Thơ vui – VĂN HÓA RƯỢU

   Muốn làm cán bộ đời nay
Phải biết uống rượu mỗi ngày vài ca!

 Tiệc tùng, hiếu hỷ, tân gia

Tiếp khách cùng sếp mới là đáng lo!

Khách nhỏ cho đến khách to

Đã vào mâm rượu, tiếp cho đàng hoàng!

Khách nam phải có các nàng

Khách nữ phải có các chàng mới vui!

Rượu phê, áp má kề đùi

“Khát vọng”, “mông cổ”, “mớm mồi”, “tặng hoa” (*)

Rượu vào thì tình mới ra

Hợp đồng, ký cốp… lại là giản đơn.

Đang vui, giải quyết dễ hơn

Thanh tra, kiểm toán… cứ trơn làu làu.

Thôi thì: “Đóng cửa bảo nhau”!

Rượu đi đâu? Rượu về đâu?

Mà văn hóa rượu nhuốm màu tối tăm!?

  Đồ Bòng – Vũ Thanh Phương
@Lucbat.com
(*) Một số kiểu uống rượu đang thịnh hành.

Ngày xuân tìm về nhà thơ Nguyễn Khuyến – nằm chung với khói mây

Chúng ta từng chứng kiến việc PGS. Nguyễn Lộc xuyên tạc văn bản thơ Nguyễn Khuyến trong sách giáo khoa Văn trung học bằng cách để nhà thơ ngồi ngắm hoa khô. (Sách giáo khoa văn lớp 10 từng dạy học sinh cả nước: “Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái” – Hoa đã nở từ năm ngoái khô đi và còn lại đến bây giờ. Đây là câu thơ tả thực. Không, Nguyễn Khuyến ngồi lẫn giữa trăng suông rượu lạt, lẫn trong hoa tươi, tre trúc, rơm rạ, ao chuôm, lẫn trong ếch nhái, đom đóm cùng thuyền thúng, lá thu rơi để trào lộng chua cay thời thế đảo điên, đoạn rút vào thui thủi, lẳng lặng cô đơn, cô độc, đêm đêm tự mài hồn mình thành máu mực đề thơ mà nhớ nước.

Như thể nước lụt Hà Nam đã hóa giặc Lang Sa cuốn đi tất cả, chỉ mình ông sót lại cùng vài người bạn bơ vơ: “Nước non man mác về đâu tá / Bè bạn lơ thơ sót mấy người / Đời loạn đi về như hạc độc / Tuổi già hình dáng tựa mây côi ” (Cảm hứng ). Có thể nói, Nguyễn Khuyến là bậc đại nho cuối cùng trăn trở tìm mùa thu ở ẩn, là con hạc thi ca cuối cùng của thời đại phong kiến Việt Nam còn giữ được cốt cách và tinh thần hạc vàng Thôi Hiệu, đã một mình lặng lẽ bay qua thế kỷ thứ XIX buồn đau, u uất, đặng tìm chỗ đậu trong 9 năm đầu của thế kỷ thứ XX, rồi đột ngột bay vào hư vô dịp tết âm lịch đầu năm 1909 khi vừa tròn 74 tuổi hạc. Thân phận “hạc độc” của Nguyễn Khuyến quả là cô đơn đến tột cùng, u uất, lủi thủi tới tận cùng thi tứ.

Vòm trời xưa của hoàng hạc thanh cao, tinh khiết là thế, nay diều quạ đen trời si sô đến cướp mất, nên: “Nước non man mác về đâu tá” và hồn thơ chừng cũng mất nẻo đi về. Con hạc này bị thời đại bỏ rơi, tưởng không còn một chỗ đậu trên chính quê hương mình. “Hạc độc” đành hóa đám “mây côi” mà lơ lửng như chính hồn thơ Nguyễn Khuyến còn lửng lơ bao nỗi niềm khôn khuây trên vòm trời văn học Việt Nam thuở nước nhà bị mất vào tay giặc Tây dương.

Chao ôi, hơn một trăm năm trước, cả đám mây trong mắt thi hào cũng phải mồ côi vòm trời, như nhà nho mồ côi vua, dân mồ côi nước. Tinh thần ” hạc độc” với “mây côi” bàng bạc, xuyên suốt thời đại và cuộc đời Nguyễn Khuyến, thành một phần tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ của hồn thơ ông.

