Tin tức 22-2-2013

Mỹ bắt mật ong Trung Quốc nhập lậu, trị giá $180 triệu

WASHINGTON (AFP) – Giới hữu trách Mỹ hôm Thứ Tư cho hay đã giăng bẫy bắt được hai công ty lớn nhập cảng bất hợp pháp mật ong Trung Quốc vào thị trường Mỹ để tránh bị phạt thuế bán hàng dưới giá thành, có thể lên đến $180 triệu.

Ông Daniel Ragsdale, phó giám đốc Quan Thuế Mỹ, tại cuộc họp báo nói về vụ nhập lậu mật ong Trung Quốc. (Hình: Jim Watson/AFP/Getty Images)

Quan Thuế Mỹ gọi đây là một trong những vụ khai gian xuất xứ sản phẩm để tránh thuế lớn nhất từ trước đến nay.

Giới hữu trách cho hay trong vụ này mật ong Trung Quốc đã được chuyển qua các quốc gia khác như Ấn Ðộ, Nga và Thái Lan để tránh thuế cao.

Có năm người bị bắt và bị truy tố trong vụ này. Hai công ty, Honey Holding, ở Texas, và Groeb Farms, ở Michigan, chịu trả số tiền phạt từ $1 triệu đến $2 triệu.

Phó giám đốc cơ quan Quan Thuế Mỹ, ông Daniel Ragsdale, cho hay kế hoạch mang tên “Honeygate” này chỉ là phần nổi của một tảng băng.

Giới hữu trách nói rằng có rất nhiều mặt hàng được nhập cảng vào Mỹ bị khai man loại sản phẩm hay nguồn gốc, khiến chính phủ Mỹ thiệt hại nhiều tỉ dollars mỗi năm.

Trong vụ bắt mật ong này, cơ quan quan thuế tịch thu khoảng 4,900 thùng mật ong.

Ðây là giai đoạn hai của cuộc điều tra khởi sự từ năm 2008 và trước đó đã có 14 người bị truy tố. (V.Giang)

——————————————

Cụ bà 95 tuổi qua đời, để lại $27 triệu cho từ thiện LAGUNA WOODS, California (OCR) –

Chi nhánh Orange County của Hiệp Hội Quốc Gia Alzheimer bất ngờ nhận được một đóng góp lớn chưa từng thấy, $27 triệu, của một triệu phú mới qua đời, bà Helen Banas, từ trần ngày 22 Tháng Tám, 2012, ở tuổi 95.

Hình của bà Helen Banas được lưu lại trên điện thoại di động của nhân viên chi nhánh

Hiệp Hội Quốc Gia Alzheimer tại Orange County. (Hình: Michael Goulding, Orange County Register)

Bà Banas, di dân gốc Ba Lan, là một góa phụ 50 năm, sau khi ông chồng mất năm 1958 vì bệnh ung thư phổi. Tài sản của bà là do ông chồng trước kia làm việc với hãng thuốc Merck trước khi trở thành nhà giao dịch chứng khoán ở thị trường New York.

Bà Banas sống một mình với cuộc sống giản dị những năm cuối cuộc đời trong một ngôi nhà townhome trị giá $90,000 ở Laguna Woods, Orange County, California.

Ông Jim McAleer, giám đốc điều hành chi nhánh của Hiệp Hội Alzheimer ở Orange County, với ngân sách $3.8 triệu mỗi năm, nói rằng chưa bao giờ tưởng tượng nhận được một số tiền đóng góp cho quỹ từ thiện lớn tới $27 triệu như vậy.

Bà Banas không bao giờ mắc bệnh Alzheimer, chứng bệnh mất trí nhớ, nhưng người mẹ của bà bị bệnh này ít lâu sau khi từ New York chuyển về Orange County trong thập niên 1980. Bà là người duy nhất săn sóc cho mẹ và do đó đã có nhiều liên lạc với tổ chức này, có trụ sở tại Irvine. Sau khi người mẹ mất năm 1992, bà Banas quyết tâm mong muốn sẽ đóng góp tài chính cho tổ chức từ thiện này để giúp những bệnh nhân và người săn sóc họ.

