua sử dụng để mua một máy đánh chữ cơ điện Model 33 ASR và một máy tính của hãng General Electric (GE) cho các học sinh trong trường, Gates đã tỏ ra vô cùng thích thú khi lập trình trên máy tính của GE bằng ngôn ngữ BASIC.

Và thay vì đăng ký vào các lớp học toán như dự định ban đầu, Gates đã tự động chuyển sang lớp tin học với quyết tâm theo đuổi niềm đam mê đến cùng. Ông đã viết chương trình đầu tiên trên máy tính của GE là các thao tác của trò chơi tic-tac-toe, một chương trình cho phép người chơi thi đấu với máy tính.

Năm 1972, Bill Gates đã bán chương trình máy tính đầu tiên khi mới 17 tuổi, và thu về 4200 USD.

Gates thể hiện niềm đam mê máy tính từ khi còn nhỏ

2. Gates không phải là người đặt tên cho MicrosoftĐối với hầu hết mọi người, Bill Gates là người giàu nhất thế giới và là người sáng lập ra công ty phần mềm lớn nhất thế giới – Microsoft. Tuy nhiên, trên thực tế, Bill Gates và Paul Allen là những người đồng sáng lập ra Microsoft và cái tên Microsoft là do… Allen nghĩ ra.

“Bức ảnh lịch sử” nơi Microsoft được khai sinh bởi 2 nhà sáng lập tài năng

3. Đã từng bị hãng CCC (Computer Center Corporation) “cấm vận”Hãng máy tính hàng đầu thế giới – CCC đã từng ban “lệnh cấm” đối với 4 học sinh trường Lakeside bao gồm: Bill Gates, Paul Allen, Ric Weiland và Kent Evans về tội “sử dụng hệ máy tính của hãng này trong suốt mùa hè và đã khai thác các lỗi trong hệ điều hành để nhận được thêm thời gian sử dụng hệ máy tính PDP-10”.

4. Thi SAT đạt 1590/1600

Bill Gates tốt nghiệp trường Lakeside vào năm 1973. Sau đó, ông tham dự kỳ thi SAT (Scholastic Aptitute Test) và đạt 1590/1600 điểm. Trước năm 1990, điểm thi SAT 1590 tương đương với chỉ số IQ là 170. Mùa thu năm 1973, Gates đỗ vào Đại học Havard.

5. Trở thành tỷ phú thế giới ở tuổi 31

Trong một bài trả lời phỏng vấn tại trường Đại học, Gates cho biết ước mơ của ông là trở thành triệu phú ở tuổi 30. Tuy nhiên, ông đã trở thành tỷ phú ở tuổi … 31.

Năm 1986, khi Microsoft phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu với mức giá 21USD/ cổ phiếu, Gates đã trở thành tỷ phú.

Năm 1992, tạp chí Forbes công bố Gates là người giàu nhất ở Mỹ với tổng tài sản là 6,3 tỷ USD.

Năm 1995, Gates trở thành người giàu nhất thế giới – danh hiệu mà ông liên tục duy trì suốt 14 năm (từ 1995 đến 2009), ngoại trừ năm 2008 ông đứng thứ 3 thế giới sau 2 tỷ phú Warren Buffet (Mỹ) và Caros Slim (Mexico).

6. Được nữ hoàng Anh phong tước hiệp sĩ danh dự

Tháng 3/2005, ở tuổi 48 tuổi, Gates được nữ hoàng Anh Elizabeth II phong tặng hiệp sĩ danh dự (KBE – Knight Commander of the Order of the British Empire) vì những đóng góp của ông trong việc giảm nghèo và cải thiện sức khỏe ở các nước đang phát triển. Theo các báo cáo thống kê, trên thế giới đã có 6 triệu người được cứu sống nhờ vaccines và các chương trình chăm sóc sức khỏe do quỹ từ thiện của Gates tổ chức.

7. Nhận bằng tiến sĩ Harvard ở tuổi 52 dù chưa hề … tốt nghiệp đại học

Bill Gates rời đại học Harvard năm 1975, khi mới học năm thứ 2. Sau 32 năm cống hiến cho ngành công nghiệp máy tính, ngày 7/6/2007, Chủ tịch Microsoft đã đến ngôi trường mà ông bỏ học giữa chừng cách đây 30 năm để nhận tấm bằng cử nhân và tiến sĩ danh dự ngành Luật (LL.D) vì những đóng góp to lớn cho sự phát triển nhiều mặt của thế giới, nhất là công nghệ thông tin.

Tại lễ phát bằng, ông Derek Bok, người điều hành buổi lễ, đọc tuyên bố rồi quay sang hài hước hỏi: “Làm sao anh giành được danh hiệu đó nếu cố học thêm 2 năm nữa nhỉ?”. Gate hào hứng chia sẻ: “Có lẽ năm sau tôi sẽ đổi nghề và thật là vui vì bây giờ tôi đã có thể viết bằng cấp của mình vào sơ yếu lý lịch”.

Bill Gates “hào hứng” ngắm ngía tấm bằng Tiến sĩ danh dự ngành luật

8. Là “người hùng” trong mắt Mark Zuckerberg – ông trùm FacebookTỷ phú trẻ Mark Zuckerberg coi nhà đồng sáng lập Microsoft như thần tượng của mình và tin rằng ông là một trong những người có tầm nhìn vĩ đại nhất của ngành công nghệ. “Từ khi tôi lớn lên, Bill Gates đã là người hùng của tôi. Bill Gates đã điều hành một trong những công ty có sứ mệnh quan trọng nhất mà tôi biết. Sứ mệnh đó là đưa máy tính tới mọi gia đình” – tỷ phú trẻ của Facebook, Zuckerberg, trả lời trên sân khấu sự kiện TechCrunch Disrupt gần đây.

Mark Zuckerberg chia sẻ ảnh thần tượng “ông vua phần mềm” từ khi còn nhỏ

9. Đã từng bị bắt vì tội … vượt đèn đỏ

Năm 1977, Bill Gates bị cảnh sát bắt ở New Mexico vì tội vượt đèn đỏ và không có giấy phép lái xe.

Bill Gates năm 1977 khi bị bắt

10. Kết hôn vào ngày đầu nămGates kết hôn với bạn gái, nữ đồng sự xinh đẹp, Melinda French tại Hawaii vào ngày 1 tháng 1 năm 1994. Hiện nay họ đã có với nhau 3 người con: 2 gái,1 trai.

11. Được các con gọi bằng biệt danh “ông bố tỷ phú”

Gates chia sẻ rằng ở nhà các con thường gọi ông là “ông bố tỷ phú”. “Lũ trẻ thường cùng nhau hát bài Billionaire của Bruno Mars và Travis McCoy để trêu chọc tôi” – Gates hài hước cho biết.

12. Đã có những phán đoán sai lầm

Nếu bạn nghĩ rằng, Gates là một con người vĩ đại và những người vĩ đại luôn luôn đúng thì bạn cần phải xem xét lại.

13. Rất hiếm khi dùng facebook

Mặc dù có quan hệ khá thân thiết và gần gũi với tỷ phú trẻ Mark Zuckerberg – ông trùm facebook, nhưng Bill Gates cũng thú nhận rằng ông “rất lười vào facebook” và chỉ thường xuyên hoạt động trên Twitter. Lý do chính ông đưa ra là “Có quá nhiều lời đề nghị trên mạng xã hội mà tôi không thể từ chối. Do đó cách tốt nhất là tôi ít sử dụng mạng xã hội”

14. Đóng thuế nhà cao nhất thế giới

Ngôi nhà của ông vua phần mềm nằm trên khu đất rộng 6.000 mét vuông, nằm giữa một bên là triền đồi và một bên là hồ Lake Washington, gần thành phố Seattle, trị giá khoảng 120 triệu USD. Hàng năm, tỷ phú Bill Gates phải chi trả tới 1.036.409 USD tiền thuế nhà đất cho căn nhà xa xỉ này.

Căn nhà của tỷ phú Microsoft bên hồ Lake Washington

15. Vẫn rửa bát mỗi tối

Trong cuộc phỏng vấn với Đài truyền hình ABC, Australia, có độc giả hỏi Bill Gates rằng “Liệu có phải ông đã quên mất tiền là gì không mà chỉ định để lại cho bốn người con mỗi người có 10 triệu USD?” Gates đáp rằng ông đã mất cảm giác với rất nhiều thứ trên đời.

“Lâu lắm tôi chưa đi dọn cỏ trong vườn”, ông đùa. “Tôi quên mất cảm giác ấy nó thế nào rồi. Nhưng tối nào tôi cũng rửa bát, chắc chắn đó là một thói quen đáng để duy trì”.

16. Nộp thuế 6 tỷ USD nhưng chỉ để lại cho các con … 0,05% tài sản

Gates nói rằng ông không muốn để lại cho con cái quá nhiều tiền vì ông muốn các con “tự do chọn lựa con đường mình sẽ đi”. “Tôi nghĩ đứa trẻ nên lớn lên với nhận thức rõ ràng rằng mình phải tự tạo ra con đường của chính mình, tự chọn lấy công việc mình sẽ theo đuổi. Chúng phải hiểu không phải cứ muốn bao nhiêu tiền cũng được,” ông nói.

“Tôi thực sự nghĩ rằng để lại cả đống tiền cho các con là có hại cho chúng chứ chẳng phải có lợi, đặc biệt là nếu bạn bè nhìn vào chúng chỉ thấy một đống tiền, mà bản thân chúng nhìn vào mình cũng có suy nghĩ tương tự”.