Những bài thơ tả cảnh quê hương Việt Nam hay nhất, đẹp nhất của ông cũng là cốt tả cái hay, cái đẹp của lẻ loi, cô quạnh, se sẽ đẹp, trong veo và xa vắng đẹp đến vô cùng khuất nẻo bơ vơ :”Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng / Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi“. Hồn thơ Nguyễn Khuyến chính là “Tiếng sáo vo ve” bên trời “nước vọng“, là “bóng trăng trôi”dưới dòng lũ vô tình cuộn xiết, hóa chiếc thuyền thơ cô độc len lỏi trên thi đàn Việt Nam thuở cơn lụt lội nhân tình thế thái ngập tràn xứ sở.

Ngay trong hai câu thơ hay đến sững sờ tả cảnh đẹp hun hút, đẹp rờn rợn nổi gai ốc của nước lụt Hà Nam này, Nguyễn Khuyến cũng chỉ cốt mượn nước lụt mà gọi hồn nước về trong từ “nước vọng” để : “Sửa sang việc nước cho yên ổn“… Tâm thức “nước”, “nước non”, “đất nước“… có thể nói là tâm thức chủ đạo của Nguyễn Khuyến trong cả thơ nôm và thơ chữ Hán; tuy ở đây chúng tôi chỉ mới khảo sát qua thơ nôm của ông mà thôi.

Trong bài thơ “Tự trào”, Nguyễn Khuyến nói thẳng ra điều cốt lõi nhất, đau đớn nhất của ông là nỗi nhục, nỗi đau vong quốc, thông qua nghĩa đen của cuộc chơi cờ :”Cờ đương giở cuộc không còn nước“.Vì “Không còn nước ” nên vua cũng không còn thực nữa, chỉ là vua hề, chỉ là quan phường chèo thôi :” Vua chèo còn chẳng ra gì / Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề “( Lời vợ anh phường chèo).

Một vị túc nho lấy trung quân ái quốc làm đầu, phải tự tìm nhọ nồi, muội đèn, tro trấu mà bôi trát lên mặt vua quan thành trò hề như thế, với Nguyễn Khuyến hẳn là nỗi đau lớn nhất trong đời? Vì “Không còn nước” nên sau hơn 12 năm làm quan tới chức Tổng đốc Sơn Tây, lúc vua Tự Đức mất và vua Hàm Nghi ra chiếu cần vương chống Pháp, nhà thơ mượn cớ mắt lòa cáo quan về ẩn dật cùng cà thâm dưa khú.

Ông buồn lặng hóa “mây côi“, hóa “hạc độc“, hóa thành ” hoa năm ngoái“, thành “ngỗng nước nào”, thành con cuốc gọi hồn nước năm canh, thậm chí hoá thân vào mẹ Mốc, vào gái góa, vào anh giả mù, giả câm giả điếc, thậm chí giả điên kiểu Sở cuồng, làm thơ đả kích giặc và tay sai, như một cách yêu nước kháng Pháp của riêng mình…

Nguyễn Khuyến đau đớn nhận ra hoa nở ngoài giậu thu cũng không còn là hoa hôm nay của mình nữa, ngỗng kêu trên bầu trời quê hương dĩ nhiên là ngỗng nước mình, chứ sao lại là ngỗng nước nào:” Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái / Một tiếng trên không ngỗng nước nào” ?( Thu vịnh). Khi “Không còn nước” nữa thì con ngỗng kia cũng thành vong quốc, vong thân, thành “ngỗng nước nào”thôi. Phải chăng ngỗng ấy cũng là ngỗng từ năm ngoái, ngỗng của mình xưa mà không dám nhận, mà phải đau đớn than là “ngỗng nước nào“? Rằng người không còn giữ được nước thì bay về làm gì ngỗng ơi?

Nhà thơ tủi hổ với cả ngỗng trên trời và hoa dưới đất, muốn làm con cá lặn khuất dưới ao bèo, ngại cả nỗi cắn câu. Đất đã mất thì trời phỏng còn ư, mùa thu phỏng còn ư ?