Khoảng $10 triệu trong số tiền bà Banas hiến tặng sẽ được đưa vào quỹ trung ương hội, phần còn lại là của chi nhánh Orange County. Chi nhánh này hiện giúp đỡ cho 36,000 người mỗi năm, nghĩa là vào khoảng 26% cư dân Orange County đã hoặc có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Chi nhánh hy vọng sẽ tăng gấp đôi số bệnh nhân có thể được giúp đỡ lên tới 72,000 người.

Theo lời ông McAleer, nhiều cư dân Orange County nói tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Việt ở nhà không biết đến hoạt động từ thiện của Hội Alzheimer. Ông dự tính nhờ tiền của bà Banas hiến tặng sẽ mở rộng việc quảng bá đến những nhóm người này, đồng thời cũng dự tính xây dựng một ngôi nhà cho những bệnh nhân Alzheimer. (HC)

——————————————————

Phạm Nhật Bình – Đảng sẽ lại bịt miệng các góp ý về Hiến pháp

Phạm Nhật Bình

Kính gửi quí cơ quan truyền thông báo chí,

Việc đóng góp và kiến nghị về việc sửa đổi Hiến pháp là đề tài đang nóng được các trí thức trong và ngoài nước thảo luận và góp ý sôi nổi. Có nhận xét cho rằng giới lãnh đạo đảng và nhà nước dùng thủ thuật mở rộng cho người dân góp ý là để đối phó với làn sóng phản đối cao độ của công chúng, như trường hợp khai thác Bô-xít trước đây. Riêng Trung tá Nguyễn Thanh Tú trong một bài viết trên báo QĐND ngày 17/2/2013 đã phê phán những ai đòi bãi bỏ Điều 4 Hiến pháp, bãi bỏ sự độc quyền lãnh đạo của ĐCSVN là một sự đòi hỏi phi lý. Ông cũng vu cáo những ai đòi hỏi có thể chế đa nguyên là có sự xúi dục từ những thế lực bên ngoài.

Kính mời quí vị theo dõi ông Lý Thái Hùng phê bình lập luận trên của Trung tá Nguyễn Thanh Tú qua đoạn video:

Chúng tôi cũng xin gửi quí vị bài viết “Đảng sẽ lại bịt miệng các góp ý về Hiến pháp” của tác giả Phạm Nhật Bình và kính mong được quí vị tiếp tay phổ biến.

Trân trọng
Mai Hương
Trưởng Ban Liên Lạc Truyền Thông Đảng Việt Tân

TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH VÀ SỰ HÌNH THÀNH TỔNG CỤC II ( * )


Tướng Lê Đức Anh dường như không tham gia tranh luận về ý thức hệ, về kinh tế thị trường. Chủ tịch nước, theo Hiến pháp, là một chức danh không mấy thực quyền, nhưng trong thời gian giữ cương vị này, ông Lê Đức Anh đã tạo ra được một ngoại lệ.