Tỷ phú Bill Gates muốn các con “tự đi trên đôi chân của mình”

“Trong mỗi con người vĩ đại luôn có những bí mật hết sức bình thường”. Quả thực điều này hoàn toàn đúng với Bill Gates, một tỷ phú, một nhà từ thiện vĩ đại và trên tất cả là một người chồng, người cha rất đỗi giản dị, bình thường.

NHÀN LÊ/KHÁM PHÁ
@Doanh nhân Saigon

Lượm lặt tin 3-12-13

Gần 55.000 doanh nghiệp đóng cửa

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tiếp tục tăng, song quy mô vốn lại thấp hơn những thời kỳ trước.

Bộ Kế hoạch & Đầu tư cho biết sau 11 tháng, cả nước có 54.932 doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động, tăng hơn 8% so với cùng kỳ năm ngoái. Việc nhiều doanh nghiệp không trụ lại được cho thấy tình hình kinh tế vẫn còn khó khăn, sức cầu của thị trường thấp. Trong khi đó, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động từ đầu năm đến nay mới đạt hơn 12.700 đơn vị.

Về số thành lập mới, có hơn 6.800 đơn vị “khai sinh” trong tháng vừa qua, tổng vốn đăng ký gần 37.600 tỷ đồng. So với tháng trước, số doanh nghiệp muốn gia nhập thị trường tăng gần 15% nhưng lại giảm 7% về vốn, cho thấy các doanh nghiệp mới đa số có quy mô vốn nhỏ hơn những doanh nghiệp thời kỳ trước đây.

Tính chung 11 tháng, cả nước có hơn 71.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn gần 359.500 tỷ đồng, tăng 10% về lượng nhưng vẫn giảm 15% về vốn so với cùng kỳ năm ngoái.

Lĩnh vực công nghiệp, một trong những trọng tâm của nền kinh tế tháng 11 qua cũng tiếp tục tăng trưởng. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 11 ước tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo, sản xuất và phân phối điện đều tăng trên 8%, chỉ ngành khai khoáng là tiếp tục giảm. Lũy kế 11 tháng, chỉ số IIP tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước.

—————————————————-

Amazon giao hàng bằng máy bay không người lái

Trong cuộc phỏng vấn với CBS hôm qua, CEO Amazon – Jeff Bezos tiết lộ họ đang thử nghiệm dùng máy bay không người lái để giao hàng. Việc này sẽ giúp hãng giảm thời gian vận chuyển xuống còn 30 phút.

Theo Bezos, thiết bị này có tên Octocopter, có thể mang vật nặng tối đa 2,3 kg đến địa điểm cách trung tâm xử lý đơn hàng của Amazon 16 km. Vì thế, thời gian giao hàng có thể rút ngắn xuống còn 30 phút. Hãng thương mại điện tử lớn nhất thế giới có thể bắt đầu sử dụng công nghệ này trong 4 hoặc 5 năm tới, do còn chờ sự chấp thuận của Cục Hàng không liên bang (FAA).

Bezos cho biết: “Chúng tôi sẽ thực hiện ý định này. Nó sẽ rất vui đấy”. Thời gian gần đây, Amazon đã nghĩ ra rất nhiều biện pháp rút ngắn thời gian giao hàng để thu hút khách. Trong đó, những người tham gia chương trình “79 USD một năm” của hãng còn được cam kết giao hàng cả vào Chủ Nhật.

Amazon-8777-1385959673.jpg

Amazon đang thử nghiệm máy bay giao hàng không người lái. Ảnh: Bloomberg

Amazon đầu tư rất mạnh vào phân phối và giao nhận. Đây là chi phí lớn nhất quý III của hãng khi tăng tới 35% lên 2,03 tỷ USD. Tuy nhiên, nhà đầu tư lại đánh giá cao việc này, khi cổ phiếu Amazon tăng 57% năm nay, bất chấp việc kinh doanh thua lỗ.

Amazon đã có 89 kho hàng và dự định mở thêm 7 kho nữa trong năm nay, Họ cũng sẽ tăng số nhân viên tại 17 trung tâm xử lý đơn hàng lên 5.000 và thuê 70.000 nhân viên thời vụ trong các dịp nghỉ lễ.

Thông báo của Bezos đến đúng thời điểm thương mại điện tử đang bùng nổ. Trong ngày hội mua sắm Black Friday, giá trị mua hàng qua mạng tại Mỹ đã tăng 15% lên kỷ lục 1,2 tỷ USD khi nhiều người tiêu dùng ngán ngẩm cảnh xếp hàng ngoài phố, hãng nghiên cứu ComScore cho biết. Trong đó, Amazon là website có lượt truy cập đông nhất.

Mua sắm trực tuyến được dự đoán bùng nổ trong hôm nay – ngày thứ Hai đầu tiên sau lễ Tạ Ơn. Ngày này được gọi là Cyber Monday do rất nhiều hãng bán lẻ cùng giảm giá hàng đặt qua Internet. ComScore dự đoán doanh thu ngày này có thể đạt 2 tỷ USD.

———————————————————–

Cây lai cà chua – khoai tây

Giống cây mới có tên gọi TomTato có thể cho thu hoạch cùng lúc 500 quả cà chua anh đào và nhiều củ khoai tây trắng vừa được giới thiệu ở Anh.
8C9172235-tomtato4x3-blocks-de-9864-4953
TomTato có thể cho thu hoạch cùng một lúc cà chua anh đào và khoai tây trắng. Ảnh:CBS

TomTato giống như một cây cà chua bình thường. Tuy nhiên, khi kéo cây lên khỏi đất thì có thể thấy những củ khoai tây trắng phát triển từ rễ.

Loại cây này sống trong một mùa, khi cả cà chua và khoai tây cùng chín vào một thời điểm. Hãng trồng cây Thompson and Morgan cho biết TomTato có thể trồng ngoài trời hoặc trồng ở trong nhà bằng túi hay cây trồng có dung tích 40 lít. 

TamTato không phải loài cây biến đổi gen, mà được được tạo ra thông qua một quá trình cấy ghép và thành công sau hơn 15 năm nỗ lực.

“Rễ cà chua và rễ khoai tây có độ dày như nhau, vì vậy rất khó để cấy ghép được một giống cây kết hợp hai loại cây này”, BBC dẫn lời Paul Hansord, giám đốc của Thompson và  Morgan, cho hay.

Một cây TomTato đang được bán với giá 14,99 bảng Anh (khoảng 500.000 VND) ở Anh và New Zealand.

Video: Cây cà chua-khoai tây ở Anh

 

Họp Quốc hội tốn bao nhiêu tiền dân?

Kỳ họp 6 Quốc hội khóa XIII kéo dài 40 ngày

Đang có tranh cãi trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam về chi phí cho các kỳ họp Quốc hội, vốn lấy từ tiền thuế của dân.

Báo Dân Trí dẫn lời đại biểu Trần Quốc Tuấn từ tỉnh Trà Vinh cho biết ông có được nghe một chuyên gia cung cấp thông tin rằng, “nếu mỗi một phút chúng ta ngồi tại hội trường này thì nhà nước phải bỏ ra khoảng 2 triệu đồng, bình quân mỗi một kỳ họp như thế một ngày chúng ta mất khoảng 1 tỷ đồng”.

Đại biểu Tuấn cho rằng “1 tỷ đồng không phải là lớn nếu các đại biểu Quốc hội ngồi thảo luận và đi đến quyết định, giải quyết các vấn đề quan trọng mang lại lợi ích cho nhân dân, mang lại lợi ích cho quốc gia. Nhưng 1 tỷ đồng cho một ngày họp nó sẽ rất lớn nếu Quốc hội không làm được những việc đó”.

Quốc hội Việt Nam khóa XIII vừa có kỳ họp thứ 6 kéo dài 40 ngày.

Trong kỳ họp này, các đại biểu đã thông qua 8 dự án luật và xem xét 10 dự án luật khác. Quốc hội cũng đã thông qua Hiến pháp sửa đổi và Luật Đất đai sửa đổi, mà có luồng dư luận cho rằng không khác nhiều so với trước.

Con số 1 tỷ đồng/một ngày họp ngay lập tức gây nhiều tranh cãi.

Hơn 1 tỷ?

Một số đại biểu Quốc hội lên tiếng yêu cầu giảm thời gian họp, tiết kiệm chi phí. Theo họ, riêng tiền khách sạn, ăn ở, chi phí vé máy bay, đi lại khác… cũng đã khá tốn kém cho ngân sách.

Trong khi đó, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc bác bỏ con số 1 tỷ. Theo ông Phúc, Quốc hội họp tại Hội trường Bộ Quốc phòng là địa điểm được cho mượn, không tính chi phí, kể cả phục vụ của đội ngũ an ninh, hậu cần…

“Theo đó, vấn đề cần phải lo chỉ là chi phí ăn ở, đi lại cho đại biểu về họp như tiền khách sạn, xe đưa đón…”

Ông Phúc được dẫn lời khẳng định: “Không có cơ sở nói Quốc hội họp một ngày tốn 1 tỷ đồng.” Tuy nhiên, ông không đưa ra con số nào khác.

Ông chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cũng giải thích về độ dài kỷ lục của kỳ họp thứ 6, cho đó là vì có chủ đề nhân sự.

““Làm nhân sự phải chặt chẽ, cẩn trọng, đúng quy trình. Ví dụ, chỉ một đề xuất xin tăng số lượng Phó Thủ tướng trong Chính phủ cũng cần một ngày cho đại biểu thảo luận, không thể làm kiểu… gộp.”

“Vì vậy, dù đại biểu mong muốn, UB Thường vụ cũng tìm hướng giảm thời lượng họp nhưng không được.”

