Tin 22-2-13

Mỹ sắp nhận lại con nuôi Việt Nam?

Trẻ em mồ côi ở Thanh Hóa được nhà chùa cho áo ấmNhiều người Mỹ đến Việt Nam để nhận các trẻ mồ côi làm con nuôi

Việt Nam và Hoa Kỳ đang tiến gần đến một thỏa thuận cho phép các công dân Mỹ nhận con nuôi người Việt Nam, hãng tin Mỹ AP dẫn lời một thượng nghị sỹ Mỹ đang ở thăm Việt Nam cho biết.

Mỹ đã tạm dừng nhận con nuôi Việt Nam hồi năm năm trước do xuất hiện những cáo buộc rằng việc này đã bị lợi dụng để buôn bán trẻ em.

AP dẫn lời bà Mary Landrieu, thượng nghị sỹ Dân chủ từ Louisiana, nói hôm 20/2 rằng bà hy vọng việc nối lại chương trình nhận con nuôi sẽ diễn ra ‘trong tương lai gần’ do kết quả của việc Chính phủ Việt Nam củng cố các điều luật liên quan.

Bà nói rằng “lúc nào cũng có khả năng xảy ra những việc làm sai trái nhưng điều đó không nên làm cho các em nhỏ mất đi cơ hội được có gia đình”.

Việt Nam đã từng là một nơi mà nhiều người Mỹ tìm con nuôi tìm đến trước khi Washington ra lệnh cấm hồi năm 2008 sau khi một cuộc điều tra cho thấy có tham nhũng, gian lận và buôn bán trẻ em trong việc cho, nhận con nuôi, theo AP.

Bà Landrieu đang dẫn đầu một phái đoàn nghị sỹ Hoa Kỳ đi thăm Việt Nam từ ngày 19 cho đến ngày 21/2 để bàn về vấn đề chăm sóc trẻ em và nhận con nuôi.

Tờ Tuổi Trẻ cũng đưa tin rằng phái đoàn Mỹ đã nói với họ rằng hai nước sẽ nối lại việc nhận con nuôi nhưng hiện không rõ thời điểm chính xác.

Tờ báo này cũng dẫn lời Thượng nghị sỹ Landrieu nói rằng bà mong muốn Chính phủ Việt Nam đẩy mạnh việc cho, nhận con nuôi ở trong nước và với các nước khác vì ‘trẻ em được nuôi dưỡng tốt nhất trong môi trường gia đình chứ không phải ở các viện, nhóm’.

‘Có tiến bộ’

Trong thời gian ở Việt Nam, phái đoàn của bà Landrieu, bao gồm ba hạ nghị sỹ khác của Đảng Dân chủ, đã có các buổi làm việc với các quan chức của Quốc hội, Bộ Tư pháp và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội để bàn thảo về những cải cách trong chương trình cho nhận con nuôi của Việt Nam theo hướng tuân thủ Công ước Hague về cho nhận con nuôi.

“Lúc nào cũng có khả năng xảy ra những việc làm sai trái nhưng điều đó không nên làm cho các em nhỏ mất đi cơ hội được có gia đình”

Thượng nghị sỹ Mỹ Mary Landrieu

Phái đoàn Hoa Kỳ cũng xem xét các bước đi của Chính phủ Việt Nam để cải thiện hệ thống chăm sóc và bảo vệ trẻ em.

Thông cáo của Sứ quán Mỹ ở Hà Nội cho biết hai nước vẫn đang bàn thảo về một chương trình cho nhận con nuôi theo nhu cầu đặc biệt.

Theo đánh giá của phía Mỹ, trong ba năm qua, Việt Nam đã khẳng định cam kết cải cách chương trình cho nhận con nuôi của mình qua việc ra một luật mới và nghị định hướng dẫn.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã phê chuẩn một chương trình quốc gia để thực thi Công ước Hague.

Phía Mỹ “hoan nghênh những nỗ lực của Việt Nam trong việc cải thiện hệ thống chăm sóc trẻ em”, thông cáo của Sứ quán Mỹ cho biết.

Tháng 9/2012, Ireland và Việt Nam đã ký một thỏa thuận cho mở lại chương trình nhận con nuối bị ngưng năm 2009.

Nhìn chung, trên thế giới các vụ nhận con nuôi giảm tới mức thấp nhất từ 15 năm qua một phần vì lo ngại tệ nạn buôn bán trẻ em.

Theo một khảo sát do Peter Selman từ Đại học Newcastle ở Anh thực hiện thì trên toàn cầu, con số các vụ cha mẹ người nước ngoài nhận con nuôi từ xứ sở khác giảm từ 45 nghìn năm 2004 xuống còn 25 nghìn năm 2012.

Khu vực Đông Nam Á cũng là nơi xảy ra các vụ  buôn bán trẻ em, mà gần nhất là ở Indonesia bán qua ngả Singapore sang các nước khác.

—————————————————-

‘Hàng chục tỷ USD bị tuồn lậu ra khỏi Nga’

Thống đốc Sergei IgnatievThống đốc Sergei Ignatiev nói các giao dịch là phi pháp

Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nga, Sergei Ignatiev, nói 49 tỉ USD đã bị tuồn khỏi nước này một cách bất hợp pháp vào năm ngoái.

Các vụ chuyển vốn này, bằng khoảng 2,5% sản lượng kinh tế hàng năm của Nga, được điều khiển bởi các nhóm có tổ chức cao.

Ông Ignatiev nói với một tờ báo của Nga rằng các giao dịch chuyển tiền có thể được sử dụng để thanh toán cho các nguồn cung cấp ma túy, hối lộ và tránh thuế.

Tuy nhiên một phát ngôn viên của chính phủ cho rằng con số này đã “phóng đại quá cao”.

Thống đốc Ignatiev nói với tờ báo địa phương Vedomosti, nhưng từ chối nêu tên các cá nhân:

“Quý vị có ấn tượng rằng tất cả các giao dịch này đều được một nhóm người có tổ chức chặt chẽ kiểm soát.”

“Với độ tập trung các nỗ lực của các cơ quan thực thi pháp luật, tôi nghĩ có thể tìm ra những người này”, ông nói thêm.