Hoa ấy, ngỗng ấy cũng là Nguyễn Khuyến; như “mây côi” và “hạc độc” kia còn bị vong thân, vong quốc huống nữa là trời đất, con người!

Chúng tôi cho rằng, dù viết về phong cảnh mùa thu nông thôn , dù nới rộng đề tài ra từ bản thân mình đến xã hội, từ chim hoa, xóm mạc đến nước non… hồn thơ Nguyễn Khuyến bao giờ cũng toát lên một tinh thần yêu nước sâu xa, yêu nước trong đau đớn, tủi buồn, yêu một cách trầm lắng mà sôi sục, quặn thắt mà quan hoài, trào lộng mà trữ tình, kín đáo mà động vang, cô đơn mà hòa nhập, lạnh lùng mà bỏng cháy, dữ dội mà dịu êm.

Bút pháp nghệ thuật bậc thầy dùng thuỷ nói hỏa, dùng tĩnh tả động, dùng dương tả âm, dùng vật tả tâm, dùng cảnh ngụ tình và ngược lại của Nguyễn Khuyến đã khiến không ít người khi tiếp cận thi ca ông, mới đụng vỏ ngoài đã tưởng thấu vào gan ruột; ví như cách dạy văn rất phi văn học của nền giáo dục phổ thông và đại họcViệt Nam hôm nay hoàn toàn không hiểu nổi hồn thơ Nguyễn Khuyến . Ví như trường hợp ba bài thơ thu của thi hào là bài “Thu vịnh”, “Thu điếu”, “Thu ẩm” được coi là dấu hiệu thiên tài của nhà thơ nông thôn đệ nhất Việt Nam mà có người, ngay cả khi viết sách giáo khoa cũng chưa thẩm hết hồn thu Nguyễn Khuyến.

Họ nhìn bằng mắt thường nên ngỡ mặt ao thu bình lặng kia là đáy nước, nên bảo nhà thơ viết về mùa thu với tâm trạng thư thái, an nhàn(!) Rằng nhà thơ uống rượu say nhè như anh Chí Phèo say rượu lè nhè vậy…

Không, Nguyễn Khuyến chỉ hớp một tí rượu trong chén hạt mít lấy hứng, chứ không say lè nhè như ai hiểu. Dưới cảnh thu, ngồi nhấp chút rượu thu, câu cá thu, làm thơ thu, nhà thơ chỉ mượn bề mặt tĩnh lặng ao thu mà tả sự động vang sôi sục, quặn thắt, u uẩn, buồn thương nơi thẳm đáy lòng mình , đặng gọi hồn nước đã mất về thương hồn thu hiển hiện.

Nói theo kiểu Apollinaire, Nguyễn Khuyến chừng cũng cảm thấy hồn thu đã chết, đã bỏ đi đâu như hoa kia ngỗng nọ, chỉ còn thân xác thu trong veo, cô quạnh, vắng ngắt, bàng bạc như con ve mùa hè nằm chết trong mùa thu sau khi đã hát rỗng cả ruột gan.

Tả lửa song Nguyễn Khuyến vẽ khói, tả nước mà nói thu, tả nỗi thẹn mình, tủi lây sang thu mà phải mượn tới ông Đào Tiềm đời Tấn. Cũng có thể gọi ba bài thơ thu của ông là tiếng chiêu hồn thu, chiêu hồn nước. Ngồi thưởng thu không chút thư nhàn, đau xót quá, cảm thương nước mất mà sao thu vẫn rưng rưng tìm về, nên nhà thơ không đừng lòng được, đành rơm rớm khóc :” Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe”? Đừng đổ oan cho Nguyễn Khuyến “mắt đỏ hoe” vì say rượu. Mùa thu trong ba bài thơ đẹp đến lạnh ngắt, đẹp đến tột cùng cô đơn, u tịch, phải chăng vì mùa thu chưa chiêu được hồn “hoa năm ngoái”, chưa gọi được vía ” ngỗng nước nào“…?