@bbc

Martin Petty – Những đảng viên đã “sáng mắt, sáng lòng” đang tiến hành một cuộc cách mạng thầm lặng ở Việt Nam

Martin Petty
Lê Anh Hùng chuyển ngữ

(Reuters) – Việt Nam ngày nay không phải là những gì mà một Lê Hiếu Đằng trai trẻ từng hy vọng khi ông gia nhập Đảng Cộng sản 40 năm trước với khát khao giải phóng và tái thiết một đất nước bị tàn phá bởi hàng chục năm chiến tranh dưới sự chiếm đóng của người Pháp và người Mỹ.

Chế độ xã hội chủ nghĩa của nhà cách mạng quá cố Hồ Chí Minh đã bị tha hoá, ông nói, bởi việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở đây lại chịu sự kiểm soát chặt chẽ của chính cái đảng đã sinh ra văn hoá tham nhũng và lợi ích nhóm.

“Tôi đã chiến đấu trong cuộc chiến vì một xã hội tốt đẹp hơn, một cuộc sống công bằng cho nhân dân. Nhưng rồi sau chiến tranh, tình hình đất nước lại xấu đi, người công nhân thì nghèo, người nông dân thì mất ruộng đất”, Lê Hiếu Đằng nói với Reuters.

“Đó là điều không thể chấp nhận được. Sự độc quyền và độc tài chính trị đang hoành hành trên đất nước này.”

Những ý kiến như thế có thể là bình thường ở nhiều nước. Song ở Việt Nam, nơi chính trị là phạm trù cấm kỵ, tự do ngôn luận bị bóp nghẹt, hình ảnh đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) được coi là thiêng liêng, các nhà phân tích cho rằng không thể đánh giá thấp ý nghĩa của hiện tượng các đảng viên lên tiếng công khai như vậy.


Các ĐBQH ấn nút thông qua Hiến pháp mới trong phiên họp ngày 28.11.2013

Thứ Sáu vừa qua, Quốc hội do ĐCSVN khuynh loát đã thông qua Hiến pháp 1992 sửa đổi; bất chấp một chiến dịch tham vấn công chúng, bản Hiến pháp mới vẫn củng cố quyền lực của đảng giữa lúc sự bất mãn đang diễn ra âm ỉ trong dân chúng bởi cách thức đảng xử lý tranh chấp đất đai, tham nhũng cũng như điều hành một nền kinh tế chìm ngập trong khối nợ xấu của các DNNN.

Lê Hiếu Đằng kịch liệt phản bác hiến pháp sửa đổi, và ông không đơn độc với quan điểm của mình. Đó chính là những quan điểm đã đưa hàng chục người vào tù. Nhà cầm quyền đã đẩy mạnh chiến dịch trấn áp vì tình trạng bất đồng chính kiến tăng lên và tỷ lệ sử dụng Internet đã chiếm tới 1/3 trong tổng dân số 90 triệu người.

Những luật lệ Internet vốn dĩ đã hà khắc lại được thắt chặt thêm hôm thứ Tư, khi chính phủ loan báo mức xử phạt lên tới 100 triệu VNĐ (4.740USD) dành cho bất kỳ ai chỉ trích họ trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Tuy nhiên, điều khiến đảng phải giật mình là ở chỗ: những tiếng nói mạnh mẽ nhất đòi hỏi một hệ thống đa nguyên hơn lại không phải đang đến từ công chúng nói chung, mà lại là từ trong hàng ngũ của họ, một hành động nổi loạn công khai mà người ta chưa từng được chứng kiến kể từ khi ĐCSVN lãnh đạo nước Việt Nam thống nhất năm 1975, sau chiến thắng của những người cộng sản trước quân đội Hoa Kỳ.

“Việt Nam đã bước vào một giai đoạn mới. Sự tồn tại của cạnh tranh trong đảng là điều mà người ta đã biết, nhưng giờ thì điều đó đã trở nên rõ ràng hơn theo cách mà người ta chưa từng thấy trước đây”, Jonathan London, một chuyên gia về Việt Nam tại Đại học Thành phố (City University) ở Hồng Kông, bình luận.

“Sự nổi lên của nhóm này và lời khuyên từ họ sẽ ảnh hưởng đến diễn tiến của cuộc thảo luận trong đảng. Không còn nghi ngờ gì, đây là một giai đoạn đầy bất trắc và cạnh tranh.”

KHỦNG HOẢNG VÀ BẾ TẮC

Năm nay, Lê Hiếu Đằng cùng 71 người khác, bao gồm trí thức, blogger và những đảng viên cả đương chức lẫn hưu trí, đã soạn thảo bản hiến pháp riêng nhằm hưởng ứng chiến dịch lấy ý kiến nhân dân sáo mòn mà lý do bên ngoài là xoa dịu nhân dân và tăng cường tính chính danh vốn đang nhạt nhoà của đảng.

Dự thảo hiến pháp của họ được đăng tải trên mạng và 15.000 người đã ký vào một bản kiến nghị kèm theo, kêu gọi bỏ Điều 4 Hiến pháp, điều khoản quy định độc quyền chính trị của ĐCSVN.

Tuy nhiên, các nhà lập pháp lại làm ngược lại và sửa đổi theo hướng tăng cường vai trò lãnh đạo của ĐCSVN cũng như nhiệm vụ bảo vệ đảng của quân đội. Trong bản tổng kết 26 triệu ý kiến của nhân dân về dự thảo hiến pháp, một uỷ ban của Quốc hội cho hay đa số nhân dân Việt Nam ủng hộ chế độ độc đảng.

“Về mặt lý thuyết, dân chủ không đồng nghĩa với đa đảng”, Uỷ ban Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992 nói trong một báo cáo hồi tháng Năm. “Không ai có thể khẳng định rằng nhiều đảng chính trị thì tốt hơn một đảng.”

Hôm thứ Sáu vừa qua, không một vị Đại biểu Quốc hội nào phản đối bản dự thảo mới, vốn mở rộng Điều 4 để quy định đảng là “đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”.

Một bản dự thảo hiến pháp sửa đổi công bố mấy tuần trước đã khiến những người phản đối tức giận.

Các nhà vận động dân chủ khác đã gia nhập nhóm 72 người ban đầu và 165 người trong số họ, kể cả các cựu quan chức chính quyền, đã đăng một bản tuyên bố trên Internet hai tuần trước, với nội dung khuyến cáo các Đại biểu Quốc hội bác bỏ dự thảo hiến pháp sửa đổi.

Bản tuyên bố nêu rõ, nếu các ĐBQH thông qua hiến pháp sửa đổi thì họ đã nhúng tay vào một “tội ác chống lại Tổ quốc và nhân dân” và sẽ “chỉ càng đẩy đất nước lún sâu hơn và khủng hoảng và bế tắc”.

“VAI TRÒ CẦU NỐI”

Nhiều trong số những người chỉ trích đảng công khai từng tham gia vào các cuộc chiến tranh giải phóng Việt Nam khỏi các cường quốc phương Tây trong những năm 1950 cho đến những năm 1970 và nay đã trở thành những nhà cách mới theo hình thức này hay hình thức khác, họ đối mặt với những chủ đề mà phần lớn người Việt Nam tỏ ra e sợ khi bàn tới.

Nguyễn Quang A từng một thời là thành viên của một viện tư vấn vốn đã tự giải thể sau khi chính phủ ban hành một nghị định hạn chế phạm vi hoạt động của nó 5 năm trước.

Thành viên của viện bao gồm những người từng là đảng viên, quan chức ngoại giao, doanh nhân và học giả. Họ giữ mối liên hệ với nhau qua các cuộc gặp hàng tháng để thảo luận về các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội; một số vấn đề được họ xử lý dưới hình thức những bài bình luận đăng trên mạng.

“Chúng tôi muốn tạo ra một môi trường để tạo điều kiện cho sự ra đời của các lực lượng chính trị khác và đề xuất một quá trình chuyển tiếp từ độc tài sang dân chủ”, ông nói với Reuters.

“Chúng tôi hy vọng một số những thành viên của chúng tôi có thể đóng vai trò cầu nối để giúp đảng lắng nghe chúng tôi. Chuyện này sẽ mất thời gian, nhưng chúng tôi phải gây sức ép để họ thay đổi và thuyết phục mọi người không sợ hãi.”

Lê Hiếu Đằng và các đồng minh trong ĐCSVN của mình đang tiến một bước xa hơn. Họ lập kế hoạch vẫn ở trong đảng để có thể thu hút được sự ủng hộ từ những đảng viên đã “sáng mắt sáng lòng” nhằm thành lập một đảng đối lập với mục đích giám sát các chính sách của ĐCSVN và kiểm soát nó.

Bất chấp ngôn từ mạnh mẽ, họ nhấn mạnh rằng kế hoạch thành lập Đảng Dân chủ Xã hội không phải là âm mưu lật đổ đảng cầm quyền mà là một nỗ lực nhằm tạo ra sự chung sống tự do hơn giữa những đảng phái đem lại lợi ích cho đất nước.

Hồ Ngọc Nhuận, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Tp Hồ Chí Minh, một tổ chức bao trùm của ĐCSVN quản lý những tổ chức lớn hoạt động theo các nguyên lý của chủ nghĩa Marx-Lenin, nhận xét rằng chiến dịch lấy ý kiến nhân dân và bản hiến pháp sửa đổi là một “tấn bi hài kịch”, nó cho thấy đảng không còn liên hệ với nhân dân nữa.

Theo ông, đây là thời điểm phải sắp xếp lại hệ thống chính trị ở Việt Nam.

“Chúng tôi phải đối mặt với nhiều vấn đề ở Việt Nam, những cuộc khủng hoảng lớn, vậy thì làm sao chúng tôi có thể giải quyết chúng với một đảng toàn quyền? Chúng tôi phải thu hút sự chú ý của họ, vì thế chúng tôi đang kêu gọi các đồng chí trong đảng tham gia cùng chúng tôi để có thể phá vỡ vòng luẩn quẩn này”, Hồ Ngọc Nhuận nói; ông cũng thừa nhận mọi chuyện đang cho thấy là khó mà thuyết phục được họ.