Ông Ignatiev nói con số 49 tỷ USD là do một nghiên cứu của Ngân hàng Trung ương đánh giá các dòng tiền ra vào Nga.

Quá nửa lượng tiền được chuyển đi dưới dạng các khoản chuyển vốn “mơ hồ”, hay “các khoản thanh toán được thực hiện bởi các tổ chức của Nga cho những người không phải là cư dân, mục đích được nêu của các giao dịch này đều sai rõ ràng”, theo ông Ignatiev.

‘Nguyên nhân suy sụp’

“Các giao dịch có thể được dùng để thanh toán ma tuý… nhập lậu hàng hóa… hối lộ và lại quả cho quan chức và nhà quản lý để biến các thứ đó thành các khoản mua sắm quy mô lớn.”

Thống đốc Ngân hàng Nga

Thống đốc nói thêm:

“Các giao dịch này có thể được dùng để thanh toán ma tuý… nhập lậu hàng hóa… hối lộ và lại quả cho các quan chức và các nhà quản lý để biến các thứ đó thành các khoản mua sắm quy mô lớn. Chúng có thể được sử dụng để tránh thuế.”

Ông Ignatiev, người dự kiến sẽ rời nhiệm sở vào tháng Sáu sau 11 năm nắm quyền lãnh đạo ở Ngân hàng Trung ương, cũng nhấn mạnh hiện tượng phổ biến ở Nga về các “công ty chỉ tồn tại đúng một ngày” vốn được sử dụng như những công cụ để chuyển tiền, sau đó biến mất trước khi chi trả các loại thuế.

Chúng là “nguyên nhân suy sụp của nền kinh tế của chúng ta”, ông nói.

Tuy nhiên, Dmitry Peskov, phát ngôn viên của Tổng thống Vladimir Putin, đã bác bỏ phát giác của Ngân hàng Trung ương, nói rằng con số này đã bị “phóng đại quá cao”.

Tổ chức mang tên Global Financial Integrity có trụ sở tại Washington nói hàng năm trung bình có 62 tỷ USD thu về từ tham nhũng, buôn lậu vũ khí, buôn lậu người và các hoạt động bất hợp pháp khác đã ra vào nước Nga kể từ năm 2004.

Ông Alexander Lebedev, chủ các tờ báo The Independent và Evening Standard ở Anh, đồng thời là người thường chỉ trích Kremlin, đã bình luận trong một bài blog của ông về nhận xét của ông Ignatiev.

Ông nói: “Hãy hy vọng lãnh đạo tiếp theo ở ngân hàng trung ương sẽ chú ý đến những lời này.”

Tuy nhiên, ông Ignatiev đã không đề cập đến chủ đề này khi ông làm chứng trước Thượng viện Nga hôm thứ Tư.

Câu chuyện nhỏ của tôi

Tôi xin được phép kể vài mẩu chuyện nhỏ về việc nhà cầm quyền Việt Nam thực thi sứ mệnh bảo vệ nhân quyền cho một công dân như tôi:

Kết tội:

Tôi bị bắt với một lý do rất… cười: tọa kháng tại nhà với biểu ngữ (được phía Cơ quan An ninh điều tra kết luận rằng mang nội dung xấu): “Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam. Phản đối công hàm bán nước ngày 14/9/1958 của Phạm VănĐồng”. Hơn 16 tháng sau ra tòa, tôi nhận bản án 4 năm tù giam, thêm 3 năm quản chế về cái gọi là tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” mà không hề dính dáng đến việc “tọa kháng”, hành vi trực tiếp được nhà cầm quyền làm lý cớ bắt bỏ tù.

Hai chứng nhân “quan trọng” được đưa từ Thanh Hóa vào làm công cụ buộc tội bị cáo. Ông Nhiểm, ông Kính trông tội nghiệp với bộ mặt méo mó, khắc khổ ngồi lọt thỏm, bị bao vây giữa vô vàn những mật vụ dưới hàng ghế dự khán, thay vì ở vị trí dành cho người làm chứng theo quy định một phiên tòa: “Nếu thời gian quay trở lại hoặc có cơ hội khác, tôi vẫn sẽ giúp đỡ họ – những ngư dân Thanh Hóa – dù tôi biết trước có thể những con người này sẽ quay lại kết tội tôi. Họ buộc phải làm thế. Và tôi sẵn sàng tha thứ cho họ.” Tôi đã nói những lời này trước tòa dành cho những ngư dân Thanh Hóa tôi đã gặp và giúp đỡ hồi cuối tháng hai năm 2008.

Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi sẽ không tường thuật lại chuyến đi Thanh Hóa cùng Ngô Quỳnh. Bạn đọc nào quan tâm và muốn tìm hiểu sự thật, xin tìm đọc bài viết “Uất ức – biển ta ơi!”tôi viết năm 2008. Tôi tin rằng, nếu ai còn là người Việt Nam thì không thể không đau xót trước việc đồng bào mình bị bắt giết ngay trên lãnh hải của Tổ Quốc mình, cũng như không thể phủ nhận Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Chỉ vì vạch trần và tố cáo một sự thật bị Đảng và Nhà nước giấu nhẹm, chỉ vì đòi quyền lợi chính đáng cho những nạn nhân, ngư dân Thanh Hóa mà tôi và Ngô Quỳnh đã bị tước mất tự do – dù là một thứ tự do đang hấp hối.

Biệt giam:

Những ngày đầu, tôi bị giam chung với các nữ tù hình sự khác. Trong cuộc vật lộn mưu sinh, trở thành đủ lọai tội phạm (họ vẫn thường tự hào rằng phải rất bản lĩnh mới dám thách thức pháp luật) thì sự xuất hiện của một cô gái nhỏ bé bị gán tội “chống Nhà Nước…” là điều ngoài sức tưởng tượng. Từ ngạc nhiên, tò mò rồi thiện cảm, chúng tôi trở nên gần gũi với nhau. Được vài hôm, những ánh mắt thân thiện, cảm mến biến mất. Thay vào đó là thái độ dè dặt, lảng tránh pha chút sợ sệt. Chính sách cô lập bắt đầu có hiệu quả!