Năm 1986, khi từ Campuchia trở về thay thế Tướng Lê Trọng Tấn làm tổng tham mưu trưởng, Tướng Lê Đức Anh không ở những căn biệt thự dân sự bên ngoài mà chọn một căn nhà thuộc cụm nhà khách Bộ Quốc phòng. Đó là một căn nhà hai tầng được xây từ thời Pháp nằm trong khuôn viên Thành Hà Nội cũ. Tướng Anh thường vào ra Thành bằng cổng chính, 51B Phan Đình Phùng nhưng có thể đón khách từ cổng phụ, số 5 Hoàng Diệu. Bà Võ Thị Lê, người vợ thứ hai mà ông cưới năm 1956, sau khi tập kết ra Bắc, sống như hình với bóng với ông trên tầng hai, trong khi những người giúp việc thì ở tầng dưới hoặc các ngôi nhà nằm trong khuôn viên.
Ông Lê Đức Anh sinh ngày 1-12-1920 tại Truồi, một làng quê nghèo đói bên phá Tam Giang, thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên. Cha ông vừa làm ruộng vừa có thêm nghề thuốc nên cuộc sống gia đình, theo ông, đỡ cực hơn mọi người. Ông học vỡ lòng ở trong làng rồi ra Huế học tiểu học. Năm mười một tuổi, ông được gửi ra nhà chị gái, có chồng đang dạy học ở thành Vinh học tiếp nhưng cũng chỉ được thêm một, vài năm. Học vấn của ông Lê Đức Anh ở mức đọc thông viết thạo. Ông Lê Đức Anh bắt đầu được “giác ngộ” thông qua những câu chuyện về “một người có tên là Nguyễn Ái Quốc” do hai người cậu ruột của ông, Lê Bá Giản và Lê Bá Dị, kể. Theo lý lịch tự khai: Lê Đức Anh chính thức tham gia cách mạng từ năm 1937 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào ngày 1-5-1938. Năm 1939, khi bị đàn áp, một số đồng chí bị bắt, ông lánh vào Đà Nẵng, lên Đà Lạt, rồi đến năm 1942 thì xuống đồn điền cao su Lộc Ninh. Cuộc hôn nhân với bà Lê cùng với một số điểm không rõ ràng về thời điểm vào Đảng là hai vấn đề khiến ông Lê Đức Anh luôn bị những người từng hoạt động với ông xới lên mỗi khi quyền lực của ông được nới rộng419.

Ông Lê Đức Anh gặp người vợ đầu tiên, bà Phạm Thị Anh, vào tháng 8-1945, khi ông đang là “ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách tổ chức và quân sự”420 và bà Bảy Anh đang là phó chủ tịch Hội Phụ nữ xã An Tây, huyện Bến Cát.
Bà Phạm Thị Anh sinh năm 1925, con một gia đình địa chủ nhỏ ở Bình Dương. Cả mấy anh chị em đều đi theo Việt Minh, có người đang làm chủ tịch huyện, có người đang làm bí thư xã. Thời gian ấy, bà Bảy Anh chỉ mới vừa đôi mươi lại được coi là hoa khôi trong khi ông Lê Đức Anh thì bị rỗ và một bên mắt bị bệnh vảy cá. Ông Lê Đức Anh “tìm hiểu” bà bằng cách cho mượn sách và mỗi lần như thế lại kẹp vào một mảnh giấy ghi mấy chữ. Làm hậu thuẫn cho ông còn có hai tỉnh ủy viên: Tư Đang và Nguyễn Oanh421; Tư Đang khi ấy là con nuôi của gia đình bà Bảy. Nhưng, bà Bảy Anh cho rằng, việc bà chọn ông Lê Đức Anh chủ yếu vì nếu lấy ông thì bà không phải làm dâu; ông Lê Đức Anh cũng ngỏ lời đúng khi bà muốn yên bề gia thất.