“Thế hệ mới không thể giảng giải về chủ nghĩa xã hội cho chúng tôi được nữa. Tuy được gọi là Đảng Cộng sản nhưng bản thân họ cũng không còn tin vào hệ tư tưởng của mình nữa rồi.”

(Biên tập: Robert Birsel)

Nguồn: Reuters / Defend the Defenders

Ông Nguyễn Kiến Giang qua đời

Ông Nguyễn Kiến Giang (ảnh

Ông Nguyễn Kiến Giang bị tù 6 năm trong vụ án Xét lại Chống Đảng

Nhà hoạt động chính trị Nguyễn Kiến Giang, người từng bị tù nhiều năm trong vụ án Xét lại chống Đảng những năm 1960, vừa qua đời ở tuổi 83.

Các nguồn tin cho hay ông Kiến Giang qua đời sáng sớm thứ Hai 2/12 sau một thời gian dài bị bệnh nặng.

Sinh năm 1931 tại Quảng Bình, ông Nguyễn Kiến Giang là một trong những người tham gia Mặt trận Việt Minh từ rất sớm (năm 1945). Ông trở thành Việt Minh và Đảng viên Cộng sản ngay từ năm đó, tức là khi mới có 14 tuổi.

Năm 1947, khi mới 16 tuổi, ông Nguyễn Kiến Giang trở thành huyện ủy viên rồi tỉnh ủy viên ở Quảng Bình.

Ông tự nhận mình là một “nạn nhân của những cuộc khủng bố, đàn áp của thời kỳ cải cách ruộng đất” tiếp sau đó.

Năm 1956, ông Kiến Giang được chuyển về công tác ở Hà Nội. Ông từng giữ chức Phó Giám đốc Nhà xuất bản Sự Thật của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Đầu năm 1962 ông được cử sang Liên Xô học trường Đảng cao cấp.

Trong một cuộc phỏng vấn với BBC, ông kể lại: “Sang bên đó thì học chưa xong (1964) thì có nghị quyết của Trung ương, gọi là Nghị quyết 9, chống chủ nghĩa Xét lại thì tất cả các anh em học trường Đảng bên đó đều bị điều về cả và sau đó không sang lại nữa. Khi tôi về nước, ít lâu sau thì bị đưa đi thực tế, nhưng thực ra đấy là một cách không cho mình làm việc gì cả”.

‘Xét lại chống Đảng’

Từ năm 1964-1967, ông Nguyễn Kiến Giang đã bị đưa đi “công tác thực tế” tại Quảng Bình và Thái Bình như một hình thức vô hiệu hóa.

Sau đó, năm 1967, nhóm cán bộ thân Liên Xô đồng loạt bị bắt trong vụ án Xét lại Chống Đảng, vốn được cho là để thanh trừng phe nhóm trong nội bộ Đảng CSVN.

Trong vụ này, mà theo một số đánh giá khoảng 300 người bị bắt, ông Kiến Giang bị tù giam 6 năm và quản chế 3 năm.

Nhắc lại vụ án, ông nói với BBC: “Theo tôi những đối xử với những người bị coi là Xét lại Chống Đảng là những đối xử quá tàn bạo”.

“Cho đến bây giờ tôi cũng không biết là tôi có tội gì nữa, nghe người ta bảo là tôi phản động, tay sai nước ngoài, thì cũng nghe nói thế thôi, chứ còn trên thực tế từ giam ở xà lim mấy năm, và mấy năm quản chế, khoảng gần 10 năm khi tôi trở về Hà nội với tư cách là một người công dân thì tôi cũng không biết là tôi có tội gì, cho tới nay cũng không ai nói với tôi là tôi có tội gì nữa.”

Trong lĩnh vực tư tưởng nên có sự bao dung, đừng dùng những biện pháp đàn áp về luật pháp, chừng nào chưa có những biểu hiện phạm pháp, mới chỉ phát biểu ý kiến, phê phán ý kiến ông này ông kia, thì chuyện đó không có gì phải đàn áp cả.

Nguyễn Kiến Giang

Ra tù, ông tiếp tục làm công tác nghiên cứu và viết sách báo.

Ông được biết như một cây bút lý luận uyên bác và sắc sảo, với các bút hiệu như Lương Dân, Lê Diên, Lê Minh Tuệ.

Năm 1996, ông lại bị vướng vào vụ án tiết lộ bí mật nhà nước cùng hai ông Lê Hồng Hà và Hà Sĩ Phu. Ngày 22/8/1996, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội xử ông Lê Hồng Hà 2 năm tù giam, ông Hà Sĩ Phu 1 năm tù giam và ông Nguyễn Kiến Giang 15 tháng tù treo.

Ông để lại nhiều tác phẩm nghiên cứu có giá trị, như “Khủng hoảng và lối ra”, “Thử dò tìm một cách tiếp cận mới đối với thế giới hiện đại”, “Một quan niệm về hiện đại hóa ở Việt Nam”, “Công bằng xã hội và kinh tế” và “Nhìn lại quá trình du nhập chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam”…

Nguyễn Kiến Giang là một trong những người đầu tiên kiến nghị bỏ Điều 4 của Hiến pháp Việt Nam về sự lãnh đạo của Đảng CSVN, mà cho tới nay vẫn được duy trì trong bản Hiến pháp sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua.

Trong phỏng vấn trước kia với BBC, ông nói: “Trong lĩnh vực tư tưởng nên có sự bao dung, đừng dùng những biện pháp đàn áp về luật pháp, chừng nào chưa có những biểu hiện phạm pháp, mới chỉ phát biểu ý kiến, phê phán ý kiến ông này ông kia, thì chuyện đó không có gì phải đàn áp cả.”

@bbc

Phạm Chí Dũng – Hậu Hội đồng nhân quyền: Dân chủ Việt Nam sẽ ra sao?

Thụy My thực hiện

Theo Đài RFI

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng. DR

Sau khi Nhà nước Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc, nhà bình luận Phạm Chí Dũng dự báo về những đối sách có thể hình thành của Nhà nước đối với phong trào dân chủ.

Anh đề cập đến khả năng cải tạo điều kiện giam giữ, xu hướng hoạt động của các nhóm dân chủ ở Việt Nam, mối quan hệ giữa Nhà nước với các tôn giáo, “số phận” nghị định 72 và triển vọng thông thoáng hơn về Internet. Bên cạnh đó là sự hình thành xã hội dân sự và các tổ chức phi chính phủ trong nước, cùng hy vọng hồi hương của người Việt hải ngoại.

RFI: Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng. Thưa anh, trong một bài nhận định vào giữa năm nay, anh có dự báo là đến cuối năm 2013 sẽ xuất hiện một, hai tổ chức dân sự nhóm họp công khai. Và có khả năng trong cuối năm nay và cả năm 2014 sẽ ít hoặc không diễn ra các vụ bắt giam và kết án các nhân vật bất đồng chính trị. Dự báo này có liên quan gì đến một số tuyên bố mới đây của những tổ chức dân sự như Diễn đàn xã hội dân sự, Mạng lưới blogger Việt Nam, Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam và sự kiện Nhà nước Việt Nam lọt vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng: Thật ra tôi đã chờ đợi thời điểm Nhà nước Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc từ tám tháng qua. Và tôi nghĩ rằng tháng 11/2013 là một mốc thời điểm có tính chuyển đổi khá quan trọng đối với hoạt động dân chủ ngoài đảng và cả xu thế phản biện, cải cách trong đảng ở Việt Nam.

Tôi cho rằng với giới blogger trong nước, họ không hẳn là bi quan về câu chuyện Nhà nước Việt Nam “bất ngờ” lọt vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Trong cách nhìn của một số blogger, thách thức luôn gắn liền với cơ hội, và có khi cái rủi lại chứa đựng cái may. Cái may đó lại gắn liền với điều được xem là “vận hội mới” khi Nhà nước Việt Nam lọt vào Hội đồng Nhân quyền, tức cũng kéo theo sự ra đời và chuyển động của những tổ chức dân sự ôn hòa như Diễn đàn xã hội dân sự, Mạng lưới blogger Việt Nam, Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam… và có thể thêm một số tổ chức dân sự khác trong vài quý tới.

Riêng với Mạng lưới blogger Việt Nam và tuyên bố tháng 11/2013, đây là lần thứ hai trong năm nay nhóm blogger này tìm cách thể hiện vai trò công khai của mình, sau tuyên bố phản đối điều luật 258 và được nhóm blogger trao cho một số cơ quan đại diện ngoại giao quốc tế tại Hà Nội và cả ở nước ngoài.

Là nhóm có tính hành động nổi trội nhất trong giới hoạt động dân chủ ở Việt Nam, có vẻ Mạng lưới blogger Việt Nam đang nhận thấy một cơ hội để đề cập sâu hơn chủ đề nhân quyền. Nhưng lần này, hành động dự kiến đáng chú ý nhất của họ là “xuống đường” để công khai phổ biến các văn bản về nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết như Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước chống tra tấn.

Một hành động dự kiến đáng quan tâm khác của Mạng lưới blogger Việt Nam là công khai tổ chức những buổi trao đổi hoặc cổ súy nhân quyền dưới nhiều hình thức như thảo luận nơi công cộng, dã ngoại, cà phê tuổi trẻ, đi bộ, lái xe đạp vì nhân quyền. Sắp tới, họ cũng sẽ công khai và chính thức ra mắt Mạng lưới blogger Việt Nam vào ngày 10 tháng 12, tức Ngày Quốc tế Nhân quyền do Liên Hiệp Quốc khởi xướng.