Sắp đến giờ cơm chiều. Tiếng ổ khóa vang lên chát chúa. Tiếp đó là giọng nói lạnh tanh của quản giáo: “Phạm Thanh Nghiên chuẩn bị nội vụ!”. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía tôi, lo lắng, thương cảm, hoảng hốt: “Chết rồi, bị đi ép cung rồi”, “chị ơi! Biệt giam rồi. ”, “khổ thân, người bé như cái kẹo, chịu sao nổi cháu ơi”. Mỗi người góp một tí, từ chai mắm, gói lạc, ít bột canh, cuộn băng vệ sinh… tất cả được đùm vào một túi ni-lông, ấn vội vào tay tôi. Tôi không đủ thời gian đùn đẩy. Nhận cũng tốt. Đây sẽ là vốn liếng giúp tôi “cầm cự”, chờ đợi đến lúc nhận được quà tiếp tế từ gia đình. Tôi không sợ biệt giam, không sợ bị ép cung. Tôi sợ những ánh mắt thương cảm của họ. Những tình cảm rất con người mà vì một sức ép đáng sợ nào đó, họ đã buộc phải thủ tiêu đi.
Tôi bước ra cửa, không ngoái lại nhìn. Sau lưng, vài giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhà tù, thì ra vẫn còn chỗ cho tình thương yêu và lòng nhân ái.

Dẫn tôi đi là người cán bộ tên C. Sau này tôi được nghe nhiều chuyện về ông ta, chủ yếu thành tích làm giầu bất chính và đánh tù. Tôi cắp túi quần áo, chân đất đi trên những con hẻm nhếch nhác vì mưa phùn, qua những dãy nhà giam lạnh ngắt và cũ kỹ. Trong những bức tường lặng câm kia là những sự chờ đợi và tuyệt vọng. Chờ đợi để được phán xử không theo cách của con người, rồi hiến mình cho sự khổ ải và hao mòn trong các trại cải tạo.

Khu giam giữ mới có khoảng sân khá rộng. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, C giao tôi cho đồng nghiệp. Tôi đi theo K, cảm giác như đang bị nuốt vào một đường hầm. Lần đầu tiên kể từ khi bị bắt, tôi mới thực sự thấy hết cái âm u của chốn ngục tù. Chỉ khi dừng lại, tôi mới biết mình đang đứng trước một cánh cửa. Cửa mở, hai đồng tử của tôi giãn ra: đây là nơi dành cho con người ư?

Cái gọi là buồng giam rộng chừng 6m2. Hai bệ xi-măng đối diện nhau (chừa một lối đi hẹp ở giữa, tù quen gọi là “xa lộ”) dùng làm chỗ nằm. Từ cửa đến chân bệ nằm còn khoảng trống nho nhỏ để đồ ăn. Trong buồng không có nhà vệ sinh nên phải dùng bô. Chỗ để bô cách chỗ để đồ ăn chừng 3 bước chân. Một trong hai bệ nằm có gắn cố định một cùm sắt, dùng để cùm chân những người tù bị kỷ luật hoặc tử tù chờ ngày thi hành án. Tôi vào sau L vài ngày, đương nhiên phải nằm chung với cái cùm. L thường mắng tôi vì tội hay cho chân vào cùm. Bảo tôi không chịu kiêng kỵ, có ngày bị cùm thật cũng nên. Hàng ngày tôi đi bộ dọc trên “xa lộ”, coi như tập thể dục. Đoạn đường ngắn mấy bước chân, đi vài vòng phải nghỉ một lần để khỏi chóng mặt.

Mỗi ngày hai lần: sáng và chiều, công an mở cửa cho tù nhân ra ngoài làm vệ sinh cá nhân và lấy cơm. Mỗi lần chừng 20 đến 30 phút. Hầu như ngày nào tôi cũng phải đi cung nên mọi việc, từ giặt giũ, đổ bô, lấy cơm, rửa bát… L phải kiêm hết. Có hôm, chưa làm vệ sinh xong, điều tra viên đã đứng đợi ngoài cửa. Chắc chỉ có tù nhân lương tâm chúng tôi mới phải trải qua tình trạng ngồi bệ xí trong sự chờ đợi và thúc giục của cả cai tù lẫn điều tra viên mà thôi. Gần 4 tháng biệt giam, tôi phải đi cung hàng chục lần, chưa kể thời gian ở buồng chung hơn một năm. Chuyện này xin được kể trong một dịp khác.

L có tật xấu, đi ngoài vô tội vạ, không theo giờ giấc. Nhiều hôm cứ đóng cửa buồng cô nàng mới đi, mỗi lần như thế lại chữa ngượng: “Em luyện mãi mà không được, cứ nhìn thấy công an là nó lại thụt vào. Hình như c*t sợ công an chị ạ”. Hai cái bô chứa đầy “sản phẩm” của L. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Đã thế, cô nàng còn lên lớp tôi: “Chị phải uống thật nhiều nước mới tốt cho sức khỏe, người đâu mà gầy đét, trông chán lắm”. Tôi bảo: “Có hai cái ngai vàng, mày ngự cả hai, chị uống nhiều nước thì chứa vào đâu?”. Cô nàng nhe hàm răng ám khói thuốc cười trừ. Nhìn L, tôi thấm thía hai câu thơ (được cho là của ông Hồ): “Cửa tù khi mở không đau bụng, đau bụng thì không mở cửa tù”.

Cánh cửa sắt, may quá có sáu lỗ thông hơi (to bằng quả trứng chim cút) – thứ duy nhất làm chúng tôi tạm quên mình đang ở trong một cái hộp. Hàng ngày được ra ngoài, tôi thường vãi cơm ra sân để dụ lũ chim sẻ đến. Qua sáu cái lỗ thông hơi quý giá đó, tôi và L luân phiên nhau chiêm ngưỡng, ngắm nghía chúng. L ước: “Giá biết bay như chúng, em sẽ bay về ôm hôn thằng Cu cho thật đã”. Rồi như tiếc rẻ “Nhưng làm con chim bay được thì lại không lắc, không phê được. Làm người như em, tuy tù tội nhưng được biết mùi đời. Sướng thân! Như chị thì thiệt, chả biết đếch gì. Chán chết”. Tôi không thích tranh cãi với L những lúc như thế. Lũ chim vô tâm, chúng nhặt nhạnh những hạt cơm cuối cùng rồi bay đi, mặc kệ tôi ngẩn ngơ. Không có cách nào gọi chúng lại. Tôi tủi thân, đâm ra giận chúng, hôm sau không vãi cơm cho chúng nữa. Theo thói quen, lũ chim bay đến ngơ ngác, tìm kiếm rồi bỏ đi. Tôi buồn! Từ đó không dám tự trừng phạt mình nữa.