Cuộc hôn nhân ngay ngày đầu đã gặp sự cố: Đám cưới vừa bắt đầu thì có Tây càn, ông Lê Đức Anh đạp xe chở vợ về bên Hội Phụ nữ rồi quay lại chỉ huy chống càn. Đứa con đầu lòng của họ ra đời khi bà Bảy Anh chỉ mới có bầu bảy tháng, bà ngoại cháu đặt tên là Lê Thiếu. Vừa sinh xong lại gặp càn, y tế xã đưa lên võng gánh chạy vào rừng, đứa bé nhiễm lạnh, chết. Sau đó, Lê Đức Anh được điều về Khu 8. Năm 1950, khi xuống miền Tây thăm chồng, bà Bảy có thai đứa con thứ hai. Năm 1951, bà sinh hạ một người con gái đặt tên là Lê Xuân Hồng.
Sau Hiệp định Geneva, Lê Đức Anh nằm trong số những cán bộ được đưa ra miền Bắc. Từ Bình Dương, hai mẹ con bà Bảy Anh xuống thăm chồng. Nhưng bà quyết định không tập kết ra Bắc như những người phụ nữ khác. Khi ấy, mấy anh em bà Bảy theo kháng chiến để lại một đám trẻ con lít nhít, bà không nỡ để cho cha, một người đàn ông góa vợ phải một mình chăm nom bọn trẻ. Chỉ không lâu trước đó, gia đình bà Bảy Anh đã phải mất ba anh em trai trong một vụ án oan lớn ở Bến Cát422.
Lê Đức Anh ra Bắc, thoạt đầu được giao làm sư trưởng Sư đoàn 330, đóng ở Thanh Hóa; sau được điều về Bộ Tổng tham mưu làm cục phó Cục Tác chiến. Thời gian này, quân đội đang chịu cuộc “chỉnh huấn, chỉnh quân” khốc liệt do cố vấn Trung Quốc chỉ đạo. Trong chi bộ của ông có hai người bị kiểm điểm nặng, ông và ông Bội Dong, vì lấy vợ thuộc thành phần tư sản, địa chủ. Cả hai sau đó đều tuyên bố “ly khai với gia đình vợ”423.
Năm 1956, ông kết hôn với bà Võ Thị Lê, có chồng là một đại úy quân đội đã hy sinh và đang có một người con riêng. Năm 1957, họ có với nhau một con trai, đặt tên là Lê Mạnh Hà; năm 1959, họ sinh thêm một người con gái, cũng đặt tên là Lê Xuân Hồng. Giữa thập niên 1960, Lê Xuân Hồng lớn, người con của ông Lê Đức Anh và bà Bảy Anh, cũng được Tướng Trần Văn Trà tổ chức đưa ra miền Bắc 424. Ở Hà Nội, bà Lê làm y sỹ ở bệnh viện Hữu Nghị. Những năm ông làm bộ trưởng Quốc phòng rồi chủ tịch nước bà luôn ở bên cạnh chăm sóc ông. Đây là thời gian mà cuộc sống của ông bà được mô tả là cẩn trọng tới từng chén cơm, viên thuốc.