Tức là các blogger theo quan điểm “nhân quyền hành động” không muốn, và có lẽ cũng không còn mấy tâm trạng để còn ngồi trong nhà hoặc trong các quán cà phê bàn luận với nhau theo cung cách “chính trị salon” mà một số bậc dân chủ lão thành ưa thích hoặc bị ràng buộc.

Cũng có thể còn một lý do khác là nhóm blogger hành động đã nhận ra, sau chiến dịch tống giam ba blogger Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào và Đinh Nhật Uy vào giữa năm 2013, cho đến nay đã không có thêm một hành động bắt giam nào mới. Toàn bộ hành động của công an và chính quyền chỉ dường như mang mục đích “răn đe” và bằng biện pháp câu lưu hơn là cho “nhập kho”.

Thậm chí như nhiều người đã biết, chỉ nửa tháng sau cuộc gặp của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang với Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, Nhà nước Việt Nam đã trả tự do tại tòa cho nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên. Hành động tương tự cũng được lặp lại với blogger Đinh Nhật Uy vào tháng 11/2013. Tức xu thế thả ra bắt đầu rõ hơn xu hướng bắt vào, và cũng bắt đầu có mối tương đồng với xu thế Nhà nước Việt Nam buộc phải điều chỉnh quan điểm và hành vi đối ngoại về chính trị.

RFI: Nhưng nhiều người hoạt động xã hội ở Việt Nam vẫn còn khá nặng tâm lý sợ hãi. Nếu tâm lý này được giải tỏa thì hiệu ứng kế tiếp sẽ thế nào?

Chúng ta sẽ thấy rằng một khi tâm lý sợ hãi được tháo dần thì giới hoạt động nhân quyền cũng bớt lo lắng, tính hành động sẽ được biểu hiện rõ hơn. Tôi cho rằng những người theo phương châm hoạt động xã hội dân sự ở Việt Nam đang bắt nhịp với thời cuộc và hoạt động một cách ôn hòa, tránh đối đầu, nhưng lại có hiệu quả và ngày càng có sức lan tỏa, thậm chí có tính thuyết phục với cả một bộ phận trí thức và đảng viên trong Đảng và chính quyền.

Con đường xã hội dân sự mà các nhóm trí thức lớn tuổi và nhóm blogger trẻ đang tiến hành sẽ có thể đạt kết quả ở chừng mực nào đấy. Chẳng hạn như nhóm họp công khai mà không bị đàn áp, thậm chí còn có thể tạo nên một diễn đàn và diễn thuyết ngoài đời thay cho hình thức diễn đàn trên mạng như trước đây. Những diễn đàn này sẽ dẫn đến việc đề cập ngày càng sâu hơn đến những vấn đề thiết thân với quyền lợi người dân như đất đai, quyền lợi người lao động và môi trường.

Và nếu nhóm blogger trẻ có thể đạt được một số kết quả nào đấy, điều đó sẽ tạo cảm hứng và kích thích những nhóm hoạt động dân chủ trung niên và lão thành. Tôi cũng nghĩ là nhóm “Kiến nghị 72” sẽ xúc tiến một hành động nào đó mang tính hành động, hơn là chỉ có những kiến nghị trên mạng như trước đây.

Ngoài ra cũng còn phải suy nghĩ về ý tưởng xây dựng “đảng Hồ Chí Minh”, hay một phong trào vận động nhằm trả tên nước về “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” như Hiến pháp năm 1946, đã và đang nằm trong nhận thức của một số đảng viên lão thành…

Từ đầu năm 2013 đến nay và đặc biệt sau sự kiện Nhà nước Việt Nam được chấp nhận tham gia vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, khá nhiều tư tưởng và ý tưởng như vậy ở Việt Nam. Đặc biệt tại Hà Nội đang tiếp tục hình thành và hướng đến hành động xã hội, như một xu thế không thể cưỡng lại, bất chấp sự cấm cản theo thói quen từ phía chính quyền.

Nếu mọi chuyện diễn ra bình thường, xu thế như vậy sẽ phát triển thành các tổ chức hội đoàn độc lập ngày càng nhiều, từ đó sinh sôi những phong trào dân sự.

RFI: Nhưng những phong trào xã hội như thế vẫn có thể bị nhà nước xem là thách thức chính trị và thành viên của họ vẫn có thể bị bắt bớ?

Tất nhiên không thể loại trừ hoàn toàn việc Nhà nước không bắt ai.

Hiện nay, yếu tố xã hội học đặc thù nhất mà có thể làm giảm hoặc tăng rủi ro cho những nhân vật hoạt động dân chủ, là tính số đông và tính quần chúng. Nhân vật càng hoạt động đơn lẻ thì càng dễ có khả năng bị “nhập kho”, và ngược lại, càng đông người và càng đoàn kết thì càng khó bị trấn áp. Vấn đề còn lại là nếu những hoạt động xã hội như nhóm Mạng lưới blogger Việt Nam chỉ khuôn hẹp bởi một số cá nhân mà không tạo được hiệu ứng lan tỏa rộng rãi hơn, không thu hút được nhiều hơn số người ủng hộ từ nhiều tầng lớp thì phong trào này khó lòng tồn tại được lâu dài, hoặc có tồn tại cũng chỉ trên danh nghĩa mà không mang tính thực chất.

Chỉ có điều, sẽ rất khó cho chính quyền và công an khi quyết định bắt giam một nhân vật nào đấy, dù chỉ là người ít tên tuổi và ít được giới nhân quyền và truyền thông quốc tế quan tâm. Bởi đơn giản là tính từ thời điểm Nhà nước Việt Nam được chấp nhận vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, bất cứ một động thái bắt bớ hoặc sách nhiễu nào đối với giới hoạt động dân chủ trong nước cũng đều có thể gây ra “thành tích” cho họ – về chuyện không tuân thủ các cam kết của họ trước Chủ tịch Đại hội đồng Hội đồng Liên Hiệp Quốc những quy định ngặt nghèo của Hội đồng Nhân quyền.

Cũng cần nói thêm rằng theo quy định của Hội đồng Nhân quyền, các thành viên trong hội đồng này không có quyền phủ quyết, và nhóm các quốc gia bị xem là vi phạm nhân quyền nhiều nhất như Trung Quốc, Việt Nam, Ảrập Xêút vẫn chỉ là nhóm thiểu số. Những quốc gia này luôn có thể bị loại ra khỏi Hội đồng Nhân quyền, nếu trong nhiệm kỳ thành viên bị xem là tiếp tục vi phạm và vi phạm một cách có hệ thống về quyền con người.

Vì thế tôi cho rằng chỉ trong những trường hợp đặc biệt và mang tính hãn hữu, Nhà nước Việt Nam mới tiến hành bắt giữ hoặc bắt giam những nhân vật bất đồng chính kiến bị xem là “quá khích” đến mức đe dọa trực tiếp đến quyền lực của Đảng và chính quyền.

Thay vào đó, nhà nước sẽ duy trì một số đối sách “kềm chế” hoặc “khống chế đối tượng”, đi từ “vận động thuyết phục” đến “cô lập” và “cách ly”, đặc biệt chú trọng biện pháp tác động kinh tế gia đình.

Và tất nhiên giới tuyên giáo đảng sẽ không bỏ qua vũ khí truyền thống của họ là “đấu tranh với các luận điệu sai trái và thù địch” thông qua phương tiện thông tin đại chúng là các báo đảng. Nhà nước Việt Nam luôn có nhiều biện pháp để đối phó với hoạt động dân chủ và nhân quyền, nhưng vũ khí ưu tiên nhất vẫn là “tuyên truyền định hướng” và “phản tuyên truyền”.

Còn trong ít nhất trong nửa đầu nhiệm kỳ Hội đồng Nhân quyền 2014 – 2016, hiện tượng bắt bớ có thể sẽ không phổ biến và không kéo dài. Và nhiều khả năng cũng không dẫn đến việc kết án nếu có nhân vật bất đồng chính kiến nào đó bị bắt giam.

Tình hình đó cũng có nghĩa là nhiều hội nhóm dân sự có thể hình thành và thậm chí hoạt động công khai mà không bị đàn áp hoặc bị bắt bớ.

RFI : Liệu Nhà nước Việt Nam sẽ tuân thủ những yêu cầu của Hội đồng Nhân quyền trong thời gian tới? Cơ sở nào để cho thấy thái độ khác thường ấy?

Dĩ nhiên sẽ buộc phải có sự cải thiện từ phía Nhà nước Việt Nam về mặt đối xử nhân quyền, nếu không phải là sự thay đổi não trạng thì ít nhất cũng là sự điều chỉnh hành vi trong ít nhất một số “sinh hoạt” nào đó.

Cơ sở cho sự thay đổi bắt buộc như thế vẫn là quy luật hạ tầng kinh tế quyết định thái độ chính trị.

Khách quan mà xét, nếu vào giai đoạn từ năm 2010 trở về trước, hiện tượng bắt bớ xảy ra khá nhiều là do khi đó chưa mấy có khái niệm về nợ xấu quốc gia, nhóm lợi ích hay nhóm thân hữu, cũng chưa có những diễn tiến trực tiếp giữa hậu quả kinh tế và bất ổn xã hội như hiện thời. Tức nền kinh tế còn được coi là “ổn định” và thế đứng chính trị cũng chưa mấy nghiêng ngả.