Một lần đi cung:

Một vật gì giống như con rắn nằm lù lù giữa sân. Vừa nhận ra thứ đó dành cho mình, một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Sau cái rùng mình, mặt tôi nóng ran, hai thái dương giật liên tục. Không thể để cơn phẫn nộ được dịp bung ra. Tôi sẽ luồn chân vào đó. Phải nếm trải hết mọi cay đắng của người tù. Tôi đứng im, ngoan ngoãn cho K xiềng chân mình. Nét ái ngại lộ rõ trên gương mặt anh ta: “Chị Nghiên đi chậm thôi, sẽ đỡ đau”. Tôi hít một hơi thở sâu chờ K mở cửa. Ánh mắt tôi đập vào ánh mắt người điều tra viên. Dù cố tỏ ra tự nhiên, nhưng tôi biết anh ta chứ không phải tôi đang bị chi phối bởi cái xiềng chân. Tôi không đi chậm như lời khuyên của K. Bị thôi thúc bởi lòng kiêu hãnh, tôi bước thật nhanh bất chấp hai vòng xích đập vào mắt cá chân đau điếng. Tôi không cho phép anh ta có cơ hội thấy tôi trong bộ dạng chậm chạp và đáng thương. Chỉ thể hiện ở bước đi thôi chưa đủ, tôi bông phèng:
– Này anh, giúp tôi một việc được không?
– Việc gì chị?
– Nhờ anh đăng ký với kỷ lục ghi-nét, công nhận tôi là người phụ nữ có cái lắc chân to và độc nhất thế giới nhé?
Bị bất ngờ, anh ta im lặng. Sau một hồi, tính háo thắng trỗi dậy, anh ta trả đũa:
– Nếu bây giờ tôi bắc thang cho chị trèo tường về, chị có về không?
– Sao nghiệp vụ anh kém thế?
– Gì cơ?
– Tôi bảo nghiệp vụ anh kém vì anh đi điều tra tôi mà không hiểu gì về tôi. Này nhé, tôi vào đây một cách đường hoàng thì cũng đường hoàng rời khỏi đây. Không phải các anh tùy tiện bắt rồi thả vô tội vạ là được.

Có lẽ anh ta thấy tiếc về câu hỏi vừa rồi.

Một cán bộ trực trại và một điều tra viên khác đã chầu sẵn ở buồng hỏi cung. Chờ tôi ngồi xuống, trực trại rướn người qua mặt tôi, kéo thanh sắt vốn được bắt vít cố định nơi tay vịn, khóa lại. Động tác rất dứt khoát với vẻ mặt rất nghiêm trọng. Chắc đấy là thứ công cụ được phát minh ra để bảo vệ các nhân viên điều tra khi hỏi cung những tên tội phạm thuộc diện đặc biệt nguy hiểm. Thế ra, tôi được liệt vào loại “đặc biệt nguy hiểm” cơ đấy. Tôi quan sát việc liên quan đến mình như một kẻ thực sự bị thuần phục. Xong việc, viên trực trại lui về đứng phía sau tôi (chắc sẵn sàng tung đòn cứu đồng đội nếu đối tượng manh động). Hai điều tra viên đặt hồ sơ lên bàn:

– Chúng ta bắt đầu làm việc!
Tôi lơ đễnh nhìn lên trần nhà.
– Chúng ta làm việc thôi chị Nghiên.
– Anh bảo gì cơ?
Vẻ ngoan ngoãn lúc đầu của tôi khiến họ không chuẩn bị tâm lý đối phó cho sự phản công.
– Chúng ta vào việc…
– Làm gì có chuyện ấy. Các anh nghĩ tôi sẽ làm việc với các anh trong tình trạng này sao?
– Đây là quy định của…
– Là quy định của các anh thôi. Nguyên tắc của tôi là không làm việc với các anh trong tình trạng này.

Hai điều tra viên nhìn tôi chằm chằm. Tôi tiếp tục nhìn lên trần nhà, lưng dựa ra sau, các ngón tay gõ gõ vào thanh sắt chắn ngang trước mặt, chân đung đưa khiến cái xiềng cọ xuống nền nhà phát ra thứ âm thanh khô khốc, nghe đến sốt ruột. Cuối cùng, một trong hai người điều tra viên phải ra hiệu cho trực trại mở xiềng chân và thanh sắt chắn ngang ra.
Tôi thôi nhìn lên trần nhà:
– Đây sẽ là lần đầu và cũng là lần cuối tôi cho phép các anh làm thế. Nếu việc này còn tái diễn thì các anh sẽ chỉ nhận được một thứ duy nhất từ tôi, đó là sự im lặng. Mong các anh nhớ cho.

Trở về buồng giam, tôi mệt mỏi nằm vật xuống. Nhìn L với đôi mắt đỏ hoe, tôi đâm cáu. Cô nàng mặc cho tôi mắng mỏ, cứ sấn vào xoa xoa bóp bóp chỗ đau cho tôi. Tôi hắt hủi cô nàng để khỏi phải thương hại mình. Tôi nghĩ đến chú Nghĩa, đến Ngô Quỳnh và các anh em khác bị bắt cùng đợt với tôi. Không biết họ bị đối xử ra sao? Nhưng tôi tin, dù ở trong hoàn cảnh nào thì những người anh em ấy (sẽ không cáu gắt bạn tù vô lối như tôi) mà sẽ ngạo nghễ và nở nụ cười nhân ái vì nhà tù là sự lựa chọn “bất khả kháng”, là cánh cửa duy nhất để đến với tự do.