Tổng cục II

Khi nhận chức bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tướng Lê Đức Anh chọn người đã kế vị mình ở Campuchia, Tướng Đoàn Khuê, làm tổng tham mưu trưởng. Năm 1992, Đoàn Khuê trở thành bộ trưởng Bộ Quốc phòng và, năm 1991, một nhân vật khác cũng từng ở Quân khu IX và Bộ tư lệnh 719 với Lê Đức Anh, Tướng Lê Khả Phiêu, được đưa lên làm chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
Ngoài những chức năng hiến định, ông Lê Đức Anh còn được Bộ Chính trị phân công phụ trách công tác quốc phòng, an ninh và ngoại giao. Nhưng, khi nói đến thực quyền của ông không thể không nhắc đến lực lượng tình báo quân đội mà cho dù trong thời bình, đã được ông nâng từ cấp cục lên tổng cục.
Cuối năm 1986, khi Tướng Lê Trọng Tấn mất đột ngột, Lê Đức Anh thay vị trí tổng tham mưu trưởng. Chỉ huy tình báo quân đội, Tướng Phan Bình, được cho về hưu. Trung tướng Phan Bình là người kế nhiệm Đại tá Lê Trọng Nghĩa làm cục trưởng Cục II kể từ năm 1968, thời kỳ mà tình báo quân đội thực sự phục vụ cho quốc phòng. Sau khi bàn giao, Tướng Phan Bình vào Sài Gòn. Ông nghỉ tại nhà khách Cục II, số 30 Lê Quý Đôn. Đêm 13 tháng Chạp năm Bính Dần (đầu năm
1987), ông chết ở tư thế “ngã sấp trên thềm nhà trước phòng khách, ở đầu bị bắn toác một lỗ rộng”.
Những thông tin không chính thức sau đó nói rằng “đồng chí Phan Bình bị bệnh tâm thần, tự sát”432. Tướng Lê Đức Anh đưa Nguyễn Như Văn, vốn là trưởng Đoàn 12, cơ quan tình báo quân đội bên cạnh Bộ tư lệnh 719 ở Campuchia lên làm cục trưởng Cục II. Đại tá Vũ Chính, người kế vị ông Tư Văn ở Đoàn 12 được đưa lên làm cục phó. Năm 1995, Cục II được nâng cấp thành Tổng cục II, Tướng Vũ Chính thay Nguyễn Như Văn nắm quyền tổng cục trưởng. Một triều đại mới của tình báo quân đội bắt đầu.
Không dừng lại ở quy mô tổng cục. Dưới sự chỉ đạo của Tướng Lê Đức Anh, chủ tịch nước kiêm phó bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương, Tướng Vũ Chính bắt đầu soạn thảo Pháp lệnh tình báo theo đó thay đổi gần như căn bản chức năng nhiệm vụ của cơ quan tình báo. Pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và được Chủ tịch Nông Đức Mạnh ký vào ngày 14-12-1996. Sau khi có Pháp lệnh, Tổng cục II soạn thảo một nghị định trình lên Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Ông Kiệt thừa nhận là khi nhận thấy sự bất ổn của nghị định tình báo, lẽ ra ông phải đủ can đảm để từ chối ký (Nghị định 96/CP). Nhưng, ông Kiệt giải thích: “Phần do ông Lê Đức Anh không ngừng thúc ép, phần do, theo nguyên tắc, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh thì Chính phủ có chức năng phải hướng dẫn thi hành nên chín tháng sau, ngày 11-9-1997, tôi đã phải ký”. Ông Phan Văn Khải giải thích thêm: “Nghị định tình báo mở rộng quá, ông Kiệt cảm thấy bất ổn nhưng không vượt qua được”433.
Từ một cơ quan trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, Pháp lệnh Tình báo đã đặt những cơ quan như Tổng cục II “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ”. Pháp lệnh cũng biến Tổng cục II, từ một cơ quan thay vì chỉ làm chức năng chuyên trách tình báo về quân sự và thực thi các nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng, trở thành một cơ quan có chức năng “tình báo” trong nội bộ, có quyền: cài người vào các địa phương, các cơ quan của Đảng, Nhà Nước, các tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa và kinh tế, được phép thiết lập kênh thông tin đặc biệt với lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước.
Trong quá trình đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Mỹ, theo ông Nguyễn Đình Lương 434, nhiều ủy viên Bộ Chính trị nhận được những “báo cáo tình báo” của Tổng cục II do Tướng Vũ Chính trực tiếp đưa tận tay. Những báo cáo này đã từng có tác động không nhỏ đến tiến trình đàm phán. Theo ông Võ Viết Thanh: “Xem lại các báo cáo của Tổng cục II thấy, phần lớn đó là những báo cáo mang tính chất tác động vào nội bộ của lãnh đạo Việt Nam, tạo bất lợi về mặt tâm lý trong các hoạt động đối ngoại, có khuynh hướng đẩy tới sự đối đầu với Mỹ. Tôi không hiểu tại sao khi đọc những báo cáo như vậy mà Bộ Chính trị không yêu cầu chấn chỉnh”.
Ông Phan Văn Khải thừa nhận: “Ông Lê Đức Anh dùng quân đội, lực lượng tình báo quân đội để tạo thế và dùng tin tình báo để gây ảnh hưởng lên cả các vấn đề nhân sự. Năm 2002, khi Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm tổng cục trưởng Tổng cục II thay bố vợ là Vũ Chính, tôi có dặn: anh đừng có dùng Tổng cục II vào những việc như bố vợ anh đã từng làm, Vịnh nói, cháu sẽ nghe lời chú”435. Thời Vũ Chính còn làm tổng cục trưởng, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng đã không thoát khỏi “lưới Tổng cục II” của Tướng Lê Đức Anh.

( Rút từ trong tập Bên thắng cuộc… của Huy Đức )
( * ) Đầu đề là của Phamvietdao.net…

Việt Nam đội sổ quốc tế về công khai ngân sách

Những nước cuối bảng theo xếp hạng của OBI trên 100 quốc gia

Việt Nam đứng dưới mức tối thiểu về chỉ số công khai ngân sách (OBI), theo báo cáo mới nhất của tổ chức mang tên Đối tác Ngân sách Quốc tế (IBP) đăng trên trang  Internationalbudget.org.