Còn từ năm 2011 đến nay, tất cả đều suy thoái, tất cả đều lộ hình, trằn trọc và dã man. Chưa bao giờ trong lòng dân chúng, tâm lý kích nổ lại tích tụ và dễ kích phát như bây giờ. Sắc thái ấy rất dễ nhận ra trong không khí và dư luận người dân và cả giới công chức ở ngay Thủ đô. Tất cả những hệ lụy xã hội lại đang tích tụ để tạo nên những sang chấn xã hội, và rất có thể dẫn đến khủng hoảng xã hội vào một thời điểm nào đó. Mà ai cũng biết khủng hoảng xã hội rất thường sẽ dẫn đến khủng hoảng chính trị.

Theo kinh nghiệm ở những nước Bắc Phi, khi cuộc biểu tình chỉ giới hạn số người tham gia từ vài trăm đến vài ngàn, sự thay đổi trong não trạng chính quyền chỉ diễn ra cục bộ và rất “khiêm tốn”. Nhưng khi số người biểu tình lên đến hàng trăm ngàn hoặc hàng triệu người, sự phẫn nộ của dân chúng có thể bắt cả một chính phủ phải từ chức hoặc bị lật đổ.

Tôi cho rằng những người lãnh đạo Việt Nam đã phần nào nhận ra cái thực tiễn đau đớn đang siết lấy đất nước và siết cả vào thân phận giới chính khách. Do đó họ buộc phải thay đổi. Thay đổi để ít nhất cứu vãn nền kinh tế đang trên bờ suy sụp. Thay đổi để giữ được quyền lực và cả tài sản cá nhân. Và thay đổi để ngăn chặn một làn sóng hồi tố từ phía dân chúng nếu thời cuộc biến động dữ dội.

Vậy thay đổi như thế nào? Có cảm giác như chưa bao giờ Nhà nước Việt Nam cần đến cộng đồng quốc tế và những “đối tác chiến lược toàn diện” như hiện thời. Có lẽ tâm thế ấy cũng phù hợp với một quy luật chính trị bất thành văn là khơi thông đối ngoại nhằm gỡ khó cho đối nội.

Trong tình thế hiện thời, ngân khố quốc gia đã có nhiều dấu hiệu cạn kiệt và tiền bạc phần lớn nằm trong túi các nhóm lợi ích, chỉ còn cách nhờ vào ngoại lực và ngoại viện thôi. Trung Quốc, Mỹ hay Nga đều được, miễn là “đối tác chiến lược toàn diện” và giúp cho Việt Nam tạm hồi sinh kinh tế và lấy lại phần nào cái gọi là “niềm tin dân chúng”.

Hậu quả nào sẽ xảy ra nếu quỹ lương hưu Việt Nam không phải “có khả năng vỡ vào năm 2030” mà có thể hết sạch chỉ sau ba, bốn năm tới? Chính thể cầm quyền sẽ đối phó như thế nào trước một làn sóng phản ứng dữ dội của giới hưu trí – như điều đã từng xảy ra ở nước Nga hậu Liên Xô vào những năm 90?

Đó là lý do vì sao tôi quan niệm rằng không khí đối nội và độ mở dân chủ trong nước dù chuyển biến khá chậm, nhưng vẫn phải tuân theo logic của diễn biến đối ngoại. Khác hẳn với giai đoạn 2009 – 2012 là thời gian mà làn sóng bắt giam và kết án các nhân vật bất đồng chính kiến dâng cao để vào cuối năm 2012, cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ đã bị phía Hoa Kỳ đình hoãn, năm 2013 lại là thời điểm mà cuộc đối thoại này được tái lập. Cùng lúc, diễn ra hàng loạt cuộc gặp gỡ song phương Việt – Trung, Việt – Mỹ, Việt – Pháp và Việt – Nga.

Cuối cùng, điều được xem là “thắng lợi ngoại giao” hay “thắng lợi chính trị” của Nhà nước Việt Nam còn được kết tủa bởi một cái ghế trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc vào tháng 11/2013 với tỉ lệ phiếu thuận cao đến mức kinh ngạc: 96%!

RFI : Anh giải thích thế nào về tỷ lệ phiếu thuận cao đến mức bất thường đó? Phản ứng của báo chí trong nước ra sao?

Cần nói rõ hơn là không phải ngẫu nhiên mà có quá nhiều quốc gia bỏ phiếu thuận cho Nhà nước Việt Nam, trong khi trước đó hầu hết các nước Tây Âu thường quan ngại và chỉ trích thái độ thiếu tôn trọng nhân quyền của Việt Nam. Bởi theo một phân tích đáng chú ý trong giới quan sát thì trong thời gian gần đây Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc có khuynh hướng không tạo ra sự đối đầu giữa nhóm nước tôn trọng nhân quyền và nhóm nước thiếu quan tâm quyền con người.

Thay vào đó, Hội đồng này tìm cách dung hợp giữa các quan điểm và tạo điều kiện hơn nữa cho tiếng nói đối thoại với nhau. Đó là một quan điểm “dân vận” hiện đại. Bởi nếu không đối thoại thì có thể tình hình sẽ ngày càng tệ hơn, ai giữ quan điểm người đó và vấn đề nhân quyền ở các nước Trung Quốc, Việt Nam sẽ không cải thiện gì hết.

Nhưng quan niệm như vậy của Liên Hiệp Quốc đã hầu như không được đề cập trên mặt báo đảng ở Việt Nam – là những tờ báo vẫn tuyên truyền một chiều và không bỏ lỡ cơ hội vừa qua để xem đó là một thành tích tuyệt vời của Nhà nước Việt Nam.

Tuy nhiên, có một thực tế quá đỗi hiển nhiên mà không một tờ báo đảng nào nêu ra là tại sao trong suốt hơn hai chục năm, từ thời điểm ban hành Hiến pháp vào năm 1992 đến nay, ba vấn đề liên quan mật thiết đến quyền lợi của nhân dân và cần được luật hóa theo điều 69 hiến pháp là Luật biểu tình, Luật lập hội và Luật trưng cầu dân ý đã không hề được triển khai. Mà như vậy thì điều được báo đảng và giới tuyên giáo xem là “Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền con người” là thực chất hay giả dối?

Báo chí nói chung ở Việt Nam cũng đã rất nhiều lần, trong rất nhiều bài viết đề cập đến các quyền như thế của người dân. Đó cũng chính là sự khác biệt giữa báo chí phi lề đảng, tức nhiều tờ báo quốc doanh nhưng không mấy mặn mà với các định hướng tuyên truền của Đảng, với một ít báo lề đảng.

Trong nhiều nội dung của bản Hiến pháp sửa đổi từ đầu năm 2013 đến kỳ họp Quốc hội thứ 6 lần thứ XIII, vẫn chủ yếu là các báo đảng như Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, Đại Đoàn Kết, Sài Gòn Giải Phóng và Đài truyền hình Việt Nam làm thế chủ công bảo vệ cho quan điểm bảo thủ Hiến pháp. Đến mức không muốn thay đổi bất kỳ một nội dung nào, kể cả thực trạng ngổn ngang và đau đớn về thu hồi đất đối với các dự án kinh tế – xã hội mà đã gây ra một tầng lớp dân oan khiếu kiện tại khắp các địa phương.

Nhưng những tờ báo đảng, cộng với một số tờ báo “ăn theo” khác, chỉ vào khoảng vài ba chục tờ, chỉ chiếm vài ba phần trăm trong tổng số khoảng 1.000 tờ báo in và điện tử được cấp phép hoạt động tại Việt Nam.

Ngay cả chuyện Nhà nước Việt Nam được chấp nhận vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc cũng chỉ được thông tin chủ yếu bởi báo đảng với dạng bài viết. Trong khi nhiều báo khác chỉ đăng hoặc phát tin ngắn gọn mà không bình luận, cho dù thành viên Hội đồng Nhân quyền là một nhiệm vụ quan trọng mà Ban Tuyên giáo Trung ương yêu cầu các báo “chủ động tuyên truyền”.

Khác nhiều với không khí tuyên truyền về khả năng Việt Nam gia nhập TPP, lần này rõ ràng đại đa số báo chí đều không hào hứng gì đối với việc Nhà nước Việt Nam đã “tôn trọng quyền con người” như thế nào, nếu không nói là ngược lại.

Điều đó cho thấy cái gì?

Nếu xem báo chí và công luận là mang tính đại diện cho dư luận người dân thì quan điểm bảo thủ hiện thời chỉ còn chiếm vài ba phần trăm, trong khi tuyệt đại đa số dư luận ở thế trung dung, không chấp nhận giả dối hoặc cấp tiến hơn hẳn.

Theo tôi biết, ở nhiều tờ báo nhà nước hiện nay, đa số phóng viên và cả cấp ban biên tập đều bức xúc và rất bất mãn về cái mà họ gọi là “vòng kim cô” siết chặt bởi Ban Tuyên giáo Trung ương và các ban tuyên giáo, sở thông tin truyền thông tỉnh thành. Ở một số báo, chỉ có một nhóm rất nhỏ, bao gồm tổng biên tập và phó tổng biên tập báo, là nhóm được coi là “kiên định” và là người của cấp trên ấn định để kiểm soát tư tưởng và nội dung của báo chí.

Và sự khác biệt giữa các quan điểm bảo thủ và cởi mở trong giới báo chí cũng có thể đang phổ biến ngay trong nội bộ đảng, tuy có khác hơn về mặt tỉ lệ. Vấn đề còn lại chỉ là một sự thay đổi lớn lao sẽ diễn ra vào lúc nào mà thôi, khi có những điều kiện tương tác chín muồi.

Nhưng ở Việt Nam, rất thường là khó có thể diễn ra những thay đổi tự thân nếu không có tác động ngoại biên. Tác động ngoại biên ấy, trong hoàn cảnh năm 2013 này và có thể trong vài năm tới sẽ phụ thuộc vào những ảnh hưởng chủ yếu từ Mỹ, Tây Âu và Trung Quốc.