Phạm Thanh Nghiên, viết sau những ngày mới ra tù.

Sửa đổi Hiến pháp dưới góc nhìn một Thẩm phán Mỹ gốc Việt

Mặc Lâm phỏng vấn Thẩm phán Phan Quang Tuệ, Thẩm phán Liên Bang của tòa án San Francisco để tìm hiểu thêm mấu chốt quan trọng nhất của Hiến pháp Mỹ bản Hiến pháp đã và đang là kim chỉ nam cho nhiều nước trên thế giới.

Từ hiến pháp Hoa Kỳ…

aaeMặc Lâm : Thưa Thẩm Phán, rất cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi câu chuyện về Hiến pháp ngày hôm nay. Trước tiên xin được hỏi ông là Hiến pháp Hoa Kỳ được định nghĩa như thế nào và mục đích cao nhất của nó là gì, thưa ông?

Thẩm phán Phạm Quang Tuệ : Thực ra cách hành văn và trong khoản mở đầu của Hiến Pháp Hoa Kỳ 1787 không định nghĩa điều gì hết, nó chỉ nói lên cái khát vọng của người dân, của dân tộc Hoa Kỳ rằng là “We the people of the United States. . .” những người soạn thảo muốn thiết lập bản hiến pháp để xây dựng một nước Mỹ hùng cường trong một đoạn mở đầu rất ngắn.

Điểm tôi muốn nhấn mạnh là trong đó bản hiến pháp mà họ viết nói lên khát vọng của dân tộc Hoa Kỳ, có nghĩa không phải viết bản hiến pháp đó cho thời kỳ 1787 khi nước Mỹ vừa độc lập, mà viết luôn cho cả hậu thế, tức là một văn kiện căn bản đặt ra lộ trình cho dân tộc để đạt mục đích tiến bước không ngừng, tạo ra một Hiệp Chủng Quốc hoàn hảo hơn.

Thành ra Hiến Pháp Hoa Kỳ là một đạo luật căn bản nói lên khát vọng của một dân tộc chứ không phải riêng cho thế hệ này mà cho tất cả những thế hệ tương lai. Văn kiện đó đặt những nền móng căn bản tổ chức chính quyền nhằm mục đích phục vụ cho dân tộc. Đó là cách tôi đọc và suy nghĩ về định nghĩa của bản hiến pháp.

Mặc Lâm : Thưa Thẩm phán, ngôn ngữ được dùng trong bản hiến pháp của Hoa Kỳ được xem là trong sáng và cẩn trọng từng câu từng chữ so với tất cả mọi văn kiện hiện nay trên thế giới. Theo ông thì điều này mang lại lợi ích gì cho nền tư pháp của Mỹ và đặc biệt Việt Nam có thể học hỏi được gì ở những câu chữ như vậy?

Thẩm phán Phạm Quang Tuệ : Tuy Hiến pháp Hoa Kỳ được họ viết rất rõ ràng như vậy nhưng mỗi khi có câu hỏi về ý nghĩa thực sự của hiến pháp thì họ lại có cơ quan là Tối Cao Pháp Viện để giải thích hiến pháp.

Trở lại câu hỏi chính của anh Mặc Lâm là ý nghĩa và lời văn phải trong sáng đó, thì theo tôi họ nhằm đưa ra một lộ trình cho thật rõ, càng rõ càng tốt.

Năm mươi lăm đại biểu họp ở Pennsylvania để viết bản Hiến pháp Hoa Kỳ không thể nào đoán trước được những điều gì sẽ xảy ra. Chẳng hạn như ngày hôm nay tại Quốc hội Hoa Kỳ đang thảo luận về Second Amendment nói về quyền “The Rights to Bear Arms”, thành thử điều quan trọng là mình phải viết làm sao vừa đủ rõ đồng thời vừa đủ rộng.

Thí dụ như nói về quyền tự do ngôn luận và tự do tôn giáo thì Tu Chính Án Số 1 viết như thế này: “Congress shall make no law respecting an establishment of religion, or prohibiting the free exercise thereof; or abridging the freedom of speech, or of the press; or the right of the people peaceably to assemble, . . .” chữ mà tôi muốn nhấn mạnh là Tu Chính Án nói rất rõ “Congress shall make no law”. Họ dùng chữ “Congress shall make no law” tức là Quốc Hội không được làm một đạo luật nào khác để quy định về tự do tôn giáo và tự do báo chí, tự do hội họp. Khi dùng kỹ thuật như vậy, thay vì định nghĩa thì họ sẽ nói là “Congress”, đây hiểu theo nghĩa là cơ quan lập pháp được làm đủ thứ luật ngoại trừ điều này thì không được.

Ý nghĩa và giọng văn như vậy được họ viết rất rõ không thể nào lầm lẫn được. Nó còn ấn định khi có việc giải thích hiến pháp trong tương lai thì người ta dựa theo cái ý nguyên khởi của những nhà lập hiến, đồng thời nói rõ rằng quốc gia đứng ngoài không can thiệp vào đời sống và tự do ngôn luận vốn là nền móng căn bản của Hoa Kỳ.

Mặc Lâm : Thưa ông, Hiến pháp Hoa Kỳ có cho phép nghị sĩ hay dân biểu kiêm nhiệm luôn vai trò hay chức vụ trong chính phủ hay không? Và tại sao họ lại không cho phép điều này, thưa ông?

Thẩm phán Phạm Quang Tuệ : Trong Chương 1 của Hiến pháp Hoa Kỳ họ có nói rõ là không có dân biểu hay nghị sĩ nào có thể vừa là dân biểu hay nghị sĩ mà vừa có mặt trong chính quyền. Ngược lại cũng không có người nào ở trong nội các chính phủ được kiêm nhiệm các chức vụ ở trong quốc hội.

Khi Hiến pháp Hoa Kỳ được lập ra các nhà lập pháp muốn nhấn mạnh sự phân quyền giữa hành pháp và lập pháp, thành thử những người đã ở trong lập pháp qua làm bên chính phủ cũng được nhưng sau khi đã từ chức. Tôi lấy một thí dụ mới nhất hiện nay đó là ông John Kerry, nghị sĩ của tiếu bang Massachusetts, được Tổng thống Obama đề cử và Quốc hội thông qua cho ông làm Tổng trưởng Ngoại giao. Khi ông làm Tổng trưởng Ngoại giao thì ông không còn làm nghị sĩ tại tiểu bang Massachusetts nữa và sẽ có một cuộc bầu cử để thay thế cho ông.