Cám cảnh thay nỗi ” Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được” của nhà thơ; như thể ông là tù binh của cần câu, là tù binh của chính hồn mình đang ở đâu đâu trong trời đất mang mang thiên cổ lụy? Nguyễn Khuyến yêu nước lắm, thương nòi lắm, đau đớn nỗi đời quay quắt lắm, đành giấu kín tình yêu nước vào cảnh thu, ao thu, rượu thu như cá giấu dưới ao bèo. Thi thoảng, ta nghe một tiếng “Cá đâu đớp động dưới chân bèo“, như nhà thơ ngầm an ủi mình rằng còn cá tức nhiên còn nước…

Vì vậy, Nguyễn Khuyến rút ruột hóa thân vào hồn Thục Đế xưa, thành con cuốc gọi hồn nước nay đến chảy máu cả đêm hè :” Năm canh máu chảy đêm hè vắng / Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ / Có phải tiếc xuân mà đứng gọi / Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ “ ( Cuốc kêu cảm hứng ). Thương thay cho “Ngỗng nước nào” vẫn không chịu bay đi, còn kêu xé trời cao trong thảng thốt nỗi niềm dù mùa thu đã chết. Con ngỗng vong thân, gãy cánh, đáp xuống trang thơ mà hóa thành con cuốc Việt Nam chiêu hồn nước tới bây giờ. Bài thơ “Cuốc kêu cảm hứng” thật hay, thật đoạn trường, đọc xong muốn khóc.

Chúng ta thương và kính trọng Nguyễn Khuyến vô cùng. Ông đã nén cả một nhân cánh lớn, một hồn thơ lớn, một tri thức lớn, một nỗi đau lớn vào tiếng cuốc nhớ nước thảm thiết làm chảy máu cả tâm can người đọc hôm nay.Tinh thần hoài cổ, tinh thần “Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ ” len lỏi vào mọi tâm sự, mọi vui buồn, thương giận, nhớ nhung của nhà thơ. Ngay cả khi vịnh ông phỗng đá với ngụ ý diễu mình, nhà thơ vẫn xót xa hỏi: “Non nước đầy vơi có biết không ?“Chính vì nỗi “non nước” khôn nguôi này làm ông tủi hổ, làm như lỗi tại mình mà nước mất nhà tan, nên mượn thơ mà cả thẹn: “Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già / Xuân về ngày loạn càng lơ láo“.

Một người tài cao, học rộng, thương xót, nương nhẹ từng cọng cỏ nhành hoa, một nhân cách lớn, khiêm cung tự tại, lại phải đưa mình ra mà diễu, mà tự cười cợt, bông phèng mình thì hẳn là phải đau đớn lắm, khổ tâm lắm: “Mở miệng nói ra gàn bát sách / Mềm môi chén mãi tít cung thang / Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ ” hoặc :” Lúc hứng uống thêm dăm chén rượu / Khi buồn ngâm láo một câu thơ “. Một người thính nhạy như Nguyễn Khuyến từng biết nghe bằng hồn, bằng vía, chán nỗi đời đục mà giữ mình trong, đành ngụ mình, nương mình làm “Anh giả điếc“: “Trong thiên hạ có anh giả điếc / Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây” ….” Sáng một chốc lâu lâu rồi lại điếc“.

Phải giả mù, giả câm, giả điếc để sống, mà vẫn sống được trong xã hội nhố nhăng nửa thực dân phong kiến thối nát, đảo điên kia, mới thương cho Nguyễn Khuyến phải ra tuồng trong chính thân phận mình:”Mua vui lắm lúc cười cười gượng / Giả dại nhiều khi nói nói bông“. Ngẫm xưa mà ngán cho hôm nay, thiên hạ đang phấn khởi nhập bao nhiêu  vai tuồng, vai hề mua vui cho kẻ quyền quý kiếm chút cơm thừa canh cặn, vẫn không biết liêm sỉ ngượng ngùng, lại cứ dương dương tự đắc với vai hề văn nghệ múa may?