RFI: Phải chăng tác động của phương Tây đã có ảnh hưởng điều chỉnh một số chính sách “đóng mạng” của Nhà nước Việt Nam như Nghị định 72 ?

Đó là một tác động có tính thuyết phục đối với tính “vô hiệu” của Nghị định 72 của Chính phủ Việt Nam về quản lý mạng xã hội. Trước khi Nghị định này được ban hành, đã có khá nhiều âu lo từ giới hoạt động truyền thông xã hội về những hàng rào vô hình được thiết lập để ngăn cản thông tin, và điều đó sẽ một lần nữa cho thấy “tự do báo chí” ở Việt Nam là như thế nào.

Nhưng từ đầu tháng 9/2013 đến nay, vẫn chưa có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy Nghị định 72 sẽ được triển khai “quyết liệt”. Vì sao lại như thế, trong khi hầu như toàn bộ công cụ thanh kiểm tra nằm trong tay các cơ quan nhà nước, và họ muốn hành xử lúc nào cũng được?

Nói thẳng ra là Nghị định 72, về bản chất, đã nhắm tới những mục tiêu hạn chế quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, chỉ khuyến khích thông tin một chiều. Do vậy, nghị định này đã gặp phải sự phản ứng quyết liệt của cộng đồng hoạt động mạng và cả từ các tổ chức nhân quyền, báo chí quốc tế.

Trong bối cảnh phải thỏa hiệp với chính giới quốc tế để đổi lấy những điều kiện về kinh tế trong nước và cả quân sự tại biển Đông, giới lãnh đạo Việt Nam sẽ không thể để nghị định 72 cản bước tiến trình tham gia vào Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương hay Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc.

Và một khi Nghị định 72, vì nhiều lý do không được triển khai đúng với ý của những người soạn thảo ra nó, lại càng có cơ sở để cho rằng bầu không khí truyền thông xã hội ở Việt Nam trong vài năm tới sẽ rộng mở hơn, nhưng không phải do nhà nước “cấp phép”, mà sẽ phát triển một cách độc lập và tuân theo quy luật hội nhập quốc tế.

Thay vì dùng biện pháp “cưỡng chế” như Nghị định 72, nhiều khả năng Nhà nước Việt Nam sẽ tiến hành giải pháp “kiểm soát mềm”, nghĩa là sử dụng đội ngũ dư luận viên để kiểm soát và thực hiện công tác phản tuyên truyền, tức phản bác lại “các luận điệu sai trái và phản động”. Cần lưu ý là ở Trung Quốc đã hình thành đội ngũ dư luận viên và kiểm soát viên lên đến hai triệu người bằng tiền đóng thuế của dân chúng.

Trong xu thế chung khó cưỡng lại về hội nhập quốc tế, cũng dễ thấy là một điều kiện mà phía Mỹ và các nước Tây Âu đặt ra đối với Nhà nước Việt Nam về việc không được ngăn chặn việc phát sóng của các đài quốc tế, trong đó có các đài quốc tế Việt ngữ, sẽ dần được đáp ứng. Nếu như trước đây chỉ có đài BBC của Anh ít bị phá sóng, thì sau này cả đài RFI của Pháp, VOA và RFA của Hoa Kỳ cũng có thể được “ưu ái”. Khi đó, giới phân tích sẽ được biết con số 34 triệu người sử dụng Internet mà Việt Nam thường công bố thực chất là như thế nào, tức có bao nhiêu người trong đó có thể vượt tường lửa để tiếp cận với những thông tin thực chất về kinh tế, chính trị nội bộ, tự do tôn giáo, xã hội dân sự và cả tình hình giam giữ.

RFI : Về vấn đề này, việc Việt Nam tham gia Hội đồng Nhân quyền có làm thay đổi chút nào điều kiện giam giữ ?

Một người bạn có kể cho tôi nghe một câu chuyện lạ lùng. Vô tình anh được biết một tù nhân chính trị mà anh mới vào thăm đã được cán bộ quản giáo trang bị cả quạt điện trong phòng giam. Anh đã kinh ngạc về sự thay đổi đó.

Cho đến nay, vẫn không nhiều người biết rằng phần lớn các phòng giam trong nhà tù Việt Nam đều nóng bức, có nơi nóng kinh người, và cũng chẳng mấy người biết rằng việc có được một cái quạt điện trong phòng giam là một điều quá xa xỉ đối với người tù. Chính vì thế, hiện tượng quản giáo cho người tù quạt điện vào thời gian ngay trước khi Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc xét duyệt một cái ghế cho Nhà nước Việt Nam đã cho thấy ít nhất một tín hiệu vừa chống chế vừa thỏa hiệp.

Sự việc này cũng dễ làm người ta hình dung rằng Nhà nước Việt Nam đang liên tưởng đến điều gì, hoặc hậu quả nào từ một cuộc kiểm tra điều kiện giam giữ của các thanh sát viên do Hội đồng Nhân quyền cử đến Việt Nam vào năm 2014. Và cũng rất có thể, cái quạt điện sẽ bị lấy đi ngay sau khi thanh sát viên quốc tế mục kích buồng giam.

Trong khi đó, một thông báo của Hội nghị trung ương 3 của đảng Cộng sản Trung Quốc vừa cho biết quốc gia rất bảo thủ này đã quyết định xóa bỏ chế độ trại lao cải, tức những trại giam trong đó một số phạm nhân phải lao động khổ sai. Vấn đề là Trung Quốc lại cùng vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc với Việt Nam kỳ này, và khi Trung Quốc đã có một cải cách nhỏ như thế, Việt Nam sẽ thế nào?

Tôi cho rằng không còn cách nào khác, giới lãnh đạo và ngành công an Việt Nam sẽ phải có những bước cải thiện chế độ lao tù, không chỉ đối với chính trị phạm mà cả với tù thường phạm. Nếu cần thiết, họ có nhìn vào tấm gương Myanmar như một sự phản chiếu không đến nỗi tồi.

Mặt khác, những cái chết trong đồn công an sẽ nằm trong tâm điểm quốc tế. So với Trung Quốc, có vẻ tình trạng người dân “đột tử” trong đồn công an và các trại giam ở Việt Nam là nhiều hơn, có khi nhiều hơn hẳn. Tình hình đó dẫn đến việc sau nhiều lần trì hoãn, cuối cùng Nhà nước Việt Nam cũng phải ký kết Công ước chống tra tấn. Sự việc này chỉ xảy ra 5 ngày trước khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc.

Do đó chính vào lúc này, Nhà nước Việt Nam đang lo lắng về những câu chuyện làm càn của cán bộ công an tại các địa phương. Và có lẽ không phải ngẫu nhiên mà trùng thời điểm Hội đồng Nhân quyền nhóm họp vào tháng 11/2013, ở Việt Nam đã phát lộ vụ việc tù nhân Nguyễn Thanh Chấn bị án oan đến 10 năm. Đó là chưa kể đến tình trạng tạm giam không xét xử mà có trường hợp kéo dài đến 7 năm…

Bởi thế tôi cho rằng, ngành công an và chính quyền các địa phương sẽ có một số động tác điều chỉnh thái độ và cách hành xử của công an viên đối với dân trong thời gian tới. Nhất là nếu xã hội dân sự hình thành và thông tin dân sự được truyền ra quốc tế sẽ nói thay cho cả báo chí trong nước về những vụ bạo hành của công an đối với dân chúng.

RFI: Xã hội dân sự vẫn bi quan hay có thể lạc quan, nếu tính từ mốc thời điểm Việt Nam tham gia vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc?

Tôi cho là khác hẳn với việc tham gia ký kết Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị từ năm 1982 nhưng chẳng mấy quan tâm đến những nội dung của nó, giờ đây Nhà nước Việt Nam ở vào thế phải định kỳ “tự kiểm điểm” trước các cơ quan nhân quyền quốc tế. Vì nếu không, sẽ chẳng có sự cải thiện kinh tế và ngoại giao nào diễn ra.

Xã hội dân sự sẽ đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc cải thiện bất đắc dĩ ấy. Mà một trong những lời cam kết của Nhà nước Việt Nam trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào tháng 8/2013 là tạo điều kiện sinh hoạt dân chủ hơn nữa cho người dân, được hiểu như một sự định hình ban đầu về xã hội dân sự.

Có một chi tiết đáng chú ý là sau chuyến làm việc với giới quan chức chính phủ Việt Nam vào đầu tháng 11/2013, Quyền phó trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Scott Busby đã nói thẳng với báo giới quốc tế về một trong những mục đích ưu tiên của Chính phủ Hoa Kỳ là xã hội dân sự ở Việt Nam, và Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ cho các nhóm dân sự ở đất nước này.

Một chi tiết đáng chú ý khác là ngược lại với những tuyên ngôn theo cách “xã hội dân sự là một thủ đoạn của diễn biến hòa bình” vào cuối năm 2012, báo đảng đã không hề công kích Scott Busby về chủ đề xã hội dân sự mà ông nêu ra. Trong khi đó, lại có thông tin từ Trung Quốc về việc người được tạp chí Forbes đánh giá là có quyền lực thứ ba trên thế giới là Tập Cận Bình đang có chủ trương ngầm cho hình thành xã hội dân sự tại Trung Hoa.