Sở dĩ như vậy là vì người ta muốn nhấn mạnh tới sự phân quyền. Nguyên tắc chính là sự phân quyền. Đã là phân quyền thì không thể ở lập pháp lại kiêm nhiệm luôn bên hành pháp hoặc ngược lại.

… Việt Nam học được gì

000_Hkg4913876-250.jpg
Tranh cổ động bầu cử. AFP photo

Mặc Lâm : Thưa Thẩm Phán, có một kinh nghiệm là năm 1946 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa soạn thảo hiến pháp và cũng trong năm đó Hoa Kỳ trực tiếp giúp soạn thảo một bản hiến pháp cho Nhật Bản. Tuy nhiên, bản hiến pháp của Nhật vẫn còn hiệu lực cho tới ngày nay trong khi Việt Nam đã nhiều lần phải thay đổi. Như vậy Việt Nam có cần mời chuyên gia hiến pháp của Hoa Kỳ vấn cho họ trong việc soạn thảo hay không, thưa ông?

Thẩm phán Phạm Quang Tuệ : Thưa anh Mặc Lâm, tôi nghĩ ở thời buổi này mình không cần chuyên gia nữa. Nhưng có một điều mình có thể làm được là theo cái tinh thần của người ta mà học hỏi.

Hiến Pháp 1946 của Nhật Bản xuất hiện trong bối cảnh sau thời kỳ Nhật Bản sụp đổ và đi vào chương trình tái thiết, lúc đó người có quyền hành là ông Tướng Mc Arthur. Thoạt tiên ông không nghĩ tới vấn đề hiến pháp, nhưng phía người Nhật thì họ muốn biết cách tổ chức chính phủ của họ sẽ như thế nào, cho nên từ đó mới nảy sinh ý kiến soạn thảo một bản hiến pháp cho Nhật Bản. Bản hiến pháp nhấn mạnh đến thời kỳ tái thiết và có nếu lên mấy điểm quan trọng. Đó là thứ nhứt họ duy trì vai trò của Nhật Hoàng với tính cách tượng trưng, thứ hai là bản hiến pháp tuyên bố rõ ràng từ bỏ con đường bạo lực và sau đó thiết lập thể chế của Nhật Bản từ 1946 cho tới bây giờ.

Bản Hiến pháp Nhật Bản có điểm đặc biệt là không hề có thay đổi nào, ngay cả một dấu phẫy cũng không thay đổi nữa. Trước bản Hiến pháp 1946 của Nhật Bản là bản hiến pháp của thời Minh Trị Thiên Hoàng hình như vào năm 1890 thì phải.

Xem lại Việt Nam của mình thì trong thời kỳ 1945 – 1975 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có 4 bản hiến pháp của cộng sản, còn ở Miền Nam thì Việt Nam Cộng hòa có 2 bản hiến pháp là Hiến pháp 1959 của Đệ Nhất Cộng hòa và Hiến pháp 1967 của Đệ Nhị Cộng hòa. Về phương diện người cộng sản thì năm 1946 có một bản hiến pháp, 1960 có một bản hiến pháp, 1980 tức là sau khi Việt Nam thống nhất dưới chế độ cộng sản có một bản hiến pháp. Năm 1992 có một bản khác, và có một sự thay đổi để thành hiến pháp năm 2001, tức nói trắng ra nước Việt Nam cộng sản có 5 hiến pháp.

Lý do là vì người cộng sản họ giải thích là “để phù hợp với tình thế”, tức là họ chỉ thấy trước mắt thôi chứ họ không nhắm những thế hệ tương lai. Cho nên cứ mỗi một lần như vậy là họ đổi hiến pháp như thể họ thay một cái áo, nhưng bản chất dưới cái áo đó thực sự vẫn chỉ là Đảng Cộng sản.

Những nhà nghiên cứu nhìn lại hiến pháp Việt Nam thời cộng sản thì cũng nên so sánh: hiến pháp đi cùng lúc đó với bản điều lệ của Đảng Cộng sản. Vì vậy dù thay bao nhiêu áo thì điều lệ của đảng cộng sản vẫn y như vậy và nó bao trùm lên tất cả các bản hiến pháp của Việt Nam cộng sản. Nó có mấy điểm: Đảng Cộng sản là đảng tiên phong hay là đảng lãnh đạo; thứ hai nữa họ không giấu điều đó trong điều lệ, ngay cả các vấn đề về tài chánh, ngân sách của đảng gồm những gì họ đều kể ra, kể cả “gồm cả ngân sách quốc gia”.

Như vậy mình thấy muốn đổi thì phải đổi từ căn bản và trước khi đổi thì mình phải hỏi là đổi hay thay thế. Nếu phải đổi thì tại sao phải đổi. Và nếu lý do để đổi là vì hiến pháp không phục vụ người dân mà phục vụ đảng thì phải thay đổi từ dưới trở lên và từ trên xuống dưới. Có nghĩa là bãi bỏ hoàn toàn để có một hiến pháp mới qua một cuộc tham khảo ý kiến rộng lớn. Thiết lập những quyết nghị của từng địa phương, đưa đến một đại hội và đại hội đó thông qua để tổ chức một cuộc bầu cử lập hiến. Với con đường đi từng bước như vậy chúng ta sẽ tạo được một bản hiến pháp không những cho ngày hôm nay mà cho cả những thế hệ mai sau.

Mặc Lâm : Thưa ông Thẩm Phán, chúng ta cũng biết là hơn 95% đại biểu quốc hội của Việt Nam hiện nay là đảng viên và được Đảng Cộng sản chỉ định qua Mặt trận Tổ quốc mà họ gọi là “hiệp thương”. Như vậy việc Chủ tịch Quốc hội làm trưởng ban soạn thảo hiến pháp lần này khiến người ta nghi ngờ rằng họ sẽ bảo vệ điều khoản có lợi cho đảng cộng sản. Ông Thẩm phán có ý kiến gì về trường hợp này?