Mức điểm tối thiểu đưa ra là 21 – 40 và Việt Nam đạt 19 trên 100 điểm tối đa, cho giai đoạn từ năm 2010 – 2012.

Trong số các tiêu chí chính mà OBI dùng để đánh giá, ba hạng mục khiến Việt Nam mất điểm là kế hoạch chi tiêu ngân sách của chính phủ chỉ được công bố nội bộ, và không đưa ra báo cáo tài chính giữa năm và báo cáo chi tiêu ngân sách cho công dân.

Phần đánh giá tiến bộ của chính phủ trong việc nỗ lực công khai ngân sách cho thấy, từ năm 2010 tới 2012, Việt Nam tăng được thêm 5 điểm, nhưng vẫn bị xếp vào hàng “không đủ”.

Báo cáo phân tích, trong số 100 nước thực hiện khảo sát ngân sách, Việt Nam đứng ở vị trí cực kỳ thấp, kể cả so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines và cả Đông Timor.

“Điểm số này cho thấy chính phủ Việt Nam cung cấp thông tin ít ỏi tới công dân về ngân sách quốc gia và các hoạt động tài chính trong mỗi năm.

“Điều này khiến cho người dân khó tin vào cách quản lý ngân sách chung của nhà nước.”

‘Gợi ý cho Việt Nam’

“Việt Nam đã có báo cáo tài chính trong năm, song cần chi tiết và cụ thể hơn, cần nêu rõ tất cả các khoản chi tiêu, so sánh với cùng giai đoạn năm trước, và đặc biệt là phải công bố thông tin về các khoản nợ của nhà nước.”

Báo cáo về chỉ số công khai ngân sách của IBP

Các nước trong khu vực đứng sau Việt Nam có Campuchia được 15 điểm, và Trung Quốc gần chót bảng với 11 điểm.

Đối tác Ngân sách Quốc tế đưa ra năm điểm gợi ý cho Việt Nam nhằm “cải thiện điểm số” OBI, mà lời khuyên đầu tiên là công bố rộng rãi kế hoạch chi tiêu ngân sách của chính phủ, thay vì chỉ thông báo trong nội bộ.

IBP lấy ví dụ, báo cáo tương tự của 79 quốc gia khác trong đó có các nước láng giềng như Đông Timor, Thái Lan, có thể tìm đọc được trên trang web của IB.

Việt Nam đã có báo cáo tài chính trong năm, song cần chi tiết và cụ thể hơn, cần nêu rõ tất cả các khoản chi tiêu, so sánh với cùng giai đoạn năm trước, và đặc biệt là phải công bố thông tin về các khoản nợ của nhà nước.

Báo cáo kiểm toán của Việt Nam đã được công bố, song cần trình bày toàn bộ chi phí của chính phủ trong phần ngân sách 6 tháng cuối năm, và kiểm rõ những khoản ngân sách hỗ trợ.

Ngoài ra, báo cáo kiểm toán cũng phải được đưa ra rộng rãi trước dân chúng để có thể theo dõi các hoạt động của những người đứng đầu chính phủ và góp ý cho cơ quan kiểm toán.

Báo cáo OBI về Việt Nam dài bốn trang, với các số liệu, phân tích, so sánh, kết luận và giải pháp để giúp quốc gia này “cải thiện” các hoạt động công khai ngân sách, đồng thời cũng đưa ra đường dẫn tới các phần hướng dẫn và báo cáo tài chính của các quốc gia trong khu vực và thế giới.

Theo IBP, khảo sát ở Việt Nam được thực hiện trong vòng 18 tháng từ tháng 07/2011 tới tháng 12/2012, với sự tham gia của xấp xỉ 400 chuyên gia và cũng đã được gửi tới chính phủ Việt Nam để tham khảo.

IBP là tổ chức chuyên theo dõi ngân sách các quốc gia, với mục tiêu “đảm bảo ngân sách chính phủ đáp ứng được nhu cầu của lớp người dân có thu nhập thấp và nghèo trong xã hội, và theo đó, khiến cho hệ thống ngân sách được minh bạch và đáng tin cậy hơn cho dân chúng”.

@bbc