Mượn sự điên dại của “Mẹ Mốc” tỏ bày tâm sự, Nguyễn Khuyến như tự xé quần áo tinh thần mình để phơi bày “hình hài gấm vóc” ra mà che mắt thế gian, những mong yên ổn: “Tấm hồng nhan đem bôi lấm xóa nhòa / Làm thế để cho qua mắt tục “. Mẹ Mốc ấy là tâm hồn vằng vặc muôn sau của Nguyễn Khuyến, sống trong thế giới của những “Đĩ cầu Nôm“, “Tiến sĩ giấy”, “Hội Tây“…vẫn không chút bợn nhơ :” Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết / Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ “…

Nhà thơ vô cùng căm ghét bọn cướp nước và bán nước. Ông dùng tài thơ trào phúng vừa hóm, sâu, vừa cay độc đến tận cùng mà váy hóa lá cờ tam tài của giặc trong tiếng cười thâm thuý: “Ba vuông phất phới cờ bay dọc / Một bức tung hoành váy xắn ngang“. Hóa ra cái váy con đĩ của thời: “Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó” đã được kéo lên thành cờ “ba vuông” phất phới, ngang dọc, làm bình phong che mặt tham quan ô lại đục nước béo cò.

Nguyễn Khuyến mang vũ khí trào lộng vạch mặt chúng bằng tiếng cười cay độc: “Có tiền việc ấy mà xong nhỉ / Đời trước làm quan cũng thế a ?” Phải sống trong thời “Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc ” làm sao Nguyễn Khuyến không thẹn thùng, tủi hổ, xót xa cả hồn thơ, đành than trời :” Thử xem trời mãi thế này ư ?”. Tìm mùa thu ẩn mình không yên ổn, núp vào mình cũng không xong, nhà thơ đôi khi phải trốn vào giấc mơ mà chơi trò đánh bùn sang ao bản thể, mà lẫn lộn bóng mình với bóng người, lấy hư làm thực bằng một câu thơ tuyệt hay, rất hiện đại: “Bóng người ta nghĩ bóng ta / Bóng ta, ta nghĩ hóa ra bóng người” (Bóng đè cô đầu).

Thơ nôm Nguyễn Khuyến hay cả ở thần lẫn ở thái, ở hình lẫn ở thể, ở hồn chữ dân gian, gợi cảm, mới lạ, hiếm thấy ví như: “Quyên đã gọi hè quang quác quác / Gà từng gáy sáng tẻ tè te …Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe “, “Bán buôn gió chị với trăng dì”…Nguyễn Khuyến quả là thánh chữ khi dùng động từ “thập thò” trong câu thơ thần tình sau: “Một khóm thuỷ tiên dăm bảy cụm / Xanh xanh như sắp thập thò hoa“.

Câu thơ “sắp thập thò hoa” này mang đặc trưng nhất của phong cách Nguyễn Khuyến.

Từ đây, ta có thể thấy thi pháp “thập thò hoa” là thi pháp độc đáo kỳ khu của thơ ông: thập thò giữa tình và cảnh, giữa vật và tâm, âm và điệu, cảm và thức, thập thò giữa thực và hư… kiểu “hoa năm ngoái” và “ngỗng nước nào“… Nguyễn Khuyến mượn cảnh đẹp nông thôn mà yêu nước Việt, một tình yêu buồn thương u uất được thể hiện bằng nghệ thuật trữ tình trào phúng của thơ bậc thầy. Ông chính là ngọn Đọi sơn của thi ca Việt Nam, nơi nhà thơ từng viết: “Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá / Sư cụ nằm chung với khói mây“.

Không, chính là hồn thơ Nguyễn Khuyến vẫn “nằm chung với khói mây” trên đỉnh trời thi ca dân tộc. Thắp nén hương ngày tết tưởng nhớ lần giỗ thứ hơn trăm của Nguyễn Khuyến, cũng là dịp cho ta đọc lại câu thơ hay nhất của thi hào mà giật mình trước tấm lòng trắc ẩn và tư tưởng sâu sắc của tiền nhân, đã có nhã ý mượn tóc gió mà dối lại cho đời sau câu hỏi nhức nhói khôn cùng của triết học nhân sinh: “Ngọn gió không nhường tóc bạc a?”.

Vâng, ngọn gió thời gian, ngọn gió của quy luật muôn đời không nhường tóc bạc thời đại Nguyễn Khuyến đã đành; mà kể cả thời đại chúng ta, nó cũng không biết nhường ai cả. Dù là tóc bạc của thi ca, của thiên tài đi chăng nữa gió cũng chẳng nhường đâu; huống gì những nhí nhố thời cuộc đang băm bổ hô hét muôn năm rồi cũng bị cuốn theo chiều gió, sẽ tan biến đi như chưa hề tồn tại .,.