Thẩm phán Phạm Quang Tuệ : Câu hỏi nói rằng người ta nghi ngờ thì sự nghi ngờ đó có căn cơ chính đáng hết sức, là vì từ tháng giêng Đảng Cộng sản kêu gọi góp ý kiến, và thời gian mà họ nói là để gửi kiến nghị là 3 tháng, tức là cuối tháng 3 thì chấm dứt.

Sau khi có lời kêu gọi của họ thì có một bản dự thảo hiến pháp được mệnh danh là Hiến Pháp 2013 do 72 người yêu nước ở trong nước đại diện cho mấy ngàn người cũng ở trong nước công bố, và mới đây có 16 người đại diện cho khối đó đưa bản dự thảo hiến pháp 2013 này lên cho trưởng ban soạn thảo hiến pháp của quốc hội. Diễn tiến từ đó về sau này như thế nào thì mình không biết. Người chủ tịch của ủy ban để kêu gọi soạn thảo hiến pháp cũng lại ở trong quốc hội và cũng thuộc Mặt trận Tổ quốc, cũng là đảng viên cộng sản. Điều nghi ngờ của mình với quá trình của Đảng Cộng sản là cứ lâu lâu khi nào có một chuyện gì đó thì họ lại thay đổi hiến pháp thì nghi ngờ đó người ta đặt ra là đúng.

Cách giải quyết vấn đề là phải tách rời khâu soạn thảo hiến pháp ra khỏi Đảng Cộng sản, không giao cho đảng cộng sản nữa, mà phải trở lại nguồn gốc dân tộc, nguồn gốc nhân dân. Đó là phải trao lại việc soạn thảo hiến pháp cho một đại hội thể hiện ý nguyện của nhân dân mà nó xuất phát từ mỗi địa phương. Mỗi địa phương công cử người đại diện tham gia đại hội đó thông qua bầu cử. Nhưng cuộc bầu cử hay ứng cử đó phải ở bên ngoài Mặt trận Tổ quốc vì cái mặt trận này là một cơ quan rất mơ hồ, một cánh tay nối dài của Đảng Cộng sản, nó không nằm ở đâu trong bản hiến pháp cả mà cái gì Đảng Cộng sản cũng buộc phải đi qua cái mặt trận này. Nó là một bóng ma và đàng sau bóng ma đó không ai khác hơn là đảng cộng sản.

Thành thử tôi thấy chuyện đưa ra bản kiến nghị rồi đem nộp thì nếu họ cứ tiếp tục như vậy thì người ta sẽ nghi ngờ. Có nhiều người bảo mấy người đó bị mắc lừa, nhưng tôi không tin là họ bị mắc lừa. Họ ở trong nước họ có kinh nghiệm và họ biết cả, nhưng họ vẫn cứ làm để coi Đảng Cộng sản sẽ trả lời ra sao. Tôi cho đây là cơ hội cuối cùng của Đảng Cộng sản để chứng minh họ là một tổ chức có thực tâm, và nên tách vụ sửa đổi hiến pháp ra khỏi Đảng Cộng sản. Ý kiến của tôi là như vậy.

Mặc Lâm : Dạ vâng. Thưa Thẩm phán, trong bản hiến pháp hiện hành của Việt Nam tại Chương 5 Điều 69 có ghi là “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình, theo quy định của pháp luật”. Xin Thẩm phán cho biết cái đuôi “theo quy định của pháp luật” này có vi phạm tinh thần của hiến pháp hay không ạ?

Thẩm phán Phạm Quang Tuệ : Nó vi phạm chớ. Ông coi cái điều 69, điều 70 và những điều kế tiếp thì cái gì họ cũng thòng câu “theo quy định của pháp luật”. Về vấn đề này thì tôi đã nói từ năm 1995 tại Đại Học San Diego. Cái gọi là “theo quy định của pháp luật” thì quy định luật pháp là ai? Là Đảng Cộng sản. Thực tế ở trong nước dưới thời cộng sản cho tới bây giờ không có một tờ báo tư nhân nào hết. Trên toàn quốc hình như có trên 700 tờ báo nhưng đều là báo của nhà nước dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản, mà trong Đảng Cộng sản có một ủy ban kiểm soát tư tưởng thì phải, vậy thì một khi tư tưởng mà bị kiểm soát bởi đảng cộng sản thì làm sao có tự do ngôn luận được ?

Ông Mặc Lâm hỏi tôi về việc này, tôi xin nói là mình trách người cộng sản không thôi thì cũng không phải, mà mình phải trách mình nữa tức là người dân mà tiêu biểu là những người trí thức hoặc là không theo dõi tình hình đất nước, hoặc là biết mà không dám nói. Bây giờ tôi sẽ chứng minh.

Về Hiến Pháp 1946, tôi thấy không có một hiến pháp nào trên thế giới mà viết một cách kỳ cục như thế này: “Chủ tịch nhà nước không chịu trách nhiệm bất cứ về vấn đề gì ngoại trừ trường hợp phản quốc”. Chủ tịch nhà nước hồi đó là ông Hồ Chí Minh, mà ai cũng biết trong Đảng Cộng sản thì Chủ tịch nhà nước là Tổng bí thư của Đảng Cộng sản, vậy mà nói là không chịu trách nhiệm thì tức là ông HCM ngồi xổm trên luật pháp rồi.

Tôi chứng minh điều thứ hai. Họ ra cái Hiến pháp 1960, trong đó họ nói không ai bị bắt bớ, giam cầm một cách độc đoán v…v… nhưng năm 1961 họ ra một nghị quyết nho nhỏ thành lập trại cải tạo trên toàn quốc và giam giữ không biết bao nhiêu người, nó đi ngược hoàn toàn hiến pháp đó của họ.

Không chút lạc quan

PhanQuangTue5-200.jpg
Thẩm phán Phạm Quang Tuệ. Ảnh do ông gửi RFA

Mặc Lâm : Ông Thẩm phán cũng biết rằng hiến pháp của Việt Nam không cho phép tam quyền phân lập được quy định trong điều 2, điều 4 hiến pháp ghi rằng Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Nhận xét của Thẩm phán về hai điều này ra sao?