Mãi gần đây, tôi mới nhận ra một tín hiệu về khả năng là trong thời gian tới, Nhà nước Việt Nam sẽ “chủ động nghiên cứu về xã hội dân sự và vận dụng xã hội dân sự vào những điều kiện ở Việt Nam”. Nhưng tất nhiên, đó không phải và không thể là một mô hình xã hội dân sự giám sát độc lập của người dân, mà có thể là “xây dựng xã hội dân sự định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Nếu khả năng này diễn ra, và tôi cho là sẽ diễn ra, tất nhiên Nhà nước Việt Nam sẽ không còn chủ trương quá siết chặt hoạt động của các nhóm dân sự, kể cả những phong trào dân sự đang manh nha tại Hà Nội, Sài Gòn và một số tỉnh thành. Thay vào đó, chính quyền sẽ có thể làm lơ đối với loại tổ chức dân sự mang tôn chỉ thuần túy xã hội, văn hóa, mà chỉ tập trung khống chế những tổ chức dân sự bị nhà nước xem là “mang màu sắc chính trị” hoặc tổ chức dân sự trong các tôn giáo.

Nếu hoạt động dân sự khởi sắc hơn thì sẽ kéo theo sự hợp thức hóa và phát triển của loại hình tổ chức phi chính phủ (NGO) trong nước. Thật ra, vấn đề NGO trong nước đã được một số tổ chức hội đoàn nhà nước như Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và nhiều trí thức kiến nghị cho hình thành cách đây hàng chục năm. Song cũng như sự chậm trễ cố ý đối với việc ban hành các Luật biểu tình, Luật lập hội và Luật trưng cầu dân ý, cho đến nay Nhà nước Việt Nam mới chỉ chấp nhận một số tổ chức NGO nước ngoài với mục đích tiếp nhận viện trợ không hoàn lại, còn NGO trong nước vẫn chưa nhận được một khung pháp lý nào.

Liên quan đến NGO trong nước, nghiệp đoàn lao động lại là một trong những điều kiện then chốt mà Việt Nam phải đáp ứng nếu muốn tham gia vào TPP. Như tôi đã đề cập, sẽ rất khó để tự thân các vấn đề trong nước thay đổi, nếu không có tác động đủ ý nghĩa và đủ mạnh từ cộng đồng quốc tế. Vào lần này, đang có hy vọng rằng cùng với những tác động từ TPP và Hội đồng Nhân quyền, Nhà nước Việt Nam sẽ phải chính thức ban hành một khung pháp lý cho hoạt động NGO trong nước. Và khi đó, xã hội dân sự sẽ có thêm một thành phần chính thống mà không phải hoạt động thầm lặng như trước đây.

Nếu trong nhiệm kỳ Nhà nước Việt Nam tham gia vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc từ năm 2014 đến năm 2016 mà Hoa Kỳ và các nước Tây Âu và Bắc Âu nhiệt tình hỗ trợ cho hoạt động dân sự ; chắc chắn vấn đề sự hình thành, vận động và đồng thuận của xã hội dân sự ở Việt Nam sẽ có tính khả thi. Cũng là để chuẩn bị cho một giai đoạn mới và dân chủ hơn nhiều của đất nước này.

RFI: Các tổ chức tôn giáo cũng sẽ được chấp nhận nhiều hơn trong thời gian tới?

Không, không phải tất cả các tổ chức tôn giáo đều được chấp nhận. Thái độ buộc phải chấp nhận của nhà nước đối với tổ chức tôn giáo chỉ dựa trên những điều kiện là tổ chức tôn giáo đó phải có một lượng tín đồ đủ đông và sức ảnh hưởng đủ lớn, đồng thời phải có được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Có một sự khác biệt khá lớn trong cách hành xử của nhà nước đối với các tôn giáo. Trong khi giới Phật giáo và cả người Công giáo được hành lễ khá thoáng và các tổ chức giáo lý và dân sự Công giáo cũng được hình thành và hoạt động dễ dàng hơn, thì với Tin Lành và Phật giáo Hòa Hảo thuần túy lại không phải như vậy.

Tương tự, theo một thỏa thuận giữa Vatican và nhà nước Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam có thể “xin lại” một số cơ sở nhà thờ, dòng tu đã cho nhà nước mượn từ thời 1975, nhưng các tôn giáo khác lại khó đạt được mong ước ấy. Đó là do trong mắt nhà nước, giới Công giáo luôn đủ mạnh và có ảnh hưởng đến quốc tế. Trong khi đó, giới tu sĩ Tin Lành, Phật giáo Hòa Hảo thuần túy và Cao Đài lại có vẻ chưa được các nhà nước và các tổ chức nhân quyền, tôn giáo quốc tế quan tâm đầy đủ.

Hội đoàn từ thiện tôn giáo đương nhiên là một thành phần không thể thiếu trong xã hội dân sự. Nếu xã hội dân sự được hình thành và các hội đoàn tôn giáo có thể kết hợp với nhau và với các nhóm trí thức trong xã hội dân sự, đó có thể sẽ là một “liên minh” làm tăng tính hiệu quả của các phong trào dân sự, trong đó giúp ích không nhỏ cho điều kiện hoạt động của các tổ chức tôn giáo. Ở Việt Nam hiện nay đang có những tổ chức dân sự như thế, như Ủy ban công lý và hòa bình Công giáo, giáo phận Vinh ở Nghệ An, nhà thờ Thái Hà ở Hà Nội và nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn.

Nhưng dĩ nhiên Nhà nước Việt Nam rất biết những yếu điểm của từng tổ chức tôn giáo và giữa các tổ chức tôn giáo với nhau. Họ cũng biết nếu không thể hiệp thông với nhau một cách chặt chẽ, các tôn giáo và các tổ chức dân sự thuộc tôn giáo sẽ không thể có được những quyền lợi theo nghĩa đầy đủ của khái niệm “tự do tôn giáo”. Và họ cũng biết làm thế nào để các tôn giáo không quá xích lại với nhau…

RFI : Từ năm 1975 cho tới nay là đã 38 năm qua rồi, nhiều người đã đặt ra vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc, nhưng hình như chưa từng được xích lại gần nhau theo đúng nghĩa. Liệu cơ chế Hội đồng Nhân quyền có mở ra hướng nào mới cho việc hồi hương của những người Việt bất đồng chính kiến?

Khả năng xã hội dân sự có thể được chấp nhận ít nhất về danh nghĩa trong thời gian tới cũng gợi mở cho một khả năng khác, là cơ chế hòa hợp và hòa giải dân tộc được tôn trọng một cách đầy đủ hơn. Nghĩa là bằng hành động chứ không phải chỉ với lời nói trong Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị cách đây hàng chục năm, về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài.

Điều đó có nghĩa là dù không thực sự hăng hái với công việc này như thường quá háo hức thu hút kiều hối, Nhà nước Việt Nam sẽ cần làm một cử chỉ nào đó rộng rãi hơn đối với một số nhân vật bất đồng chính kiến ở hải ngoại. Theo tôi, nếu sớm thì vào năm 2014, trễ hơn vào năm 2015, nhiều nhân vật bất đồng chính kiến, kể cả những người bị nhà nước Việt Nam coi là “chống cộng”, sẽ có cơ hội trở về quê hương đoàn tụ với người thân.

Cần nhắc lại là vào giữa năm 2011, Tổng thống Myanmar Thein Sein đã cho phép các nhân vật bất đồng mạnh mẽ nhất được trở về đất nước, để từ đó đến nay hầu như không xuất hiện cuộc biểu tình chống đối nào đối với ông hay các quan chức chính phủ Myanmar khi họ công du ngoài nước.

Nhìn chung, tôi cho là tình hình dân chủ Việt Nam sẽ được “nới” hơn trong từ một năm rưỡi đến hai năm tới, tương đương với một nửa đến hai phần ba nhiệm kỳ của Nhà nước Việt Nam trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Không khí phản biện và sự hình thành ban đầu của xã hội dân sự trong thời gian này sẽ khá êm ả.

Tuy nhiên, câu hỏi còn lại là không khí êm ả như thế sẽ kéo dài bao lâu sau đó? Tất nhiên đây là một ẩn số không dễ trả lời vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố tương tác.

Một trong những yếu tố đó là những bài học trong dĩ vãng. Tức vào năm 2006, sau khi được người Mỹ đưa ra khỏi danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về nhân quyền và tôn giáo (CPC) và trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), không khí bắt bớ ở Việt Nam cũng tạm lắng trong khoảng hai năm.

Nhưng đến năm 2009, được xem là thời điểm của đỉnh tạm phục hồi của nền kinh tế, một số nhân vật bất đồng chính kiến bắt đầu bị “nhập kho”. Các nhóm lợi ích kinh tế và thân hữu chính trị cũng tung hoành chưa từng thấy, xô quốc gia vào một cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc chưa từng thấy…

Vì thế, ẩn số quan trọng nhất mà chúng ta cần giải đáp là liệu nền kinh tế Việt Nam có thể phục hồi trong vài ba năm tới hay không. Đáp án này sẽ quyết định tất cả cho tương lai chính trị ở Việt Nam.

Xét cho cùng, một cái ghế trong Hội đồng Nhân quyền chỉ mang tính hữu danh vô thực. Cánh cửa quan yếu hơn nhiều đối với Nhà nước Việt Nam là Hiệp định TPP và viện trợ quốc tế, chẳng hạn nguồn vốn ODA từ Nhật Bản. Khi đó mới có thể nói đến chuyện nền kinh tế Việt Nam còn cơ may nào để tồn tại hay sẽ là một sự sụp đổ không tránh khỏi, dẫn đến khủng hoảng xã hội và tất yếu là khủng hoảng chính trị.

Tất cả những bất ổn tiềm tàng như thế phải được xử lý trong vỏn vẹn ba, bốn năm tới, nghĩa là đến giai đoạn 2016-2017. Nếu không, khủng hoảng chính trị sẽ là chắc chắn!

RFI: Xin chân thành cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Thành phố Hồ Chí Minh đã vui lòng trao đổi với RFI Việt ngữ những dự báo về không khí chính trị tại Việt Nam trong thời gian tới.