© Trần Mạnh Hảo

Đẳng cấp CEO Việt

Tác giả: VEF

Hiếm có năm nào đông đảo nhân tài đất Việt được lựa chọn làm CEO của các công ty nước ngoài tại Việt Nam như vậy. Có nơi “đã từng”, nhưng cũng có nơi là “lần đầu tiên trong lịch sử công ty”. Chưa đủ để trở thành xu hướng nhưng lại đủ để năm mới, có thêm chút tự hào về trí tuệ Việt.

Những người làm thuê số 1

Hai ngày đầu tháng 7/2012, hai sự kiện liên tiếp gây chấn động làng công nghệ Việt Nam. Ngày mồng 1/7, Siemens Việt Nam công bố chính thức bổ nhiệm TS Phạm Thái Lai vào cương vị chủ tịch kiêm CEO, thay ông Erdal Elver. Đây là vị CEO người Việt đầu tiên trong lịch sử của Siemens Việt Nam và chỉ sau đó một ngày, ngày mồng 2/7, ông Vũ Minh Trí bất ngờ được bổ nhiệm làm CEO của Microsoft Việt Nam.

Trong khi đó, vào những ngày cuối cùng của năm 2012, Qualcomm đã đưa ông Thiều Phương Nam vào vị trí tổng giám đốc khu vực Việt Nam, Lào và Campuchia với cấp giám đốc cấp cao phụ trách phát triển kinh doanh khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương.

Còn nếu quay trở lại trước thời điểm ngày mồng 1/7, thì cũng chỉ cách đó hơn một tháng, chính xác là ngày 16/5/2012, ông Phạm Thế Trường được lựa chọn làm CEO của SAP Việt Nam. Đây là lần đầu tiên, SAP bổ nhiệm giám đốc điều hành người Việt, một dấu mốc quan trọng trong lộ trình tăng trưởng của SAP Việt Nam.

Và để có một sự kết nối hoàn hảo hơn về một năm “lên như diều gặp gió” của các CEO Việt Nam, thì những ngày đầu tháng 1/2013, lại có hai sự đổi thay mới: IBM đã thăng ông Tan Jee Toon lên làm CEO của hãng này ở Việt Nam, kế nhiệm ông Võ Tấn Long, người đã giữ chức CEO IBM từ tháng 11/2008. Không còn đảm nhiệm vị trí CEO của một hãng công nghệ hàng đầu thế giới tại Việt Nam, song ông Long lại được giao phụ trách các dự án đặc biệt của IBM ASEAN – sau những đóng góp đặc biệt của mình cho IBM Việt Nam trong vòng bốn năm qua.

Một sự kiện khác, đó là Lenovo cũng đã chính thức bổ nhiệm ông Nguyễn Minh Sơn làm tổng giám đốc Lenovo Việt Nam. Trước khi đến Lenovo, ông Sơn đã từng giữ nhiều vị trí quản lý cấp cao tại các công ty IBM, Siemenes và gần đây nhất là Samsung.

Đúng là, nếu điểm lại, thì hiếm có năm nào đông đảo nhân tài đất Việt được lựa chọn làm CEO của các công ty nước ngoài tại Việt Nam như vậy. Tuy nhiên, đó không phải là “những người làm thuê số 1″… duy nhất ở Việt Nam. Nhiều năm trước đây, công chúng đã từng biết đến một Phạm Phú Ngọc Trai, với nhiều năm liền giữ cương vị Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc PepsiCo Đông Nam Á. Ông Trai, có thể nói, là một trong những người Việt Nam đầu tiên giữ chức vụ lãnh đạo khu vực tại một tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới.

Ông Thân Trọng Phúc

Hay một Thân Trọng Phúc với gần 10 năm làm CEO của Intel Việt Nam. Ông Phúc quan trọng hơn, còn được biết đến là người có công đưa vụ án sản xuất chipset trị giá 1 tỷ USD của Intel về Việt Nam. Sau khi rời Intel, ông Phúc giữ cương vị CEO của quỹ đầu tư công nghệ DFJV, thuộc VinaCapital- một tập đoàn được lãnh đạo cũng bởi người Việt: Don Lam.