Thẩm phán Phạm Quang Tuệ : Thưa, thứ nhất về vấn đề phân quyền. Nhiều người cứ tưởng rằng phân quyền là nhìn bề ngang tức là chia quyền ông này làm luật, ông kia thi hành luật, ông nọ giải thích luật. Điều đó dưới chế độ cộng sản nó không có. Nhưng đặt giả dụ họ viết là có phân quyền trong tương lai thì mình phải nhớ mục đích của phân quyền không phải là để chia quyền. Mục đích của chuyện phân quyền là để kiểm soát lẫn nhau nhằm bảo vệ và phục vụ người dân. Đó mục đích của phân quyền chứ không phải phân quyền  là “tôi vô đây tôi làm cái này, anh không được đụng tới tôi”. Không phải như vậy!

Điều 4 Hiến pháp nói đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội, là nó sao chép lại điều 6 của hiến pháp Liên Xô, mà Liên Xô thì đã sụp đổ hồi 1991, và với điều 4 này Đảng Cộng sản Việt nam giam hết tất cả các phần còn lại của bản hiến pháp. Không còn phân quyền, không còn cái gì hết. Cho nên phải lấy Đảng Cộng sản ra khỏi hiến pháp thì mới có một bản hiến pháp thực sự được.

Mặc Lâm : Xin hỏi Thẩm Phán một câu cuối. Theo cái nhìn tổng quát của ông về chuyện sửa đối hiến pháp lần này ở Việt Nam thì nó sẽ dẫn tới đâu? Một bản hiến pháp mới được hình thành, hay sẽ lập lại vết xe cũ của những bản hiến pháp vừa qua, thưa ông?

Tôi không có một chút lạc quan nào nhưng mà mình vẫn cứ tiếp tục cố gắng góp phần vào.
Thẩm phán Phạm Quang Tuệ

Thẩm phán Phạm Quang Tuệ : Về câu hỏi này thì thực ra tôi cứ suy nghĩ hoài về điều đó. Thí dụ như bây giờ ông Mặc Lâm hỏi tôi có góp ý kiến vào việc sửa đổi hiến pháp đó không? Tôi hay những người thuộc thế hệ chúng tôi đã kinh qua rồi mà lần nào cũng đặt lại câu hỏi như vậy. Mình không muốn tiếp tục tham gia vào chuyện lập đi lập lại như thế này vì nó đã chứng tỏ trong quá khứ qua những chuyện giống như là họ kêu gọi người quốc gia ra hợp tác, mà ra hợp tác với họ thì bị họ thanh toán.

Tôi có đọc đâu đó lời phát biểu của một ông trong Quốc hội Cộng sản Việt Nam chống lại ý kiến kêu gọi đa nguyên. Ông ta nói Việt Nam không cần đa nguyên vì chúng ta đã thử rồi vào hồi 1945-1946, nhưng mà rốt cuộc chỉ có mỗi Đảng Cộng sản là đứng lên chống thực dân. Không biết ông đó bao nhiêu tuổi. Sự thật là đảng cộng sản đã thanh toán hết các phe phái quốc gia rồi nhưng họ không nói cái khúc đó.

Cũng như vấn đề thảm sát Tết Mậu Thân thì họ đổ vấy là do quân đội Mỹ và quân đội VNCH chớ họ không có gì hết.

Trở lại câu hỏi của ông Mặc Lâm thì tôi thấy thế này, tôi không có một chút lạc quan nào nhưng mà mình vẫn cứ tiếp tục cố gắng góp phần vào. Có một điểm tôi muốn nói như thế này, tôi có đọc qua bản dự thảo Hiến pháp 2013 của các vị ở trong nước thì đó là một bản dự thảo khá lắm, có những ý tưởng mới. Nó đề nghị thay đổi danh xưng “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa” vì cái danh xứng đó kỳ lắm, không có nước nào trên thế giới đem một cái chủ nghĩa đặt tên cho nước của mình. Hai nữa có một điều khoản họ nói “xét lại các cam kết quốc tế mà do tổ chức nào hay chính phủ nào đã cam kết trong bí mật”, thì đó là cả một sự cố gắng, một bước tiến rất dài.

Nhưng cũng có những quan niệm chẳng hạn như “tương lai phải gồm có đại biểu của Bắc – Trung – Nam “, hay thí dụ như “bầu cử có giám sát quốc tế” thì nên đưa ra khỏi cái não trạng đó đi.

Dù có thể bị lừa hoài nhưng tôi vẫn tin rằng nếu mình đi ra được và mình làm được một bản hiến pháp mới, bầu cử mới, thì mình không cần “Bắc – Trung – Nam” nữa, bỏ cái não trạng Bắc-Trung-Nam đi. Không có ngôn ngữ đó trong cách hành văn hiến pháp của mình. Hai nữa là khi bầu cử mình không cần giám sát quốc tế. Quốc tế có thể tới quan sát, nhưng mình không cần ai nói là bầu cử của mình hợp pháp. Người mình đứng lên nhận trách nhiệm, làm công cuộc xác nhận, mình đánh canh bạc đó cho các thế hệ tương lai.

Tôi đặt trường hợp của tôi ở trong nước, tôi nghĩ rằng người ở trong nước dù là đảng viên hay không khi đặt bút ký cùng với tên tuổi, địa chỉ đòi sửa đổi hiến pháp, và trong bản dự thảo đó của họ không thấy có hình bóng nhắc nhở gì đến Đảng Cộng sản thì tôi cho đó là hành động can đảm. Dù mình không hỗ trợ cho kiến nghị đó thì mình vẫn hỗ trợ cho hành động can trường của những người đó. Họ dám đứng lên, họ dám làm. Đó là ý kiến của tôi.

Mặc Lâm : Một lần nữa xin cảm ơn Thẩm phán Phạm Quang Tuệ đã dành cho Đài Á Châu Tự Do một buổi phỏng vấn rất đặc biệt đã soi sáng nhiều vấn đề, ngóc ngách trong việc sửa hiến pháp ở Việt Nam lần này.

@RFA