Trong khi đó, trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, rất nhiều người biết đến danh tiếng của bà Đàm Thu Thủy, 6 năm làm tổng giám đốc ngân hàng ANZ Việt Nam và hiện làm Phó chủ tịch ANZ tại khu vực Đông Dương,  thay bà Vũ My Lan – “nữ tướng” của Aon Việt Nam…

Rất nhiều những cái tên Việt như vậy. Và đã có một thời, dư luận luôn xì xào về mức lương khủng mà các vị CEO làm thuê này nhận được. Nhưng lương khủng không phải là lý do duy nhất khiến họ trở thành những người làm thuê số 1. Quan trọng nhất là vì, họ thực sự là những người Việt Nam ưu tú và họ được giao những trọng trách đặc biệt: chịu trách nhiệm về sự tăng trưởng và phát triển của những công ty hàng đầu đó ở Việt Nam, một nhiệm vụ mà không phải người Việt Nam nào cũng có thể đảm đương.

Đẳng cấp CEO

Ông Võ Quang Huệ, Tổng giám đốc Công ty Robet Bosch Việt Nam, cũng là một trong những người làm thuê số 1 ở Việt Nam. Nhưng ông khác hẳn đa phần những CEO Việt khác, đó là ông nắm giữ vị trí CEO ở một công ty sản xuất trong lĩnh vực công nghệ cao. Những người còn lại, hầu hết làm CEO phụ trách vấn đề kinh doanh và phát triển thị trường hơn là sản xuất. Cũng rất hiếm người làm được như ông Phúc, đó là góp công lớn mang một dự án tỷ USD về Việt Nam. Bởi vậy, ông Vũ Minh Trí khi nói về hai “đồng nghiệp” đáng kính này cũng đã phải thừa nhận là “nể anh Phúc, phục anh Huệ”

Ông Võ Quang Huệ

Nói vậy cũng có chút khiêm tốn, bỏi giới công nghệ đều biết, ông Trí là người đưa Yahoo! về Việt Nam và Vũ Minh Trí cũng là người đã kinh qua vị trí CEO của các “đại gia” Sony Erisson Việt Nam và Qualcomm Đông Dương. Dù ở công ty nào, Vũ Minh Trí cũng đều đạt được những thành tích đánh nể nhờ vào tài năng và sự quyết đoán của mình.

Ông Võ Quang Huệ, khi ông nói về thế hệ CEO Việt, cũng nhắc tới ông Phạm Thái Lai và ông Vũ Minh Trí. “Họ đều là những người rất giỏi”, ông Huệ bảo thế và rằng ông rất vui bởi có thể “góp phần quảng bá” ra thế giới là người Việt Nam cũng có thể đảm nhận vị trí quan trọng như vậy.

Nhưng một cách thẳng thắn, ông Huệ bảo, thật khó để một người Việt 100%, tức là vừa sinh sống,vừa học tập ở Việt Nam, lại chưa có kinh qua thời gian làm việc tại các tập đoàn nước ngoài, có thể trở thành CEO của các công ty nước ngoài tại Việt Nam, đăc biệt là các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp. Là người Việt là một lợi điểm, nhưng quan trọng nhất là, họ phải có tư duy toàn cầu hóa, nhiều kinh nghiệm và từng làm việc cho các tập đoàn đa quốc gia, kinh qua nhiều vị trí khác nhau.

Ngay như ông Huệ cũng từng 20 năm sinh sống và làm việc ở Đức. Ông Phạm Thái Lai tuy sinh ra tại Việt Nam, nhưng lớn lên và làm việc gần 30 năm ở châu Âu. Ông Thân Trọng Phúc, tất nhiên, được biết đến là một Việt kiều và trước khi về Intel Việt Nam, ông đã có 14 năm làm việc cho Intel Mỹ. Vũ Minh Trí thì đã vậy, dù học đại học ở Việt Nam, nhưng học sau đại học ở nước ngoài, và nhìn vào kinh nghiệm của ông, quả thực là đáng nể.

Phạm Thế Trường cũng thế, ông có kinh nghiệm 17 năm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, trong đó có hơn 10 năm làm quản lý công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng và trước khi về với SAP, cũng đã làm việc cho một công ty phần mềm toàn cầu,với chức danh Phó Giám đốc Bán hàng công nghệ.

“Nhưng rồi đến một thời điểm nào đó, sẽ có những CEO thuần Việt. Tại sao không?”, ông Huệ tự tin.

Còn ông Trí bảo rằng, ông thật tự hào vì hiện nay, Việt Nam đã có rất nhiều CEO năng động, tự tin và đầy hoài bão. “Tôi chắc rằng, không chỉ riêng tôi, mà tất cả chúng ta đều ấn tượng và vui mừng với những gì mà các CEO Việt Nam đã khẳng định tài năng và trí tuệ người Việt”.

Đúng là những gì mà các CEO Việt Nam đã làm được, dù với tư cách là người làm thuê, thật đáng tự hào. Trí tuệ người Việt, hiền tài là ở đấy, chứ đâu xa!

Và câu hỏi “giá như”

Đã hơn nửa năm kể từ khi nhậm chức, trao đổi với chúng tôi, Vũ Minh Trí vẫn vẹn nguyên niềm vui khi được gia nhập Microsoft, dù ông không phải là CEO Việt đầu tiên của Microsoft Việt. “Với riêng tôi, đây vừa là niềm tự hào, vừa là cơ hội để tạo ra những dấu ấn tại Microsoft. Tôi mong muốn được góp sức lực của mình để dẫn dắt Microsoft Việt Nam tiếp tục tiến xa hơn nữa trên những thành tựu đã đạt được, đóng góp vào sự phát triển của ngành công nghệ thông tin Việt Nam”, ông Trí nói. Và thậm chí còn nhắc đi nhắc lại về việc sẽ làm sao để luôn đảm bảo lợi ích của người Việt, của doanh nghiệp và kinh tế Việt Nam.

Còn ông Trường, cũng rất vui mừng vì giờ đây, trên cương vị là CEO của SAP Việt Nam, ông sẽ có nhiều cơ hội sát cánh cùng các doanh nghiệp Việt Nam, giúp họ hoạt động hiệu quả hơn và trở nên vững mạnh hơn. “Thách thức và cũng là mục tiêu mà Tập đoàn SAP đặt ra cho tôi trên cương vị này không chỉ là tiếp tục viết tiếp câu chuyện thành công của SAP tại Việt Nam”, ông Trường chia sẻ.

 

Ông Phạm Thái Lai

Trong khi đó, ông Phạm Thái Lai thẳng thắn: “Cùng với những đồng nghiệp của mình, chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam giải quyết thành công những thách thức trên con đường trở thành một quốc gia công nghiệp vào năm 2020″.

Và đương nhiên, với ông Huệ, là mong muốn mở rộng nhà máy Robert Bosch tại Đồng Nai, là kế hoạch xây dựng trung tâm R&D, để những người trẻ tuổi Việt có thể thỏa sức nghiên cứu và phát triển…

Nghĩa là, dù chỉ là “người làm thuê ” ở các tập đoàn đa quốc gia, điều mà các CEO Việt mong muốn không chỉ là mang lại thành công cho ông chủ Tây, mà còn là đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Thực ra, không quan trọng là làm chủ hay làm thuê. Cũng không quá băn khoăn về việc các trí tuệ Việt đang góp sức cho doanh nghiệp nội hay ngoại. Bởi tất cả các doanh nghiệp đang đứng chân ở Việt Nam cũng đều hướng đến một trong những mục tiêu là mang lại giá trị cho nền kinh tế Việt Nam.

Hơn nữa, làm việc cho các tập đoàn đa quốc gia cũng là để tài năng Việt có thể “thỏa chí tang bồng”.

Nhưng vẫn còn những câu hỏi “giá như”… Giá như doanh nghiệp Việt đủ sức thuê nhân tài Việt; nạn chảy máu chất xám không xảy ra; nền giáo dục Việt đủ sức sánh ngang với khu vực và toàn cầu… thì khi ấy, trí tuệ Việt sẽ góp phần lớn lắm hun đúc nên một thế hệ doanh nhân dân tộc.

Chính họ, chứ không phải ai khác, sẽ đưa đất nước đi từ thành công này tới thành công khác trên chặng đường tiến lên công nghiệp hóa.

(Theo Đầu tư)